Nguyễn Thị Thanh Minh 2006, Thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đối với các nước đang phát triển trong lĩnh vực thương mại - phân tích từ góc độ thực tiễn, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Nguyễn Thị Thanh Minh
THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HOÁ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ NHỮNG BÀI HỌC VƯỢT QUA THÁCH THỨC CHO VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - năm 2007
Trang 2Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
họp tạitrường Đại Học Ngoại Thương
vào hồi16 giờ 30.ngày26 tháng 7 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện Quốc gia, thư viện trường Đại Học Ngoại Thương
Trang 3
1 Nguyễn Thị Thanh Minh (2003), Tìm hiểu quá trình đàm phán của Trung Quốc gia nhập WTO, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 3/2003
2 Nguyễn Thị Thanh Minh (2006), Thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đối với các nước đang phát triển trong lĩnh vực thương mại - phân tích từ góc độ thực tiễn, Tạp
chí Kinh tế Đối ngoại, Số 18 (7/2006)
3 Nguyễn Thị Thanh Minh (2007), Trung Quốc vượt qua thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp sau khi gia nhập WTO, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 22 (2/2007)
Trang 4Lời Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 7/11/2006 đánh dấu một mốc đáng ghi nhớ trong chặng đường phát triển của kinh tế Việt Nam: Việt Nam được công nhận là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán Điều đó
có nghĩa là Việt Nam đã chính thức tham gia sâu rộng hơn vào quá trình toàn cầu hoá (TCH) kinh tế, một cuộc chơi mở ra rất nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức Cơ hội mà không biết tận dụng thì cơ hội sẽ biến thành thách thức Thách thức mà biết cách vượt qua thì thách thức sẽ biến thành cơ hội Vậy làm thế nào để nhận biết được các thách thức để tìm cách vượt qua và biến chúng thành cơ hội? Để trả lời được câu hỏi trên, có thể nghiên cứu một số nước đang phát triển có điều kiện kinh tế tương đối giống Việt Nam để rút ra kinh nghiệm cho riêng Việt Nam
Gia nhập WTO thực chất là tham gia TCH về kinh tế Là nước đi sau, với thể chế chính trị - kinh tế - xã hội có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có điểm khác biệt so với một số nước đang phát triển, vì vậy việc tìm hiểu kinh nghiệm của các nước đi trước là hết sức bổ ích đối với Việt Nam Trong việc tìm hiểu kinh nghiệm của các nước đi trước, việc tìm hiểu kinh nghiệm vượt qua thách thức của họ là rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay Bởi vì, có rất nhiều người cho rằng, gia nhập WTO, tham gia vào TCH kinh tế, Việt Nam sẽ có rất nhiều cơ hội Tuy nhiên, gia nhập WTO, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức Đặc biệt, so với nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam là nước XHCN, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường, cho nên thách thức sẽ
nhiều hơn khi Việt Nam tham gia vào "sân chơi chung" với bản chất là
sân chơi của các nước có nền kinh tế thị trường Vì vậy việc nghiên cứu những thách thức của TCH kinh tế đối với các nước đang phát triển, phân tích những kinh nghiệm vượt qua các thách thức đó để rút ra bài học cho Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn Về điều này, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại
Trang 5Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: "Nắm bắt
cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta" [11, tr.67] Mặt
khác, trong bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng,
ông cũng đã làm rõ: "gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, hội nhập
kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tùy thuộc vào khả năng vận dụng cơ hội của chúng ta Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tùy thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta Cơ hội và thách thức không phải nhất thành bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa và và thách thức đối với ngành này
