1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ

127 407 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực Đông Nam Bộ
Tác giả Cao Đình Triều
Người hướng dẫn GS TS Bùi Công Quế
Trường học Hội Khoa Học Kỹ Thuật Địa Vật Lý Việt Nam
Chuyên ngành Địa Vật Lý
Thể loại Báo cáo tổng kết đề án
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 5,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Nội dung Trang BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢTHỰC HIỆN ĐỀTÀI 1 MỞ ĐẦU 12 Chương 1: ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO- ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ KẾ CẬN 15 1.1. Phương pháp nghiên cứu 15 1.2. Kiến tạo - địa động lực khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và kế cận 19 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆN ĐẠI TP. HỒCHÍ MINH (Tỷlệ1/50 000) 33 2.1. Đặc điểm cấu trúc vỏTrái đất 33 2.2. Các đứt gãy khu vực thành phốHồChí Minh 36 2.3. Lịch sửphát triển kiến tạo đứt gãy khu vực TP. HCM 48 2.4. Xu thế chuyển động và ứng suất - biến dạng hiện đại khu vực thành phố Hồ Chí Minh 49 2.5. Đánh giá vận tốc dịch chuyển thẳng đứng khu vực thành phố Hồ Chí Minh theo kết quả quan trắc lặp trọng lực 54 Chương 3: HIỆN TRẠNG “HỐ TỬ THẦN” TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH 56 3.1. Kết quả điều tra “Hố tử thần tại Tp. HồChí Minh 57 3.2. Phân tích nguyên nhân nhân sinh có thể gây nên sự xuất hiện „Hố tử thần“ 63 Chương 4: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ KHOANH VÙNG CẢNH BÁO NGUY CƠ SỤT LỞ ĐẤT ĐÔNG NAM BỘ VÀ “HỐ TỬ THẦN” THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 95 4.1. Xác định Nguyên nhân và khoanh vùng cảnh báo nguy cơsụt lở đất Đông Nam Bộ 95 4.2. Các yếu tốtác động phát sinh sụt lún đất tại thành phốHồChí Minh 103 4.3. Khoanh vùng dựbáo nguy cơsụt lún đất 112 Chương 5: GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH, PHÒNG CHỐNG SỤT LÚN ĐẤT115 5.1. Các giải pháp quản lý 115 5.2. Các giải pháp nghiên cứu 120 5.3. Giải pháp công trình chống sụt lún đất 120 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ122 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam HỘI KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỊA VẬT LÝ VIỆT NAM

Trang 2

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ

THUẬT VIỆT NAM

Hà Nội, ngày tháng năm 2011.

BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI/DỰ ÁN SXTN

I THÔNG TIN CHUNG

1 Tên đề án: Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành “hố

tử thần” khu vực Đông Nam Bộ

2 Chủ nhiệm đề tài/dự án:

Họ và tên: Cao Đình Triều

Ngày, tháng, năm sinh: 06-12-1949 Nam/ Nữ: Nam

Học hàm, học vị: Phó Giáo sư, Tiến Sỹ

Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên Cao Cấp Chức vụ: Phó chủ tịch Hội ĐVL VN Điện thoại: Tổ chức: 04 37564380 Nhà riêng: 04 37592721 Mobile: 0913380853 Fax: 04 38364696 / 04 37912969 E-mail: vag-sec@fpt.vn Tên tổ chức đang công tác: Hội Khoa học Kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam

Địa chỉ tổ chức: 8A/18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy – Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng: P5-C1, Số 208Đ Đội cấn – Hà Nội

3 Tổ chức chủ trì đề án:

Tên tổ chức chủ trì đề án: Hội Khoa học kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam

Điện thoại: 04 37564380 Fax: 04 37912969

E-mail: vag-sec@fpt.vn

Website: http://www.vag.vn

Địa chỉ: 8A/18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy – Hà Nội

Họ và tên thủ trưởng tổ chức: GS TS Bùi Công Quế

Số tài khoản: 931.90.037

Ngân hàng: Chi nhánh kho bạc Nhà nước Ba Đình

Tên cơ quan chủ quản đề án: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN

1 Thời gian thực hiện đề án:

- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ ngày 14 tháng 4 năm 2011 đến 16 tháng 12 năm

Trang 3

+ Kinh phí từ các nguồn khác: ……….tr.đ

+ Tỷ lệ và kinh phí thu hồi đối với dự án (nếu có): …………

3 Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài/dự án:

(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xác định nhiệm vụ, xét chọn, phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh phí thực hiện nếu có); văn bản của tổ chức chủ trì đề tài, dự án (đơn, kiến nghị điều chỉnh nếu có)

Số

TT

Số, thời gian ban

Nội dung tham gia chủ yếu

Sản phẩm chủ yếu đạt được

Ghi chú*

1

2

- Lý do thay đổi (nếu có):

5 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án:

(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá 10 người kể cả chủ nhiệm)

Nội dung công việc tham gia

Thời gian làm việc

Việt Nam

Chủ nhiệm đề án

phụ trách chung

18

2 TS Lê văn Dũng Hội Khoa học Kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam Thư ký đề án 16

3 ThS Phạm Nam Hưng Hội KHKT Địa vật lý Việt Nam Than gia chính

6 TS Đỗ Văn Lĩnh Hội Kiến tạo Việt Nam Than gia chính Đứt gãy hoạt động 14

7 KS Bùi Anh Nam Hội KHKT Địa vật lý Việt Nam Than gia chính

Trang 4

6 Tình hình hợp tác quốc tế:

Số

TT

Theo kế hoạch

(Nội dung, thời gian,

kinh phí, địa điểm,

1

2

- Lý do thay đổi (nếu có): Đột xuất, không có trong kế hoạch

7 Tình hình tổ chức hội thảo, hội nghị:

Số

TT

Theo kế hoạch

(Nội dung, thời gian,

kinh phí, địa điểm )

Thực tế đạt được

(Nội dung, thời gian, kinh phí, địa điểm

)

Ghi chú*

1

2

3

- Lý do thay đổi (nếu có): Ngoài dự toán

8 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:

(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát

trong nước và nước ngoài)

Các nội dung, công việc

chủ yếu cần được thực

hiện

Kết quả phải đạt Thời gian Cá nhân

1 Nội dung 1: Thu thập các tư liệu hiện có về: trường địa vật lý, kết quả nghiên cứu

đặc trưng cấu trúc vỏ Trái đất và đứt gãy, nghiên cứu đứt gãy hoạt động, địa động lực hiện đại, các dạng tai biến sụt lở đất có liên quan khu vực Đông Nam Bộ

1.1 Các kết quả về trường địa

1/ 2011 9/2011

PGS.TS Cao Đình Triều; Phạm Nam Hưng (và đồng nghiệp)

cứu đứt gãy

Bộ số liệu hiện có

về nghiên cứu đứt gãy

1/ 2011 9/2011

Lê Văn Dũng; Mai Xuân Bách; Thái Anh Tuấn

1/ 2011 9/2011

TS Đỗ Văn Lĩnh (và đồng nghiệp)

PGS TS Cao Đinh Triều; Bùi Anh Nam (và đồng nghiệp) 1.5 Các kết quả về nghiên Bộ số liệu hiện có 1/ 2011 PGS TS Cao Đinh

Trang 5

cứu các tai biến hiện có,

liên quan đến nghiên cứu

sụt lở đất

về nghiên cứu trượt lở, sụt lở đất

9/2011 Triều; Bùi Anh Nam

(và đồng nghiệp)

2 Nội dung 2: Điều tra khảo sát đứt gãy hoạt động, động đất và tai biến môi trường

khu vực Đông Nam Bộ Phân tích tài liệu địa vật lý nghiên cứu đặc trưng cấu trúc

vỏ Trái đất và đứt gãy nhằm phục vụ thành lập sơ đồ đứt gãy hoạt động và sơ đồ địa động lực hiện đại khu vực Đông Nam Bộ, thể hiện ở tỷ lệ 1/250 000

Điều tra khảo sát đứt gãy

Phân tích tài liệu địa vật

lý theo diện trên cơ sử

các tài liệu hiện có nhằm

1/ 250 000

8/2011

PGS TS Cao Đình Triều và các đồng nghiệp

1/2011-TS Lê Văn Dũng; ThS Mai Xuân Bách

Thành lập sơ đồ Địa động

lực hiện đại khu vực

Đông Nam Bộ, thể hiện ở

tỷ lệ 1/ 250 000

Sơ đồ ở tỷ lệ 1/

250 000

8/2011

1/2011-PGS TS Cao Đình Triều và các đồng nghiệp

3 Nội dung 3: Khảo sát sụt lở đất, thành lập sơ đồ hiện trạng và khanh vùng dự báo

(nguyên nhân nội sinh) sụt lở đất khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện ở tỷ lệ 1/ 50 000

5/2011-PGS TS Cao Đình Triều và các đồng nghiệp

5/2011-TS Đỗ Văn Lĩnh, 5/2011-TS Ngô Gia Thắng và các đồng nghiệp Khảo sát thực địa, điều tra

sụt lở đất (hố tử thần)

Số liệu

5/2011-6/2011

PGS TS Cao Đình Triều và các đồng nghiệp

5/2011-PGS TS Cao Đình Triều và các đồng nghiệp

Trang 6

- Lý do thay đổi (nếu có):

III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI, DỰ ÁN

1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:

Thực tế đạt được

Dự kiến số lượng/quy

mô sản phẩm tạo

Thể hiện

rõ, dễ hiểu

Việt Nam

1 bản

4 Cơ sở dữ liệu, số liệu Số

liệu, bản

vẽ

Trang 7

5 Báo cáo tóm tắt và báo

cáo tổng kết đề án

Báo cáo

1 bộ

- Lý do thay đổi (nếu có): Các sản phẩm vượt mức quy định: Mô phỏng độ cao sóng thần

tới bờ biển Việt Nam từ nguồn Manila (kịch bản M=9,0) và nguồn vùng gần

Số lượng, nơi công bố (Tạp chí, nhà xuất bản)

- Lý do thay đổi (nếu có):

d) Kết quả đào tạo:

Số lượng

Số

TT

Cấp đào tạo, Chuyên

ngành đào tạo Theo kế hoạch Thực tế đạt

được

Ghi chú

(Thời gian kết thúc)

- Lý do thay đổi (nếu có):

đ) Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng:

Ghi chú

(Thời gian kết thúc)

- Lý do thay đổi (nếu có):

e) Thống kê danh mục sản phẩm KHCN đã được ứng dụng vào thực tế

Kết quả

sơ bộ

1

2 Đánh giá về hiệu quả do đề án mang lại:

a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:

(Nêu rõ danh mục công nghệ và mức độ nắm vững, làm chủ, so sánh với trình độ công nghệ so với khu vực và thế giới…)

Đã thành lập được sơ đồ khoanh vùng dự báo nguy cơ sụt lở đất Đông Nam Bộ và

Tp Hồ Chí Minh

b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:

(Nêu rõ hiệu quả làm lợi tính bằng tiền dự kiến do đề tài, dự án tạo ra so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường…)

Đưa ra được nguyên nhân sụt lún đất của Tp Hồ Chí Minh và biện pháp khắc phục hậu quả, giảm nhẹ ảnh hưởng

Trang 8

3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài, dự án:

Số

Thời gian thực hiện

Ghi chú

(Tóm tắt kết quả, kết luận chính, người chủ trì…)

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 12Chương 1: ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO- ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC ĐÔNG

NAM BỘ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ KẾ CẬN

15

2.4 Xu thế chuyển động và ứng suất - biến dạng hiện đại khu vực

thành phố Hồ Chí Minh

49

2.5 Đánh giá vận tốc dịch chuyển thẳng đứng khu vực thành phố

Hồ Chí Minh theo kết quả quan trắc lặp trọng lực

54

Chương 3: HIỆN TRẠNG “HỐ TỬ THẦN” TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

56

3.2 Phân tích nguyên nhân nhân sinh có thể gây nên sự xuất hiện

„Hố tử thần“

63

Chương 4: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ KHOANH

VÙNG CẢNH BÁO NGUY CƠ SỤT LỞ ĐẤT ĐÔNG NAM BỘ

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC ẢNH MINH HỌA

Ảnh 0.1: “Hố tử thần” tại giao lộ Lê Thánh Tôn – Pasteur (quận 1, TPHCM) Hố có

chiều sâu 2,3m, rộng 1,5m, trong lòng hố không có nước (ngày 1 tháng 3 năm 2011)

Ảnh 0.2: “Hố tử thần” xuất hiện trên đường Hai Bà Trưng vào hôm 20.10.2010

Ảnh 0.3: Chiều ngày 14/9/2010, một chiếc taxi đã bất ngờ húc đầu xuống một cái hố sâu

gần 2m và rộng 20m² khi đang chạy trên đường Lê Văn Sỹ, Q.3, Tp Hồ Chí Minh

Ảnh 3.1: Xe tải sập “hố tử thần” lật chổng vó giữa đường ngày 16/11/2010

Ảnh 3.2: Đất xung quanh sạt lở rất nhanh khiến đầu chiếc xe taxi càng lúc càng lún sâu xuống hố nước ngày 14/9/2010 trên đường Lê Văn Sỹ

Ảnh 3.3: Hố tử thần trên giao lộ Lê Thánh Tôn – Pasteur ngày 1/3/2011

Ảnh 3.4: Một hố rộng xuất hiện tại Tp Hồ Chí Minh

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu

Bảng 1.2: Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu

Bảng 2.1: Các đứt gãy trong phạm vi khu vực TP Hồ Chí Minh 1/50 000, các chỉ số cấp

