Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu
Trang 1Tiểu luận
Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện
cơ chế lạm phát mục tiêu*
Trang 2Mục Lục
Tóm tắt 4
1 Giới thiệu: 6
2 Ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu và vai trò của CBI: 6
2.1 Dữ liệu 11
2.2 Tóm tắt thống kê: 11
3 Kết quả: 13
3.1 Chi tiết về lạm phát trong nền kinh tế đang nổi lên: 22
3.2 Kiểm tra mức độ chắc chắn: 23
4 Các kênh (Channel) 25
4.1 Các kênh tiềm năng khác: 28
5 Kết luận: 30
Tài liệu tham khảo 31
Bảng 1: 31
Bảng 2: 36
Bảng 3: 37
Bảng 4: 38
Bảng 5: 39
Bảng 6: 40
Bảng 7: 41
Bảng 8: 42
Bảng 9: 43
Bảng 10: 44
Bảng 11: 45
Bảng A1: 46
Bảng A2: 47
Trang 3Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện
Trang 4Tóm tắt
Bài viết này xem xét lợi ích của lạm phát mục tiêu trong nền kinh tế phát triển và mới nổi Chúng tôi không tìm ra các ảnh hưởng đáng kể trong nền kinh tế phát triển và mới nổi, đồng nhất với nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, khi chúng tôi phân biệt tác động của lạm phát mục tiêu dựa trên mức độ độc lập của ngân hàng trung ương, chúng tôi tìm thấy ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế mới nổi với sự độc lập của ngân hàng trung ương thấp Do đó, kết quả của chúng tôi chỉ ra rằng mức độ độc lập của ngân hàng trung ương không phải là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công lạm phát mục tiêu Ngoài ra, chúng tôi cung cấp bằng chứng là có một kênh nhờ vào lạm phát mục tiêu làm thấp đi lạm phát nhiều hơn ở những nước có mức độ độc lập của ngân hàng trung ương thấp đó là sự giảm của thâm hụt ngân sách tiếp theo sau sự chấp nhận một mức lạm phát mục tiêu
Nhóm JEL: E52; E58
Từ khóa: Lạm phát mục tiêu; Sự độc lập của ngân hàng trung ương
* Chúng tôi rất biết ơn Ricardo D Brito và Brianne Bystedt về việc cung cấp cho chúng tôi với dữ liệu của họ
** Thông tin tương ứng với tác giả: 315 Converse Hall, Amherst College, Amherst, MA 01002-5000 Phone: (413) 542-5032 Fax: (413) 542-2090 Email: ahonig@amherst.edu
Trang 5Bản điện tử tại: http://ssrn.com/abstract=1850835
Trang 61 Giới thiệu:
Ngày càng nhiều quốc gia quyết định chọn lạm phát mục tiêu (IT) như là chiến lược chính sách tiền tệ Xu hướng này bắt đầu vào đầu những năm 90 với một số ít các nền kinh tế phát triển Khoảng đầu những năm 1990, một số quốc gia công nghiệp nữa cũng theo, cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, ngân hàng trung ương trong những nền kinh tế mới nổi bắt đầu áp dụng lạm phát mục tiêu (IT) Hiện tại có 8 nước thuộc nền kinh tế phát triển và 13 nước thuộc nền kinh tế mới nổi đang áp dụng chính sách tiền tệ này Ngân hàng trung ương - ngân hàng thực hiện khuôn khổ chính sách tiền tệ mới này - đã làm vì nhận thức được lợi ích Lợi ích đó bao gồm việc đạt được lạm phát thấp hơn và sự biến đổi lạm phát, trong khi vẫn giữ đủ tính linh hoạt để phản ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và khả năng ổn định sản lượng đầu ra Những quốc gia có thị trường mới nổi đang tìm kiếm cái neo danh nghĩa mà không có sự bất ổn liên quan với chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Vì số lượng các nước đã áp dụng lạm phát mục tiêu đang