có thể là cơ hội đối với ngành khác phát triển Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội
sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài rất khó khắc phục." [36]
Thách thức và cơ hội khi tham gia vào TCH kinh tế luôn luôn gắn
bó chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận án tiến sỹ, tác giả không có tham vọng phân tích các cơ hội mà chỉ lựa chọn những thách thức khi Việt Nam tham gia vào TCH kinh tế để tìm hiểu, phân tích Vả lại, khi Việt Nam đã gia nhập WTO, cơ hội, bản thân nó cũng dễ được nhận biết để tận dụng và khai thác Còn thách thức, đôi khi người ta phải tìm hiểu, phải nghiên cứu, thậm chí phải chỉ rõ ra thì mới nhận thấy
Những phân tích trên đây đã thúc đẩy tác giả chọn vấn đề
"Thách thức của toàn cầu hoá đối với các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế của
mình
2 Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
2.1 ở ngoài nước
ở nước ngoài đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về TCH
và tác động của TCH, tiêu biểu nhất là "Hiểu về toàn cầu hóa"
Trang 6(Understanding Globalization) của Schaeffer, NXB Rowman & Littlefield
năm 1997; "Những chuyển đổi toàn cầu" (Global Transformation) của
David Held, & Anthony MCGrew, David Goldblatt & Jonathan Perraton, NXB Polity, năm 1999 Công trình hiện gây tranh cãi nhiều nhất là
"Toàn cầu hóa và mặt trái của toàn cầu hóa" (Globalization and Its
Discontent) của Stigliz, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB), NXB Cambridge, năm 2001 Gần đây mới xuất hiện một cuốn sách thu hút đông đảo các nhà lý luận, các nhà nghiên cứu về TCH trên thế giới, đó
là "Chiếc Lexus và cây Oliu, toàn cầu hóa là gì?" của Thomas L
Friedman do nhà xuất bản Khoa học Xã hội dịch và xuất bản, năm 2005 Bên cạnh đó còn có một số tài liệu nghiên cứu của các nhà kinh tế, các tổ chức phi chính phủ như Oxfarm viết về mặt trái của TCH Tuy nhiên, chưa công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về những thách thức của TCH kinh tế đối với các nước đang phát triển để rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
2.2 ở Việt Nam
ở trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về TCH và
những cơ hội như: "Toàn cầu hóa, nghịch lý của Thế giới tư bản chủ
nghĩa", NXB Thống kê, Hà Nội 2003; "Từ Diễn đàn Siaton, toàn cầu hóa
và Tổ chức Thương mại Thế giới", Báo cáo nghiên cứu chính sách của
Ngân hàng thế giới (2002); "Toàn cầu hóa, tăng trưởng và nghèo đói", NXB Văn hóa Thông tin, năm 2001; "Những vấn đề của toàn cầu hóa
kinh tế", TS Nguyễn Văn Dân, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm
2001; "Toàn cầu hóa - quan điểm và thực tiễn", của tác giả Trần Việt Phương, NXB Thống kê - Hà Nội năm 1999; "Toàn cầu hóa kinh tế Cơ
hội và thách thức với các nước đang phát triển", của tác giả Đường Vinh
Sường, NXB thế giới, năm 2004; "Toàn cầu hóa các cuộc phản kháng-
Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2002" NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
năm 2000, v.v và các bài viết, tài liệu nghiên cứu của các nhà kinh tế của Viện Nghiên cứu Chính trị Thế giới, Viện Nghiên cứu Quản l í kinh tế Trung ương Tuy nhiên, các tài liệu trên đây hoặc chỉ nghiên cứu chung
Trang 7về TCH, hoặc chỉ phân tích về cơ hội và thách thức nói chung của TCH, hoặc mặt trái của TCH trong các vấn đề về môi trường, về xã hội, về an ninh lương thực đối với các nước đang phát triển Cũng đã có những bài viết khác về TCH nhưng chú trọng chuyên sâu dưới góc độ an ninh chính trị hay các vấn đề liên quan đến đói nghèo và việc làm Những thách thức của TCH kinh tế đối với các nước đang phát triển chưa được nghiên cứu một cách toàn diện mà mới chỉ có các nghiên cứu nhỏ lẻ, hoặc chỉ phân tích từng nước cụ thể mà chưa có một nghiên cứu đầy đủ về vấn đề TCH
đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc vượt qua thách thức đối với Việt Nam Đây là luận án tiến sĩ kinh tế đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về TCH kinh tế cũng như phân tích những thách thức cụ thể của TCH kinh tế đối với các nước đang phát triển, luận án phân tích để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc vượt qua những thách thức khi tham gia vào TCH kinh tế
và gia nhập WTO
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ sau đây:
• Hệ thống hóa những lý thuyết chủ yếu liên quan đến TCH kinh tế;
• Làm rõ những vấn đề lý luận về TCH kinh tế như khái niệm, nội dung và đặc điểm của TCH kinh tế;
• Phân tích để làm rõ đặc điểm của nước đang phát triển với ý nghĩa là một trong số 4 nhóm nước tham gia vào TCH kinh tế, từ đó, nêu bật những thách thức của TCH kinh tế;
• Phân tích thực tiễn tham gia quá trình TCH kinh tế của một số nước đang phát triển, nêu bật những thách thức cụ thể mà những nước này đã phải đối mặt và đã vượt qua và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn
của TCH kinh tế (các khái niệm, các lý thuyết về TCH kinh tế và nội dung
của TCH kinh tế ) và những thách thức của TCH kinh tế mà các nước
đang phát triển phải đối mặt Đối tượng của luận án còn bao gồm cả những quy định của WTO và các Hiệp định đa biên của WTO Khi nghiên cứu các hiệp định này, trọng tâm phân tích của luận án là làm rõ những thách thức mà chính bản thân những tổ chức này đặt ra đối với các nước đang phát triển với ý nghĩa là những ràng buộc, những cam kết giữa các nước với nhau khi tham gia vào TCH kinh tế Đối tượng nghiên cứu của luận án còn bao gồm những số liệu về tình hình kinh tế và hội nhập KTQT của các nước đang phát triển và của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ Kinh tế,
luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ ở TCH về kinh tế, với 3 nội dung chủ yếu là TCH thương mại, TCH đầu tư và toàn cầu hóa tài chính Bởi vì các lĩnh vực này rất rộng, nên phạm vi nghiên cứu tiếp tục được giới hạn ở chỗ: đối với TCH thương mại, luận án chỉ nghiên cứu lĩnh vực thương mại hàng hoá, đối với TCH đầu tư, luận án chỉ nghiên cứu lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, đối với TCH tài chính, luận án chỉ nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng Khi phân tích TCH trong những lĩnh vực này, luận án chỉ đề cập những vấn đề chung mà không đi sâu phân tích từng nhóm hàng hoá
cụ thể
- Về mặt thời gian: Từ đầu thập kỷ 90 đến nay
- Về nhóm các nước đang phát triển mà luận án nghiên cứu: Trung
Quốc, ấn Độ và một số nước Đông Nam á như Thái Lan, Indonesia và Malaysia
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa Mác Lê-Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các quan điểm của Đảng và Nhà
Trang 9nước ta về TCH và hội nhập Kinh tế quốc tế (KTQT), về phát triển kinh tế
đất nước cũng được tác giả đặc biệt quán triệt Tác giả cũng dựa vào các luận thuyết kinh tế chủ yếu làm cơ sở lý luận khi phân tích những vấn đề chung nhất về TCH kinh tế Khi phân tích TCH kinh tế trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, tác giả chọn cách tiếp cận phân tích theo các ngành công, nông nghiệp Do một số vấn đề phân tích chưa có lý thuyết để chứng minh, tác giả sẽ phân tích dựa trên việc khái quát các nghiên cứu tình huống
Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như phân tích, thống kê, tổng hợp, luận giải, đặc biệt là phương pháp so sánh và phương pháp diễn giải quy nạp
6 Những đóng góp mới của luận án
- Là luận án tiến sĩ kinh tế đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề về thách thức của TCH kinh tế đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để nêu bật được thách thức của TCH kinh tế, luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về TCH và TCH kinh tế Luận án cũng đã đưa ra được khái niệm của riêng tác giả về TCH kinh tế
- Đã phân tích thực tiễn tham gia vào quá trình TCH kinh tế và hội nhập KTQT của một số nước đang phát triển để nêu bật những thách thức
