Phạm vi nghiên cứu Do thời gian và kinh phí trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ, vì vậy báo cáo chỉ tập trung trình bày các lĩnh vực trực tiếp và một số lĩnh vực gián tiếp liên quan đến vấn đ
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH VÀ PHỔ BIẾN ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN TRONG CHẾ TẠO CƠ KHÍ GIAI ĐOẠN 2001-2008
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS ĐÀO DUY TRUNG
7816
26/3/2010
Hà Nội - 2009
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu và phạm vi nghiên cứu đề tài 8
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11
1.1.2.2 Các hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn 16
1.2.1 Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và quốc gia nước ngoài 16
1.2.1.1 Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực Việt Nam tham gia 16
1.2.1.2 Một số tổ chức tiêu chuẩn quốc gia (NSB) chính 18
1.2.1.3 Các cấp tiêu chuẩn và nguyên tắc thực hiện 19
1.2.1.3.2 Nguyên tắc thực hiện tiêu chuẩn hoá 21
1.2.1.3.3 Loại tiêu chuẩn (theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật) 23
1.2.1.4 Một số hoạt động tiêu chuẩn hoá điển hình của nước ngoài 23
1.2.2 Hoạt động tiêu chuẩn hoá ở Việt Nam 27
1.2.2.1 Lịch sử phát triển 27
1.2.2.2 Hoạt động tiêu chuẩn hoá trước và sau khi ra đời “Luật Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật”
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HOÁ NGÀNH
CÔNG NGHIỆP (cũ) VỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TỪ 2001-2006
33
Trang 3VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN CHUYỂN ĐỔI THEO LUẬT ĐỊNH
2.1.1.1 Các tổ chức tham gia xây dựng và biên soạn 35
2.1.1.2 Kết quả đạt được và tình hình phổ biến áp dụng chung tại các cơ
2.1.3 Thực trạng ban hành các quyết định, thông tư có liên quan 44
2.1.4 Đánh giá, nhận xét chung hệ thống các tiêu chuẩn ngành 16TCN
(cũ)
47
2.2 Đề xuất phương án chuyển đổi hệ thống tiêu chuẩn ngành
16TCN từ 1996-2006 theo “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ
thuật” Nguyên nhân, lý do
2.2.2 Danh mục các tiêu chuẩn ngành chuyển thành tiêu chuẩn quốc
gia TCVN và tiêu chuẩn cơ sở TCCS Nguyên nhân, lý do
50
2.2.3 Danh mục TCN chuyển thành tiêu chuẩn quốc gia TCVN 52
Chương 3 ĐÁNH GÍA THỰC TRẠNG TIÊU CHUẨN HOÁ VỀ CƠ KHÍ
CHẾ TẠO SAU KHI BAN HÀNH “LUẬT TIÊU CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT”
54
3.1 Nội dung tóm tắt “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật” 54
tạo sau khi ban hành “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật”, từ 2007-2008
3.2.2 Hoạt động tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về Cơ khí Chế tạo và các nhóm có liên quan năm 2007 và 2008
63
Trang 43.2.3 Đề xuất các hướng Quy chuẩn Nhà nước về Cơ khí cần xây
dựng và ban hành thời gian tới
69
3.2.4 Áp dụng và phổ biến tiêu chuẩn quốc gia TCVN 69
Chương 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC TIÊU
CHUẨN HOÁ PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP
79
TBT(Agreement on Technical Barriers to Trade ) của WTO
79
4.1.1 Nội dung tóm tắt của Hiệp định TBT 79
4.2 Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc Đề án triển khai thực
hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT
90
4.2.1 Xây dựng kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án 90
4.2.3 Tổng hợp, thông báo và hướng dẫn nội dung thực hiện kế hoạch
năm
91
4.2.4 Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ thuộc Đề án 91
4.3 Chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động trong lĩnh
vực tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu của hệ thống TCVN
91
với giai đoạn hội nhập
92
4.4.1.1 Giải pháp về tổ chức thực hiện 93
4.4.1.2 Giải pháp về nguồn vốn 93 4.4.1.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng 94
Trang 54.4.1.4 Giải pháp về hợp tác Quốc tế 94 4.4.1.5 Giải pháp về Khoa học và Công nghệ 95
thực hiện
96
– 101
Hợp đồng
Các Phụ lục
Phụ lục 1 của Hợp đồng Quyết định Hội đồng và Biên bản nghiệm thu cấp cơ sở
1-2
1-4 Phụ lục 1 Danh sách ký hiệu, tên gọi và Trưởng các Ban Kỹ thuật
Tiêu chuẩn Việt nam
hành chuyển thành tiêu chuẩn Quốc gia TCVN giai đoạn
Phụ lục 6 Danh mục TCVN về Cơ khí bị huỷ bỏ theo Quyết định của Bộ
Khoa học và Công nghệ số: 2669/QĐ-BKHCN, ngày 01/12/2008
1-9
Trang 6
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Đào Duy Trung Viện Nghiên cứu Cơ khí Chủ nhiệm đề tài
2 PGS Hà Văn Vui Chuyên gia cao cấp Cơ khí Thành viên ĐT
3 KS Nguyễn Mạnh Tuấn Viện Nghiên cứu Cơ khí Thành viên ĐT
4 CN Trần Lê Na Viện Nghiên cứu Cơ khí Thành viên ĐT
5 CN Lê Thu Hạnh Viện Nghiên cứu Cơ khí Thành viên ĐT
6 KS Nguyễn Ngọc Oanh Viện Nghiên cứu Cơ khí Thành viên ĐT
7 Nguyễn Thị Hường Viện Nghiên cứu Cơ khí Thành viên ĐT
Trang 7
CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
1 TCQT: Tiêu chuẩn Quốc tế;
2 TCKV: Tiêu chuẩn Khu vực;
3 TCNN: Tiêu chuẩn Nhà nước (nói chung của các nước);
4 TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam (cũ);
5 TCN: Tiêu chuẩn ngành (cũ);
6 TCV: Tiêu chuẩn địa phương, vùng (cũ);
7 TCCS: Tiêu chuẩn cơ sở (cũ);
8 TCVN: Tiêu chuẩn quốc gia (theo Luật mới)
9 TCCS: Tiêu chuẩn cơ sở (theo Luật mới);
10 QCVN: Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia (theo Luật mới);
11 QCĐP: Quy chuẩn Kỹ thuật Địa phuơng (theo Luật mới);
12 TCĐLCL: Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng;
13 TTTCCL: Trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng;
14 WTO (Word trade Organdization): Tổ chức Thương mại Thế giới;
15 TBT (Agreement on Technical Barriers to Trade): Hiệp định về rào cản kỹ thuật;
16 TCH: Tiêu chuẩn hoá;
17 ISO: Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (International Organization for
Standard)
18 IEC: Ban Tiêu chuẩn Điện Quốc tế (International Electrical Comitee)
19 ITU (Internatinal Telecommunication Union): Liên minh Viễn thông Quốc tế;
20 ANSI (American National Standards Institute ): Viện Tiêu chuẩn hoá Quốc gia Mỹ;
21 APMP (Asia Pacific Metrology Programme) 1992;
22 CAC (Codex Alimentarius Commission) 1989;
23 APQO (Asia Pacific Quality Organization) 1994;
24 ACCSQ (Asean Consultative Commitee for Standards and Quality);
25 APLMF (Asia Pacific Legal Metrology Forum) 1996;
26 APO (Asia Productivity Organization) 1996;
27 EAN-International (European Article Numbering-International) 1995;
28 TA (Technonet Asia) 1993;
29 ACCSQ: Uỷ ban Tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng của ASEAN;
30 APO: Tổ chức Năng suất Châu Á;
Trang 831 APMP: Chương trình Đo lường Châu Á-Thái Bình Dương;
32 APLMF: Diễn đàn Đo lường hợp pháp Châu Á-Thái Bình Dương;
33 PAC: Tổ chức Hợp tác về Công nhận Thái Bình Dương;
34 APLAC: Tổ chức hợp tác công nhận phòng thử nghiệm khu vực Châu Á- Thái Bình Dương;
35 APEC-SCSC: Tiểu ban Tiêu chuẩn và Sự phù hợp của APEC;
36 PASC: Diễn đàn Tiêu chuẩn khu vực Thái Bình Dương;
37 UNIDO: Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc;
38 TC (Technical Commitee): Ban Kỹ thuật;
39 SUBC: (Sub - Commitee): Tiểu Ban;
40 NSB (National Standard Body): Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc gia;
41 GOSSTANDARTR: Tổ chức Tiêu chuẩn Nhà nước Cộng hoà Nga;
42 FAO: Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hiệp quốc;
43 WHO: Tổ chức Ytế Thế giới (Word Help Organization)
44 IPR: Quyền sở hữu trí tuệ (International Property Rights)
51 BTTTT: Bộ Thông tin và Truyền thông;
52 BLĐTBXH: Bộ Lao động Thương binh Xã hội;
53 KHCN: Khoa học và Công nghệ;
Trang 9
MỞ ĐẦU VÀ PHẠM VI NGHIấN CỨU
Ngày 01/8/2007 Chớnh phủ đó ban hành Nghị định số 127/2007/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của “Luật Tiờu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật” đó
được Quốc hội Việt Nam thụng qua ngày 31/6/2006 và chớnh thức cú hiệu lực vào ngày 01/01/2007, trong đú đó quy định cụ thể cỏc yờu cầu đối với hoạt động xõy dựng, cụng bố tiờu chuẩn quốc gia; xõy dựng, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật và rà soỏt, chuyển đổi tiờu chuẩn ngành TCN, tiờu chuẩn Việt Nam TCVN thành tiờu chuẩn quốc gia hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong giai đoạn 2007-2010
Trong bối cảnh thay đổi tổ chức ở nhiều Bộ, Ngành kể từ thời điểm cú hiệu lực của Luật Tiờu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (01/01/2007), do những khú khăn
về cơ chế, chớnh sỏch thay đổi, nguồn lực hạn hẹp và nhiều bất cập khỏc, việc đưa
hệ thống văn bản quy phạm phỏp luật về tiờu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật nờu trờn vào ỏp dụng là một thỏch thức lớn đối với cỏc Bộ, Ngành Theo tinh thần của Nghị định 127CP, hệ thống tiờu chuẩn Việt Nam (TCVN) và hệ thống tiờu chuẩn ngành (TCN) cũ trước đõy phải được chuyển đổi thành một hệ thống tiờu chuẩn quốc gia thống nhất trước 31/12/2010, đồng thời hệ thống văn bản quản lý mới là quy chuẩn
kỹ thuật được hỡnh thành trờn cơ sở thay đổi cỏch tiếp cận quản lý phự hợp với cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Triển khai thực hiện Nghị định 127CP liên quan đến rà soát, chuyển đổi TCVN, TCN, Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, Ngành đang khẩn trương tổ chức các đơn vị chức năng có liên quan thực hiện việc xem xét lại toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn (bao gồm cả TCVN và TCN) trong các lĩnh vực được phân công để xác
định các TCVN, TCN cần chuyển đổi hoặc hủy bỏ nếu đã lạc hậu
Nền kinh tế Việt Nam phỏt triển theo xu thế tăng cường hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TCH tham gia hội nhập với khu vực và quốc tế Kinh nghiệm và kết quả hoạt động tiờu chuẩn đo lường chất lượng hơn 45 năm của Việt Nam
Tuy nhiờn, trỡnh độ cụng nghệ của cỏc doanh nghiệp Việt Nam nhỡn chung cũn thấp so với cỏc nước trong khu vực và càng thấp hơn so với cỏc nước phỏt triển Việc đưa hoạt động quản lý tiờu chuẩn đo lường chất lượng vào cỏc doanh nghiệp cũn chậm và chưa cú hiệu quả rừ rệt, mặc dự nhiều doanh nghiệp đó nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng đối với sự phỏt triển của mỡnh Vớ dụ: Việc ỏp dụng cỏc bộ tiờu chuẩn TCVN đồng bộ hài hoà với Tiờu chuẩn Quốc tế như TCVN ISO 9000 và TCVN ISO 14000 mặc dự đó trở thành một phong trào rộng rói nhưng chưa thực sự phỏt huy tỏc dụng theo chiều sõu
