Trên khu vực biển đảo, đã có một số công trình nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của nhân dân, lực lượng quân đội, các cơ sở y tế và quân y trên các đảo; và nhất là nghiên cứu mô hình kết
Trang 1BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA LỰC LƯỢNG QUÂN DÂN Y TRÊN MỘT SỐ ĐẢO
THUỘC ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7 VÀ QUÂN KHU 9
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: Vụ Kế hoạch-Tài chính CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS TS Phạm Lê Tuấn
8857
HÀ NỘI - 2011
Trang 2BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA LỰC LƯỢNG QUÂN DÂN Y TRÊN MỘT SỐ ĐẢO THUỘC ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7 VÀ QUÂN KHU 9
Trang 3CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS Phạm Lê Tuấn Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Y tế
Thư ký đề tài:
1 PGS.TS Lê Văn Bào
2 ThS Nguyễn Thanh Chư
Bộ môn TCCHQY, HVQY
Bộ môn Dịch tễ học, HVQY
Tham gia nghiên cứu:
1 ThS Nguyễn Quang Ân Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Y tế
2 BS Nguyễn Công Sinh Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Y tế
3 ThS Phạm Quang Huy Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Y tế
4 ThS Phan Hữu Linh Cục Quân y, Bộ Quốc phòng
5 TS Hoàng Hải Bộ môn TCCHQY - Học viện Quân y
6 PGS TS Nguyễn Tùng Linh Phòng Khoa học công nghệ, Học viện Quân y
7 BS Dương Văn Thấm Phòng Quân y, Quân khu 9
8 BS Vũ Ngọc Hoàn Phòng Quân y, Quân khu 7
9 BS Vũ Thái Bình Phòng Quân y, Quân chủng Hải quân
10 BS Nguyễn Trung Long Phòng Quân y, Bộ tư lệnh Biên phòng
11 Nguyễn Thị Phương Hoa Văn phòng Bộ Y tế
12 Dương Thị Loan Văn phòng Bộ Y tế
13 BS Đỗ Thanh Bình Bộ môn TCCHQY - Học viện Quân y
Trang 4PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực RHM Răng - Hàm - Mặt
(Bệnh lây truyền qua đường tình dục)
TT-GDSK Truyền thông-Giáo dục sức khỏe
TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 51.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực
lượng quân đội
9
1.2.1 Tình hình hoạt động của y tế cơ sở 9 1.2.2 Công tác kết hợp quân dân y 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 33
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 33 2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 33 2.1.3 Thời gian nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 34 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34 2.2.3 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 36 2.2.4 Xử lý số liệu 38
2.3 Tổ chức nghiên cứu 38
3.1 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội tại
khu vực nghiên cứu
39
3.1.1 Ảnh hưởng của một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội 39 3.1.2 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội 53
Trang 63.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực
lượng quân đội
59
3.2.1 Kết quả hoạt động y tế ở tuyến xã 59 3.2.2 Các nguồn lực của y tế xã ở địa bàn nghiên cứu 77 3.2.3 Thực trạng kết hợp quân dân y trên địa bàn 87
4.1 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội tại
khu vực nghiên cứu
95
4.1.1 Ảnh hưởng của một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội 95 4.1.2 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội 105
4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực
lượng quân đội
111
4.2.1 Kết quả hoạt động y tế ở tuyến xã 111 4.2.2 Các nguồn lực của y tế xã ở địa bàn nghiên cứu 129 4.2.3 Thực trạng kết hợp quân dân y trên địa bàn 138
PHỤ LỤC: Bộ phiếu điều tra
Trang 7DANH MỤC BẢNG Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Diện tích các xã nghiên cứu 45Bảng 3.2 Đặc điểm vị trí địa lý của các xã nghiên cứu 46Bảng 3.3 Đơn vị hành chính, dân số trung bình của các xã nghiên
cứu (2009)
46
Bảng 3.4 Cơ cấu dân số theo dân tộc, tôn giáo (2009) 47
Bảng 3.6 Phân loại kinh tế hộ gia đình của địa phương (2009) 48Bảng 3.7 Phương tiện nghe nhìn của hộ gia đình (2009) 48Bảng 3.8 Nguồn nước sinh hoạt của hộ gia đình (2009) 49Bảng 3.9 Nguồn điện sinh hoạt của hộ gia đình (2009) 49
Bảng 19 Lý do lựa chọn nơi khám chữa bệnh đầu tiên của người dân
là trạm y tế xã hoặc phòng khám đa khoa khu vực
61
Trang 8hiện các chương trình y tế quốc gia
76
Bảng 3.29 Nhận xét của người dân về tinh thần thái độ phục vụ của
Trang 9Tên bảng Trang
Bảng 3.36 Đặc điểm chung về cơ sở hạ tầng của trạm y tế xã 81Bảng 3.37 Đặc điểm về hệ thống nước của trạm y tế xã/PKĐKKV 82Bảng 3.38 Đặc điểm về hệ thống điện của trạm y tế xã/PKĐKKV 83Bảng 3.39 Đặc điểm về hệ thống các công trình vệ sinh của trạm y tế
Bảng 3.44 Lực lượng quân đội trên địa bàn các xã đảo thuộc huyện
Kiên Lương, Kiên Hải và thị xã Hà Tiên
89
Bảng 3.45 Mức độ thực hiện KHQDY trong các lĩnh vực trên địa
bàn huyện đảo Phú Quý
91
Bảng 3.46 Mức độ thực hiện KHQDY trong các lĩnh vực trên địa
bàn huyện đảo Phú Quốc
Bảng 3.49 Tỷ lệ hộ gia đình có người đến khám chữa bệnh tại các cơ
sở của quân đội (%)
94
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 1.1 Xu hướng thay đổi mô hình bệnh nội trú tại bệnh viện
công, 1976-2009
3
Biểu đồ 1.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (%) 7
Biểu đồ 3.1 Số lượt khám bệnh trung bình/trạm y tế xã (2005-2009) 53
Biểu đồ 3.2 Số lượt người bị các chứng/bệnh ho, sốt, cảm cúm điều
Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ phụ nữ được khám phụ khoa định kỳ (2005-2009) 63
Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (2009) 64
Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được theo dõi sức khỏe
(2005-2009)
65Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ trẻ em được tiêm đủ vắc xin TCMR (2005-2009) 65
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Tên biểu đồ Trang
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý của huyện đảo Phú Quý-Bình Thuận 40
Hình 3.2 Bản đồ vị trí địa lý của huyện đảo Phú Quốc 41
Hình 3.3 Bản đồ vị trí địa lý của các xã đảo thuộc huyện Kiên Hải,
Kiên Lương và thị xã Hà Tiên
43
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau 25 năm đổi mới, cùng với những thành tựu chung về kinh tế-xã hội,
hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều đổi mới và tiến bộ, phục vụ nhu cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh của đại đa số dân cư, từng bước khống chế và thanh toán các dịch bệnh, kể cả các dịch bệnh nguy hiểm Năm 2009, hầu hết các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản đã đạt và vượt so với mục tiêu quốc gia đến năm 2010 như: tuổi thọ trung bình, chết trẻ em dưới 1 tuổi, chết trẻ em dưới 5 tuổi…
Một trong những thách thức lớn của y tế Việt Nam là sự khác biệt về tình
trạng sức khỏe và chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân giữa các
vùng, miền trong nước, giữa các nhóm thu nhập Sự thay đổi mô hình bệnh tật với nguy cơ gia tăng các bệnh không lây nhiễm và tai nạn thương tích, trong khi một số bệnh truyền nhiễm vẫn có nguy cơ phát triển, đặc biệt là những dịch bệnh nguy hiểm, tái nguy hiểm và dịch bệnh mới Sức khỏe môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm cũng là những thách thức lớn
Trong khi đó, các nguồn lực của y tế cơ sở vẫn còn hạn chế, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn Bác sĩ, cán bộ y tế dự phòng ở tuyến xã còn thiếu, trình độ chuyên môn còn nhiều bất cập với sự thay đổi mô hình bệnh tật, hệ thống y tế thôn bản chưa hoàn chỉnh Hệ quả là, với khối lượng công việc ngày càng tăng, các hoạt động và chương trình y tế quốc gia được triển khai nhiều nhưng hiệu quả chưa đồng đều, còn có hiện tượng quá tải công việc ở tuyến cơ sở Bên cạnh đó, nguy cơ tổn thất các nguồn lực của y tế cơ sở khi xảy