mà họ phải đối mặt, đặc biệt là những kinh nghiệm mà họ đã vượt qua thách thức đó
- Đã làm rõ những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam khi Việt Nam phải đối mặt và vượt qua thách thức thời kỳ hậu gia nhập WTO và tham gia vào TCH kinh tế
7 Bố cục của luận án
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về TCH kinh tế và thách thức của TCH kinh
tế đối với các nước đang phát triển
Chương 2 Những thách thức cụ thể của TCH kinh tế đối với các nước
đang phát triển - Nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc, ấn Độ và một
Trang 101.1.1 Những lí thuyết chủ yếu liên quan tới toàn cầu hóa kinh tế
Trong sách báo kinh tế, có nhiều lý thuyết khác nhau đề cập đến toàn cầu hoá, trong đó nổi bật là Thuyết Trọng thương, Thuyết Tự do thương mại, Thuyết Bảo hộ mậu dịch, Thuyết Hiện thực, Thuyết Phụ thuộc, Học thuyết Mác Lênin, Từ các lý thuyết đó, có thể nhận định rằng toàn cầu hoá là cần thiết cho sự phát triển của tất cả các quốc gia, song do lợi ích từ quá trình này được phân chia không đồng đều giữa các nước và do trình
độ phát triển của họ là không như nhau, vì thế, các nước thường kết hợp toàn cầu hoá với chính sách bảo hộ vì lợi ích quốc gia của mình
1.1.2 Khái niệm về toàn cầu hóa Theo quan niệm rộng, TCH là một
quá trình, theo đó sự ảnh hưởng cũng như sự tác động mọi mặt của đời sống từng quốc gia, từng nước trở nên không có giới hạn, không bị ràng buộc bởi khoảng cách lãnh thổ, địa lí, khu vực, vùng hay từng nước Theo
quan niệm hẹp, TCH giới hạn sự tác động của nó trong phạm vi các nhóm
nước, khu vực hoặc giới hạn ở vấn đề sản xuất, thị trường, giao thông hay còn gọi là giới hạn ở phạm vi kinh tế ở phạm vi hẹp như vậy, TCH còn
được gọi là TCH kinh tế Trên cơ sở phân tích các khái niệm về TCH, luận
án đã rút ra 3 đặc điểm về TCH như sau:
- Toàn cầu hóa là một quá trình, một xu thế phát triển tất yếu gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu
- Toàn cầu hóa làm biến đổi sâu sắc, toàn diện các mối quan hệ kinh
tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, môi trường của thế giới theo hướng loại bỏ những ngăn cách về địa lý, từ đó tiến tới loại bỏ sự khác
Trang 11biệt về thể chế, về chính trị của từng quốc gia để tạo ra một sân chơi chung dưới tác động của các nước phát triển, các tập đoàn xuyên quốc gia Các nước đang phát triển sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, nếu không có những chính sách phù hợp khi tham gia vào quá trình này
- Mục đích của TCH là nhằm phát triển kinh tế, do đó, TCH kinh tế
đóng vai trò chủ yếu trong quá trình TCH
Sau khi phân tích các yếu tố tác động đến TCH, luận án khẳng định rằng: có nhiều yếu tố khác nhau thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, trong
đó quan trọng nhất là những tiến bộ của khoa học và công nghệ, chính sách mở cửa kinh tế của các nước và hoạt động kinh doanh được quốc tế
hóa và vai trò của các công ty xuyên quốc gia
1.2 Toàn cầu hóa kinh tế
1.2.1 Khái niệm về toàn cầu hóa kinh tế TCH kinh tế là một xu thế,
một quá trình xã hội hóa có tính khách quan trên phạm vi toàn thế giới
Nó đã, đang và sẽ ảnh hưởng, tác động, thẩm thấu lẫn nhau xuyên biên giới trong mọi lĩnh vực của đời sống con người và mọi quốc gia, và vận hành trong một trật tự của hệ thống kinh tế toàn cầu, hình thành nên một nền kinh tế thế giới thống nhất, trong đó thu hút sự tham gia của tất cả các nước và được điều tiết bởi những luật lệ, quy định chung do chính các nước tham gia vào TCH đặt ra
Các nước có thể đưa ra quan điểm của mình về toàn cầu hóa kinh tế Các nước phát triển cho rằng toàn cầu hoá là tất yếu, khách quan, và do
đó, các nước cần chấp nhận các qui tắc và tham gia vào quá trình này Mặc dù thừa nhận nó mang lại cơ hội để cải thiện nền kinh tế, song do những hạn chế về trình dộ phát triển, các nước đang phát triển luôn cảm thấy bị thiệt thòi khi tham gia toàn cầu hoá Do vậy, họ có chung quan