có xu hướng tăng lên, có tài liệu để xác định thực nghiệm ảnh hưởng lạm phát mục tiêu đến lạm phát trung bình ( INFL), biến động lạm phát (sdINFL), tăng trưởng trung bình (GROWTH), và biến động tăng trưởng (sd GROWTH) Nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp (c.f Ball and Sheridan, 2005) và nhìn chung, chỉ tìm thấy bằng chứng yếu ớt mà lạm phát mục tiêu cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô Nhiều nghiên cứu gần đây bao gồm các nền kinh tế mới nổi và xu hướng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ hơn về tác động tác động tích cực (Batini and Laxton, 2007; Gonçalves and Salles, 2008; Lin and Ye, 2009; Mishkin and Schmidt - Hebbel, 2007) Tuy nhiên, Brito and Bystedt (2010), sử dụng hệ thống ước lượng như đối xứng với sử dụng ước lượng khác biệt trong khác biệt thông thường, Ball and Sheridan (2005) đạt được kết quả khác, họ tìm thấy sự hỗ trợ yếu hơn
về ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu lên lạm phát trung bình, biến đổi lạm phát, và biến đổi tăng trưởng và cung cấp bằng chứng mà tăng trưởng trung bình thấp hơn lạm phát
Trang 7mục tiêu Khảo sát lý thuyết, Ball (2010) nói rằng bằng chứng về tác dụng có lợi của lạm phát mục tiêu trong các nền kinh tế mới, trong khi mạnh mẽ hơn trong các nước phát triển, không phải kết luận
Trong bài này, chúng tôi cố gắng giải thích việc thiếu bằng chứng mạnh bằng cách lập luận rằng tất cả các nền kinh tế mới nổi không giống nhau và rằng lạm phát mục tiêu (IT) có thể hiệu quả hơn trong 1 vài nước khác Đặc biệt, ngân hàng trung ương khác nhau về mức độ độc lập và điều này có thể tương tác với chế độ lạm phát mục tiêu tạo
ra kết quả khác nhau về kinh tế vĩ mô Có thể vậy do đó, khi sự phân biệt này không được thực hiện, kết quả kết luận về tác dụng của lạm phát mục tiêu trong một tập con của những nước bị suy yếu bởi các nước có lạm phát mục tiêu không có hiệu lực
Có quan điểm đối nghịch rằng liệu sự độc lập của ngân hàng trung ương (CBI) làm cho chế độ lạm phát mục tiêu hiệu quả nhiều hơn hoặc ít hơn Một mặt, ngân hàng trung ương tự chủ có thể là điều kiện tiên quyết cho lạm phát mục tiêu thành công (Mishkin, 2000; 2004; Eichengreen et al., 1999; Friedman and Ötker-Robe, 2010) Ví dụ như, lạm phát mục tiêu có thể không hiệu quả để làm cho lạm phát thấp nếu ngân hàng trung ương có thể bị áp lực về mặt chính trị để hạ tỉ lệ thất nghiệp hay tạo thêm tiền để giảm thâm hụt tài chính Tương tự như vậy, độc lập của ngân hàng trung ương thấp có thể hàm ý rằng những điều kiện đầu mất đi là tốt Điều này bao gồm ưu tiên về mục tiêu lạm phát như mục tiêu của chính sách tiền tệ, hạn chế sự thống trị về tài khóa, hạn chế
đô la hoá, và thông tin ngân hàng trung ương hiệu quả, minh bạch và có trách nhiệm (Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe, 2010)[1] Trong trường hợp này, lạm phát mục tiêu (IT) sẽ có hiệu quả thấp trong môi trường ngân hàng trung ương độc lập thấp (CBI) Chúng tôi gọi đây là “Hiệu ứng điều kiện tiên quyết” Tuy nhiên, một số quan điểm cho rằng trong thực tế đó có phải là điều kiện tiên quyết cho thành công của
IT hay không? Chắc chắn hầu hết sẽ đồng ý rằng những yếu tố này làm cho bất kỳ chế
