1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu tình hình phát triển và một số nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm huyện núi thành-tỉnh quảng nam

4 498 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 265,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHỀ NUÔI TÔM HUYỆN NÚI THÀNH-TỈNH QUẢNG NAM STUDY ON DEVELOPMENT AND RESPECTIVE INFLUENCING FACTORS OF BRACKISH SHRIMP RA

Trang 1

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ NHÂN

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHỀ NUÔI TÔM HUYỆN NÚI THÀNH-TỈNH QUẢNG NAM

STUDY ON DEVELOPMENT AND RESPECTIVE INFLUENCING FACTORS

OF BRACKISH SHRIMP RAISING IN NUI THANH DISTRIC-QUANG NAM PROVINCE

SVTH: CHUNG THỊ THANH NHÀN

Lớp: 05CDL1, Trường Đại học Sư Phạm

GVHD: THS NGUYỄN THỊ MÂY

Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư Phạm

TÓM TẮT

Huyện Núi Thành là một vùng có nhiều tiềm năng để phát triển nghề nuôi tôm nước lợ Tuy nhiên, sự phát triển của nghề này bị chi phối bởi nhiều yếu tố làm cho năng suất nuôi tôm không ổn định, gây khó khăn đến đời sống của một bộ phận không nhỏ người dân vùng ven biển Vì vậy cần phải tìm hiểu kỹ về các nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm và tìm ra các giải pháp thích hợp để đạt được hiểu quả kinh tế cao và ổn định Bài báo này tìm hiểu về tình hình phát triển nghề nuôi tôm và một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm ở huyện Núi Thành-tỉnh Quảng Nam, từ đó đề ra cấc giải pháp để nghề này phát triển bền vững hơn trong tương lai

SUMMARY

Nui Thanh is a district with much potential in brackish shrimp raising Nevertheless, the development of the profession is affected by some factors which results in low and unstable productivity This has had a bad effect to the life of a large number of sea–side residents Therefore, these factors should be studied carefully so that we can find the most suitable solutions for high and stable commercial efficiency This is a study which fathoms the development situation of brackish shrimp raising in Nui Thanh in the stage 2001-2006 and some respective influencing factors and from that proposes some solutions for sustained development of the business in the future

1 Mở đầu:

Kinh tế biển là lợi thế vượt trội, có thể làm biến đổi nhanh chóng nền kinh tế của quốc gia, của khu vực Là một ngành trong cơ cấu Nuôi trồng thuỷ sản, con tôm đang ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của ngành Thuỷ sản hiện nay

Là một vùng có nhiều lợi thế để phát triển nghề nuôi tôm sú nước lợ, Núi Thành đã có hướng đi mới tập trung vào khai thác nguồn lực này Những bước đi đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế sẽ tạo động lực cho huyện Núi Thành hội nhập vững chắc với kinh tế của Miền Trung và trên cả nước Tuy nhiên, có nhiều yếu tố làm cho hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm không cao

Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế và đi đến sự phát triển bền vững trong nghề nuôi tôm nên tôi tiến hành tổng hợp lại những kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2001-2006

và nghiên cứu về một số nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề nuôi tôm sao cho việc

tận dụng tiềm năng đạt hiệu quả nhất

Trang 2

2 Nội dung:

2.1 Khái quát chung về tình hình nuôi tôm ở huyện Núi Thành

Bảng 2.1: Tình hình nuôi tôm huyện Núi Thành giai đoạn 2001-2006

Chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng diện tích Ha 1.248 1.459 1.549 1.635 1.650 1.608 Tổngsản lượng Tấn 1.405 1.365 829 1.726 1.820 1.897 Năng suất Tấn/ha 1.13 0.94 0.54 1.05 1.10 1.18

(Nguồn: Báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản huyện Núi Thành trong 5 năm 2001-2005 và

phương hướng nhiệm vụ năm 2006)