ra thiên tai, thảm họa là rất lớn
Trên khu vực biển đảo, đã có một số công trình nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của nhân dân, lực lượng quân đội, các cơ sở y tế và quân y trên các đảo;
và nhất là nghiên cứu mô hình kết hợp quân dân y (KHQDY) ở tuyến huyện, tuyến xã với các mô hình kết hợp toàn diện, kết hợp một số nội dung (tổ chức biên chế, chức năng nhiệm vụ, tổ chức hoạt động) ở các tuyến đảo gần bờ, đảo
Trang 13KHQDY đã và đang là một chủ trương lớn của Nhà nước nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực về y tế Sau Dự án 1026, KHQDY đã được xây dựng là một chương trình mục tiêu quốc gia Các mô hình KHQDY đã phát huy hiệu quả trong một thời gian dài với những nỗ lực của cả ngành y tế, trong đó có lực lượng quân y
Tại khu vực biển đảo thuộc địa bàn Quân khu 7, Quân khu 9, các huyện đảo, xã đảo đã có rất nhiều thay đổi về điều kiện kinh tế-xã hội Đời sống nhân dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp; có nhiều yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và hoạt động y tế; nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội trên địa bàn ngày càng cao trong khi chưa phát huy một cách hiệu quả các nguồn lực hiện có của cả ngành y tế và ngành quân y
Vì thế, việc nghiên cứu nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, lực lượng quân đội ở khu vực biển đảo này cũng như khả năng đáp ứng của lực lượng quân y, dân y và nhất là hoạt động KHQDY trên các đảo là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Mục tiêu của đề tài:
1- Đánh giá thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân, lực lượng quân đội trên một số đảo thuộc địa bàn Quân khu 7 và Quân khu 9, năm 2010
2- Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân, lực lượng quân đội của lực lượng quân dân y trên một số đảo thuộc địa bàn Quân khu 7 và Quân khu 9
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở xây dựng mô hình tổ chức hoạt động KHQDY tại các xã đảo, huyện đảo phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, lực lượng quân đội trên các tuyến đảo thuộc địa bàn Quân khu 7 và Quân khu 9
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN VÀ LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM
Theo kết quả VNHS 2001-2002, mỗi năm bình quân một người có 1,5 đợt
ốm ảnh hưởng tới khả năng hoạt động bình thường như đi học, đi làm Tuy nhiên, số liệu này ở các địa phương có sự khác nhau rất lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Như vậy, hàng năm, có khoảng 123 triệu đợt ốm trong dân cư nước ta [19], [32], [34]
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ mô hình tỷ lệ mắc các bệnh lây nhiễm cao sang mô hình có nhiều bệnh không lây nhiễm (thời kỳ quá độ dịch tễ học) Theo số liệu báo cáo của các bệnh viện công từ năm 1998 đến năm 2005, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú vì bệnh không lây nhiễm đã tăng nhanh, từ 40% năm 1998 lên 62% năm 2005 Tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú vì tai nạn, chấn thương, ngộ độc vẫn giữ ở mức tương đổi ổn định Tỷ lệ bệnh nhân nội trú vì bệnh lây nhiễm có xu hướng giảm rõ rệt [54]
Bệnh lây nhiễm Bệnh không lây nhiễm Tai nạn, chấn thương, ngộ độc
Biểu đồ 1.1 Xu hướng thay đổi mô hình bệnh nội trú tại bệnh viện công,
Trang 15Xu hướng trình bày trong Biểu đồ 1.1 chỉ phản ánh cơ cấu mô hình các bệnh nặng phải điều trị tại bệnh viện Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ những người
ốm tự điều trị, tỷ lệ người điều trị ngoại trú các bệnh viện, các trạm y tế xã/phường, các cơ sở y tế tư nhân khá cao, không được phản ánh trong số liệu trên
Sau gần 25 năm đổi mới, hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều đổi mới và tiến bộ, phục vụ nhu cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh của đại đa số dân cư, từng bước khống chế và thanh toán các dịch bệnh, kể cả các dịch bệnh nguy hiểm Hầu hết các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản đã đạt và vượt so với mục tiêu quốc gia đến năm 2010 như: tuổi thọ trung bình, chết trẻ em dưới 1 tuổi, chết trẻ em dưới 5 tuổi [11]
1.1.1 Một số bệnh lây nhiễm
* Nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Bệnh phổ biến nhất là bệnh hô hấp cấp gồm cúm, viêm phổi và viêm phế quản Những bệnh này thường chỉ cần sử dụng dịch vụ y tế tại cộng đồng, ít có nguy cơ dẫn đến tử vong nếu được điều trị kịp thời Theo Niên giám thống kê y
tế 2009, có khoảng 1.000 ca chết do nhiễm khuẩn hô hấp cấp Chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) rất thành công trong việc giảm tử vong ở trẻ em Tuy nhiên, việc điều trị các bệnh đường hô hấp gặp khó khăn do
sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn đến kháng thuốc [11]
* Bệnh đường tiêu hóa
Tiêu chảy cũng thuộc nhóm các bệnh phổ biến nhất với gần một triệu người/năm đến bệnh viện để điều trị và nhiều người khác mắc mà không điều trị, tự điều trị hoặc điều trị ở cơ sở y tế tư nhân Tả, thương hàn, lỵ vẫn còn ở một số vùng của Việt Nam, đặc biệt tại những nơi chưa bảo đảm nước sạch và công trình vệ sinh đầy đủ Chương trình phòng chống tiêu chảy đã thành công trong việc giảm chết do tiêu chảy mặc dù tỷ lệ mắc giảm không đáng kể (1.096/100.000 dân năm 2005 giảm xuống 1.082/100.000 dân năm 2009) Tỷ lệ
Trang 16mắc lỵ trực khuẩn, lỵ a míp, thương hàn có xu hướng giảm rõ rệt trong giai đoạn 2005-2009 [11], [13]
* Sốt xuất huyết
Năm 1997 có 354.517 ca sốt xuất huyết được chẩn đoán và 1.566 ca tử vong [11] Từ cuối những năm 1990, ngành y tế đã có những nỗ lực rất lớn để giảm sốt xuất huyết, đến năm 2000 có 24.000 ca mắc và 52 ca chết Các mục tiêu được đưa ra để giảm tỷ lệ mắc 15% và giảm tỷ lệ chết 10% so với mức thời
kỳ đầu của chương trình đều đạt được rất sớm Tuy nhiên, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết (tính trên 100.000 dân) trong giai đoạn 2005-2009 đang có xu hướng gia tăng, từ 68,81 lên đến 122,49 Một điều đáng lưu ý là bệnh sốt xuất huyết xuất hiện theo chu kỳ 4 năm 1 lần, nhưng hiện nay tính chu kỳ không còn được thể hiện rõ, bệnh xuất hiện rải rác hàng năm Sốt xuất huyết phổ biến nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm khoảng 80% tổng số ca mắc của cả nước [11], [13]
122,49 111,84
118,79
81,43 68,81
Tỷ lệ mới mắc sốt rét đã giảm đi hơn 4 lần trong giai đoạn 2001-2009 Năm
2009 có 60,9 nghìn ca mắc so với 99,3 nghìn ca mắc sốt rét năm 2005 Trong khi tất cả các tỉnh đều có ca sốt rét do dân di cư giữa vùng sốt rét phổ biến sang
Trang 17ca), còn ở khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 6,7% [11], [13]
3,4-0,71 0,83
1,19 2,04
* Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục là vấn đề sức khỏe đáng chú ý Một số nghiên cứu [58] cho thấy, tỷ lệ khoảng 20-40% phụ nữ ở nông thôn và 10-20% phụ nữ ở thành thị mắc bệnh phụ khoa Tuy nhiên, tỷ lệ mắc mới các bệnh lây truyền qua đường tình dục, theo số liệu từ Niên giám Thống kê Y tế hàng năm, chỉ ở mức 0,3-0,4% và xu hướng giảm không rõ ràng [11] Điều này cho thấy một khả năng là nhiều trường hợp mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục chưa được phát hiện và điều trị, như vậy nguy cơ bệnh tiếp tục lây truyền là rất lớn
1.1.2 Một số bệnh không lây nhiễm
Kinh tế tăng trưởng, già hóa dân số, thay đổi lối sống là những nguyên nhân dẫn đến gia tăng gánh nặng các bệnh không lây nhiễm Một số bệnh không lây nhiễm thường gặp ở trẻ em là các bệnh dinh dưỡng, hen xuyễn, rối loạn về thị lực, sâu răng, dị tật bẩm sinh, tàn tật do bệnh hoặc tai nạn Các bệnh thường thấy ở người cao tuổi như bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh thận và ung thư