độ tiền tệ nào thành công hơn
Trang 8[1] Chúng tôi thảo luận các điều kiện tiên quyết khác sau đó – mà Sự độc lập của ngân hàng trung ương (CBI) có thể được tương quan, nhưng ít có khả năng để có một ảnh hưởng trên quan hệ nhân quả
Hơn nữa, còn có 1 số tranh luận cho rằng lạm phát mục tiêu có thể thúc đẩy sự phát triển của một số tính năng này (Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe, 2009; Mishkin, 1999) Do đó, lạm phát mục tiêu (IT) có thể thành công hơn so với các chinh sách tiền tệ khác khi những yếu tố này đang thiếu và có nhiều cách để cải thiện Trong phạm vi những yếu tố này đang thiếu ở nước có CBI thấp, chúng ta có thể mong đợi hiệu ứng lớn hơn của lạm phát mục tiêu tại nước có CBI thấp Chúng tôi gọi đây là
"hiệu ứng nâng cao" CBI Ngược lại, khi đã có các tính năng này thì có ít tác động
để lạm phát mục tiêu có thể nâng cao
Một ví dụ khác của hiệu ứng này, CBI thấp có thể bao hàm sự tín nhiệm ngân hàng trung ương yếu kém và không giữ được lạm phát kỳ vọng, cho thấy rằng lạm phát mục tiêu có thể có một tác động lớn trong khi đó nếu một ngân hàng trung ương có uy tín (Bernanke et al, 1999; Mishkin, 1999; Svensson năm 1997), không cần độ tin cậy và neo đậu của những kỳ vọng lạm phát mà đi kèm lạm phát mục tiêu (Ball, 2010,
ứng mạnh mẽ của lạm phát mục tiêu ở các nước không có ngân hàng trung ương độc lập
Hiệu quả của CBI thấp do hiệu quả của lạm phát mục tiêu thì phụ thuộc vào sức mạnh tương đối và những tác động khác, cải thiện bằng cách phân tích thực nghiệm tác dụng của CBI về việc thực hiện chế độ, chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ cuộc tranh luận này Theo kết quả, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng về tác dụng có lợi của lạm phát mục tiêu ở các nước tiên tiến hoặc các quốc gia đang nổi lên với CBI
triển với mức độ CBI thấp Những kết quả nghi ngờ về quan điểm cho rằng CBI là
Trang 9một điều kiện cần thiết cho lạm phát mục tiêu có hiệu quả Hoàn toàn trái ngược, lạm phát mục tiêu chỉ có hiệu quả khi các ngân hàng trung ương không phải là độc lập, cho thấy tác dụng cải thiện là quan trọng hơn hiệu ứng điều kiện tiên quyết Do đó, hàm
ý của chính sách là các nền kinh tế mới nổi không nên chờ đợi cho CBI lớn hơn trước khi áp dụng lạm phát mục tiêu như là một chiến lược chính sách tiền tệ Sau đó, chúng tôi điều tra các kênh có CBI thấp tại các nền kinh tế mới nổi và qua đó hiệu quả của lạm phát mục tiêu tăng trong việc giảm lạm phát Đặc biệt, chúng ta xem xét một vài khía cạnh cùng các nước có CBI thấp có nhiều cải tiến so với các nước có CBI cao sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu Ví dụ, thông qua lạm phát mục tiêu
có thể mang lại một hiệu quả lớn hơn trên thực tế hoặc tăng CBI cho các quốc gia CBI thấp như các chính trị gia được giao trong cam kết của họ để làm cho lạm phát thấp (Mishkin, 1999; Batini vàLaxton, 2007) Liên quan đến điều này, và có lẽ quan trọng hơn, lạm phát mục tiêu có thể mang về kỷ luật tài chính lớn hơn và giảm thâm hụt ngân sách quốc gia có CBI thấp, kể từ khi tiếp tục tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua việc tài trợ tiền sẽ gây nguy hiểm cho việc đạt được các lạm phát mục tiêu (IMF, 2006) Lạm phát mục tiêu cũng có thể dẫn đến giảm đô la hóa, tăng cường hiệu lực của chính sách tiền tệ và khả năng làm cho lạm phát thấp hơn (Mishkin, 2003)