đứt gãy trong ngoặc đơn là cấp đứt gãy so với quy mô thạch quyển Việt Nam

Bảng 2.2: Kết quả đo lặp trọng lực năm 1989 và 2005

Bảng 3.1: Kết quả điều tra “Hố tử thần” tại thành phố Hồ Chí Minh

Bảng 3.2: Tổng hợp các sự cố lún sụp mặt đường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

(tính đến cuối năm 2010)

Bảng 4.1: Kết quả khảo sát sụt lún đất Đông Nam Bộ

Bảng 4.2: Đặc điểm động học đứt gẫy kiến tạo khu vực Đông Nam Bộ

(Phương pháp dải khe nứt)

Bảng 4.3: Đặc điểm động học đứt gẫy kiến tạo khu vực Đông Nam Bộ

(Phương pháp 3 hệ khe nứt cộng ứng)

Bảng 4.4: Trường ứng suất kiến tạo hiện đại khu vực Đông Nam Bộ

(Phương pháp kiến tạo động lực)

Bảng 4.4: Đặc điểm động học đới đứt gẫy Sông Sài Gòn (Phương pháp dải khe nứt)

Bảng 4.5: Đặc điểm động học đới đứt gẫy Sông Sài Gòn

(Phương pháp 3 hệ khe nứt cộng ứng)

Bảng 4.6: Trường ứng suất kiến tạo hiện đại dọc đới đứt gẫy Sông Sài Gòn

(Phương pháp kiến tạo động lực)

Bảng 4.7: Kết quả đo trọng lực thời kỳ 1978-2005

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Sơ đồ phân khối cấu trúc và hệ thống đứt gãy(chỉ dẫn được đề cập trong nội

dungphần viết) (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/ 250 000)

Trang 11

Hình 1.2: Mặt cắt địa chấn ngang qua đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh với các đứt gãy

dạng “hình hoa” chủ yếu hoạt động đến Miocen giữa (nguồn: M.B.H Fyhn và nnk, 2007), đường mặt cắt qua phần bắc của trũng Phú Khánh

Hình 1.3: Ba đứt gãy thứ cấp của đứt gãy kinh tuyến 109 (nguồn: trong Tran Nghi et al,

2008)

Hình 1.4: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến (109 0

30’) tạo ra các khối sụt lún địa hình đáy biển (Tuyến Malugin 65) nguồn: Phạm Năng

Vũ, 2007

Hình 1.5: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến 109 0 30’ )

ở khu vực phía đông nam đảo Phú Quý (Tuyến Malugin 68) (nguồn: Phạm Năng Vũ, 2007)

Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu trong bình đồ kiến tạo Nam Bộ

Hình 2.2: Mặt Moho và móng kết tinh khu vực TP HCM (tỷ lệ 1/50 000)

Hình 2.3: Mặt móng trầm tích Kainozoi khu vực TP Hồ Chí Minh Chỉ dẫn: Đường liền

đen dạng tuyến là đứt gãy, contour xanh nõn chuối là móng trầm tích Kainozoi cao 0m, đường liền màu tím là ranh giới địa phận TP Hồ Chí Minh

Hình 2.4: Sơ đồ bố trí tuyến đo địa chấn nông (phản xạ) khu vực TP Hồ Chí Minh

(đường đậm màu đỏ là tuyến địa chấn và chữ kèm theo là số hiệu tuyến)

Hình 2.5: Mặt cắt và biên độ dịch chuyển móng trước Kainozoi ngang qua địa phận TP

Hồ Chí Minh theo tuyến V-V (xem sơ đồ tuyến ở chuyên đề 3 – phần thu thập và phân tích tài liệu hiện có, phụ đề tài Địa động lực )

Hình 2.6: Bề rộng phạm vi ảnh hưởng của đứt gãy gãy sông Sài Gòn trên mô hình DEM Hình 2.7: Phân tích móng cấu trúc trầm tích Kainzoi khu vực TP Hồ Chí Minh xác định

đặc trưng dịch chuyển ngang và đứng tương đối qua đứt gãy Lộc Ninh – TP Hồ Chí Minh

Hình 2.8: Đứt gãy Thiên Tân – Bình Sơn cắt dịch móng trầm tích Kainozoi với biên độ

30m, mặt trượt cắm về phía tây nam, cắt dịch trầm tích Pliocen muộn với biên độ 5m (Ma Công Cọ và nnk, 2007

Hình 2.9: Mặt cắt cấu trúc các móng trầm tích Kainozoi khu vực Tp Hồ Chí Minh

Hình 2.10a: Hướng và độ lớn vector dịch chuyển ngang ở độ sâu 1km khu vực TP.Hồ Chí

Hình 2.11a: Phân vùng dịch chuyển đứng hiện đại ở độ sâu 1km khu vực TP.Hồ Chí

Minh và lân cận (1/50 000), vùng màu vàng nâng tương đối, xám là hạ lún tương đối

Hình 2.11b: Phân vùng tích lũy ứng suất hiện đại ở độ sâu 1km: âm (giãn) màu xanh và

dương (nén) màu cam ở độ sâu 1km khu vực TP.Hồ Chí Minh và lân cận (1/50 000)

Hình 2.11c: Xu thế biến dạng nén và giãn hiện đại ở độ sâu 1km khu vực TP.Hồ Chí

Minh và lân cận (1/50 000), màu trắng – trung gian; kẻ ga rô đỏ – nén ép, nâng; xanh – giãn, sụt

Hình 2.11d: Phân vùng tích lũy ứng suất hiện đại ở độ sâu 15km khu vực TP.Hồ Chí

Minh (mặt cắt AB- hình 25), màu xanh (âm) – giãn; màu cam - đỏ là dương (nén, nâng)

Hình 2 12: Sự biến đổi ứng suất trượt nén – trượt giãn từ 0-15km theo đường mặt cắt

AB (Hình 2 11d)

Trang 12

Hình 2.13: Vị trí điểm quan sát trọng lực khu vực Tp Hồ Chí Minh và kề cận

Hình 3.1: Phân bố “Hố tử thần” tại thành phố Hồ Chí Minh

Hình 4.2a: Sơ đồ đứt gẫy tích cực khu vực Đông Nam Bộ

Chú thích: Các đứt gẫy chính (1), phụ (2), trượt bằng (3), thuận (4), vị trí nứt đất (5), điểm khảo sát và số hiệu (6), các trạng thái ứng suất hiện đại: trượt bằng (7), trượt-giãn (8)

Hình4 2b: Dấu hiệu địa mạo xác định tính chất hoạt động của đứt gẫy ở khu vực Đông

Nam Bộ Đứt gẫy, hướng và biên độ dịch chuyển (1), sông, suối (2)

Hình 4.3: Sơ đồ mật độ khe nứt hiện đại khu vực Đông Nam Bộ

Hình 4.4: Khoanh vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất khu vực Đông Nam Bộ

Hình 4.5: Sơ đồ địa chất Thành phố Hồ Chí Minh và lân cận

Hình 4.6: Sơ đồ cấu trúc kiến tạo hiện đại Thành phố Hồ Chí Minh và lân cận

Hình 4.7: Sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất theo yếu tố mật độ khe nứt hiện

đại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Hình 4.8: Sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất theo yếu tố đới ảnh hưởng động

lực đứt gẫy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

MỞ ĐẦU

Miền Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng ảnh hưởng của đới đứt gãy Sông Sài Gòn Đây là đới đứt gãy có biểu hiện hoạt động mạnh trong Tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại Biểu hiện hoạt động sụt lở đất tại Đông Nam Bộ xảy ra khá thường xuyên, gây phá hủy đường giao thông, vùi lấp đất trồng và các công trình dân sinh cũng như quốc phòng

Ảnh 0.1: “Hố tử thần” tại giao lộ Lê Thánh Tôn – Pasteur (quận 1, TPHCM) Hố

có chiều sâu 2,3m, rộng 1,5m, trong lòng hố không có nước (ngày 1 tháng 3 năm 2011)

Ở nước ta đã từng có tai biến sụt lở đất gây hậu quả nghiêm trọng, điển hình là ở Cam Lộ (Quảng Trị), năm 2006; Quốc Oai (Hà Nội), 2008 và Thanh Ba (Phú Thọ), 2002-2003-2004; Phú Lão - Lạc Thuỷ (Hoà Bình), 2005 gây thiệt hại khá lớn về nhà cửa, đất canh tác, các công trình giao thông, thuỷ lợi v.v

Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu các loại hình tai biến môi trường tự nhiên đặc thù như động đất khu vực Đông Nam Bộ, xói lở bờ sông Sài Gòn, Tuy nhiên, về nghiên cứu sụt lở đất vẫn còn hết sức sơ lược, chưa đủ độ chi tiết phục vụ cho việc quy hoạch và sử dụng hợp lý lãnh thổ Mặt khác, những nghiên cứu trước đây đều là những nghiên cứu mang tính đánh giá tổng hợp tất cả các yếu tố gây tai biến, không mang tính định hướng, gắn tai biến sụt lở đất với đặc điểm địa động lực hiện đại Những

mô tả về hiện tượng sụt lở đất trong thời gian qua tại Tp Hồ Chí Minh cho thấy, ngoài nguyên nhân nhân sinh ra còn có thể có mối liên quan mật thiết với đặc điểm kiến tạo - địa động lực hiện đại trong khu vực

Trang 14

Ảnh 0.2: “Hố tử thần” xuất hiện trên đường Hai Bà Trưng vào hôm 20.10.2010

Tai biến địa chất là hiện tượng địa chất hoặc có liên quan đến địa chất xuất hiện tự nhiên hoặc do con người gây ra, gây nguy hiểm hoặc có tiềm năng gây nguy hiểm cho tính mạng và tài sản của con người Sụt lún đất là hiện tượng sụt lún, hạ bề mặt đất thấp hơn so với xung quanh, là một trong những dạng tai biến địa chất nguy hiểm, gây tổn thất cho đời sống của con người Sụt lún đất được hình thành và phát triển do nhiều yếu tố tác động khác nhau: nhóm các yếu tố tự nhiên và nhóm các yếu tố hoạt động kinh tế của con người

Trong thời gian qua, hiện tượng sụt lún đất xuất hiện và phát triển khá mạnh mẽ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Chỉ trong một thời gian ngắn trong năm 2009-2010

đã xuất hiện 60 vị trí sụt lún đất (Ảnh 0.1,0.2,0.3) Các vị trí sụt lún đất phân bố tập trung

ở trên địa bàn các quận nội thành (các quận 1, 2, 3, 5, 8 và 9), phía đông thành phố Hồ Chí Minh Các hố sụt lún xảy ra trên các tuyến đường giao thông, khu tập trung dân cư, dọc bờ các tuyến kênh mương, đã phá huỷ một số đoạn đường, lún sụt các công trình khu dân cư, phá huỷ một số đoạn bờ kênh mương

Bởi những lý do trên nên đề án tư vấn phản biện: "Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành “hố tử thần” khu vực Đông Nam Bộ” cần được tiến hành, nhằm làm sáng tỏ tính đặc thù của loại hình tai biến sụt lở đất và tìm kiếm giải pháp khắc phục tình trạng “hố tử thần” hiện nay tại Tp Hồ Chí Minh

Việc khảo sát thực địa với mục đích điều tra tình trạng sụt lún đất khu vực Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh đã được đoàn cán bộ Hội Khoa học Kỹ thuật Địa vật

lý Việt Nam tiến hành trong tháng 4 và tháng 5 năm 2011 Kết quả cho thấy:

- Tại khu vực Đông Nam Bộ hiện tượng nứt đất và nứt đất tạo sạt lở xuất hiện phổ biến tại các vách núi là chủ yếu, không thấy xuất hiện các “Hố tử thần” dọc các đường quốc lộ hoặc khu vực dân cư

- Hiện tượng sụt lở đất tạo “Hố tử thần” chỉ xuất hiện chủ yếu tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, dọc các đường lớn, đường dân sinh và khu vực dân cư Hiện tượng xuất hiện các “Hố tử thần” này đã gây cản trở giao thông nội thành và hoang mang của

Trang 15

cộng đồng dân cư

Vì những lý do trên đây nên mặc dù tiêu đề của đề án là "Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành “hố tử thần” khu vực Đông Nam Bộ” nhưng để sát với thực tế những gì quan sát được chúng tôi tiến hành nghiên cứu riêng rẽ hai hiện tượng: nứt đất gây trượt lở tại khu vực Đông Nam Bộ và sụt lở đất tạo “Hố tử thần” tại thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp giảm thiểu thiệt hại

Các tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học

và Kỹ thuật Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ và cấp kinh phí để Hội Khoa học Kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam được tiến hành thành công đề tài này

Trang 16

Chương 1:

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO- ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC

ĐÔNG NAM BỘ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ KẾ CẬN

1.1 Phương pháp nghiên cứu

1.1.1 Mục đích nghiên cứu

a Làm chính xác bình đồ kiến tạo đứt gãy

+ Bổ sung các đứt gãy mới

+ Làm chính xác vị trí, tính chất, đặc điểm cấu trúc và các đặc trưng động hình học của các đứt gãy như kiểu chuyển dịch, bề rộng đới phá hủy, hướng và góc cắm và độ cắm sâu của đứt gãy, tính phân đoạn của đứt gãy

+ Đánh giá mức độ hoạt động của các đứt gãy

Đứt gãy kiến tạo hoạt động là nguồn phát sinh tai biến địa chất, trong đó có nứt sụt đất Các đặc trưng của đứt gãy đặc biệt quan trọng đối với việc đánh giá dự báo đới động lực của các đứt gãy có nguy cơ gây nên hiện tượng sụt lún đất và “hố tử thần”

b Làm chính xác đặc điểm cấu trúc kiến tạo, địa động lực hiện đại nhằm làm rõ vai trò và đặc điểm cấu trúc và hoạt động của các đứt gãy