Trang 18Theo Niên giám thống kế y tế, trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, tăng huyết áp nguyên phát xếp thứ 5 với 327,18 ca mắc/100.000 dân nhưng tỷ lệ này không đồng đều giữa các vùng sinh thái Thông tin về tình hình mắc các bệnh không lây nhiễm còn chưa đầy đủ, một phần do nhiều người mắc các bệnh này chưa được chẩn đoán [11]
Dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ ở các nhóm nhỏ có thể xếp theo 3 nhóm bệnh phổ biến, ít mắc và hiếm Phổ biến nhất trong bệnh không lây nhiễm
là sâu răng và viêm lợi có tỷ lệ mắc ở tuổi trưởng thành trên 70% Tiếp theo là bệnh suy dinh dưỡng trẻ em, thiếu năng lượng trường diễn người lớn, cận thị, tăng huyết áp và thừa cân người lớn chiếm từ 12 đến 28% đối tượng Nhóm bệnh không lây nhiễm phổ biến tiếp theo là hen suyễn, đái tháo đường, tàn tật nặng, chiếm từ 1 đến 6% [13]
* Suy dinh dưỡng trẻ em
Suy dinh dưỡng là một yếu tố làm tăng gánh nặng bệnh tật vì người bị suy dinh dưỡng dễ mắc các bệnh lây nhiễm hơn Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em
là một mục tiêu quốc gia và mục tiêu thiên niên kỷ quan trọng Suy dinh dưỡng
do thiếu protein và calo và tình trạng thiếu vi chất ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể ở Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao xu hướng giảm chậm
18,9 21,2
25,2 29,4
33,8 39,0
Trang 19* Bệnh tim mạch
Các bệnh tim mạch chính là tai biến mạch máu não, suy tim, bệnh mạch vành, tâm phế mạn và các bệnh mạch máu Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch gồm tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và gián tiếp liên quan đến hút thuốc, uống rượu, chế độ ăn uống, béo phì và tuổi cao
Theo Báo cáo Y tế Thế giới 2002 của WHO, tăng huyết áp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng tới gánh nặng bệnh tật trong các nước đang phát triển
có mức tử vong thấp như Việt Nam Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ về bệnh suy thận, suy tim, tai biến mạch máu não và một số bệnh khác Kết quả từ VNHS 2001-2002 [19], cho thấy tỷ lệ nam giới từ 16 tuổi trở lên bị tăng huyết
áp (theo định nghĩa của WHO) là 15,1%, và đối với phụ nữ là 13,5%
* Ngộ độc thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm là vấn đề tương đối phổ biến Theo số liệu từ Chương trình mục tiêu về VSATTP, hàng năm có khoảng 150-250 vụ ngộ độc thực phẩm được báo cáo với từ 3,5 đến 6,5 nghìn người mắc với 37 đến 71 người chết một năm
Bảng 1.1 Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm (%)
Nguồn: Niên giám thống kê y tế [11]
Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm trong những năm 2005-2009, chủ
yếu là vi sinh vật như Clostridium botulinum, E.coli hoặc Salmonella, với
nguyên nhân thứ hai là thực phẩm có độc như nấm hoặc cá nóc Tuy nhiên, cơ cấu nguyên nhân ngộ độc thực phẩm không đồng đều hàng năm có thể do số vụ ngộ độc được thống kê còn ít, chưa phản ánh đầy đủ tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam
Trang 20Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống y tế nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức Tổng quan các tài liệu nghiên cứu, những thách thức chủ yếu mà ngành y tế Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển là:
- Sự khác biệt về tình trạng sức khỏe giữa các vùng, miền trong nước,
giữa các nhóm thu nhập
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao, nhất là vùng nghèo
- Sự thay đổi mô hình bệnh tật với nguy cơ gia tăng các bệnh không lây nhiễm và tai nạn thương tích, trong khi một số bệnh truyền nhiễm vẫn có tỷ lệ mắc cao
- Sức khỏe môi trường, đặc biệt rác thải y tế và an toàn vệ sinh thực phẩm cũng là những thách thức lớn, trong đó đáng chú ý là các bệnh lây nhiễm như dịch tả vẫn còn bùng phát và tiêu chảy còn phổ biến
1.2 KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN VÀ LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI
1.2.1 Tình hình hoạt động của hệ thống y tế cơ sở
1.2.1.1 Mạng lưới y tế cơ sở:
Y tế cơ sở bao gồm y tế tuyến huyện, xã và thôn/bản/ấp Theo số liệu năm
2009, mạng lưới y tế cơ sở đã phát triển rộng khắp với 100% các xã, phường có
cán bộ y tế hoạt động, 67,7% số xã có bác sỹ; 95,7% số xã có nữ hộ sinh hoặc y
sỹ sản nhi; 75,8% số thôn bản có cán bộ y tế hoạt động; 65,4% số xã đã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; trên 70% số xã đã thực hiện khám chữa bệnh ban đầu cho người có thẻ BHYT Cùng với sự phát triển mạng lưới y tế cơ sở, các chủ trương và Chính sách của Đảng và Chính phủ cũng thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới [1], [11], [15], [16], [16], [21], [47]
Để đáp ứng nhu cầu nhân lực ngày càng tăng của các cơ sở y tế trong và
Trang 21trường công lập, nâng cao chất lượng dạy và học, ban hành tiêu chuẩn các trường trung học và cao đẳng y tế, mở thêm các mã ngành mới, tăng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, đồng thời khuyến khích các cơ sở đào tạo ngoài công lập phát triển Ngoài đào tạo chính quy, Chính phủ đã phê duyệt Đề án đào tạo theo địa chỉ khoảng 600 bác sỹ cho các tỉnh Tây Nguyên; Đề án đào tạo nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển nhằm đáp ứng nhu cầu cán bộ y tế cho các vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh miền Bắc, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên
Bảo hiểm y tế được mở rộng với số người tham gia và số thu BHYT tăng nhanh Tính đến tháng 6 năm 2010, cả nước có 53 triệu người tham gia BHYT (chiếm khoảng 62% dân số) Nguồn thu từ BHYT có tỷ trọng ngày càng lớn trong các nguồn tài chính cho y tế Đã có 276 cơ sở y tế ngoài công lập đủ điều kiện theo quy định đã được tham gia khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT trong tổng số 2.176 cơ sở y tế trên cả nước tham gia khám chữa bệnh BHYT; trên 70% số trạm y tế xã, phường đã thực hiện khám chữa bệnh BHYT
* Phòng khám đa khoa khu vực
Phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV) là đơn vị trực thuộc bệnh viện huyện, chủ yếu đóng vai trò chữa bệnh trong phạm vi một vài xã, phường trong huyện Năm 2009, cả nước có 686 phòng khám đa khoa khu vực, nhưng theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010, ngành y tế sẽ duy trì và phát triển phòng khám đa khoa khu vực thuộc bệnh viện huyện tại các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế
cơ bản cho nhân dân địa phương [45]
* Trạm y tế xã, phường
Trạm y tế là đơn vị kỹ thuật đầu tiên khám chữa bệnh cho nhân dân nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn và quản lý, chỉ đạo hoạt động của y tế thôn, bản Từ năm 2000 đến 2005, có 342 trạm y tế xã, phường mới được thành lập Đến 31/12/2005 tất cả các xã có cán bộ y tế và 98% các xã có cơ
Trang 22sở trạm y tế Năm 2009, cả nước có 10.926 trạm y tế xã, phường Số trạm y tế
xã, phường tiếp tục tăng lên hàng năm để bảo đảm các xã, phường mới được chia tách có cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu [11]
Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 được ban hành năm 2006 [45] Một số nội dung chính về y tế xã:
- Củng cố tổ chức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã Đến năm 2010, hầu hết các xã, phường có trạm y tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn
- Bảo đảm 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, trong đó 100% các trạm y tế xã
ở đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sĩ; 100% trạm y tế xã có
nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm y
tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ trạm y
tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã Phấn đấu đến hết năm 2010
có 80% số xã trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về y tế xã