Lạm phát mục tiêu cũng được kết hợp với những cải tiến nhanh chóng trong cơ cấu thông qua các ngân hàng trung ương (Batini và Laxton, 2007) và thông tin liên lạc tăng lên, minh bạch và trách nhiệm giải trình (Mishkin và Schmidt -Hebbel, 2001)
Mặc dù, chúng ta có thể không xác định riêng tất cả các kênh do hạn chế dữ liệu, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy sự suy giảm trong thâm hụt ngân sách như là một kênh quan trọng Đặc biệt, có một sự giảm đáng kể thâm hụt ngân sách ở các nước CIB thấp sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu, nhiều hơn so với các nước có CBI cao
và khi chúng tôi kiểm soát thâm hụt ngân sách trong hồi quy chuẩn, chúng tôi không còn thấy rằng lạm phát mục tiêu có hiệu quả ở nước có CBI thấp
Trang 10Ngược lại, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng rằng đô la hóa và phát triển tài chính được coi là kênh quan trọng mà qua đó CBI thấp cải thiện biểu hiện của lạm phát Phần còn lại của bài được tổ chức như sau:
Phần 2: Giới thiệu các dữ liệu và phương trình hồi quy chuẩn để kiểm tra hiệu quả của lạm phát mục tiêu vào kinh tế vĩ mô, hiệu suất và vai trò của CBI
Phần 3: Trình bày các kết quả và “robustest” kiểm tra
Phần 4: Phân tích các “channel” tiềm ẩn mà theo đó lạm phát mục tiêu tác động đến biểu hiện của lạm phát
Phần 5: Kết luận
2 Ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu và vai trò của CBI:
Trong khía cạnh này, chúng tôi giới thiệu mô hình chuẩn và dữ liệu được sử dụng để kiểm tra lại ảnh hưởng của IT trong kinh tế vĩ mô và vai trò của CBI Chúng tôi xem
xét mô hình hồi quy của chỉ số đầu ra của kinh tế vĩ mô, Y, trên độ trễ của chính nó, biến giả IT, IT và một số biến kiểm soát Các yếu tố chuẩn được đưa ra như sau:
i: chỉ số quốc gia, t: chỉ số thời gian Các biến kiểm soát bao gồm đo lường sự độc lập của ngân hàng trung ương, CBI, tương tác của IT với CBI, các biến giả cho thấy lạm phát cao, HIGHINFL Mối liên hệ giữa IT*CBI cho thấy sự ảnh hưởng IT lên tình hình kinh tế vĩ mô bị phụ thuộc vào CBI Như đã thảo luận ở trên, CBI có thể làm cho IT có hiệu quả phụ thuộc nhiều hơn hay ít hơn trên sức mạnh tương đối của các hiệu ứng tiên quyết và dần được cải thiện, do đó, hệ số về thuật ngữ tương tác là mơ hồ, cuối cùng t
là yếu tố thời gian và tiêu chuẩn quốc gia cụ thể về sai số
Trang 11Để tạo điều kiện so sánh với kết quả trước đây và để tách được các thông tin được cung cấp bằng thước đo CBI, chúng tôi sử dụng cùng phương trình hồi quy (ngoại trừ CBI và phần tương tác) và thủ tục ước tính tương tự như Brito anh Bystedt (2010) Vì vậy chúng tôi dự định sử dụng mô hình ước tính hệ thống được phát triển bởi Arellano and Bover (1995) và Blundell và Bond(1998)
2.1 Dữ liệu:
Dữ liệu từ năm 1980 đến 2006 Theo Brito và Bystedt (2010), chúng tôi tính trung bình
ba năm làm dữ liệu và kết quả trong mẫu với 9 kỳ Điều này làm giảm đi số lượng sử dụng, mà là bậc 2 trong T và cũng cung cấp “sự thỏa hiệp hợp lý giữa thời gian đủ cho