Sự tham gia của cỏc doanh nghiệp vào quỏ trỡnh xõy dựng tiờu chuẩn cũn yếu Kinh phớ dành cho xõy dựng tiờu chuẩn cũn bị hạn chế, chủ yếu dựa vào ngõn sỏch Nhà nước Việc phối hợp giữa cơ quan TCH với cỏc Bộ/Ngành, cỏc Viện nghiờn cứu và cỏc doanh nghiệp trong hoạt động TCH cũn chưa được chặt chẽ và thường
Trang 10xuyên Hàng rào ngôn ngữ là một trong những khó khăn, thách thức đã và đang tồn tại Việc chấp nhận TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến thành TCVN trở nên tốn kém và mất thời gian
Hài hoà TCVN với TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến nhất thiết phải được xác định là một định hướng ưu tiên trong chính sách phát triển hoạt động TCH ở nước ta giai đoạn hiện nay Đây là một yêu cầu bức xúc cần được triển khai thực hiện có hiệu quả nhằm nhanh chóng phát triển hệ thống TCVN đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước trên thị trường trong và ngoài nước
Tiêu chuẩn hoá cơ sở trong thời kỳ hội nhập đang là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam Việc áp dụng tiêu chuẩn cơ sở sẽ đảm bảo được những lợi ích thiết thực cho mỗi doanh nghiệp Một mặt, thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm, hàng hoá sản xuất tại Việt Nam, đảm bảo an toàn, vệ sinh sức khoẻ , bảo vệ môi trường, bảo vệ các lợi ích cộng đồng và công bằng xã hội Mặt khác góp phần thuận lợi hoá thương mại, hạn chế và tiến tới xoá bỏ các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại quốc tế
Các Bộ, Ngành khác về cơ bản đã thực hiện việc rà soát hệ thống TCN của
mình để chuyển đổi sang tiêu chuẩn quốc gia Hiện nay có 05 Bộ (Bộ Xây dựng,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tài chính) đã hoàn thành việc rà soát toàn bộ TCN và đã
thông báo chính thức cho Bộ Khoa học và Công nghệ (thông qua Tổng cục TCĐLCL) về kết quả rà soát TCN, và TCVN theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 11, Điều 12 Nghị định 127CP Trong quá trình triển khai việc chuyển đổi TCN và TCVN, một số kết quả rà soát đã được các Bộ, Ngành thay đổi điều chỉnh,
bổ sung để phù hợp với tình hình thực tiễn
Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Khoa học và Công nghệ (Tổng cục TCĐLCL),
đã chủ động đưa vào kế hoạch hàng năm việc chuyển đổi, huỷ bỏ TCVN bắt đầu từ năm 2007 cho đến nay
Trên cơ sở kết quả rà soát, các Bộ, Ngành khác đang đưa dần việc chuyển đổi các TCN (theo danh mục đã được xác định sau rà soát) thành TCVN vào kế hoạch hàng năm từ 2008-2010 Tuy nhiên, việc chuyển đổi TCN của các Bộ, ngành được thực hiện chủ yếu từ kế hoạch năm 2008 với số lượng còn rất ít so với tổng số TCN cần chuyển đổi (Tổng số TCN đưa vào kế hoạch để chuyển đổi năm 2008 là
194 TCN) Việc thực hiện chuyển đổi TCN, TCVN thành TCQG theo kế hoạch
2008 đã được duyệt ở các Bộ, ngành (trừ Bộ Khoa học và công nghệ) là rất chậm (mới trình thẩm định được rất ít so với kế hoạch)
1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 11Mục tiêu của đề tài là trình bày một số khái niệm chính có liên quan, nghiên cứu tổng quan trong và ngoài nước lĩnh vực tiêu chuẩn hoá và hoạt động tiêu chuẩn hoá Trên cơ sở đó đưa ra cơ sở và tổng quan kinh nghiệm quốc tế và trong nước các vấn đề cần nghiên cứu Một nội dung quan trọng của đề tài là đánh giá thực trạng hoạt động tiêu chuẩn hoá ngành Công nghiệp (cũ) về cơ khí chế tạo từ 2001-
2006 Tuy nhiên, trong phần báo cáo này sẽ trình bày trong phạm vi mở rộng hơn
đề cương quy định, từ 1996-2006 để kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rộng hơn và việc xem xét đánh giá sẽ hoàn chỉnh và đầy đủ hơn Trên cơ sở thực trạng đó Đề tài sẽ đề xuất phương án chuyển đổi hệ thống các tiêu chuẩn ngành này theo luật định Cùng với việc trên, cần đánh giá hoạt động tiêu chuẩn hoá về Cơ khí chế tạo
sau khi ban hành “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật“, giai đoạn 2007-2008
Cuối cùng báo cáo đề xuất giải pháp, chính sách cho công tác tiêu chuẩn hoá phát triển trong giai đoạn hội nhập Các giải pháp chính sách này cần có tính phù hợp và khả thi cao trong điều kiện cụ thể của Việt Nam khi tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
2 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kinh phí trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ, vì vậy báo cáo chỉ tập trung trình bày các lĩnh vực trực tiếp và một số lĩnh vực gián tiếp liên quan đến vấn đề Cơ khí Chế tạo theo khung phân loại và mã hiệu của tiêu chuẩn ISO và tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam, như: 21- Hệ thống kết cấu cơ khí công dụng chung; 23 -
Hệ thống và kết cấu dẫn chất lỏng công dụng chung; 25- Chế tạo và quá trình chế tạo; 27- Năng lượng và truyền nhiệt; 43- Phương tiện giao thông đường bộ; 65 – Máy móc, dụng cụ và thiết bị nông nghiệp Các vấn đề cơ khí khác như: Cơ khí đóng tàu, đường sắt, khai thác mỏ và khoáng sản, cơ khí xây dựng, sẽ không
đề cập trong báo cáo này
3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề ra ở trên, các nội dung chính cần được đề cập dưới đây
Đặt vấn đề và phạm vi nghiên cứu
Chương 1 - Tổng quan và cơ sở nghiên cứu của đề tài
Chương 2 - Thực trạng hoạt động tiêu chuẩn hoá ngành Công nghiệp (cũ) về
cơ khí chế tạo từ 2001-2006 và đề xuất phương án chuyển đổi
theo luật định
Chương 3 – Đánh giá hoạt động tiêu chuẩn hoá về Cơ khí chế tạo sau khi
ban hành “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật“, 2007-2008
Chương 4 - Đề xuất giải pháp chính sách cho công tác tiêu chuẩn hoá phát
triển trong giai đoạn hội nhập
Kết luận chung đề tài
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trong chương này, đề tài sẽ trình bày một số khái niệm cơ bản, tổng quan các vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước làm cơ sở chung cho các nghiên cứu được trình bày trong đề tài Các tổng quan và cơ sở này được viết trên cơ sở các thông tin, các nguồn tư liệu thu thập mới nhất trong và ngoài nước khi tiến hành thực hiện đề tài
1.1 Một số khái niệm chung [1],[2],[3],[14]
1.1.1 Tiêu chuẩn
1.1.1.1 Khái niệm và định nghĩa
Tiêu chuẩn (Standard) là một tài liệu được thiết lập bằng cách thoả thuận và thông qua bởi một tổ chức được thừa nhận, trong đó đề ra những quy tắc, hướng dẫn hoặc các đặc tính cho những hoạt động, hoặc những kết quả của chúng để sử dụng chung và lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm đạt được mức trật tự tối ưu trong khung cảnh nhất định (Theo ISO/IEC Guide 2: 1996)
Chú thích: Các tiêu chuẩn phải dựa trên kết quả vững chắc của khoa học, công nghệ và kinh nghiệm thực tế nhằm có được lợi ích tối ưu cho cộng đồng
Tiến sĩ Steven R Wilson – chuyên gia về chất lượng, tiêu chuẩn hoá và đo lường của tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp quốc (UNIDO) đã định
nghĩa: “Tiêu chuẩn là một tài liệu kỹ thuật do một cơ quan, một tổ chức có thẩm
quyền ban hành nhằm đưa ra những nguyên tắc và hướng dẫn mang tính tự nguyện áp dụng về những đặc tính của sản phẩm, quá trình hoặc phương pháp”
Ở Việt Nam thời gian trước, tiêu chuẩn được định nghĩa thống nhất trong Điều lệ về công tác tiêu chuẩn hoá (NĐ số 141/HĐBT), như sau:
Tiêu chuẩn là những quy định thống nhất và hợp lý được trình bày dưới dạng
văn bản pháp chế kỹ thuật, xây dựng theo một thể thức nhất định do một cơ quan
có thẩm quyền ban hành để bắt buộc hay khuyến khích áp dụng cho các bên có liên quan Quy phạm, Qui trình là một dạng tiêu chuẩn
Hiểu theo nghĩa chung nhất, “Tiêu chuẩn” là những tài liệu về kỹ thuật và
quản lý kinh tế kỹ thuật, khoa học công nghệ và môi trường mang tính thoả thuận, được chấp nhận một cách tự nguyện trên quy mô một Viện, Công ty, Tổng Công ty, nhà máy xí nghiệp, ; quy mô Quốc gia, khu vực (vùng thế giới) và Quốc tế Như vậy tiêu chuẩn được chọn làm khuôn mẫu cho những đối tượng hoặc những hành động có thể đem so sánh, đem lại sự tương thích về kỹ thuật, công nghệ trên một phạm vi một Quốc gia, một vùng khu vực thế giới hoặc toàn cầu Tiêu chuẩn đem lại cho người tiêu dùng cuối cùng một chuẩn mực phán quyết, mức đo lường chất
Trang 13phương diện nhất định, tiêu chuẩn tạo lập chỗ dựa thực sự trong cuộc sống hàng ngày, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách góp phần đảm bảo an toàn, sức khoẻ con người và bảo vệ môi trường
Tiêu chuẩn là tài liệu kỹ thuật được tham chiếu và sử dụng rộng rãi trong các mối quan hệ của đời sống kinh tế-xã hội liên quan đến khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, thương mại, Tiêu chuẩn thể hiện các yêu cầu, quy định đối với đối tượng tiêu chuẩn hoá liên quan, do đó những yêu cầu này thường được sử dụng làm các điều khoản được chấp nhận chung khi xác lập các quan hệ giao dịch giữa các bên đối tác Đặc biệt, khi có tranh chấp, tiêu chuẩn chính là cơ sở kỹ thuật cho việc thảo luận, giải quyết và tài phán
Sau này trong Pháp lệnh chất lượng hàng hoá do Hội đồng Nhà nước ban
hành đầu năm 1991, tiêu chuẩn được định nghĩa: Tiêu chuẩn là một văn bản kỹ
thuật quy định quy cách, chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp thử, yêu cầu về bao gói, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hoá và các vấn đề khác liên quan đến chất lượng hàng hoá
Một cách khái quát nhất khi chú ý tới định nghĩa về tiêu chuẩn của ISO trong ISO/IEC Guide 2: 1996 Cần nhấn mạnh một số điểm sau:
Tiêu chuẩn ở đây được khoanh lại là một tài liệu trong đó đề ra các quy tắc (rule) hướng dẫn (guidelines) hay đặc trưng cho các hoạt động hoặc kết quả của nó Theo ISO/IEC 1996, khái niệm chuẩn trong đo lường (tiếng Anh cũng là Standard) không thuộc khái niệm tiêu chuẩn ở đây
Việc xây dựng tiêu chuẩn là theo nguyên tắc thoả thuận và vì vậy dẫn tới thủ tục xây dựng tiêu chuẩn là phải theo phương pháp Ban kỹ thuật
Tiêu chuẩn phải được một tổ chức được thừa nhận thông qua Nếu không có một tổ chức được thừa nhận thông qua thì văn bản đó dù giá trị đến đâu cũng chưa thể gọi là tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn được sử dụng chung lặp đi lặp lại nhiều lần, do đó không thể
có tiêu chuẩn chỉ sử dụng một lần
Tiêu chuẩn được đưa ra để sử dụng nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định Cho nên có thể lúc này, nơi này là tốt, còn lúc khác, nơi khác là chưa tốt