1549

1248

1650 1608

829

1405

1365

1897 1820

1724

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800

2001 2002 2003 2004 2005 2006

Năm

Ha

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800 2000

Tấn

Diện tích Sản lượng

Hình 2.1: Biểu đồ mối tương quan giữa diện tích và sản lượng

2.2 Hiệu quả kinh tế

Bảng 2.2: Chi phí sản xuất cho một vụ nuôi tôm theo hình thức QCCT Tính cho 1ha

ĐVT: VND

TT KHOẢN MỤC ĐVT Số lượng Đơn giá Quy ra 1 ha Ghi chú

I VỐN ĐẦU TƯ XDCB

2 Bơm hút Cái 1 1.200.000 1.200.000

5 Cống lấy nước cái 1,0 3.000.000 3.000.000

6 Nhà bảo vệ Cái 1 3.000.000 3.000.000

Trang 3

1 Tôm giống Vạn 15 20đ/con 3.000.000

6 Công lao động Công 90 50 4.500.000

1 Sản lượng Tấn 2.625 80 210.000.000

( Nguồn: Phòng kinh tế- bộ phận Thủy sản huyện Núi Thành)

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng

Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên như: địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn; các tài nguyên thiên nhiên như: tài nguyên đất, tài nguyên nước; các điều kiện kinh tế-xã hội như: dân số và lao động, cơ sở hạ tầng, các chính sách phát triển nghề nuôi tôm Đặc biệt, nghề nuôi tôm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố như: năng lực sản xuất của chủ hộ, tình hình sử dụng thức ăn, tình hình sản xuất tôm giống, thị trường tiêu thụ và qui trình kĩ thuật của nghề nuôi tôm

110

520

326

0 20 40 60 80 100 120 140 160

Năm

Số trại

0 100 200 300 400 500 600 700 Triệu con

Số trại Sản

Hình 2: Biểu đồ tình hình sản xuất tôm giống

3 Kết luận:

Huyện Núi Thành nói chung có điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khá thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi tôm sú và được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của các cấp chính quyền cùng với thị trường tôm trong nước đang rất sôi động, giá trị kinh tế của con tôm rất cao Điều này đã tạo điều kiện cho nghề nuôi tôm huyện Núi Thành phát triển một cách bền vững

Tuy nhiên do nghề nuôi tôm của huyện chỉ mới phát triển nên trong vài năm gần đây, tình hình nuôi tôm ở huyện đang gặp nhiều khó khăn, trình độ kĩ thuật và kinh nghiệm nuôi tôm người dân còn thấp, chất lượng con giống chưa được kiểm soát chặt chẽ, hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, tình hình dịch bệnh thường xuyên xảy ra Điều này đã làm cho năng suất tôm

Trang 4

ở đây không cao ( 0,99tấn/ha/năm) Do tình hình dịch bệnh thường xảy ra nên chi phí đầu tư cho một ha nuôi tôm ở huyện cao, chính điều này đã làm cho hiệu quả kinh tế trong nuôi tôm

ở huyện còn thấp Nhiều hộ nuôi tôm ở huyện thường xuyên bị lỗ, đồng thời tình hình vay vốn

ở đây gặp khó khăn nên đa số hộ dân thiếu vốn đầu tư

Trong tình hình hiện nay khi mà diện tích nuôi tôm ngày càng giảm đi nhường chỗ cho

sự phát triển của khu kinh tế mở Chu Lai và sự ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng trầm trọng thì yêu cầu đặt ra đối với nghề nuôi tôm đó là cần có sự chuyển biến năng động hơn, thay đổi hình thức nuôi chuyển sang hình thức bán thâm canh và thâm canh trong đó áp dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ để mang lại hiệu quả cao hơn hoặc chuyển sang nuôi các đối tượng khác vừa đảm bảo được năng suất vừa cải thiện được môi trường