sự phản hồi chậm chạp của các biến vĩ mô và phân chia các kết quả xử lý IT từ kết quả của các sự kiện xảy ra trong trạng thái gần nhất” Mẫu bao gồm tất cả các nước rằng đã đáp ứng IT trong suốt các kỳ mẫu tốt như là các nhóm không có mục tiêu Thời kỳ không mục tiêu và thời kỳ trước khi có mục tiêu được xem như là điều kiện Chúng tôi
sử dụng tập hợp các nền kinh tế mới nổi bao gồm cả có mục tiêu và không có mục tiêu, nhưng Brito và Bustedt (2010), họ đã sử dụng sự kết hợp mẫu của Batini và Laxton (2007) và Goncalves và Salles (2008) Sự khác nhau duy nhất là 2 quốc gia không có
dữ liệu trên CBI và chúng tôi chỉ có 44 nền kinh té mới nổi đã đối lập với 46 Trong hồi quy riêng, chúng tôi mở rộng mẫu và bao gồm các nền kinh tế phát triển Nhóm 22 nền kinh tế đã phát triển là từ Ball (2010) Các mẫu kết hợp trước đó nữa là gồm 66 nước
Như các tiêu chuẩn nghiên cứu, chúng tôi xác định ảnh hưởng của IT lên 4 nhân tố của kinh tế vĩ mô mục tiêu là lạm phát, sản lượng tăng trưởng, độ lệch chuẩn của lạm phát
và độ lệch chuẩn của sản lương tăng trưởng, Thước đo lạm phát và tăng trưởng sản lượng được đo trong mối tương quan kết hợp CPI và GDP thực (nhân với 100) Với phương pháp và độ lệch chuẩn sau đó được tính với mỗi thời kỳ 3 năm Việc kết hợp trên một phần làm giảm ảnh hưởng của giá trị biến ngoại lai
Trang 12Thời kỳ áp dụng IT đối với các nước kinh tế phát triển được lấy từ nghiên cứu của Ball (2010), thời kỳ áp dụng IT cho các nền kinh tế mới nổi được lấy từ nghiên cứu của Brito anh Bystedt (2010), họ sử dụng dữ liệu của Batini và Laxton (2007)
Biến IT giả định một giá trị trong một khoảng thời gian ba năm, nếu một chế
độ IT diễn ra trong cả ba năm của thời kỳ này, nó được thiết lập bằng hai phần ba hoặc một phần ba, nếu một chế độ IT được diễn ra cho chỉ hai năm hoặc một năm Chúng ta
có thể làm sáng tỏ các hệ số của biến IT, như sau: IT quốc gia cộng hoặc trừ lạm phát ít hơn không có mục tiêu (bỏ qua sự tác động qua lại) hay là tương đương nếu IT quốc gia có thể giảm lạm phát trên trung bình %
Với phương pháp của CBI, chúng tôi xem xét các chỉ số CBI ở Cukierman et al (1992), dựa trên các khía cạnh pháp lý độc lập (LEGAL) – số này càng cao thì mức độ độc lập của ngân hàng trung ương càng cao và tỷ lệ thay đổi các thống đốc của ngân hàng trung ương (TURNOVER) – số này càng cao thì mức độc lập của ngân hàng trung ương càng thấp Các chỉ số có sẵn cho đến năm 1989 của cả các nền kinh tế đang phát triển và đã phát triển, giả định 1 giá trị cho một thâp kỷ Họ đã đo từ 0 đến 1 với CBI cao hơn cho chỉ số LEGAL và CBI thấp hơn cho chỉ số TURNOVER
Chỉ số pháp lý được mở rộng đến năm 2002 cho 24 quốc gia Mỹ La Tinh và Caribbean bởi Jacome và Vazquez (2005), họ cũng đã cộng thêm một vài quốc gia vào mẫu và đến
1999 đối với các nước phát triển bởi Siklos (2008) Chỉ số TURNOVER được bổ sung thêm với dữ liệu sau 1990 từ Crowe và Meade (2007) và Dreher et al (2008)
Có ba điểm đáng chú ý liên quan đến các chỉ số này
Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, không phải các quốc gia theo đuổi IT đều có một CBI cao và có sự thay đổi đáng kể trong các biến của CBI, chúng có thể được khai thác để xác định được vai trò của CBI
