Mục tiêu 1 Xác định 60 thành phần dinh dưỡng và thành phần miễn dịch trong sữa của các bà mẹcho con bú từ1 tháng đến 4 tháng tại một sốphường nội thành thành phốHà Nội và thành phố HồChí Minh. Sữa mẹlà thức ăn tốt nhất cho trẻdưới một tuổi, là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ trong 6 tháng đầu đời. Sữa mẹcung cấp cho trẻcác chất dinh dưỡng hoàn hảo dễtiêu hóa, dễ hấp thu và có tác dụng kháng khuẩn, giúp trẻphát triển vềthểchất, tinh thần và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, phòng chống thừa cân béo phì [1], [2]. Tổchức Y tếThếgiới và Quĩ Nhi đồng Liên hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo vềviệc nuôi con bằng sữa mẹtrong 6 tháng đầu, khẳng định việc nuôi con bằng sữa mẹlà một khâu quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu [3], [4]. Các nhà khoa học đã chỉra rất nhiều lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹcho cảmẹvà con [5], [6], [7]. Sữa mẹlà một thức ăn hỗn hợp với hàng trăm các thành phần dinh dưỡng và các thành phần hoạt tính sinh học khác nhau và các thành phần dinh dưỡng và thành phần sinh học này cũng có sựthay đổi vềnồng độcũng nhưsựgắn kết các thành phần theo từng giai đoạn [8]. Thành phần dinh dưỡng của sữa trưởng thành bao gồm các protein, lipid, lactose, các vitamin, các muối khoáng, và các thành phần hoạt tính nhưcác men, kháng thể, và hócmon. Trên thếgiới, để chứng minh tầm quan trọng và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các nhà khoa học cũng đã và đang tiếp tục nghiên cứu các thành phần dinh dưỡng, các thành phần hoạt tính sinh học trong sữa mẹ. ỞViệt Nam, theo điều tra của QuỹNhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), chỉ1/3 bà mẹVN cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu. Sau khoảng thời gian này, chỉcòn khoảng 5% sốtrẻ được nuôi bằng thức ăn duy nhất là sữa mẹ[9]. Tương tự, theo sốliệu mới đây của tổng cục thống kê và UNICEF năm 2006, tỷlệtrẻem dưới 6 tháng được bú mẹhoàn toàn thì chỉchiếm 16,9% [10]. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻbịsuy dinh dưỡng, còi xương, giảm sức đềkháng, dễmắc các bệnh truyền nhiễm. Mặt khác, theo qui định của Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội, thì các bà mẹchỉcó 4 tháng nghỉ đẻ, sẽgây khó khăn cho việc thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹtrong 6 tháng đầu. Chính vì vậy, ngoài những nỗlực thay đổi vềchính sách, chế độnghỉchăm sóc trẻ, hiện nay việc khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu là một trong những lời khuyên mà các chuyên gia y tếvà dinh dưỡng Việt Nam vẫn đang tiếp tục truyền tải đến cho các bà mẹ. Trong những năm qua, nền kinh tếvà điều kiện sống của người dân Việt Nam đã dần phát triển và mức sống của người dân thành thịtăng lên một cách rõ rệt. Điều kiện sống nâng cao, khẩu phần ăn của người dân thành thị đã cải thiện đáng kểvềsốlượng cũng nhưvềchất lượng, dẫn đến cơcấu khẩu phần ăn của phụnữmang thai va phụnữnuôi con bú cũng sẽthay đổi. Theo kết quảtổng điều tra dinh dưỡng năm 2000, mức tiêu thụthực phẩm của người dân thành phố đã thay đổi một cách đáng kểso với năm 1990 và năm 1985, đặc biệt là nhóm lương thực, các thức ăn nguồn gốc động vật, lượng quảchín, dầu mỡ[11]. Vấn đề đặt ra là cùng với sựthay đổi về điều kiện sống, vềchất lượng bữa ăn, thì chất lượng của sữa của các bà mẹnuôi con nhỏ 7 tại khu vực thành phố đã có sựthay đổi nhưthếnào. Bên cạnh đó, cần thiết có một sốliệu cơ bản vềcác thành phần dinh dưỡng và thành phần hoạt tính sinh học trong sữa mẹ đểgiúp các nhà khoa học có được dữliệu trong nghiên cứu, đồng thời giúp các chuyên gia y tếvà dinh dưỡng có định hướng trong việc phòng chống thiếu hụt thành phần chất dinh dưỡng trong sữa mẹ. 2. Phân tích một sốyếu tố ảnh hưởng đến thành phần sữa mẹ
Trang 1BỘ Y TẾ VIỆN DINH DƯỠNG -
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Tên đề tài
THÀNH PHẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỮA CỦA BÀ MẸ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ
Trang 2BỘ Y TẾ VIỆN DINH DƯỠNG - BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Tên đề tài
THÀNH PHẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỮA CỦA BÀ MẸ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ths Bs Bùi Thị Mai Hương
Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài:
- Sở Y tế và Trung tâm Y tế thành phố Hà Nội
- Trung tâm Y tế và trạm y tế các Quận Thanh Xuân, Hai Bà Trưng và
Đống Đa, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Cầu Giấy
- Trung tâm Dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh
- Trạm Y tế các phường thuộc Quận Bình Thạnh, Quận 6-tp.Hồ Chí Minh
- Khoa Hóa Vệ sinh An toàn Thực phẩm- Viện Dinh dưỡng
- Trung tâm kiểm nghiệm Thực phẩm (Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm)
Hà Nội, 2010
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
EPA Eicosapentaenoic acid DHA Docosahexaenoic UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc RDA Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
TB ± SD Trung bình ± Độ lệch chuẩn Nhóm A Nhóm bà mẹ cho con bú từ 29-60 ngày Nhóm B Nhóm bà mẹ cho con bú từ 61-90 ngày Nhóm C Nhóm bà mẹ cho con bú từ 91-120 ngày
tp Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4MỤC LỤC
4 Các kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu 13
5.1 Đặc điểm của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu 16
5.2 Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ 18
5.3 Đặc điểm khẩu phần và tần xuất tiêu thụ thực phẩm 32
5.4 Một số yếu tố liên quan đến thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ 38
Trang 5VI-BÀN LUẬN
40
Phụ lục 2 Hỏi ghi khẩu phần ăn trong 24 giờ qua và tần xuất tiêu thụ thực phẩm 58
Phụ lục 3 Hướng dẫn cách vắt sữa cho các bà mẹ 60 Phụ lục 4 Tóm tắt phương pháp phân tích 61 thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ 61
Trang 6I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ dưới một tuổi, là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ trong 6 tháng đầu đời Sữa mẹ cung cấp cho trẻ các chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hóa, dễ hấp thu và có tác dụng kháng khuẩn, giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, phòng chống thừa cân béo phì [1], [2] Tổ chức Y tế Thế giới và Quĩ Nhi đồng Liên hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo về việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, khẳng định việc nuôi con bằng sữa mẹ là một khâu quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu [3], [4] Các nhà khoa học đã chỉ ra rất nhiều lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ cho cả mẹ và con [5], [6], [7]
Sữa mẹ là một thức ăn hỗn hợp với hàng trăm các thành phần dinh dưỡng và các thành phần hoạt tính sinh học khác nhau và các thành phần dinh dưỡng và thành phần sinh học này cũng có