Tiêu chuẩn là một giải pháp tối ưu, vì nó được xây dựng trên một nền tảng là các kết quả vững chắc của khoa học, công nghệ và kinh nghiệm thực tế theo một phương pháp cơ bản nhất là thoả thuận nhất trí của các bên có liên quan và mục tiêu là đạt được lợi ích tối ưu cho cộng đồng Vì vậy, nếu tiến hành xây dựng tiêu chuẩn một các đúng nguyên tắc thì tiêu chuẩn rõ ràng là một giải pháp tốt cần áp dụng, mặc dù tiêu chuẩn được ban hành chỉ có một số để bắt buộc áp dụng, còn là
để khuyến khích, tự nguyện áp dụng
Trang 14Việc quy định bắt buộc áp dụng hay khuyến khích tự nguyện áp dụng xuất phát ở tính pháp lý của cơ quan tiêu chuẩn và ý đồ quản lý của cơ quan đó phối hợp với cơ chế quản lý của từng quốc gia, ngành và cơ sở, công ty, cũng như từng nội dung đối tượng của tiêu chuẩn trong từng thời kỳ
Theo quy định mới nhất trong “Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật” do
Quốc hội Việt Nam ban hành có hiệu lực từ 01/01/2007, tiêu chuẩn được định nghĩa như sau:
“ Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm
chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường
và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả của các đối tượng này”
“Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng”
Cho đến nay, đây là định nghĩa chính thống và lần đầu tiên đã được luật hoá
về Tiêu chuẩn được thống nhất áp dụng tại Việt Nam
Lĩnh vực tiêu chuẩn quốc gia là một nhóm các đối tượng tiêu chuẩn quốc gia
có liên quan với nhau (ví dụ như: lĩnh vực giao thông, lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực hoá chất, lĩnh vực thực phẩm, lĩnh vực may mặc, lĩnh vực luyện kim, v.v ) Lĩnh vực tiêu chuẩn quốc gia được xác định theo khung phân loại tiêu chuẩn quốc
tế của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO)
1.1.1.2 Tiêu chuẩn hoá
a) Khái niệm
Tiêu chuẩn hoá (Standardization) là một hoạt động có liên quan đến những vấn đề thực tế và tiềm ẩn nhằm thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và lặp đi, lặp lại nhiều lần với mục đích đạt được một trật tự tối ưu nhất trong một khung cảnh nhất định
Chú ý:
- Nói một cách cụ thể thì tiêu chuẩn hoá là một hoạt động gồm các quá trình
xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn;
- Lợi ích quan trọng của tiêu chuẩn hoá là nâng cao mức độ thích ứng của sản phẩm, quá trình và dịch vụ với những mục đích dự kiến trước của nó, nhằm loại bỏ những hàng rào trong thương mại và tăng cường cho việc hợp tác về công nghệ
(Theo ISO/IEC Guide 2: 1996)
Đối với Việt Nam thì thuật ngữ tiêu chuẩn hoá đã được ghi nhận một cách chính thức trong Điều lệ về công tác tiêu chuẩn hoá ban hành theo Nghị định 141-HĐBT ngày 24 tháng 8 năm 1982 như sau:
Trang 15“Công tác tiêu chuẩn hoá bao gồm việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và áp dụng kinh nghiệm tiên tiến nhằm đưa các hoạt động sản xuất kinh doanh vào nền nếp và đạt được hiệu quả cao”
“ Tiêu chuẩn hoá phải được coi là một công tác quản lý kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong quá trình đưa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN thúc đẩy phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật, góp phần nâng cao mức sống nhân dân”
Nhìn chung, có thể rút ra các nhận xét về thuật ngữ tiêu chuẩn hoá như sau: Tiêu chuẩn hoá là một hoạt động không những chỉ chú ý đến thực tế đang tồn tại mà còn chú ý đến khả năng tiềm ẩn trong tương lai và vì vậy các đối tượng và mục tiêu của nó không những chỉ là các vấn đề thực tế mà còn là các vấn đề có tính chất định hướng đi trước
Đối tượng của tiêu chuẩn hoá là những sản phẩm, quá trình và dịch vụ là các hoạt động trong xã hội, nhưng phải chú ý trước tiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Sẽ không thể tiêu chuẩn hoá một đối tượng chỉ xảy ra một lần Các sản phẩm phải sản xuất nhiều lần, được bán ra thị trường nhiều lần, các quá trình phải xảy ra nhiều lần và các dịch vụ cũng phải như vậy
Một cách cụ thể và trực diện, thì tiêu chuẩn hoá là một quá trình gồm xây dựng, sau đó công bố hay ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn Đôi khi người ta cũng có thể nói gọn là xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn Theo luật mới, hoạt động này còn là công bố phù hợp và đánh giá phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn, là công nhận và thừa nhận lẫn nhau; là thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại
tố cáo trong hoạt động lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn
Các định nghĩa này đứng về khoa học không thể hiện được rõ ràng lắm nhưng lại có một ý nghĩa rất thực tế Trên cơ sở định nghĩa đó người ta có thể hình dung tất cả các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của tiêu chuẩn hoá, sau đó quyết định về cách
tổ chức cơ quan tiêu chuẩn hoá ở mọi cấp để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó Tiêu chuẩn hoá được tiến hành dựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn, tiên tiến, để đưa ra các quy định và áp dụng nhằm tạo ra một trật tự tối ưu hay là một nền nếp để đạt được hiệu quả chung có lợi nhất trong một hoàn cảnh nhất định
Tiêu chuẩn hoá được tiến hành trên cơ sở thoả thuận, có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan, ví dụ để tiêu chuẩn hoá một sản phẩm phải có sự tham gia của đại diện nhà sản xuất, nhà kinh doanh, người tiêu thụ, người nghiên cứu, người quản lý và bản thân cơ quan tiêu chuẩn hoá…
Về khía cạnh quản lý, kết quả của tiêu chuẩn hoá là việc ban hành các tiêu chuẩn và việc tổ chức, xúc tiến, kiểm tra theo dõi việc áp dụng các tiêu chuẩn đó b) Mục đích của tiêu chuẩn hoá
Trang 16Mục đích chung của tiêu chuẩn hoá được thể hiện trong định nghĩa của tiêu chuẩn hoá là đạt được một trật tự tối ưu nhất trong một hoàn cảnh nhất định Nói một cách cụ thể hơn, mục đích của tiêu chuẩn hoá là làm cho sản phẩm, quá trình, dịch vụ đáp ứng được các mục đích yêu cầu đề ra của nó Những mục đích này không nhất thiết lúc nào cũng thể hiện đầy đủ hết mà có thể chỉ thể hiện ở một khía cạnh nào đó mà thôi Cũng theo ISO/IEC Guide 2:1996 thì đó có thể là để đảm bảo
sự kiểm soát được kiểu loại theo hướng đơn giản hoá, đảm bảo khả năng sử dụng, tính tương hợp, tính đổi lẫn, sức khoẻ, an toàn, bảo vệ môi trường, sự hiểu biết lẫn nhau, hiệu quả trong kinh tế, thương mại… Các mục đích cụ thể này đôi khi có thể trùng lặp nhau
Tuy nhiên để có thể dễ nhận biết các mục đích của tiêu chuẩn hoá, căn cứ vào
tài liệu “Các mục đích và các nguyên tắc của tiêu chuẩn hoá”, Tổ chức Tiêu chuẩn
hoá quốc tế ISO đã đưa ra kết luận về các mục đích của tiêu chuẩn hoá và vẽ thành
sơ đồ, lấy đó làm tài liệu để đào tạo cho các cán bộ kỹ thuật của cấp quốc gia và công ty (trích sổ tay phát triển số 3 của ISO, 1985 (xem sơ đồ Hình 1.1)
Hình 1.1 – Sơ đồ mục đích của tiêu chuẩn hoá
Đơn giản hoá (kiểm soát kiểu loại)
Loại trừ các hàng rào thương mại
Đổi lẫn
Các quy tắc sản xuất, thí nghiệm và sử
dụng
Tiêu chuẩn chất lượng
Các tiêu chuẩn và các luật
Các quy định kỹ thuật, mã và biểu tượng, khái niệm và thuật ngữ, quy phạm
Kinh tế chung
Bảo vệ người tiêu dùng
An toàn và sức khoẻ
Thúc đẩy thông tin liên tục Mục đích của
tiêu chuẩn hoá
Trang 17Như vậy: Tiêu chuẩn hoá là tập hợp các hoạt động về nghiên cứu xây dựng, công bố tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp, chứng nhận hợp chuẩn và công bố hợp chuẩn Cuối cùng hoạt động này là phổ biến áp dụng tiêu chuẩn trong sản xuất, thực tế
1.1.2 Quy chuẩn kỹ thuật
Với luật “Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật” mới được ban hành, có một số
khái niệm sau
1.1.2.1 Định nghĩa
Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu
cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối
tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và
an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng
1.1.2.2 Các hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn
Hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật là việc xây dựng, ban hành và
áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật
1.1.2.2.1 Chứng nhận hợp quy là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh
vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
1.1.2.2.2 Công bố hợp quy là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của hoạt
động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
1.2 Tổng quan và cơ sở các vấn đề nghiên cứu [4],[5],[6],[8], [15],[18] [21]
1.2.1 Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và quốc gia nước ngoài
1.2.1.1 Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực Việt Nam tham gia
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các tổ chức Tiêu chuẩn Đo Lường Chất lượng Quốc tế và khu vực, như sau
a) Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO (International Standardization
Organization) được thành lập năm 1947, Việt Nam tham gia là thành viên chính
thức của ISO từ năm 1977
Ở quy mô toàn cầu, cho đến nay ISO là một tổ chức quốc tế lớn mạnh với trên 120 nước thành viên chính thức Hoạt động của ISO được triển khai thông qua
212 Ban kỹ thuật (Technical Commitee), 636 tiểu ban (Sub - Commitee), 1975 nhóm côngg tác (Working Group) và 36 nhóm nghiên cứu đặc biệt (Special Research Group) tập hợp trên 30.000 chuyên gia giỏi của nhiều chục quốc gia trong các lĩnh vực trên thế giới Tính đến hết 2007, ISO đã ban hành hơn 17000 tiêu chuẩn quốc tế và các xuất bản phẩm khác (hướng dẫn, báo cáo kỹ thuật, v.v )
Trang 18thuộc hầu hết các lĩnh vực, trừ điện và điện tử do Ban Điện quốc tế IEC ban hành Hiện có khoảng 30.000 các nhà khoa học, các nhà quản lý, cơ quan chính phủ, các nhà công nghiệp, người tiêu dùng, đại diện cho các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia là thành viên tham gia vào việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế và các chính sách phát triển của ISO Trên 500 tổ chức quốc tế có quan hệ với các cơ quan kỹ thuật của ISO
b) Công ước Mét (Convention de Mètre) được 17 nước sáng lập ngày 20
tháng 5 năm 1875 ở Paris Trên cơ sở Công ước Mét, Viện Cân đo quốc tế BIPM (Bureau International des Poids et Mesures) được thành lập để tiến hành thể hiện, duy trì các chuẩn quốc tế theo định nghĩa đơn vị đo lường và cung cấp các chuẩn quốc gia về đo lường cho các quốc gia thành viên tham gia Công ước Mét Cũng tại đây các chuẩn quốc gia được định kỳ so sánh, đối chiếu với nhau để đảm bảo sự chính xác và thống nhất cao nhất về giá trị của các đại lượng đo Đến nay Công ước Mét đã có 50 nước tham gia là thành viên chính thức Hiện nay Việt Nam chưa tham gia được Công ước Mét do nhu cầu và điều kiện kinh tế chưa cho phép