Thứ hai, phương pháp này cung cấp thông tin bổ sung về CBI ngoài công cụ độc lập Như đã thảo luận trong Batini and Laxton (2007), hầu hết ngân hàng trung ương đã có
Trang 13ít nhất công cụ độc lập ngay thời điểm thông qua (IT) lạm phát mục tiêu.[7] Tuy nhiên,
nhiều thứ bị thiếu trong những khía cạnh khác của (CBI) mà được phản ánh qua các biện pháp pháp lý, bao gồm sự tự do về nghĩa vụ mua nợ chính phủ, tầm quan trọng của lạm phát trong những mục tiêu khác, và mức độ cao về an ninh việc làm với thống đốc ngân hàng trung ương (Batini and Laxton, 2007) Thêm vào đó, thước do “turnover” cung cấp thông tin an ninh việc làm cho thống đốc Thứ ba, vấn đề tiềm ẩn với biện pháp luật pháp là những gì được viết ra trong luật có thể rất khác nhau với thực tế Điều này đúng với nền kinh tế mới nổi Tương tự như thế, công cụ độc lập không bao hàm sự độc lập trên thực tế Tóm lại, Cukierman, et al (1992) lập luận thước đo “turnover” thích hợp cho nền kinh tế mới nổi hơn biện pháp pháp lý, trong khi đối với các nước phát triển, biện pháp pháp lý biểu thị rõ về (CBI) sự độc lập của ngân hàng trung ương Những vấn đề này được thảo luận thêm trong phần 3 và 4
Cuối cùng, theo lý thuyết chúng tôi bao gồm một biến giả HIGHINFL đã chỉ ra lạm phát trung bình cao (>40%) trong thời gian kiểm soát biến động kinh tế vĩ mô mà có thể khác nhau trong những nước có lạm phát cao (Brito and Bystedt, 2010; Batini and Laxton, 2007; IMF, 2006) Chúng tôi cũng thử nghiệm với việc loại bỏ lạm phát cao trong mục 3.1
2.2 Tóm tắt thống kê:
Tổng hợp thống kê cho tất cả các quan sát, các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi được cung cấp trong bảng 1 Thời gian mẫu 1980-2006, được chia thành giai đoạn 3 năm Có 66 nước; 22 nước có nền kinh tế phát triển, và 44 nước nền kinh tế mới nổi
[7] : Tính độc lập của công cụ tài chính xảy ra khi ngân hàng trung ương có toàn quyền thiết lâp ông cụ chính sách, thường là lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn, để đạt được mục tiêu chính sách đề ra Sự độc lập trong mục tiêu mà ngân hàng trung ương thiết lập mục tiêu chính sách như lạm phát mục tiêu là điều không phổ biến, thậm chí ở các nước phát triển
(Debelle and Fischer, 1994)
Trang 14Các nước kinh tế phát triển chiếm 27% cuộc điều tra Cả các nền kinh tế đã phát triển
và mới nổi có lạm phát mục tiêu khoảng 13% Mặc dù hơi bất ngờ, các quốc gia mới nổi có tỷ lệ thay đổi TURNOVER của từng thống đốc ngân hàng trung ương cao, cao hơn mức trung bình của CBI Điều nó nhấn mạnh rằng thước đo luật pháp không phản ánh chính xác CBI ở các nền kinh tế mới nổi, như Cukierman, et al (1992) Các nền kinh tế mới nổi có tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng đầu ra cao Họ cũng đã có kinh nghiệm về thời kỳ siêu lạm phát như là tối đa hóa giá trị của lạm phát
Bảng 2 trình bày tóm tắt thông tin thống kê được phân theo loại hình quốc gia (phát triển và mới nổi), chế độ tiền tệ (có mục tiêu và không có mục tiêu, được xác định bằng biến lạm phát mục tiêu), và sau đó là bằng thời gian (trước và trong lạm phát mục tiêu) Đối với các quốc gia đã phát triển (mới nổi) không có mục tiêu, lạm phát mục tiêu trung bình thông qua các nước đã phát triển (mới nổi), 1995 (1999), được sử dụng để chia mẫu Theo các nước phát triển, thời kỳ lạm phát mục tiêu được kết hợp với lạm phát thấp, phát triển cao và lạm phát thấp, đầu ra không ổn định Tuy nhiên, điều này cũng thấy ở các nước không theo đuổi lạm phát mục tiêu mặc dù vậy sự chênh lệch là không nhiều