+ Các đơn vị kiến tạo, lịch sử hình thành và phát triển của chúng

+ Trường ứng suất hiện đại và đặc điểm vận động của chúng

1.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành các nội dung nghiên cứu của đề án chúng tôi tiến hành sử dụng các phương pháp phân tích số liệu: viễn thám, phương pháp kiến tạo, địa mạo, địa vật lý, địa hóa Phương pháp viễn thám cho phép làm chính xác vị trí, cấu trúc các đứt gãy đã biết, phát hiện các đứt gãy mới, tìm dấu hiệu hoạt động của các đứt gãy Các phương pháp địa mạo, địa chất, kiến tạo truyền thống giúp xác định vị trí, bề rộng, các đặc trưng động hình học, trường ứng suất và các dấu hiệu hoạt động của đứt gãy

a Phương pháp thu thập phân tích tổng hợp các tài liệu hiện có

Mục đích thu thập và phân tích tổng hợp các tài liệu địa chất, địa tầng, lỗ khoan, chuyển động hiện đại , biến dạng vỏ Trái đất, địa mạo, kiến tạo, khe nứt, nứt đất, động đất, mặt cắt địa chấn, ảnh viễn thám, địa hình, DEM …từ nguồn tài liệu trong và ngoài nước Kết quả lập sơ đồ kiến tạo - địa động lực khu vực nghiên cứu thể hiện ở tỷ lệ 1/250

000 Đây là cơ sở tiến hành các hạng mục công việc nghiên cứu khảo sát, kiểm tra tiếp theo như kiến tạo, địa chất và tai biến nứt – sụt đất và « hố tử thần »

b Phương pháp ảnh viễn thám và địa hình độ cao số (DEM)

Nhằm xác định biểu hiện tồn tại và mức độ hoạt động của đứt gãy, cũng như chính xác hóa vị trí đứt gãy, bề rộng ảnh hưởng và chiều dài phát triển của đứt gãy, tính phân đoạn của đứt gãy Hầu hết các nghiên cứu cho rằng đứt gãy có biểu hiện trên ảnh viễn thám phần lớn hoạt động trong Pliocen – Đệ Tứ hoặc tối đa trong Tân kiến tạo

– Phân tích ảnh viễn thám

Phân tích ảnh viễn thám giúp xác định sự tồn tại, phương phát triển và vị trí, biểu hiện hoạt động các đứt gãy trẻ và mối quan hệ giữa chúng, xê dịch các đối tưọng ảnh, địa hình Bề rộng ảnh hưởng động lực đứt gãy phản ánh bởi đặc điểm phân bố và mật độ photolineament hoặc DEM Các ảnh được sử dụng gồm ảnh Landsat ETM+ thế hệ 2001

Trang 17

– 2004, Landsat TM 1989-1993, 1972-1973 Phương pháp này phát hiện dấu hiệu các đứt gãy có hiệu quả cho vùng lộ, kém hiệu quả cho vùng phủ

– Phân tích DEM

Bản chất của phương pháp này là phân tích mô hình độ cao số (Digital Elevation Model) viết tắt là DEM Gần đây phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Mức độ biểu hiện rõ nét về quy mô trên địa hình của các đứt gãy hoạt động phản ánh mức độ hoạt động của đứt gãy theo cả hai ý nghĩa thời gian và cường độ Tuổi hoạt động tương đối của đứt gãy có thể xác định dựa trên quan hệ xuyên cắt, xê dịch phá hủy các yếu tố địa hình và địa mạo, các thành tạo địa chất đã được định tuổi Phân tích địa hình độ cao số có ưu điểm là dễ phát hiện các dị thường địa hình tuyến tính thường phản ánh dấu hiệu sự tồn tại và biểu hiện hoạt động các đứt gãy trẻ mà nhiều khi phân tích ảnh viễn thám khó phát hiện Nguồn DEM của cơ quan NASA, Mỹ, chụp lập thể mặt đất từ vệ tinh bước sóng rada, độ phân dải 90m

c Phương pháp phân tích địa tầng, địa tầng - địa chấn

Nhằm phân chia các đơn vị địa tầng nói chung và đặc biệt các đơn vị địa tầng Kainozoi nói riêng theo thành phần thạch học, tuổi và nguồn gốc bằng cách liên kết các

lỗ khoan, hố đào, diện lộ đá khác nhau theo tuyến phân tích cắt ngang với đứt gãy hoặc các tuyến mặt cắt địa chấn ngoài biển Đây là cơ sở để phát hiện sự tồn tại và tuổi các pha đứt gãy hoạt động thông qua việc thành lập các bản đồ đẳng móng và đẳng dày trầm tích Kainozoi sớm, Miocen, Pliocen, Pleistocen và Holocen Kết quả việc lập các bản đồ này giúp ích cung cấp thêm thông tin đánh giá mức độ hoạt động đứt gãy, biên độ dịch chuyển đứng và biên độ dịch chuyển ngang, tuổi hoạt động của đứt gãy, trợ giúp phân chia các pha hoạt động của đứt gãy trong Tân kiến tạo (Neogen tới nay)

Phương pháp phân tích bề mặt bất chỉnh hợp kiến tạo khu vực, các biến dạng trầm

tích Pliocen – Đệ Tứ nhằm xác định khung thời gian xảy ra biến dạng trình tự và tuổi đứt

gãy hoạt động, kiểu địa động học của các đứt gãy trong giai đoạn trẻ, chế độ biến dạng (trượt bằng, ép nén, căng giãn …), là một trong những thông tin làm cơ sở cho việc lập lại lịch sử phát triển đứt gãy và sự tiến hóa các yếu tố cấu trúc kiến tạo

d Phương pháp kiến tạo vật lý

– Phương pháp phân tích dải khe nứt

Nhằm xác định hướng cắm và góc cắm, kiểu dịch chuyển dọc đứt gãy trên cơ sở phân tích cực trị khe nứt phân bố theo cung tròn trên cầu chiếu tạo nên dải khe nứt, trong

đó cực trị lớn nhất thường trùng với mặt trựợt đứt gãy Giao tuyến của mặt trượt đứt gãy với dải khe nứt trên cầu chiếu nối với tâm cầu chiếu chính là phương trượt của đứt gãy Kết quả phân tích này giúp ta biết được đứt gãy trượt bằng hoặc trượt đứng và các kiểu trung gian giữa các hợp phần chuyển động này Chiều dịch chuyển các đứt gãy và số pha hoạt động thu được từ việc phân tích mối tương quan giữa các cực trị khe nứt và quan sát thực địa Phương pháp này được Danilovitch, 1963 đề xuất và chứng minh Hiện được triển khai rộng rãi ở Việt Nam và trên thế giới

- Phương pháp phân tích hệ 3 khe nứt cộng ứng

Được chứng minh và áp dụng thành công cả về lý thuyết và thực nghiệm bởi K.Z Semenski, 1986 Tại các vị trí mặt cắt qua đứt gãy và dọc theo đứt gãy hoạt động các đá

bị biến dạng tạo nên hai khe nứt cộng ứng với góc thay đổi từ 60 – 1200 là phổ biến tùy thuộc vào điều kiện biến dạng dòn góc cộng ứng giữa hai hệ khe nứt (60 – 900) hoặc dẻo (90-120) Theo thời gian biến dạng ứng suất suy giảm dẫn đến sự hoán vị giữa các trục ứng suất: giữa trục ứng suất nén hoặc giãn với trục ứng suất trung gian dẫn đến hình

Trang 18

thành hệ khe nứt thứ ba chiếm số lựơng ít nhất (gọi là khe nứt thứ yếu hoặc bổ sung) có thế nằm trong không gian gần vuông góc với hệ khe nứt chính và hệ khe nứt phụ Như vậy khi đứt gãy hoạt động và sinh thành sẽ xuất hiện 3 hệ khe nứt cộng ứng theo thứ tự nêu trên Đứt gãy trượt bằng thì hệ khe nứt chính và phụ cắm gần đứng 60 – 900 và gần vuông góc với nhau, hệ khe nứt thứ yếu nằm gần ngang, 0 – 300

Đứt gãy trượt nghịch thì hệ khe nứt chính và phụ ở hai cánh đứt gãy có phương trùng với đứt gãy song cắm chụm vào nhau, đứt gãy trượt thuận thì chúng cắm hướng ra ngoài, hệ khe nứt thứ yếu lại cắm gần đứng Trong thực tế đứt gãy thường có kiểu trượt trung gian giữa 3 kiểu cơ bản nói trên, dựa vào phân tích chúng trên cầu chiếu hoàn toàn xác định được tính chất đứt gãy Việc xác định bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy bằng phương pháp hệ 3 khe nứt cộng ứng là khả thi với việc bố trí các mặt cắt khảo sát vuông góc với đứt gãy căn cứ vào sự tương quan giữa 3 hệ khe nứt này có thể biết được bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy

- Phương pháp phân tích kiến tạo động lực do Nikolaev, 1992 đã chứng minh

bằng cả lý thuyết và thực nghiệm Bản chất của phương pháp là trong một elipsoid biến dạng theo thời gian các hệ khe nứt sẽ phân tán xa dần trục biến dạng ép nén hoặc xích lại trục biến dạng căng giãn Như vậy căn cứ vào sự phân tán có hướng theo quy luật nêu trên sẽ xác định các cặp khe nứt cộng ứng mà không cần sự đồng quy hướng chuyển động các cánh đứt gãy Kết quả cho phép khôi phục trạng thái ứng suất sinh thành các hệ khe nứt đó, các pha dịch chuyển dọc theo đứt gãy nhờ phân tích trên biểu đồ cầu hoặc chữ nhật

Nhìn chung khi phân tích cả 3 phương pháp trên đều dùng kết hợp để bổ sung, kiểm tra và hỗ trợ cho nhau

- Phương pháp phân tích mặt trượt vết xước nhằm xác định tính chất dịch chuyển

và thứ tự cổ đến trẻ của các pha hoạt động để lại dấu ấn trên mặt trượt đứt gãy dựa vào mối quan hệ giao cắt giữa các kiểu mặt trượt vết xước Đây là cơ sở quan trọng đề phân chia các pha hoạt động của đứt gãy khôi phục cổ ứng suất kiến tạo

- Phương pháp phân tích tensor ứng suất để tách và khôi phục trạng thái cổ ứng suất kiến tạo (paleostress)

Được phát triển bắt đầu từ năm 1975 ở Châu Âu và hiện đã triển khai rộng rãi trên toàn thế giới phục vụ rất tốt cho công tác nghiên cứu động đất và địa động lực hiện đại, thăm dò và khai thác khoáng sản, đánh giá và dự báo tai biến địa động lực Hiện có rất nhiều cách tiếp cận giải quyết phương pháp này Trong công trình này chủ yếu sử dụng phương pháp nêu trên của GS.TS Angerlier, 1975 – 1994 Chi tiết về phương pháp và ứng dụng đã được công bố trong nhiều công trình gần đây (Đỗ Văn Lĩnh và nnk, 2005 -2009)

- Phân tích cơ chế chấn tiêu động đất xác định trạng thái ứng suất hiện đại

Kết quả của phương này cho biết trường ứng suất kiến tạo hiện đại chi phối trận động đất đó Giải bài toán ngược nhiều cơ chế chấn tiêu động đất bằng phân tích tensor ứng suất đạt được tensor ứng suất trung bình phản ánh trạng thái ứng suất hiện đại khu vực (Angerlier, 1994)

Trong một trận động đất cơ chế vùng nguồn phát sinh được biểu diễn bằng hai mặt nodal vuông góc với nhau, trong đó có một mặt là đứt gãy thực dịch chuyển phát sinh động đất, mặt kia là mặt ảo hay mặt phụ Biểu diễn hai mặt nodal lên cầu chiếu nổi được

4 cung phần tư đối đỉnh với nhau Trục ứng suất ép nén sẽ nằm trong cung phần tư chứa sóng giãn (sóng P – nhận được đầu tiên chúi xuống trên băng sóng), và trục ứng suất căng sẽ nằm trong cung phần tư chứa sóng nén (sóng P – nhận được đầu tiên ngóc nên trên băng sóng)

Trang 19

e Phương pháp phân tích hình thái kiến trúc dựa vào mối quan hệ giữa các yếu

tố cấu trúc đứt gãy, uốn nếp, đai mạch, quy lật phân bố họng núi lửa, trũng trầm tích, vết nứt đất, chất liệu nhét lấp, đới cà nát, milonit hóa, đới khe nứt tăng cao cho phép xác định

sự tồn tại của đứt gãy và chế độ địa động đã từng trải qua tại khu vực nghiên cứu

f.- Phương pháp phân tích các tổ hợp thạch kiến tạo khôi phục các bối cảnh địa

động lực đã từng trải qua tại khu vực nghiên cứu

g Phương pháp phân tích địa mạo – kiến tạo nhằm phát hiện và xác định vị trí

đứt gãy, tính chất chuyển động nâng hạ dọc theo đứt gãy, biến dạng các bề mặt san bằng, các pha và mức độ hoạt động của đứt gãy trong Tân kiến tạo …

h Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu địa vật lý (từ, trọng lực, địa

chấn) giúp cho việc khẳng định và phát hiện sự tồn tại của đứt gãy, cấu trúc sâu, vị trí, phương, thế nằm, bề rộng và độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy, phân cấp cấu tạo đứt gãy, biên độ nâng hạ, dịch ngang, mức độ hoạt động, hướng cắm và góc cắm của đứt gãy …

i Phương pháp lộ trình khảo sát địa chất không thể thiếu được trong công tác

nghiên cứu đứt gãy và kiến tạo nói riêng và lĩnh vực địa chất nói chung nhằm kiểm tra,

bổ sung và chứng minh các kết quả phân tích văn phòng

j Phương pháp đo radon (đo eman) nhằm đánh giá mức độ biểu hiện hoạt động

các đứt gãy khu vực bằng cách đo tức thời nồng độ khí Radon, phục vụ việc đánh giá và

dự báo đới đứt gãy hoạt động

- Phương pháp đo nồng độ khí Radon bằng phương pháp Eman, còn được gọi là

đo Eman, khí Radon đo được bằng phương pháp Eman còn được gọi là khí Eman

Trong tự nhiên chủ yếu tồn tại 3 đồng vị rađon:

- 222Rn là sản phẩm tự nhiên trong chuỗi phân rã của 238U, có thời gian sống dài nhất: 5,508 ngày, chu kỳ bán rã 3,825 ngày

- 220Rn là sản phẩm trong chuỗi phân rã của 232Th và thường được gọi là thoron, có thời gian sống 80,06 giây, chu kỳ bán rã 55,6 giây

Rađon là khí trơ không mùi, không màu, không vị, có khối lượng nguyên tử 222, mật độ ở 273°K là 9,73 g/l, nhiệt độ sôi -62°C Rađon thoát từ đất đá đi vào không khí bằng con đường khuếch tán và đối lưu

Trong thạch quyển, rađon (222Rn) liên tục được sinh ra từ chuỗi phân rã đồng vị Urani và Thori Trong đó chỉ có (222Rn) là dạng khí dễ thoát ra được lưu lại trong các khe nứt - lỗ hổng của đất đá Khi đứt gãy hoạt động, rađon di chuyển từ các đới dập vỡ, phá huỷ kiến tạo ở sâu trong lòng đất lên mặt đất (theo hướng áp suất và nhiệt độ giảm dần)

và hoà vào khí quyển Ở nơi các đứt gãy hoạt động, rađon thường tạo thành các vành dị thường trong lớp đất sát bề mặt, chỗ nó xuất lộ Nghiên cứu hàm lượng rađon (222Rn86)trong lớp đất này có thể thu được những thông tin phản ánh hoạt động kiến tạo hiện đại ở khu vực đó Rađon được chọn để nghiên cứu đứt gãy dựa trên các cơ sở sau đây:

- Rađon là khí trơ, nên nó không kết hợp với các nguyên tố khác trong thời gian di chuyển từ dưới sâu lên mặt đất, dễ xác định, dễ theo dõi;

- Chu kỳ bán rã của rađon là 3,82 ngày, vừa đủ để có thể xác định được sự thoát liên tục của rađon từ một vị trí nào đó (nguồn phát sinh) Vì vậy nó thích hợp cho công việc nghiên cứu

k Phương pháp biến đổi ứng suất Coulomb dự báo đặc trưng biến đổi ứng suất

và dịch chuyển dọc theo các đứt gãy

Thực chất của phương pháp là tính toán sự tối ưu hóa về hành vi ứng xử của các đứt gãy về tích lũy ứng suất và dịch chuyển hiện đại dựa trên sự tương quan giữa trường ứng suất kiến tạo hiện đại và hình động học của các đứt gãy theo tiêu chuẩn phá hủy

Trang 20

Coulomb Phá hủy xảy ra trên một mặt phẳng khi ứng suất Coulomb σf vượt quá một giá trị xác định.: σf = τβ – µ (σβ –p), trong đó τβ là ứng suất tiếp tuyến trên mặt phá hủy, σβ là ứng suất pháp tuyến, p là áp suất lỗ rỗng, µ là hệ số ma sát

Tham số chính được đưa vào tính toán

Các tham số đầu vào cho tính toán gồm: các đứt gãy được phân chia theo bậc, độ dài đọan đứt gãy, phương kéo dài, hướng cắm và góc cắm, bề rộng và độ sâu ảnh hưởng, chiều dịch chuyển trong N2 – Q, cực đại khả năng phát sinh động đất, độ sâu ảnh hưởng Đối với các đứt gãy không xác định được chiều dịch chuyển và cực đại phát sinh động

đất coi như đứt gãy đường nứt (khe nứt)

Hệ số ma sát 0,6; tỷ số poisson 0,25; modul Young 80 000 bar Hệ số ứng suất được tính cho hai trường hợp 0,02 và 0,95 tương ứng với giá trị của S1=500, S2 =-450,

450, S3 = -500 Hướng ứng suất hiện đại tác động vào S1=340/20 -25 (tương đương phương BTB-NĐN, góc dốc 20 - 250), S2=Cđ/60-90, S3= 70/0-9 (phương ĐĐB – TTN, góc dốc 0 – 90)

1.2.1.Vị trí kiến tạo khu vực nghiên cứu

Trong bình đồ kiến tạo hiện nay, khu vực nghiên cứu là một phần đông nam của mảng thạch quyển Âu – Á Mảng thạch quyển này được chia làm hai phần là rìa mảng và nội mảng Vùng nghiên cứu thuộc phần nội mảng

Trong Kainozoi muộn, vùng nghiên cứu là phần rìa đông nam Indosinia thuộc phần nội mảng ở trung tâm Đông Nam Á - phần đông nam mảng Âu – Á Phía Đông giáp với mảng Thạch quyển Thái Bình Dương qua đới hút chìm Guinea-Philippin, phía Tây và Nam giáp với mảng Thạch quyển Ấn – Úc qua đới hút chìm Miến Điện – Nicobar – Sumba và va mảng Timor là nhữnh đứt gãy cấp I thạch quyển thế giới (Cao Đình Triều, Phạm Huy Long, 2002) Dọc theo các đới hút chìm này trong hiện tại quá trình hoạt động động đất mạnh mẽ và liên tục Ranh giới giữa mảng Thạch quyển Thái Bình Dương và mảng Thạch quyển Ấn – Úc là đứt gãy trượt bằng trái Sorong

Trong Kainozoi sớm, khu vực nghiên cứu nói riêng và Indosinia nói chung vẫn thuộc phần trung tâm Đông Nam Á nằm ở phía đông nam nội mảng Âu – Á chịu sự tác động của hai quá trình địa động lực lớn: quá trình va chạm Ấn – Á ở phía tây đẩy trồi Indosinia về phía đông – đông nam dọc theo các hệ thống đứt gãy trượt bằng Ba Tháp (Three Pagoda – Maeping), đứt gãy Sông Hồng phương TB - ĐN và quá trình tách giãn Biển Đông ở phía đông bắt đầu từ Creta muộn (Holloway, 1980; K.Ru&Pigott, 1986) và tiếp tục tách giãn cực đại tạo vỏ đại dương mới Biển Đông trong khoảng 32-16 triệu năm (Taylor &Hayes, 1983)

Trong Mesozoi muộn, lãnh thổ Nam bộ nói chung là phần rìa đông – đông nam Indosinia bị hoạt hóa magma – kiến tạo mạnh mẽ do xuất hiện đới hút chìm kiểu rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn kéo dài từ ĐN Trung Quốc qua Tuy Hòa tới khu vực Tri Tôn – An Giang và có thể đến tận Malay (Huchison, 1992)

Trang 21

1.2.2 Các đơn vị cấu trúc - địa động lực khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và kế cận

1.2.2.1 Nguyên tắc phân vùng cấu trúc - địa động lực

Phân vùng cấu trúc – địa động lực dựa vào đặc điểm cấu trúc vỏ (đại dương, lục

địa, chuyển tiếp) theo luận thuyết kiến tạo mảng kết hợp với đặc trưng phân bố các tổ hợp thạch địa động, đặc trưng về biến dạng và chế độ địa động lực hiện đại khác nhau, song chủ yếu là theo hướng cấu trúc – địa động lực Kainozoi, chủ yếu trong Tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại Theo nguyên tắc này khu vực nghiên cứu sẽ được phân ra các đơn vị cấu trúc – địa động lực gồm các khối cấu trúc – địa động lực, phụ khối cấu trúc – địa động lực

Cụ thể với các tiền đề và dấu hiệu sau:

- Ranh giới giữa các đơn vị này là các đứt gãy hoạt động hoặc các đới tăng cao mật độ chiều dài lineament

- Đặc điểm chuyển động đứng và ngang giữa các đơn vị cấu trúc – địa động lực, luôn phân dị về đặc trưng kiến tạo, tương phản về hướng chuyển động, diễn ra chủ yếu trong Kainozoi, đặc biệt hoạt động mạnh mẽ trong Tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại

- Đặc trưng phân bố các tổ hợp thạch địa động và đặc điểm biến dạng, chuyển động Tân kiến tạo và hiện đại trong từng đơn vị cấu trúc – địa động lực

1.2.2.2 Các đơn vị cấu trúc địa động lực (bản vẽ số 1.1)

a- Miền CTĐĐL Kon Tum – Hà Tiên

Đặc trưng cơ bản của miền này có cấu trúc vỏ lục địa thực thụ, nâng vòm, chuyển động kiểu khối tảng trong Tân kiến tạo và hiện đại Vỏ dày từ 25 – 38km

- Khối CTĐĐL Kon Tum (C.I)

Đặc trưng nổi bật của khối Kon Tum bởi sự phát triển rộng rãi các đá biến chất cao có tuổi Arkeiozoi – Proterozoi Phía bắc khối tiếp giáp với khối Bình Trị Thiên qua đứt gãy Rào Quán – A Lưới và đới khâu Bol Atek Phía đông khối Kon Tum là khối dạng rift Kainozoi sớm Quảng Ngãi và bồn trũng Phú Khánh, ranh giới giữa chúng là đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh Ranh giới phía TN và ĐN khối Kon Tum là đới đứt gãy Tuy Hòa – biên Hòa (Tuy Hòa – Trị An, hoặc Tuy Hòa – Biên Hòa) và đứt gãy Easup – Krong Pach (hình 1.1) Cấu thành nên khối CTĐĐL Kon Tum gồm THTĐĐ tuổi Tiền Cambri – Mesozoi muộn và phủ trên chúng là các đá thuộc tổ hợp thạch địa động (THTĐĐ) nâng vòm khối tảng Tây Nguyên tuổi (N12 – Q) kèm phun trào bazan Khối CTĐĐL Kon Tum

bị phân cắt thành 3 phụ khối: 1 – phụ khối Ea Hleo, 2 – Phụ khối Sông Ba, 3 – phụ Củng

Sơn Đặc trưng cấu trúc – địa động lực các khối có thể mô tả như sau:

- Phụ khối CTĐĐL Ea H’leo (C.I.1)

Phụ Khối EaH’Leo nằm phần tây nam phụ khối Sông Ba, kéo dài trên 250 km theo phương tây bắc - đông nam từ Moray qua Chư Sê, EaH’Leo đến Sông Hinh Đặc trưng của phụ khối này là sự phá hủy móng Tiền Cambri mạnh mẽ bởi các batolit, thể trụ, granitoid thuộc các phức hệ Bến Giằng, Vân Canh Tham gia vào phụ khối này còn có các lớp phủ phun trào trung tính, axit có tuổi Mesozoi (hệ tầng Mang Yang, hệ tầng Chư Prông) Các lớp phủ này có diện tích không lớn từ 25 - 30 km2 đến 400 km2

- Phụ khối Sông Ba (C.I.2)

Phân bố ở phần trung tâm khối Kon Tum, phụ khối Sông Ba kéo dài trên 150 km theo phương tây bắc - đông nam với bề rộng 10 km ở phần đông nam và 20 km ở phần tây bắc, giới hạn khối là cặp đứt gãy chính phía đông bắc và tây nam khối, trải gần song song nhau Tại khu vực Phú Túc, khối Sông Ba có cấu trúc không cân xứng với đứt gãy

Trang 22

chính phía tây nam cắm về đông bắc khỏang 80-840, đứt gãy chính phía đông bắc cắm đứng là chủ yếu (Đỗ Văn Lĩnh, 2007) Lấp đầy khối dạng địa hào này là các trầm tích lục nguyên chứa than tuổi Miocen muộn (hệ tầng Sông Ba), trầm tích Pliocen (hệ tầng Kon Tum) và trầm tích Đệ Tứ mỏng vài chục mét Tổng bề dày các trầm tích khỏang 476m (tại Phú Túc) Phủ không chỉnh hợp lên các thành tạo Miocen muộn ở phần đông nam khối là các trầm tích bở rời tuổi Đệ Tứ bề dày không quá 50 m Từ Chư Sê đến Chư Pan (Phú Hòa) khối bị phủ bởi phun trào bazan Kainozoi muộn (N2 – Q và Q12) có bề dày gần 400 m, ở đây bề dày trầm tích của hệ tầng Sông Ba chỉ còn 100 –120 m Đặc trưng

cơ bản là các trầm tích Miocen – Pliocen có thế nằm cắm chủ yếu về phía tây nam với góc 10 – 300, bị xuyên cắt mạnh mẽ bởi các hệ thống đứt gãy phương TB - ĐN và kinh

tuyến, vĩ tuyến (Đỗ Văn Lĩnh, 2007)

Hình 1.1: Sơ đồ phân khối cấu trúc và hệ thống đứt gãy

(chỉ dẫn được đề cập trong nội dungphần viết)(Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/ 250 000)

Trang 23

- Phụ khối Củng Sơn (C.I.3)

Phụ khối Củng Sơn chiếm phần đông bắc và đông của khối Kon Tum, giới hạn về phía tây nam là khối Sông Ba, phía đông tiếp giáp với khối Phú Khánh qua đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh Tham gia vào cấu trúc khối bao gồm các tổ hợp thạch địa động sau: Granulit Kan Nak, tổ hợp thạch địa động bồn sau cung kiểu Nhật Bản Khâm Đức - Đak