sự thay đổi về nồng độ cũng như sự gắn kết các thành phần theo từng giai đoạn [8] Thành phần dinh dưỡng của sữa trưởng thành bao gồm các protein, lipid, lactose, các vitamin, các muối khoáng, và các thành phần hoạt tính như các men, kháng thể, và hócmon Trên thế giới, để chứng minh tầm quan trọng và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các nhà khoa học cũng
đã và đang tiếp tục nghiên cứu các thành phần dinh dưỡng, các thành phần hoạt tính sinh học trong sữa mẹ
Ở Việt Nam, theo điều tra của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), chỉ 1/3 bà mẹ VN cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu Sau khoảng thời gian này, chỉ còn khoảng 5% số trẻ được nuôi bằng thức ăn duy nhất là sữa mẹ [9] Tương tự, theo số liệu mới đây của tổng cục thống kê
và UNICEF năm 2006, tỷ lệ trẻ em dưới 6 tháng được bú mẹ hoàn toàn thì chỉ chiếm 16,9% [10] Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng, còi xương, giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm Mặt khác, theo qui định của Luật Lao động
và Luật Bảo hiểm xã hội, thì các bà mẹ chỉ có 4 tháng nghỉ đẻ, sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Chính vì vậy, ngoài những nỗ lực thay đổi về chính sách, chế độ nghỉ chăm sóc trẻ, hiện nay việc khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu là một trong những lời khuyên mà các chuyên gia y tế và dinh dưỡng Việt Nam vẫn đang tiếp tục truyền tải đến cho các bà mẹ
Trong những năm qua, nền kinh tế và điều kiện sống của người dân Việt Nam đã dần phát triển
và mức sống của người dân thành thị tăng lên một cách rõ rệt Điều kiện sống nâng cao, khẩu phần ăn của người dân thành thị đã cải thiện đáng kể về số lượng cũng như về chất lượng, dẫn đến cơ cấu khẩu phần ăn của phụ nữ mang thai va phụ nữ nuôi con bú cũng sẽ thay đổi Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000, mức tiêu thụ thực phẩm của người dân thành phố
đã thay đổi một cách đáng kể so với năm 1990 và năm 1985, đặc biệt là nhóm lương thực, các thức ăn nguồn gốc động vật, lượng quả chín, dầu mỡ [11] Vấn đề đặt ra là cùng với sự thay đổi về điều kiện sống, về chất lượng bữa ăn, thì chất lượng của sữa của các bà mẹ nuôi con nhỏ
Trang 7tại khu vực thành phố đã có sự thay đổi như thế nào Bên cạnh đó, cần thiết có một số liệu cơ bản về các thành phần dinh dưỡng và thành phần hoạt tính sinh học trong sữa mẹ để giúp các nhà khoa học có được dữ liệu trong nghiên cứu, đồng thời giúp các chuyên gia y tế và dinh dưỡng có định hướng trong việc phòng chống thiếu hụt thành phần chất dinh dưỡng trong sữa
mẹ
II MỤC TIÊU
Mục tiêu chung:
Đánh giá các thành phần trong sữa mẹ và một số yếu tố ảnh hưởng đến sữa của bà mẹ cho con
bú từ 1 tháng đến 4 tháng tại một số phường nội thành cùa 2 thành phố Hà Nội và tp Hồ Chí Minh
có đầy đủ các thành phần dưỡng chất mà không thức ăn nào có thể thay thế được [13]
Thành phần quan trọng đầu tiên của sữa mẹ đó chính là protein Protein là một thành dinh dưỡng thiết yếu, được gọi là nền tảng của cuộc sống, hình thành nên protein cơ thể, tạo nên cấu trúc cơ quan sống và cả thành phần các tác nhân có hoạt tính sinh học Lonnerdal B [8], Kunz
C và cộng sự [14] đã phân tích thành phần protein trong sữa mẹ cho thấy lượng protein chiếm tới 75% trong thành phần có chứa nitrogen Bao gồm beta-casein, alpha-lactalbumin, lactoferrin, secretory IgA, và albumin [8], cùng với sự có mặt của rất nhiều các protein khác với lượng rất nhỏ Hơn nữa, trong sữa mẹ cũng có đầy đủ những acid amin cần thiết với tỷ lệ cân đối, và Martin và Williamson cũng đã sớm xác định được 18 acid amin thiết yếu có mặt trong sữa mẹ [15]
Liên quan đến vai trò của protein là các nhóm glubulin miễn dịch, các enzyme kháng khuẩn Secretory IgA là một kháng thể cơ bản nhất có trong sữa mẹ với vai trò hoạt động chống lại
Trang 8một số vi khuẩn và virus, giúp trẻ mới đẻ có sức đề kháng và miễn dịch [16], [17] Bên cạnh đó, còn có rất nhiều protein với đa dạng chức năng khác nhau, điển hình như lactoferrin, có chức năng gắn và tăng sự hấp thu sắt, đồng thời là một kháng khuẩn đối với nhiều tổ chức, hoạt động như một protein dinh dưỡng, sản sinh các amino acid để hấp thu khi tiêu hóa Ngoài ra, lysozyme là một enzyme có tác dụng diệt khuẩn cũng được tìm thấy trong sữa mẹ [16]
Thành phần quan trọng tiếp theo là lipid, theo Jensen thì có tới hơn 98% chất béo trong sữa mẹ
ở dạng triglyceride, mà phần lớn cấu trúc tế bào biểu mô tuyến vú là từ các axit béo chuỗi dài
và chuỗi trung bình [18] Các axit béo chuỗi ngắn (chuỗi Carbon <8) chỉ xuất hiện với lượng rất ít Oleic acid (18:1) và palmitic acid (16:0) là các axit béo không no có lượng nhiều nhất trong sữa mẹ, cùng với tỷ trọng cao của các axit béo thiết yếu như là linoleic acid (18: 2 n-6)
và linolenic acid (18:3 n-3) Bên cạnh đó, sự có mặt của các axit béo không no nhiều nối đôi như arachidonic acid (20: 4 n-6) và docosahexaenoic acid –DHA (22: 6 n- 3) với tỷ lệ cao trong sữa mẹ cũng cho thấy giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ là rất cao [18] Bởi một lẽ, tất các các axit béo chuỗi dài này chính là thành phần thiết yếu cho sự phát triển của não bộ và các tế bào thần kinh, và đây là các thành phần quan trọng trong những năm đầu đời đối với sự phát triển trí tuệ và thị giác của trẻ Thành phần chất béo trong sữa mẹ chính là chất mang giúp vận chuyển các vi chất hấp thu cần chất béo như prostaglandins, vitamins A, D, E, và K [18]
Một thành phần chính của sữa mẹ đó là lactose, một beta-disaccharide được sản sinh trong các
tế bào biểu mô từ glucose qua cơ chế hoạt động liên quan đến alpha-lactalbumin [19] Ngoài ra
là một lượng rất lớn thành phần oligosaccharides chiếm tới 10% trong tổng số carbohydrate của sữa mẹ [20] Hơn nữa, các vitamin và muối khoáng có mặt đầy đủ trong sữa mẹ, điều này giúp trẻ bú sữa mẹ đề phòng được rất nhiều bệnh liên quan đến thiếu vi chất dinh dưỡng, như bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, còi xương do thiếu canxi, thiếu máu do thiếu sắt và các yếu tố giúp hấp thu sắt [21]
Ngoài thành phần dinh dưỡng cần thiết, Rodriguez-Palmero M và cộng sự đã tìm thấy trong sữa mẹ còn có rất nhiều các thành phần hoạt tính sinh học cao, như các loại men, hócmon, các yếu tố tăng trưởng dưới rất nhiều hình thái và chủng loại [16], [17], [21], [22] Đặc biệt, các thành phần hoạt tính như chống nhiễm khuẩn (secretory IgA, oligosaccharides, lysozym); các chất chống viêm; các chất vận chuyển transporters (lactoferrin); và các men tiêu hóa Một số các hócmon dạng nonpeptide (thyroid hormones, cortisol, progesterone, pregnanediol, estrogens) và hócmon dạng peptide, hócmon tăng trưởng (erythropoietin, hHG, gonadotropin, insulin-like growth factor-I, hócmon tuyến giáp) cũng đã được tìm thấy Chính nhờ các thành phần hoạt tính này mà trẻ bú sữa mẹ có được khả năng kháng khuẩn cao, giúp trẻ không bị mắc một số bệnh như sởi, cúm, ho gà, bệnh đường ruột ở những năm tháng đầu đời [22]