c) Tổ chức Đo lường pháp quyền quốc tế OIML (Organization International
de Metrologie Légale) được thành lập năm 1955, hiện nay có 54 nước là thành viên
chính thức và 41 nước là thành viên quan sát Việt Nam tham gia là thành viên quan sát của OIML từ năm 1994
d) Các tổ chức quốc tế và khu vực khác hiện nay Việt Nam đã và sẽ tham gia
là:
1 PASC (Pacific Area Sandards Congress) 1992;
2 ILAC (International Laboratory Acreditation Conference) 1992;
3 APLAC (Asia Pacific Laboratory Acreditation Conference) 1995;
4 APMP (Asia Pacific Metrology Programme) 1992;
5 CAC (Codex Alimentarius Commission) 1989;
6 APQO (Asia Pacific Quality Organization) 1994;
7 ACCSQ (Asean Consultative Commitee for Standards and Quality);
8 APLMF (Asia Pacific Legal Metrology Forum) 1996;
9 APO (Asia Productivity Organization) 1996;
10 EAN-International (European Article Numbering-International) 1995;
11 TA (Technonet Asia) 1993
12 Uỷ ban Tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng của ASEAN (ACCSQ);
13 Tổ chức Năng suất Châu Á (APO);
14 Chương trình Đo lường Châu Á-Thái Bình Dương (APMP);
15 Diễn đàn Đo lường hợp pháp Châu Á-Thái Bình Dương (APLMF);
16 Tổ chức Hợp tác về Công nhận Thái Bình Dương (PAC);
Trang 1917 Tổ chức hợp tác công nhận phòng thử nghiệm khu vực châu Á- Thái Bình Dương (APLAC);
18 Tiểu ban Tiêu chuẩn và Sự phù hợp của APEC (APEC-SCSC);
19 Diễn đàn Tiêu chuẩn khu vực Thái Bình Dương (PASC )
Hiện nay, có ba tổ chức quốc tế lớn nhất chuyên về tiêu chuẩn hoá mà Việt Nam đang tham gia là:
• Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ( The International Organization for Standardization – ISO); có 159 quốc gia tham gia [];
• Ban Điện kỹ thuật quốc tế (The International Electro technical Commission – IEC); có 56 quốc gia tham gia [];
• Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union -
ITU): có 191 quốc gia tham gia []
Hình 1.2 dưới đây mô tả hầu hết các quốc gia trên thế giới là thành viên của tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO, trong đó có Việt Nam Hiện nay có 159 quốc gia [20] tham gia ISO trên tổng số 202 quốc gia các loại
Hình 1.2 - Bản đồ các quốc gia tham gia tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc
tế ISO (năm 2008, màu xanh lá cây)
1.2.1.2 Một số tổ chức tiêu chuẩn quốc gia (NSB) chính
Ở mỗi quốc gia, có thể có nhiều tổ chức tiêu chuẩn hoá ở tầm toàn quốc Nhưng theo ISO/IEC chỉ có một tổ chức tiêu biểu nhất được công nhận là đại diện duy nhất của quốc gia đó trong nước và quốc tế, tạm dịch là Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc gia NSB (National Standards Body) Tổ chức này được gọi là tổ chức, cơ
Trang 20quan… tiêu chuẩn hoá chính phủ hay nhà nước (Governmental hay State body, department…) nếu tổ chức này của chính phủ hay nhà nước
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1901 đó là Bristish Standards Institution (BSI) Từ đó, nhiều nước trên thế giới đã lần lượt thành lập NSB của mình Tính đến nay hầu hết các nước đã có NSB Theo thống kê của ISO thì hiện nay đã có 159 nước tham gia ISO và có NSB
Ví dụ:
- Ở Mỹ, có ASTM (American Society for Testing and Materials); ASME (American Society of Mechanical Engineering); SAE (Society of Automotive Engineers); AIA (Aerospace Industries Association of America); API (American Petrolimex Institute); AAR (Association of American Railroads); IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers);
- Ở Nhật, có JIS (Japanese Industry Standard);
- Ở Hàn Quốc, có KS (Korea Standards);
- Ở Cộng hoà Liên bang Đức, có DIN;
a) Tiêu chuẩn doanh nghiệp
Trong phần này ta dùng thuật ngữ “doanh nghiệp” để chỉ tổ chức kinh tế độc lập nhỏ nhất Theo định nghĩa như vậy, “doanh nghiệp” có thể là một xí nghiệp, một hợp tác xã hay một tổ chức sản xuất độc lập “Doanh nghiệp” cũng có thể là một tập đoàn sản xuất có hàng ngàn cán bộ, nhân viên Trước đây đơn vị kinh tế như vậy thường được gọi là “ xí nghiệp” hay “cơ sở”, vì vậy “tiêu chuẩn doanh nghiệp” nói ở đây đồng nghĩa với “tiêu chuẩn xí nghiệp” hay “tiêu chuẩn cơ sở”
Trang 21Tiêu chuẩn doanh nghiệp là tiêu chuẩn do một doanh nghiệp xây dựng để phục vụ cho lợi ích của bản thân công ty Tiêu chuẩn doanh nghiệp có thể bao gồm các tiêu chuẩn về nguyên vật liệu, bán thành phẩm mà công ty mua vào, tiêu chuẩn
về các quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng của công ty, tiêu chuẩn về các sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp…
Bởi vì doanh nghiệp chỉ ban hành những tiêu chuẩn cụ thể phục vụ lợi ích của doanh nghiệp cho nên tất cả các tiêu chuẩn doanh nghiệp đã ban hành đều là các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng trong doanh nghiệp
Nếu coi các cấp tiêu chuẩn khác nhau như những thang bậc thì tiêu chuẩn doanh nghiệp ở bậc thang thấp nhất, vì chúng do một đơn vị kinh tế độc lập nhỏ nhất ban hành và hơn nữa chúng là những căn cứ kỹ thuật để xây dựng các tiêu chuẩn của các cấp khác
Tiêu chuẩn doanh nghiệp thường giải quyết những vấn đề cụ thể riêng biệt của doanh nghiệp Trong khi xây dựng tiêu chuẩn riêng cho mình, doanh nghiệp thường tham khảo các tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế có liên quan, vì vậy có nhiều tiêu chuẩn doanh nghiệp chỉ lựa chọn, trích dẫn những điều khoản thích hợp trong các tiêu chuẩn ngành, quốc gia hoặc quốc tế
b) Tiêu chuẩn Hội, Ngành
Mặc dầu các công ty cùng sản xuất một loại sản phẩm, có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau trên thị trường, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau họ có thể và cần phải hợp tác với nhau trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá
Tiêu chuẩn hội là tiêu chuẩn do một tổ chức của những nhà sản xuất kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, soạn thảo ra để cùng nhau sử dụng Những tiêu chuẩn này mang lại hiệu quả kinh tế cao do chúng thúc đẩy việc thống nhất hoá và chuyên môn hoá trong sản xuất, đồng thời cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, khi sửa chữa thay thế phụ tùng Hội những nhà chế tạo xe hơi ở Mỹ đã soạn thảo ra hàng trăm tiêu chuẩn đang được sử dụng trong sản xuất xe hơi trên toàn thế giới
Ở Việt Nam trước năm 2007, cấp trung gian giữa tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn công ty là “ tiêu chuẩn ngành” Về mặt đối tượng tiêu chuẩn hoá, đối tượng của tiêu chuẩn ngành cũng là những vấn đề được các công ty, xí nghiệp trong cùng một lĩnh vực quan tâm Tuy nhiên khác với Tiêu chuẩn Hội là do các Hội (tổ chức
tự nguyện) ban hành và hầu hết là tự nguyện áp dụng, còn tiêu chuẩn ngành của Việt Nam lại do các Bộ trưởng (cơ quan quản lý nhà nước theo ngành) ban hành và trước đây thường là bắt buộc áp dụng Đây cũng là một nét đặc biệt riêng của hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam
c)Tiêu chuẩn quốc gia
Trang 22Tiêu chuẩn quốc gia (tiêu chuẩn nhà nước) là do các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc gia ban hành Hiện nay trên thế giới có khoảng 100 cơ quan tiêu chuẩn quốc gia Mỗi cơ quan tiêu chuẩn quốc gia ban hành từ vài trăm tiêu chuẩn đến vài chục ngàn tiêu chuẩn và tăng lên nhanh chóng do yêu cầu của các cơ quan quản lý của chính phủ, các nhà sản xuất, người tiêu dùng… , bởi vì tiêu chuẩn giúp cho công việc của họ trở nên đơn giản hơn, đỡ tốn kém hơn
Một cách đơn giản, tiêu chuẩn là một tài liệu thể hiện một giải pháp tốt, được các bên có liên quan chấp nhận
Trong khi tiêu chuẩn công ty chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân công ty, do
đó chỉ cần được ban lãnh đạo công ty chấp thuận, thì tiêu chuẩn quốc gia phục vụ cho cả nhà sản xuất, người tiêu dùng và các cơ quan quản lý của chính phủ, vì vậy tiêu chuẩn này phải được Ban kỹ thuật đại diện cho tất cả các bên quan tâm khác nhau tham gia soạn thảo
Ở một số nước, mọi tiêu chuẩn quốc gia đều bắt buộc, trong khi ở các nước khác, các tiêu chuẩn quốc gia đều là tự nguyện Tuy nhiên các tiêu chuẩn liên quan đến an toàn, sức khoẻ và môi trường là những tiêu chuẩn bắt buộc theo quy định của các luật tương ứng
d)Tiêu chuẩn khu vực
Điều kiện địa lý, khí hậu, văn hoá, chính trị… đã tạo ra các nhóm khu vực, các nước trong khu vực thường có yêu cầu những tiêu chuẩn để sử dụng chung Vì vậy
đã hình thành ra các tổ chức tiêu chuẩn hoá khu vực, ví dụ: Uỷ ban tiêu chuẩn châu
Âu (CEN), Tổ chức tiêu chuẩn và đo lường Ả Rập (ASMO), Tổ chức tiêu chuẩn Châu Phi… Các tiểu khu vực thường là tự nguyện, các quốc gia trong khu vực thường chấp nhận tiêu chuẩn khu vực thành tiêu chuẩn quốc gia của mình
đ) Tiêu chuẩn quốc tế
Tiêu chuẩn quốc tế là tiêu chuẩn cấp cao nhất, do các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ban hành Tiêu chuẩn quốc tế nhằm đem lại sự thống nhất cần thiết cho sản phẩm, dịch vụ, tạo điều kiện để các quốc gia trao đổi thông tin, hợp tác sản xuất và buôn bán với nhau Hệ thống đơn vị đo lường, ký hiệu các nguyên tố hoá học, hệ thống ren vít,… là những ví dụ về tiêu chuẩn quốc tế đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi từ nhiều năm trước đây Nhờ có tiêu chuẩn quốc tế mà một người có thể sử dụng máy ảnh của Nhật Bản với phim sản xuất ở Đức, một chiếc bàn là du lịch của Nga có thể mang dùng khắp châu Âu mà không gặp trở ngại nào
1.2.1.3.2 Nguyên tắc của tiêu chuẩn hoá
a) Nguyên tắc 1 – Đơn giản hoá
Trước tiên phải nói tiêu chuẩn hoá là một hoạt động để đơn giản hoá, cũng có nghĩa là loại trừ những cái khuyết tật không cần thiết Trong sản xuất đó là việc đơn giản hoá các kiểu loại, kích cỡ, loại trừ những gì không cần thiết để giữ lại
Trang 23những gì cần thiết và có lợi, không những phục vụ cho trước mắt và còn hướng dẫn cho tương lai
b) Nguyên tắc 2 - Thoả thuận
Phải thấy rõ tiêu chuẩn hoá là một hoạt động kinh tế xã hội, phải có sự tham gia, hợp tác của tất cả các bên có liên quan, không để cho một ai lấn át ai
Thực tế, trên thế giới có một xu hướng về tiêu chuẩn hoá đã được sử dụng như một công cụ: từng nơi, từng loại người ta tiêu chuẩn hoá để phục vụ chỉ cho mục đích của một phía nào đó Ví dụ có nơi để phục vụ chính cho nhà sản xuất, có nơi lại chỉ nghiêng về phía người tiêu dùng và có nơi được sử dụng làm công cụ cho nhà nước
Nói chung khi tiến hành công tác tiêu chuẩn hoá phải có sự dung hoà giữa các quyền lợi của các bên