điểm là phải chủ động hội nhập kinh tế và chủ động đấu tranh với các nước phát triển để giành quyền công bằng và bình đẳng về kinh tế cho mình Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt nam là phải hội nhập và chủ động tham gia TCH kinh tế.để nắm bắt những cơ hội mà TCH kinh tế mang lại và vượt qua thách thức bằng những giải pháp hữu hiệu
Trang 12Toàn cầu hóa kinh tế được biểu hiện chủ yếu thông qua sự gia tăng của các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, vốn, công nghệ, dịch vụ, nhân công, sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vi toàn cầu và sự gia tăng số lượng, qui mô và phạm vi hoạt
động của các công ty xuyên quốc gia Nó có ba nội dung (lĩnh vực) chính
là toàn cầu hoá thương mại, toàn cầu hoá tài chính và toàn cầu hoá đầu tư Loài người đã trải qua nhiều làn sóng toàn cầu hoá khác nhau Làn sóng toàn cầu hoá ngày nay là một quá trình toàn diện, rộng khắp, mang tính hai mặt – vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa các chủ thể tham gia, được diễn
ra đồng thời trên nhiều cấp độ khác nhau – toàn cầu, khu vực và song phương, hình thức, qui mô khác nhau, nhằm hình thành nên các thị trường rộng lớn hơn
1.2.2 Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập KTQT là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự
do hóa và mở cửa thị trường thương mại, đầu tư, dịch vụ trên các cấp độ
đơn phương, song phương và đa phương Nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh
tế quốc tế, điều chỉnh chính sách kinh tế theo hướng tự do hoá, điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế cạnh tranh, cải cách xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực Hội nhập KTQT đựợc thực hiện dưới nhiều cấp độ và hình thức khác nhau Giữa toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau TCH kinh tế là khái niệm có
sự tiếp cận vĩ mô ở cấp độ toàn cầu Hội nhập KTQT là khái niệm được tiếp cận ở cấp độ vĩ mô của từng nhà nước, từng nước, vùng lãnh thổ TCH kinh tế đòi hỏi các nước phải mở cửa kinh tế, mở cửa thị trường để hàng hóa, dịch vụ của các nước đến được "sân chơi chung", đến được "thị trường chung" Hội nhập KTQT đặt ra cho mỗi nước phải phân tích, đánh giá về "sân chơi chung" đó nhằm tìm kiếm những lợi ích có thể có, từ đó,
đưa ra những điều chỉnh chính sách phù hợp TCH kinh tế đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các nước Hội nhập KTQT đòi hỏi sự nỗ lực của từng nước
Trang 13Điều đó nghĩa là tích cực hội nhập KTQT của mỗi nước sẽ tác động tích cực đến TCH kinh tế
1.3 Thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đối với các nước đang phát triển -phân tích từ góc độ lý luận
Những đặc điểm chung của các nước đang phát triển là hệ thống pháp luật yếu kém và chưa ổn định, hệ thống hành chính công quyền cồng kềnh, quan liêu, hệ thống tài chính yếu kém và chưa minh bạch, các ngành công, nông nghiệp và dịch vụ kém phát triển và thiếu sức cạnh tranh, mức sống thấp, tỷ lệ nghèo đói và thất nghiệp cao, tỷ lệ tích lũy, trình độ kỹ thuật, năng suất lao động thấp, áp lực về dân số và việc làm Trong những điều kiện như vậy, thách thức đối với các nước đang phát triển là rất lớn khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá Những thách thức
• Những thách thức ở 3 lĩnh vực thương mại, tài chính và đầu tư:
Trong lĩnh vực thương mại, các nước đang phát triển phải đối mặt với các rào cản thuế quan và phi quan thuế, với việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá mà các nước phát triển đã dựng nên một cách tinh vi, phải thực hiện các cam kết heo các hiệp định của WTO, đặc biệt là TRIMS, TRIPS, AOA, GATS Trong lĩnh vực tài chính quốc tế, các nước này phải đối mặt với sự chính sách tự do hoá các dòng vốn và sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài Trong đầu tư quốc tế, họ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, nguy cơ trở thành bãi rác thải công