Thành phần của sữa mẹ là không thay đổi, nhưng nồng độ của rất nhiều thành phần lại thay đổi trong suốt thời gian người mẹ cho con bú và nồng độ này cũng khác nhau giữa từng cá thể Sự
Trang 9thay đổi về nồng độ các thành phần có mối quan hệ thuận chiều với lượng sữa bài tiết, và sự khác biệt về nồng độ có ảnh hưởng đến khẩu phần bú mẹ của trẻ Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ các thành phần trong sữa mẹ [23], như giai đoạn tiết sữa, thời điểm bú, đẻ con lần thứ mấy, tuổi bà mẹ, vùng miền, mùa trong năm, khẩu phần của bà mẹ, một số đặc tính riêng của từng bà mẹ Về các giai đoạn bài tiết sữa, sữa mẹ bài tiết theo 4 giai đoạn, sữa non, là dòng sữa đầu tiên được tiết ra ngay sau khi sinh trong vòng 1-3 hoặc 5 ngày đầu; sữa chuyển tiếp: có từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14 sau khi sinh và sữa vĩnh viễn (sữa trưởng thành): từ ngày 10-14 sau khi sinh trở đi; và giai đoạn kết thúc là thời gian bài tiết sữa giảm dần và hết Sự thay đổi nồng độ các thành phần sữa sẽ xảy ra tại từng giai đoạn [24, 25] Đáng chú ý, trong giai đoạn sữa non thì các thành phần secretory IgA, lactoferrin, vitamin A, và natri có hàm lượng cao hơn so với giai đoạn sữa trưởng thành, trong khi đó ngược lại hàm lượng chất béo, lactose
và vitamin B1 lại tăng dần lên trong giai đoạn sữa trưởng thành Đến giai đoạn sữa kết thúc thì hàm lượng lactose lại thấp đi trong khi hàm lượng protein, chất béo, và natri vẫn cao [26]
Ngoài ra, thành phần sữa mẹ cũng thay đổi ngay trong thời điểm bú trong ngày và thay đổi ngay trong một bữa bú của trẻ từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc Prentice và cộng sự nghiên cứu trên các bà mẹ cho con bú người Gambia cho thấy nồng độ chất béo trong sữa có xu hướng tăng cao vào sáng sớm, trong khi người châu Âu thì lại có nồng độ chất béo trong sữa mẹ thấp vào buổi sáng Các tác giả chỉ cho thấy sự khác biệt này là do thói quen cho trẻ bú vào ban đêm của các bà mẹ Gambia, còn các bà mẹ châu Âu lại không cho con bú vào ban đêm [27] Ngoài
ra thành phần protein cũng có thay đổi nhỏ về hàm lượng trong một bữa bú của trẻ, tuy nhiên
sự thay đổi này cũng không hằng định, trong khi đó thì canxi lại không bị thay đổi này [28]
Bên cạnh đó, số lần sinh con và tuổi bà mẹ cũng ảnh hưởng đến nồng độ của sữa mẹ Bà mẹ trẻ
và sinh ít con thì có hàm lượng chất béo, protein và các immunoproteins cao hơn so với các bà
mẹ sinh con nhiều lần và cao tuổi [29], [30] Yếu tố mùa, vùng miền cũng có ảnh hưởng đến nồng độ các thành phần sữa mẹ Các nghiên cứu cũng cho rằng, yếu tố mùa cung cấp cho thực phẩm, khẩu phần ăn khác nhau theo mùa khác nhau Và đặc biệt hàm lượng các vitamin như vitamin C thường tăng cao trong sữa mẹ khi vào mùa có nhiều quả chín, nhiều rau xanh [31]
Có sự khác nhau về nồng độ thành phần sữa mẹ giữa các bà mẹ sống tại vùng nông thôn hay miền núi và vùng thành thị Điều này cũng do ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế xã hội, địa lý, dân tộc kéo theo cách chăm sóc, chế độ ăn uống, dinh dưỡng, thói quen sinh hoạt, mà những yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sữa mẹ [31], [32]
Chế độ ăn và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ cũng là các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến hàm lượng của các thành phần trong sữa mẹ Khẩu phần của bà mẹ có ảnh hưởng nhanh chóng đối với các thành phần vi lượng, như các vitamins, kẽm, selen, iod, fluorine, hay cả các axit béo không no chuỗi dài [33] Các axit béo trong khẩu phần ăn của bà mẹ phản ánh lượng axit béo ngay trong sữa mẹ [18], [29] Nồng độ các vitamin tan trong nước trong sữa mẹ như
Trang 10riboflavin (vitamin B2), ascorbic acid (vitamin C), cũng tăng rất nhanh khi bà mẹ uống bổ sung [34]
Ngoài ra, số lượng sữa bài tiết và chất lượng dinh dưỡng trong sữa mẹ cũng bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác như chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi, tâm lý của bà mẹ [32]
Trong suốt 2 thập kỷ qua, bên cạnh thu thập những thông tin kiến thức của các nhà khoa học trên thế giới về vai trò, tầm quan trọng của sữa mẹ, các chuyên gia y tế và dinh dưỡng Việt Nam đã đưa thêm các chứng cớ khoa học về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, đánh giá về các yếu tố liên quan đến tình trạng bài tiết và chất lượng sữa mẹ [35], [36], [37], [38], [39] Các nghiên cứu nhằm tìm hiểu giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ trên 35 bà mẹ tại 4 quận nội thành Hà Nội năm 1984 của tác giả Nguyễn Thị Kim và cộng sự cũng đã đưa ra các kết quả về lượng bài tiết sữa, về hàm lượng của thành phần dinh dưỡng chủ yếu như protein, lipid, glucid, một số chất khoáng [36] Bên cạnh đó tác giả cũng đã tìm hiểu khẩu phần ăn của các bà mẹ để chỉ ra mối liên quan giữa khẩu phần ăn và lượng sữa bài tiết Về việc nghiên cứu các chất kháng thể trong sữa mẹ, tác giả Đào Ngọc Diễn và cộng sự đã đánh giá nồng độ SIgA trên 83 mẫu sữa mẹ trong 3 ngày đầu tại Hà Nội đã cho thấy nồng độ SIgA trong sữa mẹ của các bà mẹ Việt nam (4,05 +/- 2,75 g/L) là thấp hơn so với tài liệu nước ngoài, và nồng độ này cũng thay đổi trong 3 ngày đầu, và có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi của các bà mẹ [37] Trong một điều tra mới đây của tác giả Cao Thu Hương và cộng sự về hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ trên 300 bà
mẹ tại một số xã của tỉnh Bắc Ninh cho thấy hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ đạt trung bình
là 0,91 micromol/L [38] Ngoài ra, tác giả Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự cũng đã phân tích hàm lượng của 38 thành phần axit béo trong sữa mẹ trên 194 bà mẹ tại 8 xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng [39] Một số tác giả cũng đã xác định hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong sữa mẹ để chỉ ra sự nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trên các bà mẹ thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với môi trường, điều kiện làm việc có hóa chất này [40], [41]
Việc tiến hành các nghiên cứu điều tra cắt ngang với cỡ mẫu lớn và địa bàn rộng, cùng với chi phí phân tích nhiều các chỉ số cho một mẫu xét nghiệm tại phòng Labo đòi hỏi kinh phí rất lớn Bên cạnh đó, cần phải tính khả năng thực thi của nghiên cứu, như việc lấy mẫu trên đối tượng nào, trong điều kiện nào để đảm bảo tính hiệu quả của nghiên cứu Để thoả mãn các điều kiện cho một nghiên cứu có qui mô lớn, các điều tra cắt ngang có thể tiến hành thành nhiều lần, chia theo khu vực, chia theo lớp, nhóm đối tượng nhằm đảm bảo về các yếu tố nhân lực, tài chính, kinh nghiệm Đối với nghiên cứu về thành phần sữa mẹ, các cuộc điều tra đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy từ kỹ thuật lấy sữa mẹ tại cộng đồng cho đến các kỹ thuật sử lý mẫu, xét nghiệm mẫu tại Labo