Theo Thông tư 08/2007/TTLB/BYT-BNV ngày 05/6/2007 [15], căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân, định mức biên chế của Trạm y tế xã, phường, thị trấn được xác định theo đặc điểm địa lý, kinh tế -
xã hội, quy mô dân số như sau:
- Biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho 1 trạm y tế xã, phường, thị trấn
- Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5.000 dân: tăng 1.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm
- Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóng trên địa bàn: Bố trí tối đa 5 biên chế/trạm
Trang thiết bị và dụng cụ y tế
Bộ Y tế đã xây dựng danh mục trang thiết bị y tế thiết yếu cho trạm y tế theo Quyết định số 437/2002/QĐ-BYT năm 2002 Để tạo điều kiện phát huy khả
Trang 23BYT của Bộ Y tế, danh sách trang thiết bị (TTB) thiết yếu cho trạm y tế có bác
sĩ đã được bổ sung Các chương trình, dự án, ngân sách Nhà nước đã trang bị cho nhiều trạm y tế những bộ trang thiết bị và dụng cụ cơ bản phục vụ cho khám chữa bệnh chung, chăm sóc sức khỏe sinh sản, và việc tiệt khuẩn Tuy nhiên, do không có kinh phí để mua mới hoặc bổ sung, thay thế, sửa chữa nên thiết bị vẫn còn thiếu, nhất là các dụng cụ chuyên khoa
Việc bảo đảm có đủ TTB thiết yếu theo một danh mục ở trạm y tế đang gặp nhiều khó khăn Để tránh lãng phí và bảo đảm các trạm y tế có đủ TTB theo nhu cầu thực tế, quá trình lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị cần được lập từ từng trạm y tế với sự hướng dẫn của tuyến trên Cần đánh giá tác động của những TTB khác nhau tới chất lượng và hiệu quả trong việc thu hút, chẩn đoán
và điều trị bệnh tại tuyến xã Giám sát mức độ thực hiện chính sách về TTB phải dựa vào mức độ đạt số loại TTB so với nhu cầu, được thể hiện trong kế hoạch và theo những sự thay đổi trong mô hình sử dụng dịch vụ của dân và chất lượng phục vụ của trạm y tế; chứ không cứng nhắc theo một danh mục chuẩn có thể không phù hợp với điều kiện ở từng cơ sở y tế
Theo danh mục TTB thiết yếu, nhân viên y tế thôn, bản được trang bị túi
y tế với 17 loại dụng cụ và vật tư cơ bản Năm 2001-2002, theo VNHS, 63,1% nhân viên y tế thôn bản có nhiệt kế, 56,1% có bơm, kim tiêm [19] Loại TTB cần thiết cho nhân viên y tế thôn bản phụ thuộc nhiều vào những kỹ năng phải bảo đảm, và hiện nay nhiều nhân viên y tế thôn, bản chưa được đào tạo đầy đủ
để sử dụng hết những TTB trong túi y tế thiết yếu
Thuốc thiết yếu tại trạm y tế
Theo VNHS, tỷ lệ trạm y tế xã có quầy thuốc là 86,9%, đặc biệt khu vực Tây Nguyên chỉ khoảng 50% Các mặt hàng thuốc thiết yếu ở trạm y tế cơ bản
đủ (khoảng 74 loại) trong đó 80% là thuốc nội, 8% là thuốc đông y Đối với một
số chương trình mục tiêu, như chương trình phòng chống tiêu chảy, thì tỷ lệ thuốc cung cấp cho các trạm cao nhất cũng chỉ mới đạt 95,9% số trạm có đủ thuốc chống tiêu chảy (ORS) Tỷ lệ sử dụng thuốc nam còn thấp (39,5%) [19]
Trang 24Trước đây, một số xã thực hiện theo sáng kiến Bamako - sử dụng vốn viện trợ để lập quỹ quay vòng thuốc thiết yếu, nhưng một số nơi mất vốn dần, nhất là những xã nghèo, vùng dân tộc thiểu số, người dân không có tiền để trả Ở những vùng đồng bằng, hầu hết các trạm y tế làm đại lý cho các doanh nghiệp, công ty thuốc, với vốn tự góp của các nhân viên trạm y tế xã và một phần quỹ của xã Ở vùng khó khăn, thuốc thiết yếu cho các trạm y tế xã vẫn chưa được đảm bảo và
có ảnh hưởng nhất định đến công tác chữa bệnh, đặc biệt là ở vùng cao, miền núi, vùng khó khăn, người dân vẫn còn quen được bao cấp, nên cần có chính sách phù hợp
Năm 2005, Bộ Y tế đã ban hành danh mục thuốc thiết yếu lần thứ 5 theo Quyết định 17/2005/QĐ-BYT, trong đó có danh mục thuốc khác nhau cho trạm
y tế xã có bác sĩ và không có bác sĩ [14]
* Y tế thôn, bản
Y tế thôn, bản là cánh tay kéo dài của y tế xã để triển khai công tác truyền thông giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện các chương trình y tế quốc gia và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân tại các hộ gia đình và cộng đồng Trong quá trình đổi mới, mạng lưới y tế thôn, bản ở nhiều địa phương đã bị mất
đi, do đó đời sống của họ không được bảo đảm Trong những năm gần đây, Nhà nước và ngành y tế đã và đang củng cố, đẩy mạnh và phát triển mạng lưới y tế thôn, bản
Nhân viên y tế thôn bản chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của trạm y
tế xã, của trưởng thôn, trưởng bản và có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể tại thôn, bản Nhân viên y tế thôn bản có vai trò chủ yếu liên quan đến công tác y tế dự phòng Hoạt động của họ tập trung vào những công việc tuyên truyền, theo dõi sức khỏe trẻ em suy dinh dưỡng, vận động TCMR và theo dõi tình hình bệnh tật của dân Nhân viên y tế thôn, bản cũng có tham gia sơ cứu, khám chữa bệnh và khám thai, đỡ đẻ
Chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 đã khẳng
Trang 25nhân viên y tế hoạt động cả ở thành thị và nông thôn Kết quả đến 31/12/2004 cả nước đã đạt được 82,4% số thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động Đến 31/12/2005 cả nước có 92.223 nhân viên y tế thôn, bản, trên 87% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, năm 2007 tỷ lệ là 84,89% và năm 2008 là 84,44% Tuy nhiên, đến năm 2009, tỷ lệ thôn bản có nhân viên y tế lại chỉ còn 75,8% Trình độ chuyên môn của nhân viên y tế thôn bản không đồng đều, và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu có trình độ sơ học theo Quyết định 35/2001/QĐ-TTg Mặt khác, chế độ phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản chưa thống nhất, không hợp lý và còn phụ thuộc nhiều vào các địa phương (Nhà nước mới có phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản khu vực miền núi, vùng cao, hải đảo với mức 40.000đ/người/tháng, các khu vực khác do địa phương tự trả), thậm chí nhiều địa phương không có phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg chính thức quy định chế
độ phụ cấp cho toàn bộ nhân viên y tế thôn bản Hiện cả nước có khoảng trên 70% số nhân viên y tế thôn, bản được hưởng phụ cấp
Chủ trương lấy tuyến y tế cơ sở làm nòng cốt trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã mang lại nhiều thành tựu, nhất là đã góp phần đạt được các mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân Tuy nhiên, mô hình y tế tuyến cơ sở hiện đang phải đối mặt với một số thách thức lớn:
- Những biến động về dân số và dịch tễ đã dẫn đến những thay đổi trong nhu cầu khám, chữa bệnh ở cấp cơ sở Ở những vùng kinh tế kém phát triển và vùng sâu, vùng xa, nơi tập trung nhiều dân nghèo hơn, trọng tâm của công tác y
tế tuyến cơ sở là xử lý các bệnh lây nhiễm và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ
em
- Một vấn đề còn tồn tại nữa ở cấp y tế cơ sở là chất lượng chăm sóc và chữa bệnh còn thấp Các cơ sở hạ tầng của tuyến y tế xã, phường đang được nâng cấp theo Chuẩn Quốc gia y tế xã để đạt được tiêu chuẩn tối thiểu cơ bản về đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế cơ sở
Trang 26- Các chính sách để thu hút các bác sĩ về làm việc ở vùng sâu, vùng xa chưa đủ sức hấp dẫn họ đến các vùng đó hoặc khuyến khích họ luôn cải thiện chất lượng công tác y tế, thậm chí nhiều bác sĩ tăng cường ở xã đang trở về bệnh viện huyện công tác
- Các kết quả thống kê cho thấy tính kém hiệu quả của hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu trong việc phòng và chữa các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, đặc biệt là trong quản lý điều trị các bệnh không lây nhiễm