My, tổ hợp thạch địa động thềm lục địa Chư Sê - A Vương, tổ hợp thạch địa động rìa lục địa tích cực kiểu Sunda Đak Lin - Bến Giằng, tổ hợp thạch địa động tạo núi do va mảng Hải Vân, tổ hợp thạch địa động tái cải nhiệt do căng dãn rìa lục địa Vân Canh, tổ hợp thạch địa động magma rìa lục địa tuổi Jura muộn - Creta, tổ hợp thạch địa động nâng vòm khối tảng hoặc kiến tạo ép trồi

Khối CTĐĐL Đà Lạt với đặc trưng cơ bản là sự phát triển mạnh mẽ các đá Mesozoi, một ít đá tuổi Paleozoi muộn phía cực tây nam khối (khu vực tỉnh Bình Phước), khối bị lôi cuốn vào bối cảnh cung magma rìa lục địa tích cực tuổi Mesozoi muộn Trong Kainozoi khối CTĐĐL Đà Lạt nâng bóc mòn mạnh mẽ kiểu khối tảng, có thể đã chịu sự

ép trồi (?) kèm phun trào bazan Kainozoi muộn

Căn cứ vào đặc trưng phát triển cấu trúc, biến dạng và chế độ địa động lực hiện đại có thể chia Khối CTĐĐL Đà Lạt thành 3 phụ khối chính: phụ khối Buôn Mê Thuột, phụ khối Hàm Thuận – Đa My, phụ khối Dầu Tiếng – Vũng Tàu, ranh giới giữa các phụ khối này là các đứt gãy cấp 2 Tuy Hòa – Biên Hòa, đứt gãy cấp 2 Bình Long – Bình Châu (Hình 1.1)

+ Khối CTĐĐL Cần Thơ (C.III)

Khối Cần Thơ chiếm gần trọn vẹn diện tích bồn trũng Đồng Bằng Nam Bộ, nằm phía tây nam khu vực nghiên cứu, tiếp giáp về phía đông bắc với khối Đà Lạt qua đứt gãy Sông Sài Gòn, phía đông nam với khối Bạch Hổ thuộc miền cấu trúc có vỏ chuyển tiếp Cửu Long – Côn Sơn qua đứt gãy cấp 1 Thuận Hải – Minh Hải, phía tây giáp với khối

Hà Tiên qua đứt gãy Cà Mau – Châu Đốc phương kinh tuyến và đứt gãy Rạch Giá – Tây Ninh phương đông bắc Đặc trưng cơ bản của khối Cần Thơ là móng trước Kainozoi bị sụt lún mạnh trong Kainozoi và được lấp đầy bởi các trầm tích Kainozoi dày nhất tới 2100m (trũng Trà Cú) mỏng dần về phía rìa đông bắc và tây nam, tạo kiến trúc dạng lòng chảo với trũng sâu Trà Cú, tương phản và bị bóc mòn suốt trong Kainozoi so với khối

Cần Thơ là khối Đà Lạt Khối Cần Thơ có thể chia làm 3 phụ khối: phụ khối Sài Gòn,

phụ khối Đồng Tháp và phụ khối CTĐĐL Bạc Liêu có đặc điểm trầm tích, và hình thái

móng trước Kainozoi khác nhau

+ Khối CTĐĐL Hà Tiên

Là phần nam của khối nâng Ph Nôm Pênh – Mũi Cà Mau Phía tây khối CTĐĐL

Hà Tiên giáp với khối CTĐĐL Phú Quốc qua đứt gãy Tây Nam Du và đới khâu Mesozoi Hòn Chuối Phía đông và đông bắc khối CTĐĐL Hà Tiên giáp với khối CTĐĐL Cần Thơ qua đứt gãy phương kinh tuyến Cà Mau – Châu Đốc, đứt gãy Rạch Giá – Tây Ninh phương ĐB - TN và đứt gãy Sông Hậu phương TB – ĐN (Hình 1.1)

Trang 24

b Miền CTĐĐL Cửu Long – Côn Sơn

Đặc trưng cơ bản của miền này có chế độ tách giãn kiểu rift, vát mỏng vỏ, sụt lún trong suốt Kainzoi, phân dị móng trước KZ tạo các địa hào, địa lũy Độ dãn đáy khỏang 30km, vỏ mỏng nhất đạt 18km (Huchon at al, 2001) gồm các khối CTĐĐL sau (Hình 1.1): khối Bạch Hổ, khối Côn Sơn và khối ĐN Côn Sơn

+ Khối CTĐĐL Bạch Hổ (T.I)

Trên hình 1.1 khối Bạch Hổ chiếm trọn không gian phân bố bồn trũng Cửu Long

và cấu trúc nâng lộ móng Mesozoi muộn Côn Đảo, kéo dài theo phương ĐB – TN, dạng như kiểu “mũi kiếm’’ vát nhọn khu vực ngoài khơi Cà Ná Ranh giới phía tây bắc của khối là đứt gãy Thuận Hải – Minh Hải, phía đông nam là đứt gãy Tây Côn Sơn Móng cấu trúc trước Kainozoi bị phân dị sụt lún, nâng hạ tạo các địa hào địa lũy xen nhau, với

độ sâu mặt móng trước Kainozoi tới 6000 - 7000m được lấp đầy bởi các trầm tích tướng lục địa vụn thô Eocen (?) lót đáy các địa hào hẹp phương đông bắc – tây nam, phủ trên là các trầm tích dày vài ngàn mét tuổi Oligocen – Miocen, phủ trên nữa là lớp phủ thềm lục địa gồm các trầm tích tướng biển nông tuổi Pliocen – Đệ Tứ

Vỏ trái đất thuộc khối này có dấu hiệu vát mỏng rõ rệt, được phản ánh qua cấu tạo mặt Moho lồi lên với độ sâu cỡ 18km và kéo dài theo phương đông bắc – tây nam

+ Khối CTĐĐL Côn Sơn (T.II)

Có dạng dải hẹp kéo dài phương ĐB – TN, nằm kẹp giữa khối Bạch Hổ phía tây bắc và khối ĐN Côn Sơn về phía đông nam, giới hạn tương ứng hai bên bởi đứt gãy Tây Côn Sơn phía tây bắc và đứt gãy ĐN Côn Sơn về phía đông nam Khối bị chặn lại bởi đứt gãy kinh tuyến 109 Đặc trưng cơ bản của khối là cấu tạo nâng móng trước Kainozoi, đóng vai trò ngăn cách khối Bạch Hổ phía tây bắc và khối Đông Nam Côn Sơn ở phía đông – đông nam cho đến Miocen giữa Phủ trên móng nâng cao nhất là trầm tích Miocen muộn – Đệ Tứ Phía cực đông bắc của khối lộ đá bazan Pleistocen muộn (Đảo Phú Quý), dọc theo cấu trúc đông bắc – tây nam của khối còn xuất hiện một số vòm họng núi lửa hoạt động trẻ phía đông bắc khối, gần đây nhất là phun trào bazan Đảo Tro 1923 Hoạt động động đất dọc theo khối cấu trúc này khá rõ rệt với magnitude lớn hơn hoặc bằng 5

độ richter

+Khối CTĐĐL ĐN Côn Sơn (T.III)

Trên bình đồ cấu trúc, khối ĐN Côn Sơn có dạng nêm vát nhọn về phía cực đông bắc, giới hạn về phía đông bởi đứt gãy kinh tuyến 109, phía tây bắc bởi đứt gãy ĐN Côn Sơn phương ĐB – TN Khối cấu trúc ĐN Côn Sơn chiếm một phần phía tây bắc của bồn trũng Kainozoi Nam Côn Sơn Đặc trưng cơ bản của khối là móng trước Kainozoi bị phân bậc và hạ thấp dần về phía đông – đông nam với mặt móng kết tinh thay đổi độ sâu nhanh từ 2 km đến 8km, và bị phủ bởi lớp phủ trầm tích chủ yếu Miocen sớm – Đệ Tứ dài vài ngàn mét

c Miền CTĐĐL Tây Biển Đông

Ranh giới phía tây của miền CTĐĐL là đứt gãy cấp 1 kinh tuyến 109 và đứt gãy cấp 1 Hải Nam – Phú Khánh (phần kéo dài của đứt gãy Sông Hồng)

Đặc trưng cơ bản nhất của miền CTĐĐL là có cấu trúc vỏ chuyển tiếp + vỏ đại dương và các cấu trúc vỏ lục địa sót Trường Sa – Reed Bank Đặc trưng cơ bản thứ hai là chế độ địa động lực tách giãn kiểu rift trong Kainozoi Khu vực nghiên cứu chỉ chiếm

Trang 25

một phần nhỏ rìa tây của miền CTĐĐL này Tài liệu hiện có đã ghi nhận nhiều trận động đất có độ lớn và tần suất đáng kể và phân bố dọc theo phương kinh tuyến là chính Trạng thái địa động lực của miền này ở phần rìa tây miền cấu trúc tỏ ra tích cực nhất so với các miền CTĐĐL nêu trên Căn cứ vào đặc trưng cấu trúc và kiểu vỏ có thể chia miền cấu trúc này thành hai khối cấu trúc: Khối Phú Khánh (TO.I.1) và Khối Nam Côn Sơn (TO.I.2)

+ Khối CTĐĐL Phú Khánh (TO.I)

Khối CTĐĐL Phú Khánh tiếp giáp về phía tây với miền cấu trúc có vỏ lục địa Kon Tum – Hà Tiên qua đứt gãy kinh tuyến cấp 1 Hải Nam – Phú Khánh, phía nam - tây nam tiếp giáp với khối Nam Côn Sơn qua Shear Tuy Hòa (hoặc đứt gãy Nha Trang)

Trên bình đồ cấu trúc, khối CTĐĐL Phú Khánh chiếm trọn không gian của bồn trũng kéo toạc Kainozoi Phú Khánh Bồn trũng Kainozoi Phú Khánh kéo dài theo kinh tuyến, bị ảnh hưởng mạnh của lực kéo toạc do dịch chuyển trái của đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh trong Kainozoi Lấp đầy bồn trũng có ảnh hưởng của kéo toạc là các trầm tích lục nguyên sông hồ thuộc PHTĐĐ kiểu rift Kainozoi sớm Phủ lên trên chúng là các trầm tích lục nguyên thuộc PHTĐĐ sườn và chân sườn lục địa của rìa lục địa thụ động Bề dày của các thành tạo này thay đổi trong phạm vi lớn, từ vài trăm mét ở rìa đến hơn 10 000m

ở trung tâm Mặt móng kết tinh của khối cấu trúc này phân dị mạnh tạo hai lõm lớn sâu tới 8-10km Nâng trường trọng lực ở độ cao 20km, 30km, 50km đều phản ánh cấu trúc kéo dài theo phương kinh tuyến Mặt Moho lồi lên tạo dải nâng phương kinh tuyến với

độ sâu 22km Mặt móng trước Kainozoi của khối bị phân dị mạnh mẽ tạo nhiều cấu trúc nâng và hạ xen nhau song xu thế hạ thấp nhanh về phía đông

+ Khối CTĐĐL Nam Côn Sơn (TO.II)

Khối CTĐĐL Nam Côn Sơn tiếp giáp về phía tây với miền CTĐĐL có vỏ chuyển tiếp Cửu Long- Côn Sơn qua đứt gãy kinh tuyến 109, phía bắc giáp với khối Phú Khánh qua Shear Tuy Hòa Đặc trưng cơ bản của khối này chiếm hầu hết diện tích của bồn trũng rift Kainozoi Nam Côn Sơn Bồn rift Kainozoi sớm Nam Côn Sơn (Hình 1.1) tiếp giáp với khối Đông Nam Côn Sơn qua đứt gãy Đông Côn Sơn, phía đông khối tiếp giáp với khối kiểu địa lũy Đá Lát – Chữ Thập, khối kiểu rift Vũng Mây (ngoài diện tích nghiên cứu) Phía nam và tây nam khối kiểu rift Kainozoi Nam Côn Sơn là khối nâng Natuna và khooie kiểu rift tây Natuna (ngoài vùng nghiên cứu) Phía nam khối có chiều rộng trên 400km và dần thót lại về phía ĐB (50km), khối kéo dài trên 100km theo hướng ĐB - TN Khối kiểu rift Kainozoi Nam Côn Sơn phát sinh và phát triển trên móng Tiền Cambri bị hoạt hóa mạnh mẽ kiểu rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn (J3-K)

Đặc trưng cơ bản của khối Nam Côn Sơn là móng trước Kainozoi bị vát mỏng, căng giãn với mặt Moho lồi lên đạt độ sâu chỉ 18km (Cao Đình Triều, 2005), mặt móng kết tinh phân dị phức tạp với độ sâu nhất gần 13km Móng trước Kainozoi của khối bị phân cắt mạnh tạo nên các địa hào – địa lũy xen nhau song xu thế thấp dần về phía đông

Các thành tạo trầm tích Kainozoi phủ trên móng trước Kainzoi thuộc khối này có

xu hướng phân dị môi trường trầm đọng từ Tây sang Đông; từ các tướng nguồn lục địa, châu thổ ven bờ đến biển khơi và tương tự như thế từ phần dưới lên phần trên mặt cắt (Lê Duy Bách, 2007)

1.2.3 Kiến tạo đứt gãy khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và kế cận

1.2.3.1 Nguyên tắc phân cấp đứt gãy

Việc phân cấp đứt gãy chủ yếu theo vai trò khống chế chi phối các đơn vị cấu trúc – địa động lực dựa trên luận thuyết kiến tạo mảng:

Trang 26

-Các đứt gãy cấp I khu vực nghiên cứu là ranh giới các mảnh, vi mảng, teran( ?) hoặc ranh giới giữa các miền cấu trúc – địa động lực Kainozoi

-Các đứt gãy cấp II là các đứt gãy sinh kèm hoặc lông chim của các đứt gãy cấp I khu vực nghiên cứu, đóng vai trò ranh giới giữa các khối cấu trúc-địa động lực

Các đứt gãy cấp III là các đứt gãy lông chim hoặc sinh kèm của các đứt gãy cấp II khu vực nghiên cứu đóng vai trò ranh giới các phụ khối – địa động lực, thường bị khống chế hoặc giới hạn trong các khối – địa động lực hoặc miền cấu trúc – địa động lực

- Mức độ ảnh hưởng, quy mô, kích thước sẽ giảm dần từ các đứt gãy cấp I tới các đứt gãy cấp III và cao hơn Các đứt gãy phân tới cấp 3 khu vực nghiên cứu (cấp 4 thạch quyển Việt Nam)

Tiền đề và dấu hiệu nhận dạng các đứt gãy làm ranh giới giữa các đơn vị cấu trúc – địa động lực sau:

- Quy mô của các phá hủy đứt gãy (chiều dài, độ sâu ảnh hưởng) họat động tích cực trong Tân kiến tạo và hiện đại

- Các đới biểu hiện các dị thường địa vật lý: từ, địa hóa …ở những nơi có biểu hiện hoạt động kiến tạo tích cực

- Các đới tích lũy ứng suất kiến tạo ép nén hiện đại cao và các đới tương phản giá trị ứng suất ép nén cao và căng giãn tích lũy cao

- Các đới tăng cao mật độ chấn tâm động đất và lineament

1.2.3.2 Kiến tạo đứt gãy

Kết quả nghiên cứu ghi nhận được 22 đứt gãy có cấp độ ảnh hưởng và vai trò cấu trúc, chế độ địa động lực khác nhau được phân làm 3 cấp từ 1 đến 3 Danh mục và đặc trưng các đứt gãy hoạt động chính được liệt kê trong bảng 1.1 và bảng 1.2 sau

Bảng 1.1: Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu

(km) BR, độ sâu AH

(km)

DC trong N 2 – Q

1 Hải Nam – Phú Khánh AKT 1 ĐĐN/60-70 0 >210(1000) 100, XV Bt – T

2 Kinh tuyến 109 AKT 1 ĐĐN/80 - 90 0 >430(1100) 100, XV Bt – T

3 Thuận Hải – Minh Hải ĐB-TN 1 ĐN/ 70 0 -75 0 > 380 (660) 60, XV Bt -T

Trang 27

Ghi chú: B – Bắc, N – Nam, Đ-Đông, T – Tây; Cột (6): giá trị trong ngoặc đơn là giá trị lớn nhất có thể

trên bình đồ kiến tạo Đông nam Châu Á, theo sự tổng hợp các tài liệu Địa vật lý; BRAH- bề rộng ảnh

hưởng, N 2 – Q – Pliocen – Đệ tứ, Bt – Bằng trái, Bp – Bằng phải, T – Thuận, DC – kiểu dịch chuyển, (>)

lớn hơn, (<) nhỏ hơn, (~) xấp xỉ, XV – xuyên vỏ, V – vỏ

Bảng 1.2: Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu

Ghi chú: + Kém rõ, ++ Rõ; +++ rất rõ; ? chưa rõ; - không xác định,

DH1 - Địa hình; DH2 - Ảnh viễn tám; DH3- Địa chất-địa mạo, DH4 - Động đất quan sát được (M)

(Nguyễn Đình Xuyên, 2008), DH5-Kiểm sóat thung lũng sông suối, DH6 – Núi lửa; DH7 – NN&Nk,

DH8- Nứt đất, DH9- Chuyển Động hiện đại; DH10 – Radon khí, MĐ – Đánh giá mức độ họat động

a- Các đứt gãy chính hoạt động cấp 1

+ Đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh (1)

Đứt gãy này gồm hai đứt gãy chính trải gần song song nhau theo phương kinh

tuyến có góc cắm chụm vào nhau (Hình 1.1), kéo dài khoảng 210km, rộng ảnh hưởng tới

100km (Bảng 1.1) trong phạm vi khu vực nghiên cứu Thực chất đứt gãy Hải Nam – Phú

Khánh là phần kéo dài của đứt gãy Sông Hồng và đứt gãy Hải Nam – Natuna Đặc trưng

Trang 28

chính của đứt gãy bị giới hạn về phía nam bởi Shear Tuy Hòa phương TB – ĐN Điều này phản ánh rõ nét trên tài liệu nâng trường trọng lực lên độ cao 20km Tuy nhiên,đặc điểm giới hạn này không rõ trên cấu trúc nâng trường trọng lực lên độ cao 30 km, 50km

Đứt gãy biểu hiện rõ cấu trúc trên trường trọng lực nâng lên độ cao 20km, 30km, 50km, rõ cấu trúc kéo dài kinh tuyến trên trường từ Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy ít nhất trên 50km, thậm chí 100km (Nguyễn Hồng Phương, 1998) Đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh khống chế rìa thềm lục địa Nam Trung bộ theo phương kinh tuyến, trong nội vi đứt gãy gồm nhiều đứt gãy nhỏ hơn phân cắt móng tạo địa hào địa lũy và hạ thấp dần độ sâu móng về phía đông Biên độ dịch chuyển thẳng đứng gần 10 km Có nhiều bằng chứng cho thấy (Nguyễn Hồng Phương – 1998, Cao Đình Triều – 1999, 2000) dọc theo đứt gãy đã và đang xảy ra quá trình ép nén, cuốn hút vỏ chuyển tiếp Tây Biển Đông dưới

vỏ lục địa Việt Nam Gradient trọng lực nâng lên độ cao 20km (Cao Đình Triều, 2005) đạt 0,1mGal/km ở cánh tây đến 0,6mGal/km ở cánh đông đứt gãy

Kết quả đo và xử lý khe nứt ở dọc bờ biển Quy Nhơn, Phong Hanh, Sông Cầu cho thấy đứt gãy có mặt trượt cắm về phía đông là chính góc 70 -800, trượt phải có trước trượt trái Mặt cắt địa chấn của Petro Việt Nam (Trần Ngọc Toản, Nguyễn Hồng Minh, 2007) cho thấy các đứt gãy nhỏ thuộc đứt gãy này cắm chú yếu về phía đông

Hầu hết các nhà các nhà nghiên cứu đều cho rằng đứt gãy này đóng vai trò bản lề trượt phải trong quá trình tách giãn Biển Đông trong Oligocen – Miocen sớm (Taylor và Hayes, 1983; C.K Moley, 2002) hoặc Hall, 2002 hoặc là đứt gãy chuyển dạng lớn nhất Đông Nam Châu Á (Leloup, 1995, 2001)

Vào Mesozoi muộn đứt gãy có tính chất dịch chuyển bằng trái như một đứt gãy chuyển dạng cắt qua đới tách giãn Biển Đông cổ Vào Miocen giữa - Pliocen đứt gãy hầu như không hoạt động, song vào Holocen đứt gãy lại hoạt động trở lại kèm theo phun trào bazan và động đất có Magnitude đạt Ms ≤3,0 độ Richter tập trung phần mút nam của đứt gãy Nguyễn Hồng Phương, 1998 cho rằng các trận động đất Sông Cầu năm 1970 – 1972 liên quan đến hoạt động của đứt gãy này Hiện tại đứt gãy biểu hiện trượt bằng trái – thuận (Do Van Linh at al, 2008) và hoạt động rõ nét song cực đại phát sinh động đất quan sát được dọc đứt gãy này còn quá nhỏ so với tầm vóc của nó

Trang 29

Hình 1.2: Mặt cắt địa chấn ngang qua đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh với các đứt

gãy dạng “hình hoa” chủ yếu hoạt động đến Miocen giữa (nguồn: M.B.H Fyhn và nnk, 2007), đường mặt cắt qua phần bắc của trũng Phú Khánh

Trang 30

Hình 1.3: Ba đứt gãy thứ cấp của đứt gãy kinh tuyến 109

(nguồn: trong Tran Nghi et al, 2008)

+ Đứt gãy Kinh tuyến 109

Đứt gãy kinh tuyến 109 gồm 3 đứt gãy chính trải gần song song nhau theo phương kinh tuyến với chiều dài trên 1100km, bề rộng ảnh hưởng tới 100km, với xu thế mở rộng dần tỏa ra về phía nam, chụm lại về phía bắc (tại đây bị giới hạn bởi Shear Tuy Hòa) Đứt gãy biểu hiện rõ rệt trên tài liệu trường trọng lực, từ bằng dải dị thường phương kinh tuyến rộng tới 100km Đứt gãy biểu hiện trên mặt móng kết tinh ít rõ với xu thế sâu dần

về phía nam và kéo dài phương ĐB – TN Mặt móng trước Kainozoi phản ánh có nhiều đứt gãy có phương khác nhau song chủ yếu vẫn là kinh tuyến Đứt gãy đóng vai trò phân miền cấu trúc vỏ chuyển tiếp Cửu Long phía tây và miền cấu trúc vỏ chuyển tiếp + đại dương Tây Biên Đông ở phía đông

Phân tích mặt đứt đoạn trong cơ chế chấn tiêu động đất năm 2005 ngoài khơi Vũng Tàu và tài liệu địa chấn thăm dò dầu khí cho thấy mặt trượt đứt gãy cắm gần dốc đứng hơi nghiêng về phía đông nam góc 80 - 900, hoạt động chủ yếu với tính chất bằng trái thuận trong Pliocen – Đệ Tứ Cực đại phát sinh động đất quan sát được là 6,1 độ Richter

Đặc trưng cơ bản của đứt gãy là phát triển rất tuyến tính nhưng chưa rõ sự phân đoạn mức độ hoạt động có thể toàn đứt gãy là một phân đoạn sinh chấn Hiện tại đứt gãy được đánh giá là hoạt động rõ rệt với các biểu hiện phát sinh động đất, cắt dịch các trầm tích Pliocen – Đệ Tứ trên băng địa chấn Bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy theo phân tích các băng địa chấn có thể tới 70km, độ sâu xuyên vỏ tới 100km Bề dày vỏ trái đất hai bên cánh của đứt gãy có xu thế vát mỏng tới 18km ở cánh đông – đông nam và 20km ở cánh tây – tây bắc Hiện tại đứt gãy có mức độ biểu hiện hoạt động rõ nét với đặc trưng động đất phân bố chủ yếu phần bắc đứt gãy

Trang 31

Hình 1.4: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến (109 0

30’) tạo ra các khối sụt lún địa hình đáy biển (Tuyến Malugin 65)

nguồn: Phạm Năng Vũ, 2007

+ Đứt gãy Thuận Hải – Minh Hải

Kéo dài theo phương đông bắc - tây nam, qua thềm biển khu vực Cà Ná chạy sát gần đường bờ biển Bình Thuận – Vũng Tàu tới Cà Mau Trên bình đồ đứt gãy phát triển song song với đường bờ biển khu vực Cà Ná tới Bạc Liêu Tổng độ dài của đứt gãy qua khu vực nghiên cứu trên 660km Đứt gãy đóng vai trò phân miền cấu trúc giữa miền cấu trúc có vỏ lục địa Kon Tum – Hà Tiên và miền cấu trúc vỏ chuyển tiếp Cửu Long ở phía đông nam Đứt gãy Thuận Hải – Minh Hải gần như khống chế phương phát triển của hàng loạt các đứt gãy phương tây bắc – đông nam (đứt gãy Sông Sài Gòn, đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông, đứt gãy Bình Long – Bình Châu, ) nhưng nó bị chặn lại bởi đứt gãy kinh tuyến 109 ở cực đông bắc

Đứt gãy được vạch định trên cở các tài liệu địa chất, trọng lực và từ, vị trí đứt gãy được chính xác dần theo tài liệu địa chấn nhân tạo nông phân dải cao Bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy có thể tới 60km Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy xuyên vỏ trái đất với góc cắm của đứt gãy theo tài liệu trọng lực và động đất thì dường như cắm về phía tây bắc, cHóc chúi vào phía lục địa Tuy nhiên phân tích cấu trúc địa chất và đo khe nứt cho thấy đứt gãy cắm về phía đông nam là hợp lý hơn, chủ yếu với góc cắm 70 – 750 Đứt gãy có biểu hiện trượt bằng trái – thuận trong hiện tại

Trang 32

Hình 1.5: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến 109 0 30’ )

ở khu vực phía đông nam đảo Phú Quý (Tuyến Malugin 68)

(nguồn: Phạm Năng Vũ, 2007)

b Các đứt gãy chính cấp 2

Các đứt gãy cấp 2 vùng nghiên cóu gồm đứt gãy Sông Ba, đứt gãy Ba Tơ – Cũng Sơn, đứt gãy Easup – Krong Pach (đứt gãy Buôn Hồ), Shear Tuy Hòa, đứt gãy Tuy Hòa, đứt gãy Trị An (Tuy Hòa – Biên Hòa), đứt gãy Bình Long – Bình Châu, đứt gãy Sông Sài Gòn, đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông, đứt gãy Sông Hậu, đứt gãy Tây Côn Sơn, đứt gãy Côn Sơn, đứt gãy ĐN Côn Sơn