b) Nguyên tắc 3 – Áp dụng
Tiêu chuẩn hoá gồm hai mảng công việc chính là xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn và nói cho cùng, tiêu chuẩn hoá không phải dừng lại ở chỗ xây dựng và ban hành tiêu chuẩn mà phải làm sao cho các tiêu chuẩn áp dụng được và đem lại hiệu quả
Bất cứ một cơ quan, tổ chức tiêu chuẩn hoá nào, đặc biệt chú ý ở các cấp cao như quốc gia, khu vực và quốc tế, nếu chỉ chú ý ban hành nhiều tiêu chuẩn và không xem xét nó có được áp dụng không thì điều đó trái với nguyên tắc của tiêu chuẩn hoá
d) Nguyên tắc 4 - Quyết định, thống nhất
Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn không phải lúc nào cũng thể hiện tính tuyệt đối ưu việt Trong nhiều trường hợp, các tiêu chuẩn được ban hành là xuất phát từ các yêu cầu thực tế không thể chờ đợi có sự nhất trí tuyệt đối, hoàn hoả để thực hiện trong một khung cảnh nhất định Lúc đó giải pháp của tiêu chuẩn là giải pháp để thống nhất
đ) Nguyên tắc 5 - Đổi mới
Các tiêu chuẩn ban hành phải luôn luôn được soát xét lại cho phù hợp với yêu cầu, với tình hình cụ thể luôn luôn thay đổi
Trong thực tế tiêu chuẩn được ban hành phải luôn luôn được xem xét nghiên cứu và soát xét lại, có thể định kỳ hay bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết
Trang 24Tiêu chuẩn ban hành ra để áp dụng, nhưng phương pháp đưa tiêu chuẩn vào thực tế có khác nhau
Nói chung ở các cấp Bộ/Ngành, Công ty tiêu chuẩn được ban hành là để bắt buộc áp dụng
Ở các cấp quốc tế và khu vực nói chung tiêu chuẩn là để khuyến khích áp dụng, nhưng nó sẽ trở thành pháp lý khi các bên thoả thuận với nhau hoặc được chấp nhận thành tiêu chuẩn bắt buộc ở cấp quốc gia hay các cấp khác nhau
Ở cấp quốc gia, việc quy định tiêu chuẩn là bắt buộc hay khuyến khích là phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia là cơ quan chính phủ hay phi chính phủ;
- Các vấn đề thuộc về sức khoẻ, vệ sinh an toàn môi trường và một số sản phẩm đặc biệt quan trọng liên quan tới lợi ích quốc gia và người tiêu dùng thì thường tiêu chuẩn được công bố bắt buộc thông qua các luật khác
Còn lại các tiêu chuẩn khác có thể để khuyến khích áp dụng
Ngoài ra điều quan trọng là do chính sách, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của từng nước
1.2.1.3.3 Loại tiêu chuẩn (theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật)
1 Tiêu chuẩn cơ bản quy định những đặc tính, yêu cầu áp dụng chung cho một phạm vi rộng hoặc chứa đựng các quy định chung cho một lĩnh vực cụ thể
2 Tiêu chuẩn thuật ngữ quy định tên gọi, định nghĩa đối với đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn
3 Tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật quy định về mức, chỉ tiêu, yêu cầu đối với đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn
4 Tiêu chuẩn phương pháp thử quy định phương pháp lấy mẫu, phương pháp đo, phương pháp xác định, phương pháp phân tích, phương pháp kiểm tra, phương pháp khảo nghiệm, phương pháp giám định các mức, chỉ tiêu, yêu cầu đối với đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn
5 Tiêu chuẩn ghi nhãn, bao gói, vận chuyển và bảo quản quy định các yêu cầu về ghi nhãn, bao gói, vận chuyển và bảo quản sản phẩm, hàng hoá
1.2.1.4 Một số hoạt động tiêu chuẩn hoá điển hình của nước ngoài
a) Hoạt động Tiêu chuẩn hoá ở Châu Âu:
Những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Tiêu chuẩn hoá (TCH) Châu Âu là đảm bảo tính độc lập và sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan nhà nước Khác với hoạt động TCH của Mỹ, hoạt động TCH ở Châu Âu có những nét đặc trưng nổi bật
về mức độ quy hoạch hoá và mức độ tổ chức cao
Trang 25Ba tổ chức TCH khu vực của Châu Âu đều là các tổ chức tư nhân, đó là: Ủy ban Tiêu chuẩn hoá Châu Âu (CEN), Uỷ ban Tiêu chuẩn hoá Châu Âu trong lĩnh vực điện - điện tử (CENELEC) và Viện Tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu (ETSI)
Hoạt động của Hệ thống TCH Châu Âu được tiến hành trên cơ sở các yêu cầu của cách tiếp cận mới về TCH và quy chuẩn kỹ thuật do Hội đồng Liên minh Châu Âu thông qua vào năm 1985 Theo cách tiếp cận này, hoạt động của mỗi nước thành viên EU trong lĩnh vực TCH được định hướng vào mục tiêu kiểm soát việc thực hiện các yêu cầu cơ bản về bảo vệ sức khoẻ và đảm bảo an toàn đối với các sản phẩm công nghiệp lưu thông trên thị trường Vai trò của các tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng thể hiện ở việc cung cấp cơ sở kỹ thuật cho việc đưa ra quyết định đối với những vấn đề kỹ thuật nhằm đảm bảo việc tuân thủ các yêu cầu nêu trên Căn cứ cho việc tổ chức triển khai các hoạt động TCH Châu Âu là Bản ghi nhớ được ký kết vào năm 1984 giữa Uỷ ban Châu Âu và 3 tổ chức TCH khu vực của Châu Âu Theo đó Uỷ ban Châu Âu uỷ nhiệm hoàn toàn cho 3 tổ chức này thực hiện việc xây dựng các yêu cầu kỹ thuật và đại diện cho Châu Âu tham gia các hoạt động TCH quốc tế cũng như hợp tác với các tổ chức có liên quan với mục tiêu tháo gỡ các rào cản kỹ thuật trong thương mại
Đặc điểm nổi bật của hoạt động TCH ở Châu Âu thể hiện ở vị thế ưu tiên của hoạt động TCH khu vực (Châu Âu) so với hoạt động TCH quốc gia, ví dụ: tổ chức TCH quốc gia không tiến hành xây dựng tiêu chuẩn quốc gia của riêng mình cho một đối tượng TCH nào đó nếu như tiêu chuẩn Châu Âu cho đối tượng đó có hoặc đang được xây dựng Ngoài ra, các cơ quan/tổ chức TCH quốc gia cũng có trách nhiệm chấp nhận các tiêu chuẩn Châu Âu và huỷ bỏ tiêu chuẩn quốc gia tương đương nếu như quy định của tiêu chuẩn quốc gia đó có sự khác biệt với tiêu chuẩn Châu Âu
b) Hoạt động Tiêu chuẩn hoá ở Mỹ
Hệ thống Tiêu chuẩn hoá (TCH) Mỹ đã trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển kể từ khi hàng loạt các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn đó được thành lập vào những năm cuối của thế kỷ 19, với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, số lượng tiêu chuẩn được xây dựng trong suốt thế kỷ 20 và sự định hướng phát triển theo Chiến lược Tiêu chuẩn Quốc gia trong những năm gần đây và những năm tiếp sau
Khác với hệ thống TCH của Châu Âu với những nét đặc trưng nổi bật về mức độ quy hoạch hoá và mức độ tổ chức cao, hệ thống TCH ở Mỹ ngay từ những ngày đầu cũng như trong suốt thời gian phát triển cho đến nay luôn luôn thể hiện là một hệ thống phi tập trung, phân nhiệm một cách tự nhiên theo lĩnh vực và bao gồm rất nhiều các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn (Standards Developing Organizations - SDO) tư nhân độc lập với nhau Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận ra rằng các SDO đó đều hướng hoạt động của mình vào việc phục vụ những nhu cầu
Trang 26cụ thể của các ngành công nghiệp, chính phủ và người tiêu dùng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá Mỹ trên thị trường toàn cầu
Một đặc điểm nỗi bật dễ nhận thấy của hoạt động TCH ở Mỹ là phạm vi mở rộng cùng với sự tham gia của rất nhiều các tổ chức của nhà nước và tư nhân
Các tiêu chuẩn Mỹ được xây dựng và áp dụng trong khuôn khổ các ngành công nghiệp để đáp ứng nhu cầu cụ thể của các cơ sở sản xuất - kinh doanh và cơ quan nhà nước
Trong hơn 100 năm qua, hoạt động TCH ở Mỹ phát triển theo sáng kiến của khu vực tư nhân là chủ yếu và không có sự can thiệp của nhà nước Các tiêu chuẩn
do các tổ chức tư nhân (hiện có khoảng 600, trong đó có khoảng 300 Hội, Hiệp hội chuyên ngành) xây dựng để quy định những yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, quy trình công nghệ và hệ thống, ví dụ: các tiêu chuẩn của các Tổ chức API, ASTM, ASME, Tuy là các tiêu chuẩn của các tổ chức nhưng đại diện của giới Công nghiệp, Chính phủ và tổ chức tiêu dùng tham gia vào quá trình xây dựng những tiêu chuẩn này
ANSI (viết tắt từ American National Standards Institute trong và có nghĩa là
"Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ") là một tổ chức tư nhân, phi lợi nhuận nhằm quản trị và điều phối sự tiêu chuẩn hoá một cách tự giác Smokey Bear và hợp thức các hệ thống qui ước ra đời ngày 19 tháng 10 năm 1918 Cơ sở chính của ANSI đóng ở Washington, D.C Nhiệm vụ của tổ chức là nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của hệ thống kinh doanh và chất lượng đời sống Hoa Kỳ đồng thời tạo điều kiện cho việc tự giác thống nhất các tiêu chuẩn và hợp thức các hệ thống quy ước, cũng như là bảo vệ sự nguyên dạng của các tiêu chí này Các tiêu chuẩn của ANSI thường được ISO chấp nhận
Khi mới thành lập, năm 1918, ANSI có tên là American Engineering Standards Committee Sang năm 1928, đổi thành American Standards Association, hay ASA Vào năm 1946 ASA nhập chung với các tổ chức liên quan đến hoạt động tiêu chuẩn của 25 quốc gia khác thành International Organization for Standardization Đến năm 1966 thì họ lại tách ra thành United States of America Standards Institute Và, cuối cùng, vào năm 1969 thì có tên là American National Standards Institute
ANSI không phải là cơ quan/tổ chức của nhà nước mà là tổ chức mang tính chất liên đoàn với nhiệm vụ liên kết và phối hợp hoạt động TCH của các thành viên Hiện nay ANSI có khoảng 700 công ty, 30 cơ quan chính phủ, 20 viện nghiên cứu
và 260 tổ chức nghề nghiệp, kỹ thuật, thương mại và công nghiệp tham gia ANSI với tư cách thành viên Các hoạt động của ANSI được triển khai trên cơ sở do các thành viên đóng góp và nguồn thu từ việc bán tài liệu Nhiệm vụ chính của ANSI là:
- Công nhận các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn của Mỹ;
Trang 27- Phê chuẩn các tiêu chuẩn do các tổ chức xây dựng thành tiêu chuẩn quốc gia (tiêu chuẩn ANSI)
Như vậy, có thể nhận thấy rằng hệ thống TCH của Mỹ là hệ thống hoàn toàn
tự nguyện và do đó, các tiêu chuẩn Mỹ hoàn toàn là tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng
Chính phủ liên bang tuy không cấp kinh phí cũng như không chỉ đạo hoạt động của các tổ chức TCH tư nhân, nhưng với sự ủng hộ của khu vực tư nhân, có
sự tham gia vào hoạt động mang tính tự nguyện này, với tư cách đại diện của bên
có liên quan và tư cách bên mua hàng Ngoài ra, sự tham gia của chính phủ liên bang cũng để đảm bảo cho hoạt động TCH phục vụ các lợi ích quốc gia
TS G Veber, Chủ tịch DIN cho rằng hệ thống TCH của Mỹ không chấp nhận việc "du nhập" các tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn Mỹ mà phải loại bỏ những sự khác biệt mà tiêu chuẩn Mỹ hiện có so với tiêu chuẩn quốc tế