Có rất ít các nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ ở Việt Nam và kết quả đưa ra mới chỉ phân tích trên một số lượng các thành phần dinh dưỡng nhất định Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá 60 thành phần trong sữa mẹ và yếu tố
Trang 11ảnh hưởng đến thành phần sữa mẹ của các bà mẹ nuôi con bú từ 1 đến 4 tháng tuổi tại 2 thành phố Hà Nội và tp Hồ Chí Minh
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Bà mẹ cho con bú từ 1 tháng đến 4 tháng; tuổi từ 22 đến 35; sinh sống tại một số phường nội thành của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng: Bà mẹ cho con bú là chủ yếu, có đủ và nhiều sữa cho con
bú; Bà mẹ khỏe mạnh, không mắc bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh thận, bệnh gan, hoặc không bị điếc, câm, hoặc rối loạn tâm thần; Sinh con với tuổi thai từ
38-42 tuần tuổi; Trẻ có cân nặng sơ sinh từ 2.500 gram trở lên; trẻ đẻ thường hoặc mổ đẻ;
trẻ không mắc các chứng bệnh bẩm sinh; Các bà mẹ đồng ý tham gia chương trình và ký
cam kết
2 Thời gian và địa điểm :
Địa điểm lấy mẫu: tại 6 phường thuộc quận nội thành Hà Nội và 3 phường thuộc quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh
Địa điểm phân tích mẫu: Khoa Hóa Vệ sinh Thực phẩm -Viện Dinh dưỡng Quốc gia và Trung tâm Kiểm nghiệm Thực phẩm (Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm)
Thời gian: từ tháng 4 -12/2009
3 Phương pháp và tiến hành nghiên cứu:
3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, điều tra cắt ngang
Thay vào công thức trên ta có số mẫu tối thiểu là n= 60 Để đảm bảo cỡ mẫu có ý nghĩa thống
kê và đề phòng các trường hợp bỏ cuộc chúng tôi lập danh sách tăng cỡ mẫu lên 50% Do đó số mẫu cho điều tra khẩu phần là 90 đối tượng Chia đối tượng thành 3 nhóm theo số ngày sau khi
t2 α2 N
e2 N + t2 α2
2
Trang 12sinh con, 29 ngày đến 60 ngày; 61 ngày đến 90 ngày và 91 ngày đến 120 ngày để tìm các mối liên quan giữa thành phần sữa mẹ tại các thời điểm, mỗi nhóm là 30
3.3 Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
Để đảm bảo chất lượng phân tích 60 chỉ tiêu cho 1 mẫu sữa, nên các mẫu sữa được tiến hành phân tích ngay sau khi thu thập mẫu, không lưu quá 3 tháng Việc tiến hành điều tra lấy mẫu được tiến hành thành 3 lần, mỗi lần 30 mẫu, với 2 lần điều tra tại Hà Nội và 1 lần tại thành phố
Hồ Chí Minh
Bước 1: Chọn Quận, phường vào nghiên cứu:
Chọn ngẫu nhiên 6 phường đại diện cho 6 Quận của Thành phố Hà Nội và chọn ngẫu nhiên 3 phường đại diện cho 3 Quận của Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chính quyền địa phương, đối tượng tình nguyện tham gia
Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu:
Tại mỗi phường, lập danh sách tất cả các phụ nữ nuôi con bú từ 29 đến 120 ngày, tuổi từ 22 đến 35 tuổi, và đáp ứng các tiêu chuẩn nghiên cứu đề ra Xác định khoảng cách mẫu k Dựa vào khoảng cách mẫu k của từng phường, chọn đối tượng cho đến khi lấy đủ 10 người/phường Trong đó có mỗi nhóm có 3 đối tượng, tại 3 phường khác nhau đối tượng thứ 10 sẽ được lấy tại mỗi nhóm khác nhau, đảm bảo trong tổng số 3 phường sẽ có 10 đối tượng/1 nhóm Ngoài ra, lập danh sách đối tượng dự bị, khoảng 30 đối tượng/3 phường/1 lần điều tra
3.4 Cách tiến hành
Điều tra lấy mẫu và phân tích thành phần sữa được tiến hành thành 3 lần:
- lần thứ nhất là 30 mẫu tại Hà Nội ( tại 3 phường)- tháng 4 /2009
- lần thứ 2 là 31 mẫu tại Hà Nội (3 phường khác)- tháng 5 /2009
- và lần cuối cùng là 30 mẫu tại thành phố Hồ Chí Minh- tháng 6 /2009
Bước 1 Sàng lọc, điều tra và thu thập mẫu
- Trước khi tiến hành chọn mẫu, ban tổ chức liên hệ với Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng
Thành phố, Trạm Y tế các Quận, phường, tổ dân phố nơi điều tra của 2 thành phố Hà Nội và
Hồ Chí Minh Thống nhất về kế hoạch triển khai và những yêu cầu việc chọn lựa, tiến hành sàng lọc đối tượng theo tiêu chuẩn, đối tượng ký cam kết tham gia
-Tập huấn trước điều tra về kỹ thuật phỏng vấn phiếu hỏi ghi chung, hỏi ghi khẩu phần 24 giờ qua trong 3 ngày liên tục, cách vắt sữa cho bà mẹ cho các điều tra viên tuyến trung ương, đảm
Trang 13bảo thống nhất chung về phương pháp trong suốt quá trình điều tra Ngoài ra, tập huấn triển
khai chung cho các điều tra viên tuyến tỉnh, các cán bộ y tế, công tác viên tham gia điều tra
- Triển khai thu thập số liệu: Sau khi liên lạc, hẹn ngày giờ với từng đối tượng tại mỗi phường
điều tra, đội điều tra sẽ đi đến từng nhà bà mẹ để thực hiện các công việc: hỏi ghi chung, hỏi
ghi khẩu phần, hướng dẫn lấy sữa và lấy sữa Các điều tra về hỏi ghi thông tin chung chỉ thực
hiện 1 lần đầu tiên cho 1 đối tượng, hỏi ghi khẩu phần thực hiện trong 3 ngày, việc lấy sữa sẽ
tiến hành trong 3 ngày nhằm đảm bảo đủ số lượng mẫu sữa là 300 mL, trung bình mỗi ngày là
100 mL
- Các giám sát viên Viện Dinh dưỡng, ban tổ chức tuyến tỉnh và các chuyên gia của Nhật Bản
ngẫu nhiên giám sát các địa điểm lấy mẫu, đảm bảo chất lượng cho việc lấy mẫu, vận chuyển
và bảo quản mẫu tại thực địa
Bước 2 Phân tích mẫu tại Labo
- Xử lý mẫu: Ngay sau khi mẫu được thu thập về, các mẫu được xử lý sơ bộ Bao gồm đong đo
số lượng mẫu thu được, đánh giá cảm quan sữa về nhìn và ngửi, sau đó trộn sữa của các ngày
thu thập được với nhau, chia đều ra các ống nghiệm, ghi mã, lưu mẫu trong tủ đá -20 oC tại
Labo Hóa An toàn Thực phẩm-Viện Dinh dưỡng cho đến khi phân tích
- Phân tích mẫu: Cán bộ trong Labo Hóa-An toàn thực phẩm- Viện Dinh dưỡng và Trung tâm
kiểm nghiệm Thực phẩm sẽ lần lượt tiến hành phân tích các thành phần theo các phương pháp
đã chuẩn hóa Các chuyên gia Nhật Bản và cán bộ quản lý đề tài giám sát và có kiểm tra ngẫu
nhiên các kết quả xét nghiệm thu được
4 Các kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu:
4.1 Phỏng vấn đối tượng: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn nhằm
thu thập các thông tin chung của bà mẹ và con, các thông tin liên quan đến thói quen sinh hoạt,
thói quen ăn uống, tình trạng sức khoẻ hiện tại, tiền sử thai ghén, cách chăm sóc và nuôi con
của bà mẹ (phụ lục 1)
4.2 Hỏi ghi khẩu phần và tần xuất tiêu thụ thực phẩm: sử dụng phương pháp hỏi ghi 24 giờ
qua và bộ câu hỏi về tần xuất tiêu thụ thực phẩm, theo tài liệu tập huấn điều tra hỏi ghi khẩu
phần - Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế (phụ lục 2) Phương pháp hỏi ghi 24 giờ qua thực hiện trong
3 ngày liên tục, 2 ngày thường và 1 ngày nghỉ (thứ 7, chủ nhật, ngày lễ) Ngày hỏi ghi khẩu
phần của các bà mẹ được thực hiện cùng với ngày thu thập mẫu sữa mẹ
4.3 Thu thập, vận chuyển, xử lý sơ bộ và bảo quản mẫu sữa mẹ:
Số lượng sữa mẹ cần lấy mỗi ngày tối đa là từ 50-100 ml sữa, tuỳ thuộc từng đối tượng, lấy ít
nhất trong 3 ngày để có tổng số lượng sữa là 300 ml Mỗi ngày trung bình 100mL, thông
thường khoảng 50 mL cho một lần vắt sữa, lấy 2 lần trong 1 ngày vào 2 buổi sáng và chiều
Trang 14Dụng cụ lấy sữa gồm: Hộp đá đựng mẫu, cốc tiệt trùng dùng một lần, khăn lau dùng một lần, ống Facol 50mL tiệt trùng có chia vạch dùng để đựng mẫu và lưu mẫu (ống Facol la ống nghiệm tiệt trùng chuyên dùng trong đựng mẫu trong phòng thí nghiệm), bút ghi mã và tên đối tượng; bộ hút sữa dùng cho những bà mẹ nào khó vắt sữa bằng tay
Các điều tra viên sẽ hướng dẫn các bà mẹ cách vắt sữa (bằng tay và bằng dụng cụ hút sữa): sau khoảng 1,5-2 giờ cho con bú, lau sạch bầu và đầu vú bằng khăn ấm, lau lại bằng khăn tiệt trùng Rửa sạch tay, dùng tay hoặc dụng cụ hút sữa vắt sữa bỏ sữa đầu khoảng 2-5 ml (tuỳ thuộc vào bầu sữa của bà mẹ có nhiều hay ít sữa), sau đó mới tiếp tục vắt sữa vào cốc tiệt trùng, đến khi thấy gần hết thì dừng lại (không ép hay vắt kiệt), chuyển sang bầu vú còn lại, cũng lặp lại tương tự Cốc sữa được cho vào ống Facol đựng sữa, đóng chặt nắp, và để tạm thời trong tủ lạnh từ 4-8 0C Tùy thuộc vào từng bà mẹ, có thể một ngày vắt sữa 2-3 lần, đảm
bảo tối đa trong một ngày từ 50- 100 ml (phụ lục 3)
Vận chuyển và bảo quản mẫu sữa mẹ tại cộng đồng: Các điều tra viên sẽ giám sát và thu lại mẫu sữa, ghi mã và tên đối tượng, ngày tháng, số lượng sữa thu được của từng ngày Các mẫu sữa được đặt trong hộp đá lạnh, tránh ánh sáng, được đưa ngay về Labo Hoá Thực phẩm-Viện Dinh dưỡng
Xử lý mẫu sơ bộ: Sau mỗi ngày nhận mẫu, số lượng và tình trạng mẫu sữa mẹ trên mỗi ống được ghi lại Các mẫu sữa ngày 1 và ngày 2 sau khi thu thập được để trong tủ lạnh có nhiệt độ
từ 4-8 0C Sau khi thu thập mẫu sữa ngày thứ 3, tất cả các ống sữa của 3 ngày sẽ được trộn đều với nhau Tất cả các ống mẫu trộn với nhau được đảm bảo về sự đồng nhất và tránh không để dính lại trong thành ống Mẫu sữa trộn của một đối tượng được chia ngay ra nhiều các ống đựng mẫu nhỏ, ghi code và bảo quản trong tủ đá -20 0C cho đến khi phân tích
4.4 Phân tích thành phần sữa: 61 thành phần trong sữa mẹ được phân tích tại Labo Hóa An
toàn vệ sinh thực phẩm và Trung tâm kiểm nghiệm thực phẩm -Viện Dinh dưỡng
Các chỉ tiêu phân tích:
- Thành phần dinh dưỡng chính (7 chỉ tiêu): Năng lượng, Lipid, Protein, Tro, Carbohydrate,
Lactose, chất rắn hòa tan
- Acid béo (7 thành phần) và cholesterol: palmitic acid, oleic acid, linoleic acid, AA, EPA,
DHA
- Acid amine (18 thành phần): Lysin, methionin, tryptophan, phenylalanin, threonin, valin,
leucin, isoleucin, arginin, histidin, cystin, tyrosin, alanin, acid aspartic, acid glutamic, glycin, prolin, serin
- Chất khoáng (10 thành phần): Ca, Mg, K, Na, P, Cl, Fe, Cu, Zn, Se
- Vitamins (16 thành phần): Vit A, Beta-carotene, Vit C, D, E, K, B1, B2, B3, B5, B6, B12, choline, Inositol, Biotin, Folic acid
- Imiễn dịch (3 thành phần) : IgA, Lactoferrin, Lysozyme
Các phương pháp phân tích các chỉ số:
- Khi tiến hành phân tích, các chỉ tiêu nhạy cảm được ưu tiên tiến hành phân tích trước, như các thành phần về miễn dịch, IgA, lactoferin, lysozyme, các vitamin như vitamin C, vitamin A, vitamin B1
Trang 15- Các ống mẫu trước khi phân tích được giải đông tại nhiệt độ thường Đối với ống phân tích lipid và acid béo, mẫu sau khi giải đông được đồng nhất bằng máy siêu âm
- Các phương pháp phân tích 60 chỉ số được chuẩn hoá trong Labo và được tóm tắt sơ bộ trong
phụ lục 4 (phụ lục 4)
- Biotin và folic acid đã được phân tích trên hệ thống sắc ký lỏng với các detector huỳnh quang
và UV, vitamin B12 được xác định bằng sắc ký lỏng, detector UV và khối phổ Tuy nhiên độ nhạy đối với cả ba loại vitamin này trên các hệ thống thiết bị hiện có không đủ để phát hiện những hàm lượng rất nhỏ của 3 loại vitamin trong sữa mẹ Do đó, các bảng trong phần kết quả phân tích sẽ không đề cập đến 3 chất này Có 58 thành phần chất dinh dưỡng được phân tích thống kê
5 Phương pháp đánh giá
5.1 Đánh giá thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ:
Đánh giá 60 thành phần trong sữa mẹ dựa theo 3 tài liệu tham khảo chính là:
- Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam của Viện Dinh dưỡng, 2007 [42]
-“Constituents of human milk’’ trong tạp chí Food and Nutrition Bulletin (V17, No4, 1996), tác giả Ann Prentice; chủ biên Dr Nevin S Scrimshaw [43]
- “Clinical Aspects of Human Milk and Lactation” Volume 26 No2, 1999 [44]
5.2 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần
+) Hỏi ghi khẩu phần 24 giờ: đánh giá giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần, bao gồm năng
lượng, lượng Protid, lipid, glucid, lượng các vitamin, caroten, dựa theo nhu cầu khuyến nghị cho phụ nữ đang cho con bú – Bảng nhu cầu dinh dưỡng cho người Việt Nam [45]
Xác định các yếu tố liên quan sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính (hệ số tương quan r)
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p<0.05
Số liệu khẩu phần sau khi qui đổi được nhập bằng chương trình khẩu phần của Viện Dinh dưỡng Sử dụng SPSS 15.0 để phân tích số liệu khẩu phần
7 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương thông qua Hội đồng Đạo đức, Hội đồng Khoa học - Viện Dinh dưỡng trước khi triển khai Đối tượng đã được giải thích rõ về mục đích, nội dung thực hiện và quyền lợi của đối
Trang 16tượng khi tham gia nghiên cứu, đồng thời họ đã ký giấy tình nguyện tham trước khi tiến hành
lấy sữa mẹ và phỏng vấn Những thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín
V KẾT QUẢ
5.1 Đặc điểm của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu
Bảng 1 Số lượng đối tượng theo nhóm, thành phố, quận
(29-60 ngày)
Nhóm B (61-90 ngày)
Nhóm C (91-120 ngày) Tổng cộng
Quận Hoàn Kiếm (phường
Hàng Bông)
Quận Hai Bà Trưng
(phường Thanh Lương)
Quận Đống Đa (phường
Nam Đồng)
Quận Thanh Xuân
(phường Thanh Xuân
Bảng 1 cho thấy có 91 đối tượng tham gia nghiên cứu, đáp ứng đủ yêu cầu về cỡ mẫu của đề tài
đặt ra Có 61 đối tượng thuộc 6 quận nội thành thành phố Hà Nội và 30 đối tượng thuộc 3 quận
nội thành thành phố Hồ Chí Minh Các đối tượng được phân bố đều dựa theo thời gian nuôi
con con bú kể từ sau khi sinh con, chia thành 3 nhóm: nhóm bà mẹ nuôi con bú từ 29 đến 60
ngày có 30 đối tượng (nhóm A), nhóm từ 61 đến 90 ngày có 30 bà mẹ (nhóm B) và nhóm
91-120 ngày có 31 bà mẹ (nhóm C)
Trang 17Bảng 2 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia
Nhóm A (n=30)
Nhóm B (n=30)
Nhóm C (n=31)
Tổng số (n=91)
Tuổi trung bình của
Tuổi trung bình của
Cân nặng sơ sinh của
con khi sinh 3.216,6 ± 340,4 3.188,3 ± 321,0 3.270,3 ± 328,8 3.225,6 ± 328,3
Bảng 2 cho thấy tuổi trung bình của các bà mẹ tham gia nghiên cứu là 28,6 tuổi, không có sự