+ Đứt gãy Sông Ba

Đứt gãy Sông Ba kéo dài theo phương tây bắc – đông nam khoảng 250km tính từ Pleiku tới Tuy Hòa, gồm hai đứt gãy chính trải gần song song với nhau, với bề rộng ảnh hưởng từ 12 – 35km, mặt trượt chung của đứt gãy cắm chủ yếu về phía đông bắc góc khoảng 70-840 Đứt gãy đóng vai trò khống chế kẹp hai bên phụ khối kiểu địa hào Sông

Ba có dạng hẹp kéo dài trên bình đồ, ngăn cách phụ khối Ea H’Leo phía tây nam và phụ khối Củng Sơn phía đông bắc Đứt gãy biểu hiện rõ trên trường trọng lực nâng lên độ cao 20km, với gradient ngang dị thường trọng lực đạt cao nhất 0,1mGal/km ở cánh tây nam

và 0,1-0,2 mGal/km ở cánh đông bắc Tổng biên độ trượt phải đới khoáng hoá vàng Ea Sươm tới 16km dọc phân đoạn phân đoạn Ayun Pa – Phú Túc (Đỗ Văn Lĩnh, 2007)

+ Đứt gãy Ba Tơ – Củng Sơn (5)

Đứt gãy Ba Tơ – Củng Sơn (đứt gãy Quảng Ngãi – Củng Sơn, Phạm Huy Long và nnk, 2001) chia đôi phụ khối cấu trúc Củng Sơn, kéo dài khoảng 110km trong phạm vi khu vực nghiên theo phương kinh tuyến Sau đó chuyển phương sang TB - ĐN khi đi qua khu vực Củng Sơn Bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy đạt 30km, góc cắm chủ yếu về phía

Trang 33

đông với góc 70-800 Gradient dị thường trọng lực đạt 0,8 mGal/km ở cánh tây, và 0,4 mGal/km ở cánh đông (tài liệu Cao Đình Triều, 2005)

+ Đứt gãy Easup – Krong Pách (đứt gãy Buôn Hồ)

Đứt gãy kéo dài khoảng 160km theo phương TB – ĐN, từ Krong Pách qua Buôn

Hồ, Easup đến tận biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia Về phía tây bắc đứt gãy này còn kéo qua Lom Phát, An Long Veng (phía nam dãy núi Đăng Rếc), SamRaong Đứt gãy đóng vai trò làm ranh giới phân khối cấu trúc giữa khối Kon Tum phía đông bắc và khối

Đà Lạt phía tây nam Dọc theo đứt gãy chưa quan sát được hiện tượng động đất và xuất

lộ nước khoáng và nước nóng Mức độ biểu hiện hoạt động của đứt gãy kém rõ trong hiện tại

+ Shear Tuy Hòa

Shear Tuy Hòa (hoặc đứt gãy Nha Trang) cũng gồm hai đứt gãy chính trải song song với xu thế mở rộng dần khi chạy về phía đông nam, đóng vai trò ngăn cách giữa khối kiểu bồn trũng Cửu Long phía tây nam và khói kiểu bồn trũng Kainzoi Phú Khánh phía bắc và đông bắc Mặt cắt địa chấn tuyến PK-03-084 (Trần Ngọc Toản, 2007) cho thấy Shear này hoạt động tới tận cuối Miocen muộn và cắm chủ yếu về phía đông bắc

Theo các tài liệu trọng lực của Cao Đình Triều, 2005, độ sâu mặt móng kết tinh có thể 4 – 10km, dốc mạnh về phía đông bắc, có dạng yên ngựa trên mặt Moho Gardient ngang dị thường trọng lực dọc theo đứt gãy thay đổi từ 0,4 -0,6 mGal/km, tạo dải dị thường phương TB – ĐN dài trên 120km Đứt gãy biểu hiện rõ bằng dải dị thường trọng lực, rõ trên trường từ với ∆Ta=20 – 40 nT/km Cực đại động đất quan sát được dọc đứt gãy không vượt quá 4,8 độ Richter (Nguyễn Đình Xuyên, 2008)

+ Đứt gãy ĐN Côn Sơn

Đứt gãy ĐN Côn Sơn kéo dài theo phương ĐB – TN khoảng 300km, với bề rộng ảnh hưởng khoảng 40km Đứt gãy đóng vai trò ranh giới phân khối cấu trúc khối nâng Côn Sơn (TO.I.2) về phía tây bắc và khối ĐN Côn Sơn (TO.I.2) phía đông nam Minh

giải mặt cắt địa chấn cho thấy đứt gãy ĐN Côn Sơn trùng với đới các đứt gãy xuyên cắt

móng trầm tích Kainozoi và tới mái trầm tích Miocen với mặt trượt cắm về phía đông nam (G.H.Lee et al, 2001), phân cắt móng trước Kainozoi tạo dạng bậc thấp dần về phía đông nam Đứt gãy biểu rõ trên tài liệu nâng trọng lực ở độ cao 20km, 30km với giá trị gradient ngang đạt 0,1-0,2 mGal/km Cực đại động đất chưa quan sát được xảy ra trên đứt gãy này

Ngoiaf những đứt gãy cấp 2 chính vừa kể trên, trong phạm vi khu vực nghiên cứu còn tồn tại các đứt gãy cấp 2 khác được mô tả trong hình 1.1, bảng 1.1 và bảng 1.2: đứt gãy Tuy Hòa – Trị An, đứt gãy Bình Long – Bình Châu, đứt gãy Sông Sài Gòn, đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông, đứt gãy Sông Hậu, đứt gãy Tây Côn Sơn, đứt gãy Côn Sơn

c Các đứt gãy chính cấp 3

Các đứt gãy cấp 3 vùng Nam Bộ gồm các đứt gãy Lộc Ninh – TP Hồ Chí Minh, đứt gãy Đak Mil – Bình Châu, đứt gãy Đa Nhim - Tánh Linh, đứt gãy Long Hải – Tuy Phong, đứt gãy Mũi Kê Gà, đứt gãy Bạch Hổ, đứt gãy Rạng Đông (Hình 1.1, Bảng 1.1, Bảng 1.2)

Trang 34

Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu trong bình đồ kiến tạo Nam Bộ

2.1 Đặc điểm cấu trúc vỏ Trái đất

Mặt Moho nông nhất tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh đạt 25km (Hình 2.2) ở

khu vực Cần Giờ và sâu dần về phía Tây Bắc, đạt độ sâu tới 29,5km ở khu vực Gò Nổi -

Trang 35

Hố Bô Hướng cấu trúc chính hình thái mặt Moho khu vực TP HCM phát triển kéo dài theo phương TB - ĐN với một cấu tạo lõm từ Vàm Long (Long An) tới Gò Nổi (TP Hồ Chí Minh) và một cấu trúc lồi cũng kéo dài theo phương TB - ĐN từ Bình Sơn – Đồng Nai tới Mỹ Phước (Bến Cát – Bình Dương)

Hình 2.2: Mặt Moho và móng kết tinh khu vực TP HCM (tỷ lệ 1/50 000)

Trang 36

-380 -360 -340 -320 -300 -280 -260 -240 -220 -200 -180 -160 -140 -120 -100 -80 -60 -40 -20 0 20 40 60 80 100 120

Hình 2.3: Mặt móng trầm tích Kainozoi khu vực TP Hồ Chí Minh

Chỉ dẫn: Đường liền đen dạng tuyến là đứt gãy, contour xanh nõn chuối là móng trầm tích Kainozoi cao 0m, đường liền màu tím là ranh giới địa phận TP Hồ Chí Minh

Mặt móng kết tinh khu vực TP HCM nông nhất đạt độ sâu 1,9km (Hình 2.2) ở

khu vực Bình Trung – Nhà Bè và sâu nhất đạt độ độ sâu 2,8 km ở khu vực Bàu Điều Đặc trưng cơ bản mặt móng kết tinh khu vực nghiên cứu bị phân dị lồi, lõm đẳng thước rất rõ với trục nâng cao kéo dài phương TB - ĐN từ Bình Trung (1,9km) qua Tân Mỹ - Lái Thiêu (2,2km) tới Mỹ Phước - Bến Cát (2,3km) và hạ thấp dần về phía Đông Bắc đạt độ

Trang 37

sâu tới 2,8km (Trị An), thấp dần về phía Tây Nam đạt độ sâu 2,8km (Bến Lức – Long An) Hướng cấu trúc chính hình thái phát triển mặt móng kết tinh theo phương TB – ĐN,

đi về phía Tây Nam TP HCM bị phức tạp hóa bởi các cấu tạo lồi lõm theo hướng ĐB –

TN

Đặc trưng cơ bản mặt móng trầm tích Kainozoi khu vực TP Hồ Chí Minh có xu

thế thấp dần dạng bậc theo chiều từ Đông Bắc tới Tây Nam với móng trầm tích Kainozoi

lộ ra ở Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh và chìm sâu dần dưới lớp phủ trầm tích Miocen muộn - Đệ Tứ đạt độ sâu nhất tới 330m (An Lạc – Bình Chánh) Mặt móng này

bị phức tạp hóa bởi các cấu tạo lồi, lõm, mũi nhô, hẻm lõm phương ĐB – TN, TB – ĐN, kinh tuyến do các đứt gãy tạo nên (Hình 2.3)

Móng trầm tích Pleistocen khu vực TP HCM đạt độ sâu nhất tới 130m ở khu vực Tây Cần Giờ, 100m ở khu vực Bình Thạnh, 90m khu vực Bàu Điều - Củ Chi Nhìn chung mặt móng Holocen khu vực TP HCM xu thế kế thừa hình thái móng trầm tích Kainozoi khu vực nghiên cứu, hướng kéo dài phương TB – ĐN, sâu dần theo chiều từ Đông Bắc xuống Tây Nam bị phức tạp hóa bới một số cấu tạo lõm, lồi phương ĐB – TN

Mặt móng Holocen khu vực TP HCM đạt độ sâu nhất 37m ở khu vực Cần Giờ, xu thế sau dần theo chiều từ Tây Bắc tới Tây Nam và từ Đông Bắc tới Tây Nam với xu thế phát triển theo phương đứt gãy TB - ĐN Sông Sài Gòn và đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông

2.2 Các đứt gãy khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Các đứt gãy cần được phân cấp theo vai trò cấu trúc và mức độ ảnh hưởng tới cấp III (cấp IV Thạch quyển Việt Nam) Nguyên tắc phân cấp đứt gãy đảm bảo như cấp đứt gãy đối với tỷ lệ 1/250 000 Đứt gãy được chi tiết và phân đến đến đứt gãy cấp IV

+ Các đứt gãy cấp 1 khu vực nghiên cứu (cấp 2 thạch quyển Việt Nam, cấp 3 thạch quyển thế giới):

- Đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông (F1)

- Đứt gãy Sông Sài Gòn (F2)

- Đứt gãy Mỹ Phước - Đồng Tròn – Vàm Long (F3)

+ Các đứt gãy cấp 2

- Đứt gãy phương kinh tuyến:

- Đứt gãy phương TB – ĐN:

• Đứt gãy Gò Sao – Cần Giờ (F5)

• Đứt gãy Thiên Tân – Bình Sơn (F7)

- Đứt gãy phương vĩ tuyến:

• Đứt gãy Nhà Dài – Đông Bình – An Phước (F8)

+ Các đứt gãy cấp 3

• Đứt gãy Khánh Bình - Tân Mai (F10)

• Đứt gãy Tân Thanh - Nhơn Trạch (F11)

• Đứt gãy Lý Thuận – Thanh Bình – Giồng Gò Chùa (F12)

a Các đứt gãy cấp 1 khu vực TP Hồ Chí Minh

+ Đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông(F1)

Đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông đóng vai trò ranh giới giữa phụ khối Sài Gòn ở phía đông bắc và phụ khối Đồng Tháp ở phía tây nam Đứt gãy có biểu hiện hoạt động trong Holocen được phản ánh qua dị thường bề dày trầm tích Holocen đoạn từ Phước Hưng

Trang 38

đến Vàm Láng tăng lên đạt 40m Đứt gãy cũng thể hiện rõ trên móng trầm tích Pleistocen

và móng trầm tích Kainozoi Mặt trượt đứt gãy cắm chủ yếu về phía tây nam với góc khoảng 75-800, bề rộng ảnh hưởng của đứt gãy khoảng 30km Độ sâu ảnh hưởng của đứt

gãy xuyên vỏ (30 – 40km) (Cao Đình Triều, 2007)

Bảng 2.1: Các đứt gãy trong phạm vi khu vực TP Hồ Chí Minh 1/50 000, các chỉ

số cấp đứt gãy trong ngoặc đơn là cấp đứt gãy so với quy mô thạch quyển Việt Nam

hiệu Tên đứt gãy

Dài (km)

Phương kéo dài Cấp

F8 Nhà Dài – Đông Bình –

F11 Tân Thanh – Nhơn Trạch 20 ĐB - TN III (IV) TB -

F12 Lý Thuận - Giồng Gò

Chỉ dẫn bảng 1 HD/GD - Hướng dốc và góc dốc, Bp - Bằng phải, Th - Thuận, Bt - Bằng trái, M

– Magnitude, GT – góc trượt, BR - Bề rộng ảnh hưởng, DS - Độ sâu ảnh hưởng

Minh giải địa chất trên mặt cắt địa chấn các tuyến 5, tuyến 4, tuyến 8 cho thấy các

dị thường địa chấn trên các tuyến địa chấn (tuyến 5, tuyến 4, tuyến 8) đều có bản chất đứt

gãy (mất sóng theo hệ thống, xê dịch mặt phản xả địa chấn có hệ thống ) và liên quan chủ yếu đến đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông Các dị thường địa chấn này đều cắt vào trầm

tích Holocen Điều đó chứng tỏ đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông vẫn có có biểu hiện họat