Mô hình tương tự cho nền kinh tế mới nổi, mặc dù thời gian được cải tiến cho mục tiêu
là đáng kể hơn so với không có mục tiêu Theo ví dụ, kinh nghiệm của nền kinh tế mới nổi có mục tiêu giảm so với lạm phát trung bình của 10%, trong khi không có mục tiêu
là ở điểm 4% Điều này được gợi lại cho kết quả trước đây trong các tài liệu thu thập được từ các tài liệu bằng cách ước tính khác nhau trong sự khác biệt Tuy nhiên, theo lạm phát trung bình trước và sau lạm phát mục tiêu có thể gây hiểu lầm và có thể phóng đại các lợi ích của lạm phát mục tiêu Như đã chỉ ra bởi Brito và Bystedt (2010), kinh nghiệm mục tiêu có lạm phát trung bình cao hơn không có mục tiêu từ sau năm 1980
và đạt được giữa 1990 Trước lạm phát mục tiêu với lạm phát thấp hơn không có mục tiêu Mô hình lạm phát này có thể gây ra vấn đề ước tính khác nhau trong sự khác biệt
là được đặt trên sự khác nhau của lạm phát trước và sau lạm phát mục tiêu Cuối cùng,
Trang 15bảng 2 chỉ ra rằng các nền kinh tế mới nổi bắt đầu bằng lạm phát trung bình cao và lạm phát biến động, kinh nghiệm giảm mạnh hơn trong các biến hơn là kinh tế đã phát triển
Trong bảng 3, chúng tôi giới hạn chú ý các nền kinh tế mới nổi và trình bày trên cơ sở chế độ tiền tệ, thời kỳ, và mức độ của CBI là sử dụng tỷ lệ thay đổi TURNOVER như
là đại diện Trong một khía cạnh nào đó, chúng tôi trình bày tóm tắt các thông tin thống
kê cho TURNOVER dưới và trên 0,26 Như đã mô tả ở phần kết quả TURNOVER là 0,26 phù hợp với mức độ chia cắt, ảnh hưởng đến lạm phát trung bình được xác định ở mức 10% Nó cũng có giá trị ý nghĩa cho TURNOVER (trung bình là 0,2) Với mục tiêu là TURNOVER thấp/ CBI cao Lạm phát trung bình rớt xuống mức 11 (8%) sau lạm phát mục tiêu Trong khi không có mục tiêu rớt xuống ở điểm 8 (4%) Theo mục tiêu với TURNOVER >= 0,26 lạm phát trung bình rớt xuống mức 55 (20%), trong khi không có mục tiêu rớt xuống mức 22 (5%) Do đó, các quốc gia có TURNOVER cao /CBI thấp có sự sụt giảm lớn hơn trong lạm phát bất kể chế độ tiền tệ hơn các quốc gia
có CBI cao Thứ hai, giữ CBI không đổi, Nước targeter thì tăng trưởng trong tương lai hơn là Non-targeter Thứ 3, sự khác nhau trong cải tiến giữa có mục tiêu và không có mục tiêu lớn hơn cho các nước CBI thấp Do đó, đối với lạm phát trung bình, bằng chứng sơ bộ cho thấy rằng lạm phát mục tiêu thấp hơn lạm phát, liên quan đến chế độ tiền tệ, trong các quốc gia CBI thấp
Lưu ý rằng, một mô hình tương tự có thể cho thấy TURNOVER và ngân sách thâm hụt Đặc biệt, cả TURNOVER và thâm hụt ngân sách cũng không làm thay đổi sự gia tăng nhiều hay ít của các quốc gia có CBI cao, bất kể rằng có lạm phát mục tiêu hay không, Theo các quốc gia CBI thấp, nó làm giảm thâm hụt ngân sách cho cả có mục tiêu hay không mục tiêu, nhưng giảm trung bình cho mục tiêu (từ thâm hụt 3,2% đến thặng dư 0,1%) lớn hơn đáng kể so với sự sụt giảm của không có mục tiêu ( từ 1,1% thâm hụt thành 0,8% thặng dư) Điều này phù hợp với giả thuyết rằng lạm phát mục tiêu kéo chinh phủ trong các quốc gia CBI thấp tăng kỷ luật tài khóa, làm giảm sự cần thiết cho tài trợ của thâm hụt ngân sách thông qua việc tạo ra tiền, làm giảm tỷ lệ làm phát trung
