1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trình bày và phân tích để làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau giữa tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế theo pháp luật hiện hành

17 21 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình Bày Và Phân Tích Để Làm Nổi Bật Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Tư Pháp Quốc Tế Và Công Pháp Quốc Tế Theo Pháp Luật Hiện Hành
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 34,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh chị hãy trình bày và phân tích để làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau giữa Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế? 1 Khái niệm Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế Tư pháp quốc tế là Tư pháp quốc.

Trang 1

Anh chị hãy trình bày và phân tích để làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau giữa

Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế?

1 Khái niệm Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế

 Tư pháp quốc tế là:

Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tức là trong quan hệ đó có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, cá nhân, tổ chức là người nước ngoài, cá nhân người Việt nam định cư tại nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cá nhân, tổ chức người Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, chấm dứt, thay đổi quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó tại nước ngoài

 Công pháp quốc tế là:

Trong tác phẩm Luật quốc tế của Oppenheim, tác giả cho rằng: “Công pháp quốc tế phát sinh khi chúng ta đặt các nước cạnh nhau, tư pháp quốc tế phát sinh khi chúng ta đặt các nước cạnh nhau, tư pháp quốc tế phát sinh khi đặt các hệ thồng pháp luật cạnh nhau.”

Công pháp quốc tế được phân chia thành các bộ phận gồm nhiều nhóm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ hợp tác giữa các chủ thể của luật quốc tế như luật điều ước quốc tế, luật ngoại giao và lãnh sự, luật biển quốc tế, luật hàng không dân dụng quốc tế… Bên cạnh những điểm đặc thù, các ngành luật thuộc hệ thống công pháp quốc tế đều có chung các đặc điểm về chủ thể, về đối tượng điều chỉnh, về trình tự xây dựng và biện pháp cưỡng chế Trong quản lí khoa học và đào tạo, công pháp quốc tế được gọi là ngành luật quốc tế, phân biệt với tư pháp quốc tế là ngành luật gồm các quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến yếu tố nước ngoài Công pháp quốc tế là hệ thống pháp luật bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau và trong trường hợp cần thiết được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể luật quốc tế thực hiện

Trang 2

Công pháp quốc tế có hệ thống các quy phạm của tồn tại song song với các quy phạm pháp luật thuộc hệ thống luật quốc gia Quy pháp pháp luật quốc tế và quy phạm pháp luật quốc gia có ảnh hưởng, tác động đối với nhau

2 Nguyên tắc của Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế

 Nguyên tắc của Tư pháp quốc tế

Thứ nhất Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia:

Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị, pháp lý tự nhiên, vốn có của mỗi quốc gia, bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế

Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau: Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý; Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ; Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;

Sự toàn vẹn về lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch; Mỗi quốc gia

có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, và văn hóa của mình; Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc

tế của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác;

Nguyên tắc này cũng có một số ngoại lệ sau: Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền do có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế Trường hợp quốc gia tự hạn chế chủ quyền: đây là trường hợp quốc gia tuyên bố trung lập Thứ hai Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:

Nội dung như sau: Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy định của luật quốc tế; Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực; Không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống lại quốc gia thứ ba; Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác; Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác;

Nguyên tắc này có một số ngoại lệ sau: Khi quốc gia thực hiện quyền tự vệ hợp pháp Khi quốc gia sử dụng sức mạnh vũ trang để trừng phạt quốc gia có hành vi vi

Trang 3

phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế theo Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết có quyền sử dụng sức mạnh vũ trang để giành quyền dân tộc tự quyết của mình

Thứ ba Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế:

Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế có quan điểm mâu thuẫn trái ngược nhau, đồng thời có những yêu cầu, đòi hỏi về mặt lợi ích trái ngược nhau cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật quốc tế

Nội dung của nguyên tắc: khi có tranh chấp quốc tế nảy sinh, các quốc gia có nghĩa vụ phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình

Thứ tư Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác: Công việc nội bộ của quốc gia là những công việc thuộc thẩm quyền tự quyết của mỗi quốc gia

Nguyên tắc này có nội dung như sau: Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia; Cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác để bắt buộc quốc gia khác phụ thuộc mình; Cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác; Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác; Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa phù hợp với nguyện vọng của dân tộc;

Nguyên tắc này cũng có một số ngoại lệ sau: Khi quốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người thì các quốc gia khác có quyền áp dụng các biện pháp nhằm can thiệp, bảo đảm các quyền, giá trị chung của con người Khi trong nội bộ quốc gia xảy ra các cuộc xung đột vũ trang mà các cuộc xung đột này có nguy cơ lan rộng gây ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh quốc tế thì trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các quốc gia khác có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia đó Một quốc gia có quyền can thiệp vào nội bộ một quốc gia khác nếu quốc gia đó yêu cầu