động trong Holocen Dấu hiệu này cũng phù hợp với dấu hiệu thóat khí dị thường khí Radon đạt giá trị dị thường bậc 1 trên tuyến 7 và tuyến 10A đo Radon

Trang 39

Hình 2.4: Sơ đồ bố trí tuyến đo địa chấn nông (phản xạ) khu vực TP Hồ Chí Minh

(đường đậm màu đỏ là tuyến địa chấn và chữ kèm theo là số hiệu tuyến)

Biên độ dịch chuyển đứng móng Kainozoi qua đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông là biên độ thuận, cánh tây nam tụt xuống tương đối so với cánh đông bắc của đứt gãy Phân tích 8 tuyến mặt cắt liên kết các lỗ khoan: 7 tuyến cắt theo phương đông bắc - tây nam gần vuông góc với các đứt gãy chính phương tây bắc – đông nam, 01 tuyến dọc theo phương đứt gãy Kết quả cho thấy biên độ dịch chuyển đứng móng Kainozoi qua đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông là 65m (tuyến II-II), 13m (tuyến III-III), 13m (tuyến IV-IV), 40m (tuyến V-V), 21m (tuyến VI-VI), 20m (tuyến VII-VII)

+ Đứt gãy Sông Sài Gòn (F.2)

Đứt gãy Sông Sài Gòn đóng vai trò phân khối cấu trúc Đà Lạt ở phía đông bắc và khối Cần Thơ ở phía tây Nam, đóng vai trò bản lề động lực Kainozoi giữa hai chế độ kiến

Trang 40

tạo khác nhau: nâng bóc mòn suốt Kainzoi trên khối Đà Lạt ở phía đông bắc và sụt lún lấp đầy trầm tích Kainozoi dày nhất đạt 2100 (trũng Trà Cú) ở khối Cần Thơ Kết quả phân tích khe nứt cho thấy đứt gãy cắm chủ yếu về phía đông nam với góc dốc trung bình

70 – 800 Đứt gãy thể hiện tương đối rõ trên các tài liệu trọng lực và từ Đứt gãy có bề rộng ảnh hưởng khoảng 30km (Vũ Đình Chỉnh, Đỗ Văn Lĩnh, 2009), phát triển gần trùng với dải dị thường mật độ độ dài photolineament và dị thường mật độ độ dài DEM-Lineament đạt 200-300 m/km2 (Đỗ Văn Lĩnh, 2009)

Độ sâu ảnh hưởng xuyên vỏ Biên độ dịch chuyển phải sông suối theo kết quả phân tích ảnh Landsat, 2002 đạt 500 -2000m Biên độ dịch đứng lớn nhất móng trầm tích Kainzoi qua tuyến V-V đạt trên 100m, biên độ dịch ngang móng trầm tích Kainozoi đạt

330 – 446m (từ Miocen muộn)

Phước Hưng – Cần Giuộc, theo chiều từ TN đến ĐB

Tr¶ng Bom F.7

Hình 2.5: Mặt cắt và biên độ dịch chuyển móng trước Kainozoi ngang qua địa phận TP

Hồ Chí Minh theo tuyến V-V

Tốc độ xê dịch sông suối trung bình, thềm bậc 3 (cao 15-30m) trong Pleistocen muộn và Holocen đạt 0,3±0,45mm/năm (Vũ Đình Chỉnh, Đỗ Văn Lĩnh, 2008) Tốc độ xê dịch ngang phải trung bình móng trầm tích Holocen có thể đạt 0,3 – 0,9mm/năm Dự báo khỏang lặp lại động đất trung bình theo tốc độ dịch chuyển trung bình đạt 400 năm đối với động đất 6,0 độ Richter, 120 năm đối với động đất 5,4 độ richter, 50 năm đối với động đất 5,0 độ richter và 20 năm đối với động đất 4,5 độ Richter (Đỗ Văn Lĩnh, 2008) Tuy nhiên, môi trường sinh chấn khu vực nghiên cứu chưa được làm sáng tỏ, cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu để có dự báo chính xác hơn

Kết quả đo và xử lý mặt cắt địa chấn cho thấy đứt gãy Sông Sài Gòn có biểu hiện trùng với các đới dị thường trên các tuyến đo địa chấn: tuyến 1, tuyến 2, tuyến 3, tuyến 6, tuyến 7

Ngày đăng: 13/04/2014, 05:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, Cao Đình Triều, 2007. Đặc điểm kiến tạo Pliocen - Đệ tứ đông nam thềm lục địa Việt Nam. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, tập 29, số 3, Hà nội, 218-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Các Khoa học về Trái đất
2. Nguyễn Xuân Bao, Phạm Huy Long, Trịnh Văn Long, Nguyễn Hữu Tý, Nguyễn Văn Bỉnh, Nguyễn Kim Hoàng, Đỗ Văn Lĩnh, Mai Kim Vinh và nnk, 2001. Báo cáo nghiên cứu “Kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam”. Lưu trữ Cục địa chất Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu “Kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam”. Lưu trữ
3. Vũ Đình Chỉnh, Đỗ Văn Lĩnh, 2008. Bước đầu phân tích mô hình DEM xác định dấu hiệu hoạt động của đứt gãy Sông Sài Gòn trong Pleistocen muộn - Holocen. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, số 11, tập 11-2008, 12-22. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ
4. Ma Công Cọ và nnk, 1994. Báo cáo kết quả đo vẽ BĐĐC và TKKS nhóm tờ Đông TP.Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN. TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN
5. Ma Công Cọ và nnk, 2001. Báo cáo kết quả đo vẽ BĐĐC và TKKS nhóm tờ Lộc Ninh tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN. TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN
6. Nguyễn Huy Dũng và nnk, 2003. Báo cáo phân chia địa tầng N-Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất Đồng Bằng Nam Bộ. Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam 7. Trần Văn Dương, Trần Trọng Huệ, 2001. "Phân vùng tai biến địa chất khu vựcBắc trung Bộ ", Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất, số 4, tr. 416-422, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng tai biến địa chất khu vực Bắc trung Bộ
Tác giả: Trần Văn Dương, Trần Trọng Huệ
Nhà XB: Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất
Năm: 2001
8. Lê Mục Đích, 2001. ”Kinh nghiệm phòng tránh và kiểm soát tai biến địa chất”, Nxb. Xây Dựng, Hà Nội. (Dịch từ tiếng Trung Quốc) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nxb. Xây Dựng
Nhà XB: Nxb. Xây Dựng
11. Phạm Văn Hùng, 2007. “Đặc điểm hoạt động của các đứt gãy tích cực ở khu vực Đông Nam Bộ”. Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất, số 4, tr. 131-139, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hoạt động của các đứt gãy tích cực ở khu vực Đông Nam Bộ”. "Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất
12. Đỗ Văn Lĩnh, 2009. Lịch sử phát triển kiến tạo Kainozoi lãnh thổ Nam Trung Bộ và mối liên quan với động đất. Luận án tiến sỹ địa chất, 1-161. Lưu trữ thư viện Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sỹ địa chất
13. Phạm Huy Long và nnk, 1994. Báo cáo điều tra hiên trạng, phân tích nguyên nhân, dự báo hiện tượng nứt đất xảy ra ở các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Đak Lak, Bà Rịa - Vũng Tàu và các miền ảnh hưởng của chúng. Lưu trữ Cục địa chất Việt Nam.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ Cục địa chất Việt Nam
14. Phùng Văn Phách, Nguyễn Trọng Yêm, Vũ Văn Chinh, 1996. "Hoàn cảnh địa động lực Tân kiến tạo - Hiện đại lãnh thổ Việt Nam", Địa chất Tài nguyên, tập 1, Nxb. KH&amp;KT, tr. 101-111, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn cảnh địa động lực Tân kiến tạo - Hiện đại lãnh thổ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KH&KT
15. Đào Mạnh Tiến (chủ biên) và nnk, 2006. Báo cáo điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung Bộ từ 0 đến 30m nước tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung Bộ từ 0 đến 30m nước tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1/50.000
Tác giả: Đào Mạnh Tiến, nnk
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Biển
Năm: 2006
16. Cao Đình Triều, Đỗ Văn Lĩnh, Nguyễn Quốc Dũng, Mai Xuân Bách, 2002. Động đất Vũng Tàu ngày 25 tháng 8 năm 2002 và đặc trưng hoạt động động đất ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Tuyển tập báo cáo và tham luận, Công tác nghiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động đất Vũng Tàu ngày 25 tháng 8 năm 2002 và đặc trưng hoạt động động đất ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Tác giả: Cao Đình Triều, Đỗ Văn Lĩnh, Nguyễn Quốc Dũng, Mai Xuân Bách
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo và tham luận
Năm: 2002
17. Cao Đình Triều và Phạm Huy Long, 2002. Kiến tạo đứt gãy lãnh thổ Việt Nam. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật". Hà Nội
18. Cao Đình Triều, 2005. Trường Địa vật lý và cấu trúc thạch quyển lãnh thổ Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 330 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Địa vật lý và cấu trúc thạch quyển lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Cao Đình Triều
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2005
20. Nguyễn Đình Xuyên, Nguyễn Ngọc Thuỷ, 1997. Tính động đất và độ nguy hiểm động đất trên lãnh thổ Việt Nam. Thành tựu nghiên cứu Vật lý địa cầu 1987 - 1997, tr. 34 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Xuyên, Nguyễn Ngọc Thuỷ, 1997. Tính động đất và độ nguy hiểm động đất trên lãnh thổ Việt Nam. "Thành tựu nghiên cứu Vật lý địa cầu 1987 - 1997
21. Nguyễn Đình Xuyên, Lê Tử Sơn, 2004. Hoạt động động đất miền Nam Trung Bộ, Nam Bộ và lân cận. Viện Vật lý Địa cầu, Viện KHCN VN, Bộ KHCN VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Vật lý Địa cầu, Viện KHCN VN
22. Vũ Văn Vĩnh, 1996. Kiến trúc hình thái Nam Trung Bộ. Luận án Tiến sỹ địa chất. Lưu trữ thư viện Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc hình thái Nam Trung Bộ. Luận án Tiến sỹ địa chất
23. Nguyễn Trọng Yêm, 1996. Khoanh vùng trường ứng suất kiến tạo hiện đại Việt Nam. Địa chất - Tài Nguyên, 1, tr 8 -13. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoanh vùng trường ứng suất kiến tạo hiện đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Yêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1996
24. Nguyễn Trọng Yêm và nnk, 2005. “Thiên tai sụt lún đất lãnh thổ Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại”, Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản, Viện Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên tai sụt lún đất lãnh thổ Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại”, "Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Bảng 1.1 Đặc trưng cơ bản của các đứt gãy hoạt động chính khu vực nghiên cứu (Trang 26)
Hình 1.2: Mặt cắt địa chấn ngang qua đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh với các đứt - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 1.2 Mặt cắt địa chấn ngang qua đứt gãy Hải Nam – Phú Khánh với các đứt (Trang 29)
Hình 1.3: Ba đứt gãy thứ cấp của đứt gãy kinh tuyến 109 - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 1.3 Ba đứt gãy thứ cấp của đứt gãy kinh tuyến 109 (Trang 30)
Hình 1.4: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến (109 0 - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 1.4 Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến (109 0 (Trang 31)
Hình 1.5: Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến 109 0  30’ ) - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 1.5 Hoạt động cắt dịch trầm tích Pliocen – Đệ Tứ của đứt gãy kinh tuyến 109 0 30’ ) (Trang 32)
Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu trong bình đồ kiến tạo Nam Bộ - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu trong bình đồ kiến tạo Nam Bộ (Trang 34)
Hình 2.3: Mặt móng trầm tích Kainozoi khu vực TP. Hồ Chí Minh - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 2.3 Mặt móng trầm tích Kainozoi khu vực TP. Hồ Chí Minh (Trang 36)
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí tuyến đo địa chấn nông (phản xạ) khu vực TP. Hồ Chí Minh - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí tuyến đo địa chấn nông (phản xạ) khu vực TP. Hồ Chí Minh (Trang 39)
Hình 2.7: Phân tích móng cấu trúc trầm tích Kainzoi khu vực TP. Hồ Chí Minh - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 2.7 Phân tích móng cấu trúc trầm tích Kainzoi khu vực TP. Hồ Chí Minh (Trang 45)
Hình 2.10a: Hướng và độ lớn vector dịch chuyển - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 2.10a Hướng và độ lớn vector dịch chuyển (Trang 52)
Hình 4.2a: Sơ đồ đứt gẫy tích cực khu vực Đông Nam Bộ. - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 4.2a Sơ đồ đứt gẫy tích cực khu vực Đông Nam Bộ (Trang 97)
Hình 4.3: Sơ đồ mật độ khe nứt hiện đại khu vực Đông Nam Bộ - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 4.3 Sơ đồ mật độ khe nứt hiện đại khu vực Đông Nam Bộ (Trang 98)
Hình 4.4: Khoanh vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất khu vực Đông Nam Bộ - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 4.4 Khoanh vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất khu vực Đông Nam Bộ (Trang 102)
Hình 4.6: Sơ đồ cấu trúc kiến tạo hiện đại Thành phố Hồ Chí Minh và lân cận - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 4.6 Sơ đồ cấu trúc kiến tạo hiện đại Thành phố Hồ Chí Minh và lân cận (Trang 106)
Hình 4.8: Sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất theo yếu tố đới ảnh hưởng động - Đề tài : Đánh giá hoạt động địa động lực đến tình trạng sụt lở đất và hình thành 'hố tử thần' khu vực đông nam bộ
Hình 4.8 Sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sụt lún đất theo yếu tố đới ảnh hưởng động (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w