1.2.1.2 Một số kết quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Công tác y tế dự phòng đã được đẩy mạnh, nhờ đó đã khống chế thành công dịch SARS; hạn chế bùng phát dịch cúm A H5N1 ở người; phòng chống kịp thời dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm và nhiều bệnh dịch khác góp phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Mạng lưới y tế cơ sở hoạt động rất tích cực về cả y tế dự phòng và điều trị, trong tổng số lượt người dân tiếp cận ngoại trú trạm y tế, gần 40% lượt người liên quan đến tiêm chủng hoặc y tế dự phòng, trên 40% liên quan đến điều trị bệnh của người 6 tuổi trở lên, gần 15% liên quan đến chăm sóc thai sản và điều trị trẻ em dưới 6 tuổi bao gồm phục hồi chức năng, kiểm tra sức khỏe và những dịch vụ khác
* Hoạt động phòng chống sốt rét
Dự án Quốc gia phòng chống sốt rét đã thực hiện đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu của Nhà nước và Bộ Y tế giao [13]: đã ngăn chặn, đẩy lùi được tình hình sốt rét trong phạm vi cả nước, giảm chết, giảm mắc, không để dịch sốt rét xảy ra; vùng sốt rét lưu hành đã được kiểm soát; đã từng bước xây dựng, phát triển các yếu tố bền vững trong phòng chống sốt rét
Kết quả phòng chống sốt rét tính giai đoạn 2005-2009:
- Số dân được bảo vệ vẫn được duy trì ở mức 10 triệu đến 11 triệu người
- Tỷ lệ mắc sốt rét giảm từ 119,4/100.000 xuống còn 70,8/100.000
- Tỷ lệ lam (+) với KST sốt rét giảm từ 0,71% xuống còn 0,57%
Trang 27- Tỷ lệ chết do sốt rét dao động trong khoảng 0,02-0,03/100.000 (khoảng
20 người chết do sốt rét/năm)
- Không xảy ra dịch sốt rét lớn, từ năm 2008 không để xảy ra dịch sốt rét Mặc dù Dự án Phòng chống sốt rét đã đạt được nhiều kết quả, nhưng vẫn đang gặp nhiều khó khăn thách thức Nguy cơ bệnh sốt rét quay trở lại, bùng phát thành dịch vẫn còn Hơn nữa, cần duy trì được các yếu tố bền vững trong phòng chống sốt rét để y tế (đặc biệt là y tế cơ sở) và người dân có thể chủ động giải quyết khi có những biến động của bệnh sốt rét xảy ra
* Hoạt động phòng chống sốt xuất huyết
Trong năm năm qua, hoạt động phòng chống sốt xuất huyết được tăng cường với những thành tựu đáng ghi nhận của dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006-2010 [13] Dự án đã củng cố hoạt động và phát huy được vai trò của Ban chỉ đạo phòng chống sốt xuất huyết đã được thành lập từ năm 1999 ở các cấp từ trung ương tới địa phương, bước đầu đã xã hội hóa được công tác phòng chống sốt xuất huyết và đưa các chỉ tiêu phòng chống sốt xuất huyết thành chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương
Tuy nhiên, vấn đề xã hội hóa công tác phòng chống sốt xuất huyết gặp rất nhiều khó khăn Ở một số địa phương, các cấp chính quyền chưa quan tâm chỉ đạo; việc phối hợp giữa ngành y tế và các ban, ngành, đoàn thể của địa phương thiếu chặt chẽ Các chiến dịch diệt bọ gậy/lăng quăng, mặc dù đã được tổ chức nhưng thiếu sự duy trì của các cấp chính quyền, đặc biệt là tuyến xã/phường, nên chưa thực sự có tính bền vững do chưa huy động được cộng đồng tham gia một cách đầy đủ
* Tiêm chủng mở rộng
Trong thời gian qua, Việt Nam đã chính thức thanh toán được bệnh bại liệt, uốn ván sơ sinh, bệnh phong theo định nghĩa của WHO Đối với các bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc đã giảm, số chết dưới 40 ca (năm 2009) Tuy vậy, số trẻ mắc lao, sởi lại tăng lên vào năm 2009 [11], [13] Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đủ 6 loại vắc xin cơ bản đạt 96,3% năm 2009 Các bệnh
Trang 28lây nhiễm có vắc xin thuộc chương trình TCMR giảm từ 10 đến 100 lần so với trước khi thực hiện chương trình Còn việc tiêm phòng một số bệnh khác như
viêm gan B, viêm não nhật bản và Haemophilus influenzae B, thương hàn đang
triển khai mở rộng dần diện bao phủ Hiện nay, chương trình TCMR đã bổ sung vắc xin viêm gan B và viêm não Nhật Bản vào chương trình TCMR
Tuy nhiên, còn nhiều thách thức lớn cho công tác TCMR Chất lượng dịch
vụ tiêm chủng tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa cao, tỷ lệ tiêm chủng vẫn còn thấp chưa được như mong muốn
* Hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
Mặc dù suy dinh dưỡng trẻ em không phải là một bệnh, song hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ đang là một vấn đề được quan tâm chú ý đặc biệt vì suy dinh dưỡng trẻ em tiềm ẩn nhiều nguy cơ mắc, nhiễm các bệnh nguy hiểm đến tính mạng cho trẻ Ban chỉ đạo Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã được thành lập từ trung ương đến tuyến xã, chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động triển khai Về phạm vi triển khai, đã bao phủ 100% số xã trong toàn quốc Màng lưới triển khai đã được hình thành với các cấp tỉnh, huyện, xã, thôn bản Đến hết năm
2004, tổng số cán bộ y tế chuyên trách tỉnh, huyện, xã là 11.399 cán bộ y tế Tổng số cộng tác viên dinh dưỡng là 91.404 người (bao phủ 95% số thôn bản trong cả nước) [13]
Các hoạt động chủ yếu đã triển khai tại cộng đồng với 8 hoạt động thiết yếu
ở xã/phường bao gồm: thực hiện chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai và cho con bú; thực hiện cho trẻ đẻ ra bú sớm trong nửa giờ đầu và bú hoàn toàn bằng sữa mẹ 6 tháng đầu; hướng dẫn ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú mẹ đến 24 tháng; bổ sung Vitamin A và sắt cho trẻ em và bà mẹ; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tốt hơn trong và sau khi mắc bệnh; chăm sóc, thực hành vệ sinh ở gia đình, ở nhà trẻ và phòng chống nhiễm giun; cân trẻ dưới 2 tuổi hàng tháng để theo dõi tăng trưởng và tổ chức hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông và hướng dẫn thực hành; và tăng cường hoạt
Trang 29động tạo nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng tại chỗ từ Vườn-Ao-Chuồng của hộ gia đình Phổ cập "8 hoạt động dinh dưỡng ở gia đình"
Ngoài ra đã có sự phối hợp liên ngành đã góp phần quan trọng trong việc phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ
Đặc biệt là tiến độ giảm suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân từ 39,0% năm
1998 xuống 18,9% năm 2009, đạt mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 20% vào năm 2010
* Nước sạch và vệ sinh môi trường
Đa số nhân dân đã được cung cấp nước sạch trong sinh hoạt, tỷ lệ chung năm 2009 của toàn quốc là 86,7%; ở Đông Nam bộ là 97,1%, ở Đồng bằng sông Cửu Long là 77,9% Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch, VSMT nông thôn về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra của Chiến lược quốc gia cấp nước và VSMT nông thôn đến năm 2010 Tuy nhiên, tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh chung của toàn quốc mới đạt 54,0% và một số vùng có tỷ lệ này rất thấp như Trung du và miền núi phía Bắc (26,1%), Đồng bằng sông Cửu Long
(42,4%) [11], [13]
Hiện trạng về nước sạch và VSMT đang đặt ra những thách thức rất lớn trong thời gian 2011-2015:
- Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch và tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp
vệ sinh ở nhiều vùng sinh thái còn thấp Thời gian gần đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường, lũ lụt và hạn hán xảy ra ở nhiều địa phương làm cho tình hình nguồn nước càng khó khăn hơn Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng cho cả sản xuất và sinh hoạt, đòi hỏi phải có những biện pháp khẩn cấp và đặc biệt
- Hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân nông thôn còn thấp Số đông ít quan tâm đến vệ sinh, coi đó chỉ là vấn đề cá nhân liên quan đến tiện nghị là chính chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng và sự trong sạch của môi trường
Trang 30- Một số tập quán nguy hại và lạc hậu về giữ gìn vệ sinh vẫn còn tồn tại dai dẳng như sử dụng phân người chưa được xử lý tốt làm phân bón, hoặc làm thức ăn cho cá Thực hành vệ sinh kém nên các bệnh tật phổ biến vẫn thường xuyên xảy ra ở nông thôn, có khi xảy ra dịch lớn như tả, thương hàn, sốt xuất huyết