Ở Mỹ, hiện có khoảng 600 tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, một phần trong số
đó chỉ xây dựng tiêu chuẩn cho những đối tượng TCH chuyên biệt ANSI, với vai trò là tổ chức TCH đầu ngành của Mỹ, hiện còn tương đối yếu trong việc thực hiện chức năng điều phối của mình Trong khi đó, những mục tiêu quan trọng nhất mà ANSI đang hướng tới là đảm bảo khả năng cạnh tranh của các công ty Mỹ trên thị trường toàn cầu và duy trì vị trí của tiêu chuẩn chất lượng cuộc sống của Mỹ
c) Hoạt động Tiêu chuẩn hoá ở Liên bang Nga
Năm 1998, GOSSTANDARTR đó bắt đầu soạn thảo học thuyết mới về hệ thống tiêu chuẩn hoá quốc gia Theo học thuyết mới này, tiêu chuẩn quy định các chỉ tiêu chất lượng và an toàn sản phẩm phù hợp với những yêu cầu về vệ sinh, bảo
vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn cho con người và tài sản
Trong bối cảnh khi mà các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu (những đối tác chiến lược cũ của nước Nga) đang ngả sang việc chấp nhận các quy định và thủ tục của EU về quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp của khối APEC, thì Cộng hòa LB Nga đang thực hiện cách tiếp cận sáng tạo của riêng mình
về hài hoà/tiệm cận các vấn đề trên trên cơ sở chấp nhận quy định và thủ tục quốc
tế LB Nga cũng và đang có những nỗ lực nhằm học tập kinh nghiệm và tăng cường sự hợp tác trong lĩnh vực Tiêu chuẩn, Đo luờng và Chất lượng với các đối tác thương mại chính Hàng loạt các hiệp định/thoả thuận hợp tác đó được ký kết giữa LB Nga với các nước như: Bungari (1999), Việt Nam (2001), CHLB Đức (2002), Israen (1998), CHDCND Triều Tiên (2000), Cuba (1992), Trung Quốc (2000), Pháp (1999), CH Séc (2005), và các nước trong khối SNG
Một trong những nỗ lực của LB Nga cần được lưu ý là nỗ lực về cải cách luật pháp về TCĐLCL với sự ra đời của Luật LB Nga về Quy chuẩn kỹ thuật Luật này đó được thông qua vào tháng 12/2002 và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7/2003
để thay thế cho Luật Tiêu chuẩn hoá (với cách tiếp cận cũ) Trong quá trình xây dựng luật này, LB Nga rất chú trọng đến việc tham khảo ý kiến từ bên ngoài, ví dụ:
Trang 28IBM, Siemens, Phòng Thương mại Hoa Kỳ, đã tham gia góp ý cho dự thảo luật này
Theo đánh giá chung, với việc ban hành Luật mới này, LB Nga đã có một bước tiến đáng kể theo hướng tăng cường hội nhập quốc tế thông qua việc chuyển đổi từ hệ thống tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng sang hệ thống tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng, từ một hệ thống mang tính khép kín sang hệ thống mở cửa với mức độ hài hoà ngày càng cao với hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc tế Tuy nhiên, LB Nga cho rằng cần có khoảng thời gian cho việc chuyển đổi hoàn toàn sang hệ thống mới và khoảng thời gian này được xác định là 7 năm (2003-2010)
Trong những năm gần đây, LB Nga đã triển khai mạnh mẽ hoạt động chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn GOSTs Mức độ hài hoà giữa hệ thống GOSTs với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO được xác định là 40%, trong đó có những lĩnh vực đạt mức độ hài hoà cao và rất cao như: ô tô (100%), máy công cụ (74%), đóng tàu (65%) và công nghệ thông tin (60%) Một số lĩnh vực khác mới đạt mức độ hài hoà thấp (30-40%) như: dầu khí, thiết bị hoá chất, thiết bị y tế, đường sắt, thiết bị điện hoặc rất thấp như: hàng không-vũ trụ (khoảng dưới 5%)
Năm vừa qua, LB Nga đó thực hiện việc cải tổ cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia Cơ quan Quy chuẩn kỹ thuật và Đo lường LB Nga thuộc Bộ Công nghiệp và Năng lượng đã được thành lập để thay thế cho Uỷ ban Nhà nước LB Nga về Tiêu chuẩn hoá và Đo lường (GOSSTANDART) trước đây Cơ quan này hiện có 104 Trung tâm TCH, Đo lường và Chất lượng khu vực với tổng số 13 nghìn cán bộ, nhân viên trong đó có 2.200 thanh tra viên
Các dự thảo quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn cũng như các thông tin về quá trình xây dựng những tài liệu đó được thông báo công khai trên trang Web của cơ quan này (www.gost.ru)
1.2.2 Hoạt động tiêu chuẩn hoá ở Việt Nam
1.2.2.1 Lịch sử phát triển
Ngay từ khi thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước (năm 1959) Đảng và Nhà nước ta lúc đó đã quan tâm đến việc xây dựng một cơ quan nhà nước về đo lường, tiêu chuẩn và đã giao cho một bộ phận nghiên cứu và tìm hiểu các yêu cầu trong nước, kết hợp với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, dự thảo phương án thành lập cơ quan đo lường và tiêu chuẩn đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Nghị định số 43/CP ngày 4 tháng 4 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ ban hành đã đánh dấu sự ra đời Viện Đo lường và Tiêu chuẩn trực thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước Sau một số năm hoạt động do yêu cầu phát triển, Viện Đo lường và Tiêu chuẩn được tách thành 2 Viện (1971) và sau đó đổi thành 2 cơ quan là Cục Đo lường Trung ương và Cục Tiêu chuẩn (1976)
Trang 29Ngày 6 tháng 4 năm 1971, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/CP về việc thành lập Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá Như vậy
là đã có 3 cơ quan Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng cùng nằm trong Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước lúc đó
Ở miền Nam trước giải phóng, dựa trên Sắc luật 007/72 về Luật Định chuẩn, Viện Quốc gia định chuẩn cũng đã được thành lập năm 1972 Sau khi giải phóng miền Nam, ngày 6 tháng 4 năm 1976, Hội đồng Chính phủ có quyết định đặt Viện này thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, là cơ quan Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng ở phía Nam
Do yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng, cần
có sự phối hợp và chỉ đạo đồng bộ ba mặt công tác này hướng vào phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, đồng thời hình thành một hệ thống tổ chức thống nhất cả nước, ngày 13 tháng 9 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 325/CP thành lập Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước có 3 Trung tâm khu vực đặt trụ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở hợp nhất 4 cơ quan: Cục Đo lường Trung Ương, Cục Tiêu chuẩn, Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá và Viện Định chuẩn Sau đó, ngày 8 tháng 2 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
có Nghị định số 22/HĐBT quyết định thành lập Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước trên cơ sở Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước Pháp lệnh Đo lường được công bố theo Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngày 16 tháng 7 năm 1990 và Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá được công bố ngày 2 tháng 1 năm 1991 cũng khẳng định Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước là
cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng với các chức năng, nhiệm vụ kèm theo giống như đã được quy định trong Nghị định 22/HĐBT ngày 8-2-1984 của Hội đồng Bộ trưởng
Trong những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng
và Nhà nước, công tác Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng cũng đang phải đổi mới
để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và đòi hỏi của sự hoà nhập với các nước trong khu vực và quốc tế Do đó chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng cục cũng cần phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện cùng với hệ thống văn bản pháp luật mới hoặc sửa đổi
Do yêu cầu của phát triển kinh tế, giao lưu thương mại, ở các nước phát triển
đã hình thành các tổ chức tiêu chuẩn hoá, đo lường, quản lý chất lượng từ lâu, nhiều tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, cũng đã được hình thành
và phát triển Có những tổ chức đã ra đời hàng trăm năm trước đây như Uỷ ban Cân
đo quốc tế, Viện Cân đo quốc tế; nhiều cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia được hình thành từ những năm đầu thế kỷ cùng với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất Công tác Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng gắn chặt với sự phát triển của khoa học
Trang 30- kỹ thuật và sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế
Hiện nay, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thuộc Bộ Khoa học
và Công nghệ có chức năng, nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý và phát triển các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường, quản lý chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất trong cả nước và đại diện cho nước ta trong các hoạt động của các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan
Một trong những hoạt động chính của Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất
lượng là "Tổ chức xây dựng tiêu chuẩn Quốc gia Việt nam; tham gia góp ý và xây
dựng tiêu chuẩn quốc tế, kiến nghị việc áp dụng các tiêu chuẩn đó, đánh giá và công nhận Phòng thí nghiệm hợp chuẩn và đánh gía chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn”
Hiện nay Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng là thành viên (chính thức và qua sát viên thông tấn) của trên 17 tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó có
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế - ISO (tham gia từ năm 1977)
1.2.2.2 Hoạt động tiêu chuẩn hoá Việt Nam trước và sau khi ra đời Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
1.2.2.2.1 Hoạt động chung
Trước đây văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất đối với công tác tiêu chuẩn hoá là Nghị định 141/HĐBT (1982) Tuy nhiên Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá là Pháp lệnh bao gồm cả hai nội dung về tiêu chuẩn hoá và quản lý chất lượng hàng hoá ban hành năm 1991 đã thay đổi rất nhiều quan điểm và phương thức mới đối với hoạt động tiêu chuẩn hoá để phù hợp với những đổi mới trong đường lối xây dựng phát triển kinh tế của đất nước
Điều 1 Chương I Quy định chung của Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá đã viết: Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thống nhất quản lý chất lượng
hàng hoá trên cơ sở tiêu chuẩn, theo Pháp luật Việt Nam về các điều ước quốc tế
mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Như vậy tiêu chuẩn bao gồm tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn các cấp, kể cả tiêu chuẩn quốc tế và nước ngoài là một trong những cơ sở để quản lý chất lượng Tuy nhiên, tiêu chuẩn là văn bản kỹ thuật (điều 10 Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá) chứ không phải là văn bản pháp quy kỹ thuật như đã nêu lên trong Nghị định 141/HĐBT
Tiêu chuẩn Việt Nam gồm TCVN bắt buộc áp dụng và TCVN tự nguyện áp dụng Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong phạm vi quyền hạn có thể tuyên bố TCVN tự nguyện áp dụng là tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng đối với đơn
vị mình (điều 12 Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá)
Nghị định 141-HĐBT về công tác Tiêu chuẩn hoá trước đây quy định hệ
Trang 31• Tiêu chuẩn nhà nước – TCVN;
• Tiêu chuẩn ngành – TCN;
Ghi chú: ngành ở đây được quan niệm là ngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên thực tế tiêu chuẩn ngành là tiêu chuẩn Bộ, mỗi Bộ có 1 ký hiệu riêng cho TCN, và việc tách hay nhập Bộ lại phải thay đổi các ký hiệu TCN
• Tiêu chuẩn địa phương – TCV;
• Tiêu chuẩn cơ sở - TC
Từ đó về mặt tổ chức, ngoài Trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng thuộc Tổng cục TC-ĐL-CL; ở các địa phương còn có một số phòng tiêu chuẩn (hoặc tiêu chuẩn chất lượng) ở các tỉnh, thành phố trước năm 1984; ở các Bộ, Ngành có phòng hoặc
bộ phận tiêu chuẩn hoá nằm trong các Vụ Khoa học-Công nghệ; Bộ Xây dựng cũng
có 1 Viện Tiêu chuẩn hoá; ở một số Bộ có các Viện được giao nhiệm vụ là cơ quan biên soạn tiêu chuẩn (TCVN và TCN) Cùng với các Bộ /Ngành, các Viện nghiên cứu, Tổng Công ty,… cũng thành lập các Phòng/ Ban quản lý và thực hiện công tác TCĐLCL
Từ năm 1984, các tỉnh, thành phố lần lượt thành lập Chi cục TC-ĐL-CL, trong
đó có phòng hoặc bộ phận tiêu chuẩn hoá, phụ trách phổ biến áp dụng TCVN, TCN
và tổ chức xây dựng TCV Với ý dịnh TCV là tiêu chuẩn cho các sản phẩm đặc thù
ở từng địa phương, nhưng trước đây trong lúc nền kinh tế khó khăn thì TCV lại theo chiều hướng là hạ thấp TCVN và TCN cho phù hợp với trình độ sản xuất ở địa phương
Trong Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá chỉ tập trung và nhấn mạnh 2 cấp tiêu chuẩn là TCVN và TC với quan niệm rằng cần tăng cường 2 cấp tiêu chuẩn đó, và giảm dần 2 cấp tiêu chuẩn còn lại là TCN và TCV Nền kinh tế chuyển sang theo
cơ chế thị trường, sản xuất kinh doanh mở rộng, các ngành xen lẫn trong các Bộ, nhiều Bộ sáp nhập với nhau, một Bộ có nhiều ngành kinh tế-kỹ thuật Do đó người
ta có xu hướng sử dụng TCVN nhiều hơn, chuyển dần sang xây dựng TCVN thay thế TCN Một số ngành kinh tế - kỹ thuật trở thành các Tổng Công ty, liên hiệp sản xuất, do đó có một số TCN trở thành TC
Mặt khác hàng hoá lưu thông trong cả nước, thị trường trong nước không còn chia cắt, nếu không phải là sản phẩm đặc thù thì không còn lý do để tồn tại TCV nữa
Việc biên soạn TCVN theo phương pháp Ban kỹ thuật tiêu chuẩn hoá, dựa vào một tập hợp các chuyên gia nhiều ngành, đại diện cho cả phía nhà khoa học, sản xuất kinh doanh, quản lý và người tiêu dùng theo từng lĩnh vực chuyên môn… Vì thế cho nên cơ quan biên soạn tiêu chuẩn cũng không còn nữa Cơ cấu tổ chức tiêu chuẩn hoá ở các ngành cũng đã thay đổi, tuy nhiên vẫn có một bộ phận nằm trong
Vụ Khoa học – Công nghệ (hoặc trước đây là Vụ quản lý Công nghệ và Chất lượng
Trang 32sản phẩm) để làm nhiệm vụ quản lý tiêu chuẩn hoá kết hợp với công nghệ và chất lượng sản phẩm
Hơn 40 năm qua chúng ta ban hành trên 6.000 TCVN, chưa kể có khoảng 2.500 TCVN bị huỷ bỏ do đã lạc hậu, không còn được áp dụng nữa Theo thống kê trước đây có khoảng hơn 3.000 Tiêu chuẩn ngành (TCN) do các Bộ Công Thương, Giao thông vận tải, Xây dựng, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đưa vào
áp dụng trong sản xuất và khoảng 500 TCV, còn TC không thống kê được Tuy nhiên con số TCN và TCV gần đây cũng không còn được theo dõi thống kê chính xác nữa
So với các TCVN và TCN, hệ thống các tiêu chuẩn vùng (TCV) và tiêu chuẩn
cơ sở (TC) kém phát triển do nhận thức về tiêu chuẩn chưa đầy đủ Nhiều cơ sở chưa đủ điều kiện để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao nên rất ngại công bố các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm của mình dưới dạng TC, đặc biệt là các tiêu chuẩn về kiểm tra thử nghiệm - một vấn đề rất quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm, đang còn rất mới mẻ và bỡ ngỡ đối ới nhiều cơ sở n xuất
Việc xây dựng TCVN hiện nay chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn ISO, IEC, ECE, BTU, ASTM, ASME, BS, DIN, JIS, KS, là các tiêu chuẩn quốc tế , khu vực và quốc gia của nước ngoài giúp cho các sản phẩm và quản lý sản xuất phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế và khu vực, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là đối với các công ty liên doanh với nước ngoài theo yêu cầu của hãng mẹ
Việc hoà nhập trong công tác tiêu chuẩn hoá ngày càng cao là một yêu cầu cấp bách của sự hội nhập trong kinh tế, xoá bỏ các hàng rào kỹ thuật, tiếp cận nhanh chóng với quốc tế và khu vực
1.2.2.2.2 Hoạt động xây dựng, biên soạn, tiêu chuẩn nhà nước
Dưới đây, đề tài tập trung vào cấp tiêu chuẩn nhà nước TCVN đã được xây dựng và ban hành đến hết năm 2008
Tính đến hết năm 2008, chúng ta đã có trên 6300 TCVN các loại được ban hành theo các số liệu phân loại phù hợp với Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO, với các nhóm như sau:
01 - Những vấn đề chung Thuật ngữ Tiêu chuẩn hoá Tư liệu
03 – Xã hội học Dịch vụ Tổ chức và quản lý Công ty Hành chính
Vận tải
07 – Toán học Khoa học tự nhiên
11 – Chăm sóc sức khoẻ
13 - Bảo vệ môi trường và sức khoẻ An toàn
17 – Đo lường và phép đo Hiện tượng vật lý
Trang 3321 - Hệ thống và kết cấu cơ khí công dụng chung
23 - Hệ thống và kết cấu dẫn chất lỏng công dụng chung
47 – Đóng tàu và trang bị tàu biển
53 - Thiết bị vận chuyển vật liệu
55 – Bao gói và phân phối hàng hoá
97 - Nội trợ Giải trí Thể thao
Theo các nhóm phân loại từ 01 đến 99, còn nhiều số hiệu chưa được sử dụng
và dành cho phát triển trong tương lai Tuy chưa đầy đủ và còn phải bổ xung hoàn thiện về chất lượng và số lượng, nhưng bộ các tiêu chuẩn nhà nước đã phủ kín hầu
Trang 34hết cỏc lĩnh vực lớn của nền kinh tế và quản lý của đất nước, đó cú tỏc dụng tốt cho sản xuất, lưu thụng, sử dụng và trao đổi thương mại cho rất nhiều sản phẩm trong nền kinh tế, cho sức khoẻ con người, cho mụi trường, cho quản lý,
Hiện nay, theo Luật “Tiờu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật” quy định việc tổ
chức tiến hành biờn soạn tiờu chuẩn nhà nước được giao chủ yếu cho cỏc Ban Kỹ thuật (TC – Technical Commitee) và cỏc Bộ/Ngành qua cỏc tổ chức Khoa học và Cụng nghệ và cỏ nhõn thực hiện Tớnh đến 12/2008, chỳng ta cú 96 Ban Kỹ thuật
TC (theo Phụ lục 1) với trờn 1.000 chuyờn gia chuyờn ngành của cỏc cơ sở quản lý, cỏc nhà khoa học của cỏc Tổ chức Khoa học Cụng nghệ, cỏc Hội, Hiệp hội, cỏc nhà sản xuất, tiờu dựng và ứng dụng khoa học cụng nghệ, Danh sỏch ký hiệu (TCVN/JTC, TCVN/TC, TCVN/TC/E, và TCVN/TC/F), tờn gọi và Trưởng cỏc Ban Kỹ thuật Tiờu chuẩn Việt Nam trờn được nờu trong Phụ lục 1 của bỏo cỏo
Trong tỡnh hỡnh hội nhập WTO, Luật Tiờu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đó
điều chỉnh gần như toàn bộ cỏc vấn đề được đề cập trong Phỏp lệnh Chất lượng Hàng hoỏ 1999 và đỏp ứng cao yờu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt của WTO thụng qua hai hiệp định chủ yếu là Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade - TBT) và Hiệp định ỏp dụng cỏc biện phỏp vệ sinh động và thực vật (Agreement on Application of Sanitary and Phytosanitary Measures- SPS) Vấn đề cụ thể của Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT liờn quan đến cỏc vấn đề về tiờu chuẩn và quy chuẩn sẽ được trỡnh bày cụ thể trong Chương 4
Chớnh phủ đó quyết định triển khai “Đề ỏn triển khai thực hiện Hiệp định
Hàng rào kỹ thuật trong Thương mại” nhằm:
- Nghiờn cứu cỏc quy định và hướng dẫn của WTO về TBT, đề xuất chương trỡnh, kế hoạch triển khai ở Việt Nam
- Nghiờn cứu, đề xuất cỏc biện phỏp xõy dựng, ban hành, hệ thống tiờu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và bảo đảm quy trỡnh đỏnh giỏ sự phự hợp của Việt Nam tương thớch với cỏc quy định và hướng dẫn của WTO về TBT
- Nghiờn cứu quy trỡnh, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại liờn quan
đến TBT, chủ động đề xuất các biện pháp xử lý các tranh chấp này;
- Nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các biện pháp tăng cường phối hợp giữa các Bộ, Ngành trong việc triển khai chương trình, kế hoạch về TBT; hỗ trợ các cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương trong thực thi các nhiệm vụ về TBT
Trang 35học tốt, có ý nghĩa thực tế cho các vấn đề đánh giá thực trạng chung cũng như đề xuất chuyển đổi hệ thống Tiêu chuẩn ngành cũ(16 TCN) sang Tiêu chuẩn và quy chuẩn mới, cũng như các giải pháp phát triển hoạt động này trong thời kỳ hội nhập Đây là chương cơ sở cơ bản quan trọng không thể thiếu cho các nghiên cứu ở các phần sau
Trang 36
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HOÁ NGÀNH CÔNG
NGHIỆP (cũ) VỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TỪ 2001-2006 VÀ ĐỀ XUẤT
PHƯƠNG ÁN CHUYỂN ĐỔI THEO LUẬT ĐỊNH
Mục 2.1 dưới đây trình bày thực trạng hoạt động tiêu chuẩn hoá ngành Công nghiệp (cũ) về cơ khí chế tạo từ 1996-2006 Thực trạng này làm cơ sở quan trọng cho việc đề xuất chuyển đổi hệ thống 16 TCN của Bộ Công nghiệp (cũ) từ 1996-2006 sang
hệ thống tiêu chuẩn mới phù hợp với luật trên
2.1 Thực trạng hoạt động tiêu chuẩn hoá ngành công nghiệp (cũ) về cơ khí
chế tạo từ 2001-2006 và 1996-2006 [12], [13]
2.1.1 Thực trạng chung
2.1.1.1 Các tổ chức tham gia xây dựng và biên soạn
Như phạm vi nghiên cứu đã trình bày trong phần mở đầu, hoạt động tiêu chuẩn hoá của Bộ Công nghiệp (cũ) trong Thập niên Chất lượng 1996-2005 qua đã nhận được sự tham gia rất tích cực của các doanh nghiệp và các tổ chức KHCN thuộc Bộ
Các cơ quan/tổ chức, các đơn vị tích cực tham gia biên soạn TCN, các văn bản pháp quy kỹ thuật và các quy định khác liên quan đến hoạt động Tiêu chuẩn-
Đo lường-Chất lượng (TCĐLCL) của Bộ Công nghiệp (cũ), nay là Bộ Công Thương, bao gồm các đơn vị sau:
1 Viện Luyện kim đen - Tổng Công ty Thép Việt Nam
2 Viện Nghiên cứu Thiết kế chế tạo Máy Nông nghiệp - Tổng Công ty Máy Động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam
3 Viện Công nghệ - Tổng công ty Máy Động lực và Máy Nông nghiệp
4 Viện Nghiên cứu Cơ khí - Bộ Công Thương
5 Viện Nghiên cứu Điện tử - Tin học - Tự động hoá
6 Viện Nghiên cứu Da Giầy - Bộ Công Thương
7 Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp - Bộ Công Thương
8 Viện Hoá học Công nghiệp – Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam
9 Viện Khoa học Công nghệ Mỏ
10 Viện Kinh tế kỹ thuật Dệt May - Tổng Công ty Dệt may Việt Nam
11 Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ - Tổng Công ty Than Việt Nam
12 Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô
13 Viện Kinh tế kỹ thuật Thuốc lá - Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam
Trang 3714 Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp - Bộ CT
15 Viện Nghiên cứu Dầu thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm
16 Viện Nghiên cứu Sành sứ thuỷ tinh
17 Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim - Bộ CT
18 Viện Nghiên cứu cây bông và cây có sợi
19 Tổng Công ty Điện tử và Tin học Việt Nam
20 Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam
21 Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam
22 Tổng Công ty Dệt May VN
23 Tổng Công ty Hoá chất VN
2.1.1.2 Kết quả đạt được và tình hình phổ biến áp dụng chung
2.1.1.2.1 Hoạt động chung
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiêu chuẩn hoá trong công tác
quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hàng
năm Bộ Công nghiệp (cũ) đều bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước khoảng
450 triệu đồng cho các hoạt động xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn ngành
(TCN), tiêu chuẩn quốc gia (TCVN)
Trong Thập niên Chất lượng 1996-2005, Bộ Công nghiệp (cũ) đã xây dựng
và rà soát xây dựng mới được 688 tiêu chuẩn, trong đó có 606 tiêu chuẩn ngành (16
TCN) và 82 tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) Số liệu cụ thể được nêu trong Bảng 2.1
như sau:
Bảng 2.1- Số lượng tiêu chuẩn các cấp được xây dựng và biên soạn *)
Năm Số lượng tiêu chuẩn
Trang 38Một số ví dụ điển hình về hoạt động xây dựng và áp dụng TCN, TCVN và tiêu chuẩn quốc tế cũng như thực trạng ban hành, phổ biến tiêu chuẩn như sau:
2.1.1.2.2 Đối với lĩnh vực cơ khí
Có 05 đơn vị rất tích cực tham gia hoạt động xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn ngành là Viện Nghiên cứu Cơ khí, Viện Máy và dụng cụ công nghiệp (IMI), Viện Công nghệ, Viện Luyện kim đen, Viện Nghiên cứu thiết kế máy Nông nghiệp
a) Viện Nghiên cứu Cơ khí:
+ Là một đơn vị tham gia xây dựng và biên soạn nhiều tiêu chuẩn ngành và TCVN nhất về Cơ khí trong Bộ Công nghiệp (cũ) Giai đoạn 1995 - 2005, hàng năm Viện biên soạn 15 - 20 TCN Trong tổng số 267 tiêu chuần về Cơ khí mà
Bộ Công nghiệp cũ biên soạn và ban hành, Viện Nghiên cứu Cơ khí biên soạn khoảng trên 160 tiêu chuẩn, chiếm trên 60% tổng số, bao gồm các nhóm như: Phương tiện giao thông đường bộ (74/74 tiêu chuẩn); hệ thống và kết cấu cơ khí thông dụng 58 tiêu chuẩn (như Ổ trượt, ổ lăn; các dụng cụ cơ khí: dập, khuôn đúc, mài ngoài, ép, lắp xiết bu lông đai ốc, đĩa mài, đúc, ; các phụ tùng và chi tiết cơ khí chính: xích, bộ nối cáp, chi tiết kẹp chặt, truyền bánh răng, dung sai lắp
ghép, ); Chế tạo và các thiết bị máy móc Cơ khí (42 tiêu chuẩn) gồm: hệ thống
thuỷ lực và bộ phận, dao động cơ khí, các vấn đề về thiết bị và công nghệ hàn; các máy thử độ cứng, thử kéo, va đập, ép gia nhiệt, ; máy công cụ, thử phá huỷ mối
hàn vật liệu kim loại, ), Bơm và hệ thống và kết cấu truyền dẫn chất lỏng/khí công
dụng chung (12/12 tiêu chuẩn); Cơ khí luyện kim (06 tiêu chuẩn)
+ Nhìn chung, các tiêu chuẩn trên đặc biệt tiêu chuẩn về nhóm “Hệ thống và kết cấu cơ khí thông dụng”, nhóm “Chế tạo và các thiết bị máy móc Cơ khí ” đã được sử dụng khá rộng rãi không chỉ ở Viện mà còn ở rất nhiều Viện, Trường Đại học, các nhà máy chế tạo cơ khí khác, trong công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt và đưa vào vận hành; trong việc đánh giá, quản lý chất lượng, an toàn thiết bị máy móc khi vận hành đặc biệt đối với con người; an toàn cho môi trường, Một số nhóm tiêu chuẩn chuyên ngành cũng được sử dụng khá hiệu quả qua các Công ty, nhà máy Ví dụ: Công ty đúc Tân Long, Mai động áp dụng các tiêu chuẩn về sản phẩm và thiết bị công nghệ đúc Nhà máy chế tạo thiết
bị tiêu chuẩn Từ Sơn áp dụng các tiêu chuẩn về chi tiết lắp xiết, Bu lông-Đai ốc; nhà máy chế tạo vòng bi Phổ Yên sử dụng khá nhiều tiêu chuẩn về ổ lăn, ổ đỡ, nhà máy chế tạo bơm Hải Dương và đá mài Hải Dương áp dụng các tiêu chuẩn về bơm
và đá mài; Công ty Cơ khí Hà Nội áp dụng các tiêu chuẩn về Hệ thống dung sai lắp ghép, ổ lăn ổ đỡ, máy công cụ và dụng cụ cơ khí, hệ thống truyền dẫn chất lỏng,
+ Thời gian khoảng 15 năm trở lại đây, nhiều chuyên gia và cá nhân
của Viện như PGS Hà Văn Vui, TS Đào Duy Trung đã tham gia nhiều Ban Kỹ
thuật Tiêu chuẩn, Tiểu Ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn với cương vị Trưởng Ban và Thành viên, nghiên cứu xây dựng được trên 150 TCVN về cơ khí và các nội dung
Trang 39tính năng kỹ thuật, đánh giá chất lượng các sản phẩm cơ khí như: dây chuyền thiết
bị, thiết bị máy móc đơn lẻ, cụm truyền động và chi tiết cơ khí như: hệ thống các thiết bị, máy móc, phụ tùng ngành động cơ đốt trong, ô tô xe máy; thiết bị lạnh; thiết bị thuỷ lực; đường ống và phụ tùng đường ống; máy công cụ và dụng cụ; hệ thống các tiêu chuẩn về Dung sai và lắp ghép các loại; về thiết bị và công nghệ hàn
và xử lý bề mặt, kết cấu truyền dẫn chất lỏng/khí công dụng chung, v.v….[Phụ lục
1], như các Ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn như: TCVN/TC4 - Ổ lăn và ổ đỡ (Ủy viên); TTCVN/TC5 - Phụ tùng Đường ống kim loại (Ủy viên); TCVN/TC10 – Bản vẽ kỹ
thuật (Trưởng Ban), Tiểu ban TCVN/TC 22 - Phương tiện giao thông đường bộ (Ủy viên); TCVN/TC39 – Máy công cụ (Trưởng Ban); TCVN/TC70 - Động cơ đốt trong (Ủy viên); TCVN/TC86 - Máy lạnh; TCVN/TC 96 – Cần cẩu (Ủy viên); TCVN/TC131 - Hệ thống truyền dẫn chất lỏng (Trưởng Ban); TCVN/TC199- An toàn máy (Ủy viên); v.v….Các đóng góp khá nhiều và đáng kể của Viện Nghiên cứu Cơ khí trong việc nghiên cứu xây dựng, trong các hoạt động tiêu chuẩn đã góp phần rất lớn để đảm bảo điều kiện đón đầu cho quá trình hội nhập khu vực và quốc
tế, đã được Tổng cục TCĐLCL, Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá cao
b) Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp: trong 10 năm qua, Viện đã tham gia
biên soạn được 42 TCN Phần lớn các TCN do Viện biên soạn đều đã được áp dụng vào hoạt động thiết kế, chế tạo các sản phẩm của Viện và các công ty con của Viện, đặc biệt là các tiêu chuẩn về máy công cụ thông dụng và máy CNC Ngoài ra, các tiêu chuẩn quốc gia cũng được áp dụng rộng rãi trong Viện như các dạng chi tiết lắp xiết, các phương pháp kiểm máy công cụ thông dụng, các phần tử cơ khí nói chung, tiêu chuẩn về dung sai của các bề mặt trụ trơn v.v…Các TCN do Viện IMI xây dựng cũng được áp dụng ở các cơ sở khác như : Công ty Cơ khí nông nghiệp
áp dụng các tiêu chuẩn về bánh răng, Nhà máy Cơ khí Giải Phóng áp dụng các tiêu chuẩn về cối kẹp mũi khoan, Công ty Dụng cụ và Đo lường cơ khí áp dụng các tiêu chuẩn về côn tự định tâm dùng cho chuôi dụng cụ Viện IMI còn tham gia biên soạn các tiêu chuẩn quốc gia trong các Tiểu ban, như: TC5 (đường ống và phụ tùng đường ống); SC1 (các phần tử cơ khí nói chung)
c) Viện Nghiên cứu Công nghệ: là đơn vị hàng năm biên soạn được từ 4 đến
5 tiêu chuẩn liên quan nhiều đến các phương pháp và quy trình chế tạo, đặc biệt công nghệ đúc, đo kiểm các vấn đề liên quan đến vật liệu chế tạo cơ khí, phạm vi khuôn và lõi khuôn kim loại, dung sai hình dạng và kích thước của nhôm và hợp kim nhôm gia công áp lực, gang đúc, Fero Crôm, Fero Silíc Mangan, một số Ferô khác, , đồng và hợp kim đồng
d) Viện Nghiên cứu Thiết kế máy Nông nghiệp là đơn vị đã tham gia biên
soạn khoảng gần 30 tiêu chuẩn liên quan đến máy kéo và máy nông nghiệp, Xe và thiết bị kéo trong nông nghiệp, Máy nông nghiệp, Máy thu hoạch cỏ, Thiết bị thu hoạch, Các thiết bị tưới trong nông nghiệp, Các tiêu chuẩn này đã phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, quản lý chất luợng, của Viện
Trang 402.1.2 Thực trạng biên soạn, ban hành hệ thống TCN về Cơ khí chế tạo từ
2001-2006
Từ 2001 đến 2006, Bộ Công nghiệp (cũ) đã tiến hành biên soạn, ban hành
152 tiêu chuẩn thuộc lĩnh vực Cơ khí chế tạo và trực tiếp có liên quan thuộc các chuyên ngành (theo cách phân loại của ISO và hệ thống TCVN): Phương tiện Giao thông đường bộ, Cơ khí chế tạo; về hệ thống và kết cấu cơ khí thông dụng; bơm và
hệ thống và kết cấu truyền dẫn chất lỏng/khí công dụng chung; thử nghiệm; thiết bị vận chuyển vật liệu; máy và thiết bị nông nghiệp; về thiết bị chế biến gỗ;
Toàn bộ các tiêu chuẩn ngành cũ (16TCN) về cơ khí chế tạo máy và liên
quan do Bộ Công nghiệp (cũ) từ 1996-2006 được trình bày trong Phụ lục 2
Dưới đây, trình bày các tiêu chuẩn cụ thể ở trên đã được xây dựng, biên soạn
và ban hành từ 2001-2006
a) Nhóm Phương tiện giao thông đường bộ (48 t/c)
1 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô- Lốp- Phương pháp đo sức cản lăn
2 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô- Lốp- Phương pháp thử kiểm tra khả năng tải
3 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô- Ắc quy axit chì
4 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô hai bánh- Nguyên tắc ghi nhãn
5 Phương tiện giao thông đường bộ - Tầm với tới các bộ phận điều khiển bằng tay của người lái – quy trình kiểm tra trên phương tiện
6 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô hai bánh - Yêu cầu kỹ thuật
7 Phương tiện giao thông đường bộ - Môtô hai bánh - Phương pháp thử
8 Tiêu chuẩn chung cho doanh nghiệp sản xuất ôtô ở Việt Nam
9 Phương tiện giao thông đường bộ Đo tiếng ồn khi chạy có gia tốc
10 Phương tiện giao thông đường bộ Đo tiếng ồn khi đứng yên
11 Phương tiện giao thông đường bộ Biểu tượng cho bộ phận điều khiển, chỉ báo
và tín hiệu
12 Phương tiện giao thông đường bộ Thiết bị tín hiệu âm thanh Thử sau khi lắp lên phương tiện
13 Mô tô Phanh và thiết bị phanh Thử và phương pháp đo
14 Mô tô Phương pháp đo tiêu hao nhiên liệu
15 Môtô Thử động cơ Công suất thực tế
16 Môtô Độ ổn định khi đỗ xe của chân chống bên và chân chống giữa
17 Môtô Vành hợp kim Phương pháp thử