khác biệt về độ tuổi khi so sánh 3 nhóm A, B, C Tuổi trung bình của con theo nhóm tại thời
điểm nghiên cứu là 43,2 ngày đối với nhóm A, 73,7 ngày đối với nhóm B, và đối với nhóm C là
107,2 ngày Cân nặng sơ sinh của trẻ trung bình là 3.200 gram, không có trẻ nào dưới 2.500
gram, không có sự khác biệt về cân nặng sơ sinh giữa 3 nhóm A, B, và C
Trong số 91 bà mẹ tham gia chương trình có 53,8% bà mẹ là cán bộ viên chức nhà nước, 16,5%
là công nhân lao động, 14,3% là nội trợ ở nhà và 15,4% là buôn bán kinh doanh Trình độ học
vấn của các bà mẹ đa số học cao đẳng và đại học (63,7%), hết cấp 3 (28,6%), có 6 bà mẹ có
trình độ học hết cấp 2, chiếm 6,6%
Bảng 3 cho thấy số bà mẹ có bệnh mãn tính liên quan đến hệ tiêu hóa (bệnh táo bón) chỉ chiếm
11,1%, không có bà mẹ nào mắc các bệnh mãn tính khác Không có bà mẹ nào có thói quen hút
thuốc và uống rượu bia Tỷ lệ bà mẹ uống sữa hàng ngày, bao gồm sữa bột, sữa tươi, sữa bò,
sữa đậu nành, chiếm 83,5%, tỷ lệ này chia đều ở cả 3 nhóm Tỷ lệ bà mẹ đã từng bổ sung viên
vi khoáng trong thời gian mang thai (bao gồm viên sắt, acid folate, và các viên đa vi chất)
chiếm tới 76,9%, tỷ lệ này chia đều ở cả 3 nhóm Sau khi sinh con, tỷ lệ bà mẹ hiện đang dùng
Trang 18viên bổ sung chỉ còn chiếm 15,4% Bảng 3 cũng cho thấy tỷ lệ bà mẹ có tình trạng tiết sữa
nhiều chiếm 45,1%, bà mẹ có lượng sữa vừa đủ chiếm 54,9%, không có bà mẹ nào bị thiếu sữa
Bảng 3 Đặc điểm bệnh tật và thói quen sinh hoạt ăn uống của đối tượng tham gia
Nhóm A (n=30)
Nhóm B (n=30)
Nhóm C (n=31)
Tổng số (n=91)
Bổ sung viên vi khoáng
trong thời gian mang thai
Bảng 4 cho thấy hàm lượng năng lượng trong sữa mẹ trung bình là 54,53 kcal với dao
động thấp nhất là 30,1 kcal đến cao nhất là 74,9 kcal Trong đó, năng lượng sữa mẹ của
nhóm A- nhóm bà mẹ nuôi con từ 29-60 ngày có hàm lượng trung bình cao nhất là 55,75
kcal, tiếp sau là nhóm B- nhóm bà mẹ nuôi con từ 61-90 ngày là 55,0 kcal, sau cùng là
nhóm C- nhóm bà mẹ nuôi con từ 91-120 ngày với năng lượng sữa mẹ là 52,89 kcal Tuy
nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Trang 19Bảng 4 Nồng độ trung bình của 7 thành phần dinh dưỡng chính trong sữa mẹ theo nhóm
(n=30)
TB ± SD
Nhóm B (n=30)
TB ± SD
Nhóm C (n=31)
Tương tự đối với thành phần chất rắn hòa tan, hàm lượng trung bình là 11,05 g/100 g sữa
mẹ Nhóm A có hàm lượng chất rắn cao nhất (11,22 g), tiếp theo là nhóm B (11,08g), nhóm C là 10,86 g Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Hàm lượng tro trong sữa mẹ trung bình là 0,24 g/100 g sữa mẹ, tuy nhiên ở nhóm C thì hàm lượng tro lại nhiều nhất 0,32 g/100g, trong khi nhóm A và B khoảng 0,20-0,21 g/100 g, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm (Bảng 4)
Hàm lượng thành phần protein trong sữa mẹ trung bình 1,02 g/100 g (0,48-1,63); các nhóm
A, B, và C có hàm lượng protein sữa mẹ khác nhau không đáng kể, từ 0,98 đến 1,08 g/100g Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (Bảng 4)
Trang 20Bảng 4 cũng cho thấy hàm lượng lipid trong sữa mẹ trung bình 2,5 g/100 g với phạm vi dao động từ 0,11 đến 4,84 g/100g Hàm lượng lipid có xu hướng giảm theo thời gian nuôi con, nhóm A là 2,58, giảm xuống một chút ở nhóm B là 2,55 và giảm xuống ở nhóm C là 2,38 g/100 g Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm
Hàm lượng carbohydrate trong sữa mẹ trung bình là 7,28 g/100 g (4,7-9,4), nhóm A và B
có hàm lượng khoảng 7,35 g/100g, trong khi đó nhóm C có xu hướng giảm xuống với hàm lượng là 7,15 g/100g Hàm lượng lactose trong sữa mẹ trung bình là 6,15 g/100 g (5,43-7,1), hàm lượng này cao ở nhóm A với 6,24 g/100g trong khi đó nhóm B và C lại giảm nhẹ xuống với 6,1 g/100 g Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (bảng 4)
Bảng 5 Nồng độ trung bình của 7 thành phần dinh dưỡng chính trong sữa mẹ theo 2 thành phố
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Hàm lượng một số thành phần dinh dưỡng chính trong sữa mẹ tại 2 thành phố Hà Nội và tp
Hồ Chí Minh được chỉ ra trong bảng 5 Hàm lượng về năng lượng, tổng chất rắn hòa tan, protein, lipid, carbohydrate trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường của thành phố
Hồ Chí Minh cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ tại một số phường tại thành phố Hà Nội Nhưng ngược lại, hàm lượng lactose trong sữa mẹ của các bà mẹ tại Hà Nội lại cao hơn một cách đáng kể so với thành phố Hồ Chí Minh; 6,29 g/100 g so với 5,86 g/100 g, p<0,05
5.2.2 Nhóm muối khoáng
Bảng 6 cho thấy nồng độ trung bình của 10 thành phần muối khoáng cơ bản trong sữa mẹ theo 3 nhóm Hàm lượng thành phần chloride trung bình là 35,57 mg/100 g sữa mẹ với dao động từ 18 đến 63 mg/100g; không có sự khác biệt khi so sánh giữa 3 nhóm bà mẹ theo thời gian nuôi con Hàm lượng phospho trung bình của 3 nhóm là 19,51 mg/100 g sữa mẹ (0-35,6), trong đó nhóm C- nhóm bà mẹ nuôi con bú từ 91-120 ngày có hàm lượng thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với bà mẹ nhóm A và B
Trang 21Bảng 6 Nồng độ trung bình của 10 thành phần muối khoáng trong sữa mẹ theo nhóm
(n=30)
TB ± SD
Nhóm B (n=30)
TB ± SD
Nhóm C (n=31)
TB ± SD
Tổng số (n=91)
Hàm lượng thành phần natri và kali trong sữa mẹ đạt trung bình là 24,62 và 25,30 mg/100
g sữa mẹ Dao động nằm trong khoảng 0,5 đến 92,3 mg/100 g đối với natri và từ 5,4 đến 94,7 mg/100g đối với kali Không tìm thấy sự khác biệt nào về hàm lượng 2 thành phần này giữa 3 nhóm A, B và C Tương tự đối với hàm lượng thành phần calci, hàm lượng trung bình của cả 3 nhóm đạt 61,4 mg/100 g sữa mẹ với khoảng dao động từ 14,3 đến 153 mg/100 g Quan sát thấy hàm lượng calci trong sữa của các bà mẹ nhóm C thấp hơn so với nhóm A và B (55,9 mg so với 63,8 và 64,6 mg), nhưng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm (Bảng 6)
Trang 22Hàm lượng magie trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt trung bình là 6,44 mg/100g với phạm vi dao động từ 0 đến 27,3 mg/100g Quan sát thấy hàm lượng này thấp nhất ở nhóm A (4,78 mg/100g), sau đó đến nhóm C (6,91) và cao nhất ở nhóm B (7,61), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa nhóm A với nhóm B và nhóm C Ngược lại với hàm lượng kẽm, hàm lượng kẽm trung bình của 3 nhóm đạt 0,27 mg/100 g sữa mẹ (0,06-0,82), trong khi đó hàm lượng này đạt cao nhất ở nhóm A (0,35 mg/100 g), cao hơn một cách đáng kể khi so với nhóm B và nhóm C (0,23 mg/100 g), với p <0,05 (bảng 6)
Bảng 6 cũng chỉ cho thấy hàm lượng sắt trong sữa mẹ trung bình đạt 0,45 mg/100 g sữa mẹ với khoảng dao động từ 0,01 đến 3,08 mg/100g, quan sát thấy có sự thay đổi hàm lượng này giữa 3 nhóm, nhóm C đạt hàm lượng cao nhất (0,57 mg/100 g), tuy nhiên không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với sự thay đổi này
Hàm lượng đồng và selen trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt trung bình là 42,66 và 0,94 (µg/100g) Dao động nằm trong khoảng 14 đến 68 µg/100g đối với hàm lượng đồng và từ