Mặc dù nghề nuôi tôm ở huyện Núi Thành đang gặp nhiều khó khăn nhưng tiềm năng phát triển nghề nuôi tôm ở đây còn lớn Chính quyền địa phương cần kết hợp với người dân giải quyết những vấn đề vướng mắc đáp ứng nhu cầu của người nuôi tôm, thì chắc chắn nghề nuôi tôm ở huyện sẽ phát triển hơn nữa và cùng với khu kinh tế mở Chu Lai đưa huyện Núi Thành nhanh chóng trở thành đô thị loại 4 trong tương lai không xa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phòng thống kê huyện Núi Thành (2006), Niên giám thống kê huyện Núi Thành năm

2006

[2] Phạm Duy Phương (2003), Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của hình thức nuôi tôm bán thâm canh ở xã Tam Giang - huyện Núi Thành - tỉnh Quảng Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Kinh tế Huế

[3] Sở Thủy sản tỉnh Quảng Nam (2002), Báo cáo quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành-tỉnh Quảng Nam năm 2002

[4] Sở Thủy sản tỉnh Quảng Nam (tháng 4/2006), Các thông báo kết quả kiểm tra môi trường nước, virut gây bệnh đốm trắng trên tôm tự nhiên, tôm sú

[5] Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý kinh tế-xã hội xã hội đại cương, NXB ĐHSP, Hà Nội

[6] Trần Văn Vỹ (2007), Giáo trình kỹ thuật nuôi tôm và nuôi ba ba, NXB ĐHSP, Hà Nội [7] UBND huyện Núi Thành, Phòng kinh tế (2006), Báo cáo tổng kết ngành Thủy sản huyện Núi Thành 5 năm (2001- 2005) và phương hướng nhiệm vụ năm 2006

[8] UBND huyện Núi Thành, Phòng kinh tế (2007), Báo cáo tổng kết ngành Thủy sản hyện Núi Thành năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm 2007

[9] P Chanratchakool, J.F Turnbull, S Funge-Smith, C Limsuwan, người dịch: Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Đặng Thị Hoàng Oanh (1995),Quản

lý sức khỏe tôm trong ao nuôi, Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Thủy sản

[10] Website Báo điện tử : www.vietnamnet.vn

[11] Tổng Cục thống kê : www.gso.gov.vn

[12] Website Kỹ thuật thủy sản và nông nghệp: concern.net.com.vn

[13] Website Huyện Núi Thành : www.nuithanh.gov.vn

[14] Kỹ thuật NTTS : www.vietlinh.com.vn

[15] Website Tỉnh Quảng Nam : www.quangnamnet.com.vn

[16] Website Trung tâm tin học thủy sản: www.fistenet.gov.vn

Ngày đăng: 12/04/2014, 18:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Biểu đồ mối tương quan giữa diện tích và sản lượng - tìm hiểu tình hình phát triển và một số nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm huyện núi thành-tỉnh quảng nam
Hình 2.1 Biểu đồ mối tương quan giữa diện tích và sản lượng (Trang 2)
Bảng 2.2: Chi phí sản xuất cho một vụ nuôi tôm theo hình thức QCCT Tính cho 1ha - tìm hiểu tình hình phát triển và một số nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm huyện núi thành-tỉnh quảng nam
Bảng 2.2 Chi phí sản xuất cho một vụ nuôi tôm theo hình thức QCCT Tính cho 1ha (Trang 2)
Bảng 2.1: Tình hình nuôi tôm huyện Núi Thành giai đoạn 2001-2006 - tìm hiểu tình hình phát triển và một số nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm huyện núi thành-tỉnh quảng nam
Bảng 2.1 Tình hình nuôi tôm huyện Núi Thành giai đoạn 2001-2006 (Trang 2)
Hình 2: Biểu đồ tình hình sản xuất tôm giống - tìm hiểu tình hình phát triển và một số nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm huyện núi thành-tỉnh quảng nam
Hình 2 Biểu đồ tình hình sản xuất tôm giống (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w