- Các quy trình nuôi trồng, chế biến thực phẩm ở nhiều nơi còn tùy tiện, không an toàn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về VSMT và sức khỏe Các dịch bệnh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước và môi trường cùng với các thói quen không hợp
vệ sinh có chiều hướng gia tăng
* Tình hình sử dụng dịch vụ y tế
Một thực trạng rất phổ biến hiện nay trong hành vi tìm kiếm các dịch vụ y
tế của người dân là tình trạng tự điều trị Trong khi tỷ lệ không chữa bệnh khá thấp thì tỷ lệ tự điều trị chiếm tỷ lệ rất cao kể cả ở nhóm người giàu, người có thẻ BHYT, tỷ lệ tự điều trị thấp hơn Theo VNHS thì tỷ lệ các đợt ốm tự mua thuốc về chữa chiếm đến khoảng 3/4 số đợt ốm (73%) Tỷ lệ này thấp hơn ở trẻ
em dưới 5 tuổi, nhưng vẫn chiếm khoảng 2/3 số đợt ốm (66,5%) [19]
Trung bình trong một năm số lượt người dân được tiếp xúc với dịch vụ y tế công lập là 280 lượt bình quân 100 người dân, tương đương với dịch vụ y tế tư nhân là 287 lượt bình quân 100 người dân [19] Nhìn chung, người dân sử dụng các cơ sở y tế khác nhau không giống nhau tùy thuộc theo điều kiện kinh tế, địa
lý và các yếu tố ảnh hưởng khác
Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nhà nước thì y tế huyện, xã là nơi đầu tiên người dân có thể tiếp cận khi ốm đau Trong nhiều năm qua công tác khám, chữa bệnh ở tuyến huyện, xã được thực hiện khá tốt, giải quyết một phần gánh nặng cho tuyến trên và đã đem lại hiệu quả cao trong việc đẩy lùi bệnh tật, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, đồng thời mạng lưới y tế tuyến huyện, xã cũng tạo điều kiện giảm chi phí khi ốm đau, đặc biệt là đối với người nghèo Các trạm y tế xã cũng đã chuyển hướng hoạt động, ngoài công tác khám chữa bệnh
Trang 31tại trạm còn chăm sóc sức khỏe tại gia đình Song mạng lưới này còn hạn chế cả
về số lượng, chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất và giá dịch vụ
Điều kiện địa lý có ảnh hưởng đến việc khám chữa bệnh theo tuyến điều trị Nhìn chung người dân sống ở miền núi (không phân biệt điều kiện kinh tế) đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tuyến trên thấp hơn người dân sống ở miền xuôi Người nghèo sống tại miền núi tiếp xúc với y tế tuyến xã và huyện là chủ yếu: khoảng 70% người nghèo sống ở miền núi sử dụng tuyến xã [19]
1.2.2 Công tác kết hợp quân dân y
Ngoài vai trò của mạng lưới y tế xã, trong nhiều năm qua sự phối kết hợp giữa lực lượng quân y và dân y đã đem lại hiệu quả cao trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, hỗ trợ về chuyên môn cho nhân viên y tế thôn bản , đặc biệt là khu vực biên giới, vùng cao Năm 2001, theo Quyết định số 1026/QĐ-TTg [44], Thủ tướng đã phê duyệt dự án Kết hợp quân dân y bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và phục vụ an ninh quốc phòng giai đoạn 2001-2010 Mục tiêu
cụ thể của dự án là: xây dựng và củng cố các trạm, trung tâm y tế quân dân y kết hợp tại các vùng biên giới, hải đảo, đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và bộ đội; xây dựng các lực lượng y tế cơ động có đủ năng lực nhằm đáp ứng kịp thời khi xảy ra thiên tai, thảm họa và các tình huống khẩn cấp; và đề xuất với Chính phủ các cơ chế, chính sách cho các hoạt động kết hợp quân dân y và phát triển nhân lực y tế ở những vùng đặc biệt khó khăn Ngày 16/3/2005, Liên bộ Y tế và Quốc phòng đã ban hành Thông tư 08/2005/TTLB-BYT-BQP [16] hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 25/2004/CT-TTg
về tăng cường công tác KHQDY, trong đó quy định cụ thể thành phần Ban quân dân y các cấp, các chế độ hoạt động Kinh phí bảo đảm cho hoạt động thường xuyên của Ban QDY xã được trích từ ngân sách Nhà nước hàng năm cấp cho sự nghiệp y tế xã Thông tư này là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho việc đẩy mạnh chất lượng và hiệu quả công tác KHQDY
Ngày 17/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã
Trang 32108/2007/QĐ-hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010, trong đó có Dự án kết hợp quân - dân y: bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bộ đội và góp phần củng cố quốc phòng, an ninh ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới
và hải đảo Quyết định này tạo điều kiện thêm về nguồn lực cho thực hiện các hoạt động KHQDY ở một số khu vực trọng điểm [46]
Xác định nhiệm vụ của dự án Kết hợp quân dân y là bám sát khu vực biên giới, hải đảo, khu vực trọng điểm quốc phòng an ninh, trong giai đoạn 2006-
2010, Ban điều hành dự án chỉ đạo hỗ trợ kinh phí và giao cho các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, phối hợp với y tế xã để cải tạo, sửa chữa, nâng cấp,
bổ sung thuốc thiết yếu và trang bị y tế cho 171 trạm y tế xã, bệnh xá quân y, phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu cho đồng bào các dân tộc trong khu vực Sau khi được sửa chữa, nâng cấp nhà trạm và bổ sung thuốc, trang thiết bị y
tế, dự án tiếp tục hỗ trợ kinh phí mua bổ sung thuốc thiết yếu 3 năm tiếp theo phục vụ cho lực lượng quân y, y tế địa phương khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn Thông qua hoạt động kết hợp quân dân y, trình độ chuyên môn của cán bộ quân và dân y được nâng cao, lực lượng quân y được học hỏi thêm kiến thức, kỹ năng về sản, nhi và nắm vững địa bàn; nhân viên y tế xã học thêm về chẩn đoán, điều trị các bệnh lý thông thường và một số xét nghiệm đơn giản phục vụ chẩn đoán bệnh, tăng tình đoàn kết gắn bó giữa hai lực lượng quân y và
y tế địa phương Căn cứ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và lực lượng quân đội, khả năng đáp ứng về nhân lực tại khu vực ATK, biên giới, hải đảo, năm 2010 Ban điều hành dự án đã chỉ đạo hỗ trợ kinh phí đầu tư trang bị y tế cho 5 điểm sáng y tế về KHQDY nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại khu vực này, trong đó có xã Gành Dầu thuộc huyện Phú Quốc [15]
1.2.2.1 Một số kết quả KHQDY trên địa bàn Quân khu 7
Quân khu 7 nằm trên vùng đất miền Đông Nam Bộ, gồm địa bàn của 9 tỉnh, thành phố là các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33huyện và 51 xã biên giới, 358 km bờ biển với 11 huyện và 51 xã ven biển Trong thời kỳ đổi mới, khu tam giác thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bà Rịa Vũng Tàu là trọng điểm kinh tế của các tỉnh phía Nam và của cả nước, luôn giữ vững nhịp độ phát triển cao so với các khu vực khác [52]
Quân khu 7 là đơn vị đầu tiên ở phía Nam triển khai Chương trình y tế số
12 Từ những đặc điểm của địa bàn, nội dung cần ưu tiên thực hiện là thành lập các ban quân dân y và hướng hoạt động vào xây dựng thế trận kết hợp quân dân
y sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến đấu có thể xảy ra ở biên giới Campuchia và các thảm hoạ gây thương vong khác Quân khu đã chọn ra 4 huyện biên giới: Tân Biên, Bến Cầu (tỉnh Tây Ninh), Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) và Đức Huệ (tỉnh Long An) để thí điểm [38]
Để giúp đỡ thiết thực cho các trung tâm y tế huyện và y tế xã nâng cao khả năng sẵn sàng phục vụ chiến đấu, phòng Quân y Quân khu và các ban quân dân y các tỉnh thống nhất sử dụng lực lượng của 3 bệnh viện Quân khu là 7A, 7B và 7C (nay là Bệnh viện quân dân Miền Đông) tổ chức thành đội phẫu thuật tăng cường cho y tế 4 huyện này Bệnh viện 7C tổ chức một đội phẫu thuật 11 người tăng cường cho bệnh viện Bến Cầu Bệnh viện 7A cử một tổ 4 người, có bác sĩ ngoại khoa, gây mê hồi sức, vô trùng và xét nghiệm tăng cường cho bệnh viện huyện Tân Biên Bệnh viện 7B giúp củng cố bệnh viện huyện Đức Huệ và Lộc Ninh Để xây dựng thế trận kết hợp quân dân y sẵn sàng cấp cứu người bị thương ở các xã biên giới, nội dung kết hợp tập trung vào: đào tạo cứu thương, y