0 đến 13,91 µg/100g đối với selen Quan sát thấy hàm lượng 2 thành phần này có xu hướng giảm xuống ở nhóm C khi so với 2 nhóm A và B, tuy nhiên không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở cả 2 thành phần (bảng 6)
Bảng 7 Nồng độ trung bình của 10 thành phần muối khoáng theo 2 thành phố
Đồng (µg/100g) 48,97 ± 19,28 29,83 ± 5,74 <0,01 Selen (µg/100g) 1,41 ± 2,90 0,00 ± 0,00 <0,01
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Bảng 7, hình 1a và hình 1b chỉ ra một số khác biệt của 10 thành phần muối khoáng trong sữa
mẹ giữa một số phường của Hà Nội và một số phường của thành phố Hồ Chí Minh Quan sát thấy không có sự khác biệt về hàm lượng chloride, sắt, kẽm trong sữa mẹ của các bà mẹ thuộc 2 thành phố
Trang 23Hình 1a Sự khác biệt về nồng độ một số khoáng chất trong sữa mẹ giữa 2 thành phố
Hàm lượng magie trong sữa của các bà mẹ Hà Nội cao hơn so với các bà mẹ tại Hồ Chí Minh (7,06 so với 5,17 mg/100g), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trong khi hàm lượng kali, calci, đồng và kẽm trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường thành phố Hà Nội cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ tại một số phường thuộc thành phố Hồ Chí Minh, thì hàm lượng thành phần natri và phospho của các bà mẹ thành phố Hà Nội lại thấp hơn đáng kể so với các bà mẹ thành phố Hồ Chí Minh (p<0,01) Đặc biệt, hàm lượng selen trong sữa của các bà mẹ tại thành phố Hồ Chí Minh gần như không có, với giá trị trung bình bằng 0, trong khi thành phần này tại thành phố Hà Nội trung bình là 1,41 µg/100g sữa mẹ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê gữa 2 thành phố
Hình 1b Sự khác biệt về nồng độ một số khoáng chất trong sữa mẹ giữa 2 thành phố
7.06
1.41 0.00 0.27
0.45 5.17
0.46
0.27 Magie (mg/100g) Sắt (mg/100g) Kẽm (mg/100g) Selen (µg/100g)
Hà Nội
Tp HCM
48.97 29.83 34.84
Natri (mg/100g)
Kali (mg/100g)
Calci (mg/100g)
Đồng (µg/100g)
Trang 24xu hướng giảm dần nồng độ vitamin C theo thời gian cho con bú, từ 0,45 mg/100 g ở nhóm
A, xuống 0,21 mg/100 g ở nhóm B, xuống 0,1 mg/100 g ở nhóm C, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Hàm lượng vitamin B1, B2, B3, B6 trong sữa mẹ của 3 nhóm đạt trung bình là 32,28 µg/100g (14,6-80,9); 9,8 µg/100g (1,3-67,8); 0,27 mg/100g (0,01-1,03); 7,48 µg/100g (1,3-28,84) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm về cả 4 hàm lượng thành phần nói trên
Bảng 8 cho thấy hàm lượng vitamin B5 trong sữa mẹ đạt trung bình là 0,45 mg/100g (0,119-0,97); trong đó nhóm B lại có hàm lượng thấp nhất với 0,38 mg/100g, thấp hơn đáng kể so với 2 nhóm A và C (0,48 mg/100g), p<0,05
Hàm lượng isonitol và choline trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt trung bình là 7,83 mg/100g (1,65-25,5) và 7,24 mg/100g (3,1-19) Quan sát thấy giữa 3 nhóm không có sự khác biệt về
2 hàm lượng thành phần này
Về hàm lượng một số vitamin tan trong dầu, bảng 8 cũng cho thấy hàm lượng vitamin K và vitamin D trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt 0,22 và 0,13 µg/100g Khoảng dao động từ 0,01 đến 0,94 µg/100g đối với vitamin K, và từ 0,005 cho đến 0,735 µg/100g đối với vitamin D Hàm lượng của cả 2 thành phần này đều có xu hướng giảm theo thời gian cho con bú, tuy nhiên chưa quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm
Hàm lượng vitamin A và vitamin E trong sữa mẹ của cả 3 nhóm trung bình là 65,67 µg/100g (23,9-253,6) và 91,4 mg/100g (24,4-197,8) So với nhóm A, hàm lượng của 2 thành phần này có xu thế giảm đi ở nhóm B và C, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh nhóm B với nhóm A, và nhóm C với nhóm A, p<0,05 Trong khi đó, hàm lượng beta-caroten trong sữa mẹ dao động của cả 3 nhóm từ 2,94 đến 5,37 µg/100g, giá trị trung bình 4,02 µg/100g (0,08-35,71)
Trang 25Bảng 8 Nồng độ trung bình của 13 thành phần vitamins trong sữa mẹ theo nhóm
Thành phần Nhóm A (n=30)
TB ± SD
Nhóm B (n=30)
TB ± SD
Nhóm C (n=31)
Trang 26Bảng 9 Nồng độ trung bình của 13 thành phần vitamins trong sữa mẹ theo 2 thành phố
Vitamin K (µg/100g) 0,24 ± 0,20 0,17 ± 0,12 >0,05Vitamin A (µg/100g) 64,88 ± 34,75 67,30 ± 28,54 >0,05Vitamin E (mg/100g) 96,31 ± 48,12 81,41 ± 25,94 >0,05Vitamin D (µg/100g) 0,14 ± 0,15 0,09 ± 0,13 >0,05Beta-Caroten (µg/100g) 1,93 ± 2,12 8,26 ± 9,37 <0,05
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Hình 2 Sự khác biệt về nồng độ một số vitamin trong sữa mẹ giữa 2 thành phố Hà Nội và tp
Hồ Chí Minh
Bảng 9 và hình 2 cho thấy hàm lượng một số vitamin trong sữa của các bà mẹ tại một số phường của thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn so với các bà mẹ tại một số phường thành phố Hà Nội, như hàm lượng vitamin B1, vitamin B2, vitamin B3, vitamin B6, isonitol,
6.83
0.14 0.24
6.35 6.89 0.10
Trang 27choline, beta-caroten Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê giữa 2 thành phố đối với các thành phần này (p<0,05), trừ thành phần isonitol (p>0,05) Trong khi đó, hàm lượng vitamin K, vitamin E, vitamin D, vitamin C, vitamin B5 trong sữa có xu hướng cao hơn ở các bà mẹ tại một số phường Hà Nội, tuy nhiên không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
5.2.4 Nhóm miễn dịch và các acid béo
Bảng 10 Nồng độ trung bình của 3 thành phần miễn dịch và các thành phần acid béo, cholesterol theo nhóm
Thành phần Nhóm A (n=30)
TB ± SD
Nhóm B (n=30)
TB ± SD
Nhóm C (n=31)
Trang 28Bảng 10 cho thấy hàm lượng của 3 thành phần miễn dịch lactofferine, lysozym, IgA trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt trung bình lần lượt là 233,56 mg/100 g (31-478); 10,99 mg/100 g
(2,1-24,7); 55,72 mg/100 g (19,4-167,5) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm ở cả 3 thành phần này
Đối với 6 thành phần acid béo và cholesterol trong sữa mẹ, quan sát thấy không có sự khác biệt giữa 3 nhóm Riêng đối với hàm lượng acid palmitic, oleic, EPA và DHA trong sữa
mẹ, có xu hướng giảm theo thời gian, nhóm A và B có hàm lượng nhiều hơn nhóm C, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Ngược lại với acid arachidonic, so với nhóm
A và B, hàm lượng lại có xu hướng cao lên ở nhóm C, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Sự dao động của các thành phần acid béo tương đối lớn, palmitic acid là 6-1.285 mg/100g; oleic acid là 15-1.672 mg/100g; linoleic acid là 9-662 mg/100g; arachidonic acid là 0-20 mg/100g; eicosapentaenoic acid từ 0 đến 8 mg/100g và docosahexaenoic acid dao động từ 0 đến 44 mg/100g
Bảng 11 Nồng độ trung bình của 3 thành phần miễn dịch và 7 thành phần acid béo theo thành phố
Cholesterol (mg/100g) 8,67 ± 4,97 10,58 ± 4,14 >0,05