Thứ năm Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế

Trang 4

Theo nguyên tắc này, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện một cách tận tâm, thiện chí, trung thực, đầy đủ tất cả các cam kết quốc tế của mình Các quốc gia không được phép viện dẫn bất kỳ sự khác biệt nào giữa luật quốc tế và luật quốc gia để từ chối thực hiện cam kết quốc tế của mình Các quốc gia cũng không được phép ký kết tham gia các điều ước quốc tế có nội dung mâu thuẫn với các cam kết quốc tế

mà quốc gia đã là thành viên

Nguyên tắc này cũng có một số ngoại lệ sau: Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ điều ước thì bên còn lại có quyền viện dẫn sự vi phạm đó để từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình Khi xuất hiện sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh khách quan Khi xuất hiện quy phạm jus cogens mới có nội dung mâu thuẫn với các cam kết quốc tế

Thứ sáu Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

Việc được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang trên cơ sở tự nguyện; việc tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội; tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp của bên ngoài hay là quyền của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể

cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài,

kể cả giúp đỡ về quân sự; tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý, …

Thứ bảy Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác

Các quốc gia có nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh

tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo trên phạm vi quốc tế, cũng như duy trì hòa bình và

an ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả Các quốc gia phải hành động phù hợp với nguyên tắc của liên hợp quốc, ngay cả các quốc gia chưa phải thành viên của liên hợp quốc của phải tôn trọng các nguyên tắc này

 Nguyên tắc của Công pháp quốc tế

Tính mệnh lệnh chung: Biểu hiện ở tất cả các loại chủ thể đều tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

Tính bao trùm: Nguyên tắc cơ bản là chuẩn mực để xác định tình hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế

Trang 5

Tính hệ thống: Các nguyên tắc cơ bản có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất

Tính thưa nhận rộng rãi: Đặc trưng này thể hiện ở chỗ là các nguyên tắc cơ bản được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, đồng thời chúng cũng được ghi nhận trong hầu hết những văn bản pháp lý quốc tế quan trọng

Cụ thể sẽ được thể hiện qua các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng và bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia:

Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của quốc gia ở trong nước và quyền độc lập của quốc gia đó trong mối quan hệ quốc tế Tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý, bình đẳng tương xứng về quyền và nghĩa vụ Các quốc gia có nghĩa

vụ tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập của từng quốc gia Các quốc gia xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, không bị quốc gia nào bị chèn ép về chủ quyền

Thứ hai, tận tâm thiện chí để thực hiện cam kết quốc tế:

Cam kết quốc tế thể hiện ở điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên, tập quán quốc tế, văn bản pháp lý do quốc gia đơn phương đưa ra trong đó ghi nhận quyền và nghĩa vụ của quốc gia đó với chủ thể khác Xuất hiện quy phạm mệnh lệnh mới của luật quốc tế mà nội dung của cam kết quốc tế làm trái với quy phạm này Có hành vi vi phạm nghiêm trọng của một bên

Thứ ba, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau:

Không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất kỳ công việc nội bộ hoặc đối ngoại của quốc gia khác; Không can thiệp vào hoặc đe dọa van thiệp vũ trang nhằm chống lại quyền năng chủ thể của quốc gia khác; Cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị, các biện pháp khác nhằm mục đích buộc các quốc gia khác phải phục tùng; Cấm thực hiện hoạt động lật đổ chế độ ở quốc gia khác, cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác

Thứ tư, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình:

Các phương pháp hòa bình phổ biến như đàm phán, hòa giải; Việc giải quyết hòa bình dựa trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau;

Trang 6

Thứ năm, tôn trọng quyền tự do các dân tộc:

Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền tự do, quyền xác định cho mình chế

độ mà không có sự can thiệp nào từ bên ngoài; Các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do của dân tộc và có nghĩa vụ thúc đẩy, giúp đỡ các dân tộc thực hiện quyền tự quyết

Thứ sáu, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực:

Không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống lại sự toàn vện lãnh thổ, nền độc lập của các quốc gia khác, ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền tự quyết; Trong trường hợp tự vệ khi bị tấn công, ngăn ngừa đe dọa hòa bình, trấn áp hành vi xâm lược thì việc dùng vũ lực được xem là hợp pháp; Cấm dùng chiến tranh xâm lược và tuyên truyền chiến tranh;

Thứ bảy, tuân thủ các cam kết quốc tế;

Tất cả các thỏa thuận về mặt ý chí của các quốc gia được ghi nhận trong điều ước và tập quán quốc tế được gọi là cam kết quốc tế; Các chủ thể của Luật quốc tế phải có nghĩa vụ thực hiện cam kết quốc tế phù hợp với Luật quốc tế sao cho tận tâm, có thiện chí và đầy đủ; Không vi phạm các cam kết quốc tế với lý do trái với luật pháp của quốc gia mình