tá cho các trung đội dân quân tự vệ, củng cố tổ chức chữ thập đỏ, huấn luyện 5
kỹ thuật cấp cứu, bổ sung trang thiết bị thuốc men cho y tế xã và củng cố y tế xã [38]
Các trạm y tế xã được bổ sung trang bị và thuốc men dùng cho cấp cứu nạn nhân như túi cứu thương, băng cá nhân, nẹp cố định tạm thời gãy xương, cáng cứng Mỗi trạm y tế xã có 4-5 nhân viên, 3 xã có bác sĩ và 36 xã có y sĩ phụ trách Các bệnh viện 4 huyện điểm có sự hỗ trợ của các đội phẫu thuật Quân khu, đã tổ chức lại khoa ngoại, nâng cấp và bổ sung trang bị dụng cụ cho phòng
Trang 34mổ Hoạt động ngoại khoa của các bệnh viện huyện được đẩy mạnh, làm được nhiệm vụ tuyến 3 Các bệnh viện huyện trong năm 1992 đã phẫu thuật 1.463 ca, trong đó có 63 ca loại 1, 317 ca loại 2 và 1.083 ca loại 3 [36]
Việc kết hợp quân dân y nâng cao chất lượng xử trí ngoại khoa ở các bệnh viện huyện biên giới không chỉ có ý nghĩa về mặt sẵn sàng chiến đấu, mà còn củng cố quan hệ đoàn kết quân dân, xây dựng niềm tin trong lòng đồng bào các dân tộc vùng biên giới đối với cách mạng Một số bệnh nhân từ bên kia biên giới cũng tìm sang, xin được điều trị tại bệnh viện huyện của Việt Nam
Không chỉ chú trọng xây dựng công tác y tế quân sự địa phương khu vực phòng thủ, các dự án khác của chương trình 12 cũng được triển khai tốt tại địa bàn Quân khu 7 Trong 10 năm thực hiện chương trình 12, các đơn vị thuộc Quân khu đã giúp củng cố y tế cơ sở của 17 xã thuộc vùng sâu, vùng xa; đã tổ chức 106 đợt khám chữa bệnh cho nhân dân thuộc 84 xã, trong đó có 52 xã thuộc vùng sâu, vùng xa như các xã dân tộc Stiêng thuộc tỉnh Đồng Nai, với 247.371 lượt/người được khám, 4.596 lượt người được cấp cứu, 23.936 lượt/người được điều trị [36] Bên cạnh đó, các trung tâm y tế thành phố Biên Hoà, quận Gò Vấp, bệnh viện Long Khánh, trung tâm y tế Xuân Lộc, bệnh viện
đa khoa các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương đã giúp đỡ cấp cứu điều trị cho bộ đội thuộc các đơn vị đóng quân trên địa bàn
Quân dân y đã phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả lũ lụt: đã có 36 tổ với 183 người thuộc quân y tỉnh và các bệnh viện 7A, 7B, và 7C tham gia khắc phục hậu quả lũ lụt, không chỉ trên địa bàn Quân khu, mà mở rộng sang giúp các tỉnh bạn như Bình Thuận, Lâm Đồng Trong đợt lũ lụt năm 2000, Quân khu 7 đã huy động là 13 tổ quân y cùng 52 cơ
số phòng chống lụt bão, thuốc và hoá chất trị giá 77 triệu đồng; đã khám bệnh và cấp thuốc cho 2.650 lượt người, phun thuốc diệt côn trùng trên diện tích 500.000m2 [36], [38]
Quân y đã đào tạo cho dân y 75 y tá thôn bản từ các chiến sĩ hết hạn nghĩa
Trang 3519.817 lượt người Các cơ sở dân y trên địa bàn Quân khu đã đào tạo cho quân đội 136 nhân viên quân y trung sơ học (có 12 y sĩ, 1 điều dưỡng trung học), bổ túc chuyên môn cho 44 đồng chí, trong đó có 30 bác sĩ bổ túc về ngoại khoa, 2 bác sĩ về gây mê [36]
Các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn Quân khu 7 đã tích cực tham gia thực hiện chương trình 12 Binh đoàn Cửu Long đã giúp đỡ củng cố y tế cơ sở,
cử nhiều tổ quân y tham gia giúp dân trong các tình huống thảm hoạ Bệnh viện quân y 175 và Trung tâm y tế dự phòng phía Nam hàng năm đều có các tổ quân
y tham gia giúp dân phòng chống sốt rét và các dịch bệnh khác
Những cơ sở KHQDY điển hình trên địa bàn là Bệnh viện quân dân Miền Đông (trước đây là Bệnh viện 7C) và Bệnh viện quân dân y huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) Tính đến năm 2010, 2 cơ sở này vẫn hoạt động hiệu quả, đạt được những mục tiêu đề ra [10], [35]
1.2.2.2 Một số kết quả KHQDY trên địa bàn Quân khu 9
Quân khu 9 là địa bàn của 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gồm Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Tiền Giang và Bến Tre Ba tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang có đường biên giới với Campuchia dài 203km, có bờ biển dài 743km Vùng biển có nhiều đảo và quần đảo, có vị trí quan trọng về kinh tế, quân sự, như đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và quần đảo Nam Du
Dân tộc chủ yếu là người Kinh; một bộ phận là người Khơ Me ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh Các đạo giáo như Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa giáo, Phật Giáo có nhiều ảnh hưởng trong vùng Đời sống kinh tế khá hơn nhiều vùng khác trong cả nước, song ở các vùng sâu, vùng xa, dân trí còn thấp, y tế cơ sở yếu, còn nhiều dịch bệnh như sốt rét, các bệnh truyền nhiễm đường tiêu hoá Quân dân y Quân khu 9 có truyền thống kết hợp từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp; truyền thống này tiếp tục được phát triển trong chống Mỹ, trong những năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam
Trang 36Để triển khai thực hiện Chương trình 12, ngay sau Hội nghị kết hợp quân dân y toàn quốc lần thứ nhất (tháng 10/1990), Quân khu đã thành lập “Tổ nghiên cứu nhóm chương trình y tế quốc gia số 12” của Quân khu Do vấn đề còn mới
mẻ, đa số cán bộ trong ngành chưa quen cách hoạt động theo chương trình nên kết quả hoạt động ban đầu chưa cao Tháng 2/1992, Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị 09/TL-CT quy định mỗi đơn vị quân y từ cấp trung đoàn trở lên tổ chức kết nghĩa với một trạm y tế xã
Quân dân y các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã kết hợp chặt chẽ trong công tác phòng chữa bệnh Đội vệ sinh phòng dịch Quân khu, các bệnh viện quân y 120, 121 và các lực lượng quân y khác đã cử hàng trăm tổ quân y về các địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống vệ sinh khoa học; phối hợp với y
tế địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch có hiệu quả như dịch sốt xuất huyết ở Cà Mau, Bến Tre, An Giang tháng 7 năm 1998, dịch tả ở An Giang, Đồng Tháp tháng 10 năm 1998, thương hàn, viêm não Nhật Bản [36]
Tổng cộng trong 10 năm, các đơn vị quân y đã cử 169 tổ với 670 người tham gia các đợt khám chữa bệnh cho dân, chủ yếu tới các xã vùng sâu, vùng xã, với 175.820 người được khám bệnh, cấp cứu cho 1.164 lượt/người và điều trị cho 66.356 người Các bệnh viện của dân y cấp cứu cho 1.988 lượt/bộ đội và điều trị cho 18.172 bộ đội Trung tâm nuôi trồng chế biến dược liệu Đồng Tâm thuộc Quân khu đã điều trị cho 1.159 người bị rắn độc cắn đạt kết quả cao, được nhân dân tín nhiệm [36]
Trong 10 năm, 21 bác sĩ quân y đã được bổ túc rèn luyện tay nghề tại các bệnh viện đa khoa tỉnh, chủ yếu về ngoại khoa; 260 y tá, y sĩ, dược tá, dược sĩ trung học được các địa phương đào tạo cho quân y; Bệnh viện quân y 121 đã tập huấn cho 20 y bác sĩ chuyên khoa tuyến huyện, tham gia giảng dạy tại trường đại học Cần Thơ Ngành quân y đã đào tạo cho các địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ 2.760 y tá thôn, ấp từ các quân nhân sắp
Trang 37hết nghĩa vụ quân sự, 15 y tá trung học, 460 y tá sơ học; 727.000 lượt/người được huấn luyện về 5 kỹ thuật cấp cứu, chủ yếu là dân quân tự vệ [36], [38]
Từ tháng 9/1999, được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế, lớp đào tạo bác sĩ chuyên tu gồm 70 học viên được khai giảng nhằm cung cấp bác sĩ cho tuyến y tế xã các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; lớp học là một mô hình tốt đẹp
về kết hợp quân dân y đào tạo cán bộ y tế có chất lượng cho cơ sở; lớp do ngành quân y Quân khu quản lý, Học viện Quân y phối hợp với trường Đại học Cần Thơ trong giảng dạy [36]
Ở Quân khu 9, trong giai đoạn 2006- 2010, Ban Quân dân y của Quân khu