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Bàng 11 và hình 3 cho thấy hàm lượng thành phần lactofferine trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường Hà Nội cao hơn đáng kể so với bà mẹ tại một số phường thành phố Hồ Chí Minh, ngược lại, hàm lượng thành phần lysozyme và IgA trong sữa mẹ của các bà mẹ tại tp Hồ chí Minh lại cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ tại Hà Nội
Bảng 11 và hình 4 cho thấy hàm lượng các thành phần acid palmitic, Oleic, EPA, DHA cao hơn một cách đáng kể ở trong sữa mẹ của các bà mẹ tp Hồ Chí Minh so với các bà mẹ tại
Trang 29thành phố Hà Nội Ngược lại, hàm lượng acid arachidonic trong sữa mẹ của bà mẹ Hà Nội lại cao hơn rõ rệt so với bà mẹ thành phố Hồ Chí Minh
(mg/100g)
Choles (mg/100g)
Hình 4 Sự khác biệt về nồng độ một số acid béo và cholesterol trong sữa mẹ giữa 2 thành phố Hà Nội và tp Hồ Chí Minh
Trang 30TB ± SD
Nhóm C (n=31)
Trang 31Bảng 13 Nồng độ trung bình của 18 acid amin theo 2 thành phố
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Bảng 12 cho thấy hầu hết 18 acid amin trong sữa mẹ đều có xu hướng thay đổi theo thời gian, hàm lượng các thành phần này giảm xuống ở nhóm B và C so với nhóm A Tuy nhiên, sự thay đổi rõ rệt nhất là hàm lượng của thành phần glutamic, từ 117,02 xuống còn 163, 35 và 150,71 mg/100 g sữa mẹ; hàm lượng lysine từ 80,25 xuống 67,75 và 64,83 mg/100g; tương tự đối với histidine, valine, Isoleusine, cystine, và proline Các thành phần khác có sự thay đổi về hàm lượng, nhưng không có ý nghĩa thống kê Hàm lượng 18 acid amine có sự dao động tương đối lớn, ví dụ aspartic acid dao động từ 37,7-231,2 mg/100g; glycine dao động từ 1,4-50,1 mg/100g, lysine dao động từ 28,3-141,3 mg/100g
Bảng 13 cho thấy, hầu hết hàm lượng acid amin trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường Hà Nội lại cao hơn các bà mẹ tại một số phường thành phố Hồ Chí Minh Điều này
Trang 32chỉ ngoại trừ đối với thành phần Threonine, hàm lượng này lại cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
5.3 Đặc điểm khẩu phần và tần xuất tiêu thụ thực phẩm
Bảng khẩu phần cho thấy (bảng 14), năng lượng khẩu phần trung bình của các bà mẹ nuôi con
bú trung bình là 2.540 Kcal/người/ngày, đạt 97,5% so với nhu cầu khuyến nghị dành cho bà mẹ nuôi con bú (2.605 Kcal/ngày/bà mẹ) Lượng năng lượng khẩu phần dao động từ 1.811 đến 3.458 kcal/người/ngày Không có sự khác biệt về năng lượng khẩu phần giữa 3 nhóm A, B, C Protein khẩu phần trung bình là 118,9 g/ngày/bà mẹ, đạt khoảng 140% so với nhu cầu khuyến nghị, không có sự khác biệt giữa 3 nhóm Lượng carbohydrate khẩu phần đạt gần 100% so với nhu cầu khuyến nghị với lượng trung bình là 388,5 g/ngày/bà mẹ Trong khi đó lượng lipid khẩu phần lại chỉ đạt 78,8% so với nhu cầu khuyến nghị, trung bình 56,7 g/ngày/bà mẹ Lượng lipid và protein khẩu phần ở nhóm B và nhóm C có xu hướng thấp hơn so với nhóm A, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Đáng chú ý, lượng lipid khẩu phần dao động từ
38 g đến 75 g/người/ngày, đáp ứng nhu cầu khuyến nghị đạt từ 52,7% cho đến 104%
Protein nguồn gốc động vật và lipid nguồn gốc động vật chiếm đa số trong khẩu phần, 60,7% là khẩu phần protein động vật và 74,6% là khẩu phần lipid động vật Tỷ lệ năng lượng từ Glucid: Protein: Lipid trung bình đạt 61,2: 18,7: 20,1; không có sự khác biệt giữa 3 nhóm bà mẹ về các
tỷ lệ này
Nhìn chung các thành phần vitamin và muối khoáng trong khẩu phần của các bà mẹ đều đạt và vượt qua nhu cầu khuyến nghị, bao gồm vitamin C, B1, B2, B12, Magie, Kẽm, phosphat Trong khi đó chất xơ, folate, sắt, vitamin A, vitamin D khẩu phần chỉ đạt trong khoảng 40-60%
so với nhu cầu khuyến nghị Hàm lượng calci khẩu phần đạt khoảng 84% so với nhu cầu khuyến nghị dành cho bà mẹ nuôi con bú, trung bình là 852,3 mg/ngày Không có sự khác biệt giữa 3 nhóm về hàm lượng calci khẩu phần. Hàm lượng vitamin A và vitamin D khẩu phần của các
bà mẹ nhóm B lại thấp hơn so với nhóm A và nhóm C, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Hàm lượng vitamin C, magie, kẽm, sắt khẩu phần đều có xu hướng giảm dần từ nhóm
A đến nhóm B và C
Trang 33Nhóm A (n=30, TB±SD )
Nhóm B (n=30, TB±SD)
Nhóm C (n=31, TB±SD)
Tổng số (n=91, TB±SD)
Nhóm A (%RDA)
Nhóm B (%RDA)
Nhóm C (%RDA)
Trung bình (%RDA)
Năng lượng (Kcal) 2539,1 ± 327,5 2578,0 ± 433,7 2506,6 ± 383,4 2540,9 ± 380,8 97,5 ± 12,6 99,0 ± 16,6 96,2 ± 14,7 97,5 ± 14,6 Protein (g) 124,6 ± 23,9 118,0 ± 23,1 114,4 ± 22,0 118,9 ± 23,1 146,5 ± 28,1 138,8 ± 27,2 134,6 ± 25,8 139,9 ± 27,2
Bảng 14 Đặc điểm khẩu phần của các bà mẹ
Trang 34Bảng 15 Khẩu phần của bà mẹ thành phố Hà Nội và bà mẹ ở thành phố Hồ Chí Minh
a,b sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Nhìn chung, năng lượng khẩu phần, lượng protein, lipid, glucid, carbohydrate, các vitamin
và khoáng chất khẩu phần giữa các bà mẹ Hà Nội và tp Hồ Chí Minh không có sự khác biệt đáng kể Chỉ riêng lượng vitamin A và vitamin C khẩu phần của bà mẹ Hà Nội cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bà mẹ thành phố Hồ Chí Minh (bảng 15)
Tần xuất tiêu thụ thực phẩm chung của các bà mẹ được thể hiện trong bảng 16 Gạo, các loại thịt, rau xanh là thực phẩm chính hàng ngày của các bà mẹ, sử dụng >1 lần/ngày Trong khi đó, các loại cá, hải sản thì tần xuất sử dụng tương đối ít, 64,8% là dùng 3-6 lần/tuần và 24,2% tiêu thụ 1-3 lần/tháng Tương tự đối với việc tiêu thụ các loại trứng, 61,5% các bà sử dụng một tuần 3-6 lần và 33% tiêu thụ 1-3 lần/tháng Đáng chú ý, sữa và quả chín các loại được các bà mẹ tiêu thụ với tần xuất rất cao, có tới 82,5% bà mẹ dùng sữa ít nhất 1 lần/ngày; 90,1% bà mẹ tiêu thụ quả chín > 1 lần/ngày
Trang 35Bảng 16 Tỷ lệ % về tần xuất tiêu thụ thực phẩm trong 6 tháng qua
5.4 Một số yếu tố liên quan đến thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ
Bảng 17 Mối tương quan giữa một số thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần và thành phần
trong sữa mẹ
1 Năng lượng khẩu phần và năng lượng sữa mẹ -0,064 >0,05
4 Carbonhydrate khẩu phần và carbonhydrate sữa mẹ 0,078 >0,05
5 Cholesterol khẩu phần và cholesterol sữa mẹ 0,058 >0,05
13 Vitamin B1 khẩu phần và vitamin B1 sữa mẹ -0,051 >0,05
15 Beta carotein khẩu phần và betacaroten sữa mẹ 0,164 >0,05
Thực phẩm
>1 lần/ngày
3-6 lần/tuần
>1-3 lần/tháng
1-2 lần/6 tháng
Không bao giờ
Trang 36Bảng 17 cho thấy thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ và các giá trị dinh dưỡng trong khẩu
phần của 91 bà mẹ tham gia nghiên cứu không có mối quan hệ với nhau một cách có ý nghĩa
thống kê Chỉ có thành phần kẽm sữa mẹ và kẽm khẩu phần có mối tương quan thuận chiều và
có ý nghĩa thống kê (r=0,419, p<0,05) (hình 5)
Hình 5 Mối tương quan hàm lượng kẽm trong sữa mẹ và kẽm khẩu phần
Bảng 18 Mối tương quan tuổi của mẹ, cân nặng sơ sinh của con và hàm lượng thành phần sữa
Trang 37mẹ, mối tuơng quan dương tính và thuận chiều với r=0,380 và p<0,01 (hình 6)
Hình 6 Mối tương quan hàm lượng sắt sữa mẹ và cân nặng sơ sinh