3 Đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế

 Đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế

Đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế là các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các chủ thể của công pháp quốc tế, mà trước hết và chủ yếu là các quốc gia độc lập và bình đẳng về chủ quyền Những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế như quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, môi trường…giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau mà chủ yếu là những quan hệ chính trị

 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Các quan hệ giữa công dân với công dân và các quan hệ giữa công dân với pháp nhân hay giữa pháp nhân với pháp nhân của các quốc gia trên thế giới luôn có những sự phức tạp bởi nó vô cùng phong phú Những vấn đề liên quan tới mối quan hệ giữa công dân với công dân và các quan hệ giữa công dân với pháp nhân

Trang 7

hay giữa pháp nhân với pháp nhân của các quốc gia trên thế giới chính là những đối tượng điều chỉnh của luật tư pháp quốc tế

Các quan hệ, các đối tượng mà luật tư pháp điều chỉnh như sau:

Một là, trường hợp có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Người nước ngoài là những người mang quốc tịch nước ngoài nhưng không đồng thời mang quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch Ví dụ trong trường hợp này như sau: các quan hệ phát sinh giữa những đối tượng là công dân nước ngoài nhưng hiện tại đang sinh sống và làm việc, học tập trên lãnh thổ Việt Nam, giữa những đối tượng là công dân Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam nhưng cũng đang sinh sống học tập hay làm việc tại lãnh thổ quốc gia khác

Hai là, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài Ví dụ trong trường hợp này như sau: Trong trường hợp công dân Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam nhưng lại có tài sản ở nước ngoài Khi công dân này chết thì là đối tượng của quan hệ nằm ở nước ngoài đó di sản thừa kế của người này ở nước ngoài

Ba là, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi , chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài Ví dụ trong trường hợp này như sau như hai công dân Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam, tuy nhiên trong quá trình cùng chung sống học tập hay làm việc ở nước ngoài lại thực hiện thủ tục kết hôn tại nước ngoài

Như vậy, qua đây ta có thể thấy đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân, và gia đình, quan hệ về lao động, quan

hệ về thương mại và tố tụng dân sự nhưng có yếu tố nước ngoài Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế khá rộng và bao trùm hầu hết các quan hệ chỉ cần những quan hệ đó liên quan tới yếu tố nước ngoài

Kết luận: Tư pháp quốc tế là một ngành luật mà đối tượng điều chỉnh của nó bao gồm các quan hệ nội dung có tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài và các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài Sự tồn tại của yếu tố nước ngoài trong các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là minh chứng rõ ràng nhất cho sự khác biệt giữa tư pháp quốc tế và luật dân sự với tư cách là hai ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia

Sự khác biệt giữa đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật này còn thể hiện ở chỗ,

Trang 8

đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế rộng hơn, bao gồm các quan hệ nội dung

có tính chất dân sự và các quan hệ tốt tụng dân sự có yếu tố nước ngoài, trong khi

đó, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự chỉ là các quan hệ dân sự nội địa Tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế cũng có sự khác nhau cơ bản về đối tượng điều chỉnh Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ có tính chất dân sự

và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài còn đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế, về cơ bản, lại là các quan hệ chính trị giữa các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là giữa các quốc gia với nhau

4 Phương pháp điều chỉnh của Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế

 Phương pháp điều chỉnh của Công pháp quốc tế

Công pháp quốc tế sử dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận và tự do ý chí của các chủ thể Công pháp quốc tế chỉ sử dụng phương pháp điều chỉnh trực tiếp

 Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Tư pháp quốc tế, với vị trí là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia, cũng có phương pháp điều chỉnh riêng biệt của nó, phù hợp với đối tượng điều chỉnh của ngành luật này là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yêu tố nước ngoài Tư pháp quốc tế sử dụng hai phương pháp điều chỉnh cơ bản, đó là: phương pháp thử chất và phương pháp xung đột Trong đó:

Phương pháp thực chất: là phương pháp trực tiếp giải quyết ngay quan hệ pháp

lý phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có liên quan Như vậy, khi áp dụng phương pháp thực chất để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, vấn đề pháp lý có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết ngay bằng quy phạm pháp luật thực chất đã được xây dựng sẵn trong đó chỉ rõ quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của các bên liên quan cũng như đưa ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề có liên quan Quy phạm pháp luật thực chất tồn tại trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, theo quy ước, được gọi là quy phạm pháp luật thực chất thống nhất Bên cạnh quy phạm pháp luật thực chất thống nhất,

tư pháp quốc tế còn có quy phạm pháp luật thực chất nội địa (hay thông thường) là quy phạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia

Trang 9

Phương pháp xung đột: là phương pháp điều chỉnh quan hệ một cách gián tiếp Phương pháp này không đưa ra phương án giải quyết trực tiếp ngay quan hệ mà điều chỉnh quan hệ bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan, rồi dùng hệ thống pháp luật được chọn ra

ấy để giải quyết quan hệ Như vậy, bằng phương pháp này, quan hệ pháp lý phát sinh chỉ được giải quyết thấu đáo khi áp dụng trực tiếp các quy định cụ thể trong

hệ thống pháp luật của quốc gia được viện dẫn tới Muốn chọn ra hệ thống pháp luật cụ thể để giải quyết vấn đề pháp lý phát sinh, tư pháp quốc Tết đã xây dựng nên hệ thống các quy phạm pháp luật xung đột Đây chính là hệ thống quy phạm pháp luật giúp cho việc lựa chọn pháp luật được thực hiện trên thực tế Vi phạm pháp luật xung đột được xây dựng trong pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế hữu quan Cũng giống như quy phạm pháp luật thực chất, quy phạm pháp luật xung đột trong điều ước quốc tế được gọi là quy phạm pháp luật xung đột thống nhất, còn quy phạm pháp luật xung đột trong pháp luật quốc gia được gọi là quy phạm pháp luật xung đột thông thường

5 Chủ thể của Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế

 Chủ thể của Công pháp quốc tế

Các quốc gia có chủ quyền: Chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực đối nội là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, quyền làm luật, quyền giám sát việc thi hành pháp luật, quyền xét xử những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia Trong lĩnh vực đối ngoại đó là quyền độc lập trong hệ thống quốc tế, tự

do quan hệ không lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào, hai mối quan hệ này có quan hệ mật thiết với nhau, chỉ vì khi quốc gia có quyền tối cao trong quan hệ đối ngoại thì mới có quyết định trong quan hệ đối ngoại Quốc gia là chủ thể đặc biệt khi tham gia vào họat động tư pháp quốc tế, được miễn trừ về tư pháp quốc tế: quyền miễn trừ về xét xử, quyền miễn trừ về tài sản, quyền miễn trừ về thi hành án

Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được xem là quốc gia đang hình thành, đứng lên đấu tranh giành độc lập, thành lập quốc gia có chủ quyền, có quyền tham gia đại diện ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia khác, tự do không bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào

Trang 10

Các tổ chức quốc liên chính phủ ( liên quốc gia) là tổ chức thành lập trên sự liên kết giữa các quốc gia, và họat động dưới sự thỏa thuận giữa các quốc gia (VD: LHQ, Asian, EU…)

Tổ chức phi chính phủ được thành lập dưới sự thỏa thuận giữa các thể nhân với pháp nhân thì không được coi là chủ thể của “luật quốc tế” hay nói cách khác là

“công pháp quốc tế”, không được thừa nhận của luật quốc tế (VD: Hội luật gia thế giới, Hội Liên hiệp phụ nữ thế giới…)

Tư cách chủ thể của tòa thánh Vatican tòa thánh Vatican không phải là một quốc gia, tư cách chủ thể của Vatican được đặt ra

Chủ thể của công pháp quốc tế là quốc gia Các quan hệ pháp luật quốc tế của quốc gia đều nhằm hướng đến và vì lợi ích quốc gia Do đó, về cơ bản, lợi ích quốc gia, dân tộc là nền tảng mà dựa trên cơ sở đó các quốc gia có thể tự mình thỏa thuận khi thiết lập hoặc tham gia vào một quan hệ quốc tế nhất định Trong thực tiễn, cá nhân hoặc pháp nhân kinh tế, xã hội chỉ có thể tham gia rất hạn hữu vào một số quan hệ pháp luật quốc tế xác định nhưng không vì thế mà cho rằng những chủ thể này là chủ thể của công pháp quốc tế

 Chủ thể của Tư pháp quốc tế

Chủ thể của tư pháp quốc tế là những cá nhân hay tổ chức có năng lực chủ thể khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế Trong một số trường hợp quốc gia cũng trở thành chủ thể của tư pháp quốc tế nhưng với địa vị là chủ thể đặc biệt trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Cá nhân là chủ thể trong tư pháp quốc tế được hiểu là những thực thể tự nhiên của xã hội, cá nhân là một con người cụ thể có thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người mang quốc tịch của một nước, hoặc người không mang quốc tịch của nước nào (người không quốc tịch) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm: Công dân Việt Nam (còn quốc tịch Việt Nam), người gốc Việt (người còn hoặc không còn giữ quốc tịch Việt Nam) đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài Pháp nhân, tổ chức là chủ thể do pháp luật tạo nên và trao cho các chủ thể đó có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định Pháp nhân là chủ thể trong tư pháp quốc tế có thể được hiểu là nhà nước pháp nhân, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp

Ngày đăng: 23/03/2023, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w