và 12 tỉnh/thành phố đã được kiện toàn, phối hợp tốt trong phòng chống dịch bệnh, tuyển quân, tuyển sinh quân sự và khám chữa bệnh giúp dân đạt hiệu quả cao Ban Quân dân y cấp huyện, xã ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã được thành lập và kiện toàn: 45 Ban Quân dân y cấp huyện (có huyện đảo Phú Quốc), 15 Ban Quân dân y cấp xã (có 3 xã đảo là An Thới, Gành Dầu, Thổ Chu đều ở huyện Phú Quốc)
Trên địa bàn Quân khu 9 có 5 bệnh viện quân dân y và 7 phòng khám đa khoa quân dân y đều đang hoạt động có hiệu quả với nhiều hình thức cung ứng dịch vụ y tế Các tỉnh/thành phố đều đã có kế hoạch và phương án KHQDY để bảo đảm y tế khi có thiên tai, thảm họa
Một số mô hình KHQDY đạt hiệu quả cao trên địa bàn Quân khu 9:
- Bệnh viện quân dân y Đồng Tháp có quy mô 100 giường bệnh, nhân lực gồm cả quân y (24%) và dân y (76%) Trong 5 năm (2006-2010) đã khám bệnh cho trên 60.000 lượt, thu dung trên 9.200 lượt, trong đó bệnh nhân quân chiếm 10%, bệnh nhân dân chiếm 90%; bệnh viện đã thực hiện 2.612 ca trung phẫu, chủ yếu là cho nhân dân
- Bệnh viện đa khoa khu vực KHQDY tỉnh Vĩnh Long được thành lập và
đi vào hoạt động từ tháng 7/2003 Đây là bệnh viện hạng 3, quy mô 30 giường
và 4 khoa (lâm sàng, cận lâm sàng) Tính bình quân trong giai đoạn 2006-2010, hàng năm bệnh viện khám cho trên 14.000 lượt, nhận điều trị trên 1.000 lượt
Trang 38Tuy nhiên, bệnh viện cũng còn gặp nhiều khó khăn về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động [9]
- Phòng khám đa khoa quân dân y Giồng Găng được thành lập và hoạt động dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đồng Tháp và Bộ Tư lệnh Quân khu 9, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ và công tác y tế quốc phòng của Ban quân dân y tỉnh, trực tiếp là của Ban quân dân y huyện Tân Hồng Ngày 10/04/2003, được sự đồng ý và uỷ quyền của Chủ tịch UBND tỉnh, Giám đốc Sở
Y tế Đồng Tháp đã có Quyết định số 177/QĐ-SYT.TCCB về việc thành lập Phòng khám đa khoa quân dân y khu vực Giồng Găng Đồng thời, Ban quân dân
y tỉnh cũng đã ban hành quy chế hoạt động của Phòng khám đa khoa quân dân y khu vực Giồng Găng Trong giai đoạn 2006-2010, Phòng khám đã khám bệnh cho 134.009 lượt, trong đó, đối tượng bảo hiểm là 21.515 [5]
1.2.2.3 Một số kết quả KHQDY chăm sóc sức khoẻ nhân dân và bộ đội ở khu vực biển- đảo
Bộ đội biên phòng là một binh chủng đặc biệt của lực lượng vũ trang, với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, trực tiếp quản lý gần 8.000km biên giới bộ và biển-đảo Kết hợp quân dân y với bộ đội biên phòng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị của đơn vị Nhân dân cần được bộ đội biên phòng giúp đỡ khi y tế cơ sở địa phương còn yếu và thiếu Nhiệm vụ nặng, song khả năng của quân y biên phòng lại có hạn Mỗi đồn biên phòng chỉ có một y sĩ
và 1-2 y tá, quản lý một vùng biên giới rộng lớn gồm nhiều xã, dân thưa, các thôn bản cách nhau có khi tới 2-3 ngày đường đi bộ
Ngày 17 tháng 9 năm 1992, Bộ Y tế có công văn số 5991/TCLĐ về việc phối hợp với quân y bộ đội biên phòng Nội dung công văn yêu cầu các Sở Y tế chủ động tổ chức tốt việc kết hợp quân dân y biên phòng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở các xã biên giới, chú trọng những nơi mà y tế cơ sở còn yếu, bao gồm cả việc y tế địa phương được giao thuốc và hoá chất cho quân y biên phòng
để chăm sóc sức khoẻ nhân dân; việc cấp cứu điều trị cho chiến sĩ biên phòng tại
Trang 39các bệnh viện tỉnh, huyện của dân y; việc các trường trung học y tế tỉnh hỗ trợ cho quân y biên phòng trong việc đào tạo bổ túc cán bộ chuyên môn
Để củng cố y tế cơ sở, tại hầu hết các xã có đồn biên phòng đã thành lập Ban kết hợp quân dân y cụm dân cư, thành phần gồm chỉ huy đồn biên phòng, cán bộ quân y và đại diện cấp uỷ, chính quyền, y tế và các đoàn thể địa phương Ban kết hợp quân dân y cụm dân cư ở biên giới đang là tổ chức phát huy tốt hiệu quả của kết hợp tác quân dân y Các hình thức quân y giúp củng cố y tế cơ sở được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau: giúp củng cố toàn diện tại 13 xã; tổ chức phòng khám kết hợp quân dân y tại 23 xã; khám chữa bệnh cho dân tại đồn biên phòng ở 156 đồn vùng núi; quân y làm nhiệm vụ y tế cơ sở tại 238 xã; quân
y giúp y tế cơ sở trên từng mặt công tác tại 481 xã Ngược lại, các bệnh viện tỉnh, huyện tham gia chữa bệnh cho bộ đội biên phòng: số lượt cán bộ chiến sĩ biên phòng được điều trị tại các bệnh viện của dân y gần bằng số lượt được điều trị tại các bệnh viện quân đội [36], [38]
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, chạy suốt từ Bắc vào Nam Vùng biển, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, với hàng nghìn đảo và quần đảo, gần và xa bờ, như đảo Bạch Long Vỹ, quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu Vùng biển hình thành ba khu vực địa lý với những đặc điểm khác nhau là: vịnh Bắc Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan, có nguồn hải sản phong phú, là nguồn lợi lớn
Vào những năm 1990, nhiều vùng đảo và quần đảo, do thưa dân hoặc không có dân, nên chưa có tổ chức y tế Trong các trường hợp xảy ra thảm hoạ trên biển đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều lực lượng để tìm kiếm và cứu người bị nạn Kết hợp quân dân y trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân và lực lượng quân đội ở vùng biển đảo là một yêu cầu khách quan Ngay từ những năm đầu tiên triển khai Chương trình 12, y tế nhiều địa phương đã kết hợp tốt với quân y ở vùng đảo như tại các đảo tỉnh Quảng Ninh, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc
Trang 40Nhằm góp phần thực hiện chiến lược sức khoẻ đến năm 2000, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, chiến lược nghiên cứu và khai thác biển Đông, trong những năm 1997-1998, hai Bộ Y tế và Quốc phòng tổ chức xây dựng mô hình kết hợp quân dân y nhằm chăm sóc sức khoẻ nhân dân
và lực lượng quân đội trên một số đảo, quần đảo thuộc lãnh hải Việt Nam Kết hợp quân dân y ở vùng đảo có nhiều dạng khác nhau, có nơi là kết hợp giữa hai lực lượng, có nơi lực lượng quân y làm chủ hoặc đảm nhiệm toàn bộ công tác y
tế, có nơi dân y làm chủ
Tại các đảo vùng Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh, các tổ phẫu thuật của quân y Quân khu 3 tăng cường cho đảo kết hợp với y tế đảo triển khai thành bệnh xá kết hợp quân dân y đảo Tại huyện đảo Bạch Long Vỹ, thuộc thành phố Hải Phòng, Bệnh xá trung đoàn 952 Hải quân tham gia việc khám chữa bệnh cho nhân dân trên đảo và ngư dân đánh bắt cá trong khu vực [38]
Tại huyện đảo Trường Sa, gồm nhiều đảo ở vùng biển Đông cách xa bờ hàng trăm hải lý, chỉ có lực lượng quân y (của Quân chủng Hải quân và các bệnh viện quân đội tăng cường cho Hải quân) triển khai nhằm bảo vệ sức khoẻ cho các lực lượng quân đội trên đảo và một số đối tượng khác như cán bộ nhân viên khí tượng, hải đăng, xí nghiệp xây dựng đảo, ngư dân đánh cá trong khu vực Bệnh xá quân y được triển khai ở 9 đảo nổi, làm được nhiệm vụ y tế tuyến
1, tuyến 2 và một phần tuyến 3; tại một số đảo chìm có biên chế nhân viên quân
y, làm được nhiệm vụ tuyến 2 Các trường hợp bệnh cấp tính, các ca cấp cứu đều được xử trí 100% trước khi gửi về đất liền hoặc điều trị đến khỏi tại đảo; các trường hợp cần xử trí ngoại khoa như cấp cứu viêm ruột thừa đã được giải quyết tốt tại đảo, các trường hợp bệnh nội khoa phải chuyển về đất liền giảm, các tai nạn được cấp cứu trên đảo kịp thời, an toàn [55]
Tại huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Trung tâm y tế kết hợp quân dân y được xây dựng từ tháng 10/1997, cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm từng bước được nâng cấp, cán bộ nhân viên y tế được củng cố nên đã thu dung