Trang 16bình như trong kết luận Ngoài ra, TURNOVER giảm trong các quốc gia CBI thấp theo lạm phát mục tiêu nhưng gia tăng nhẹ trong các quốc gia CBI cao Ở phần 4, chúng tôi
dự định làm giảm thâm hụt ngân sách và cải thiện mức đô của CBI như là kênh quan trọng thông qua lạm phát mục tiêu là thành công trong việc giảm lạm phát của quốc gia CBI thấp
Đối với mục tiêu TURNOVER thấp/CBI cao, biến động lạm phát trung bình rớt xuống
3 (1%) sau lạm phát mục tiêu Trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 4 (2%) Với mục tiêu TURNOVER >=0,26, biến động lạm phát trung bình rớt xuống điểm 19 (3%), trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 7 (2%) Như với lạm phát trung bình, kinh nghiệm của các quốc gia có TURNOVER cao/CBI thấp, giảm lớn hơn trong biến động lạm phát bất kể chế độ tiền tệ hơn là có mục tiêu, trong khi các quốc gia có TURNOVER cao, ngược lại là đúng Vì vậy mục tiêu lạm phát tốt hơn, liên quan đến chế độ tiền tệ khác trong các quốc gia CBI thấp
Đối với mục tiêu TURNOVER thấp/CBI cao, sự tăng trưởng trung bình tăng ở điểm 1 (1,2%) sau lạm phát mục tiêu trong khi không có mục tiêu tăng 1,2 (1%) Với mục tiêu TURNOVER >=0,26, tăng trưởng trung bình tăng ở điểm 0,6 (1,4%), trong khi không
có mục tiêu tăng ở điểm 0,4 (1,4%) Vì vậy kết quả chỉ ra rằng kinh nghiệm có mục tiêu hay không có mục tiêu tăng tương tự trong tăng trưởng và cải thiện không đang kể với mức CBI Cuối cùng, mục tiêu TURNOVER thấp, CBI cao, biến động tăng trưởng trung bình rớt xuống diểm 1,3 (8%), trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 1,8 (1,1%)
Đối với mục tiêu TURNOVER cao, phát triển trung bình (điểm giữa) rơi không ổn định xuống 1.2 (1.6) % điểm, trong khi đó đối với không mục tiêu thì rơi xuống 0.5 (0.65%) điểm Vì vậy, đối với các quốc gia có TURNOVER thấp hơn, không mục tiêu khẳng định nhỉnh hơn qua thời gian so với mục tiêu, trong khi điều ngược lại thì đúng cho các
Trang 17quốc gia có doanh số cao Các chứng cứ sơ bộ vì thế cho rằng lạm phát mục tiêu thể hiện tốt hơn, cân đối với các chế độ khác, trong các quốc gia có CBI thấp
Bảng 4 thể hiện sự tương quan của các mẫu cho mẫu chung, các nền kinh tế phát triển
và các nền kinh tế mới nổi IT tương quan với lạm phát trung bình thấp hơn, biến động lạm phát, và phát triển không ổn định cho cả hai nền kinh tế phát triển và nổi trội Nó tương quan với sự phát triển thấp hơn ở mẫu đầy đủ và các nền kinh tế mới nổi nhưng lại tương quan sự phát triển cao hơn ở các nền kinh tế phát triển Như mong đợi, LEGAL và TURNOVER cho ra kết quả tương quan nghịch biến Hơn nữa, lạm phát và lạm phát không ổn định thể hiện sự tương quan nghịch biến với LEGAL cho cả hai nhóm, trong khi chúng lại tương quan với TURNOVER cho nền kinh tế mới nổi, như
đã cho rằng như vậy Tuy nhiên, đối với nền kinh tế phát triển, dấu hiệu của sự tương quan giữa lạm phát và lạm phát không ổn định với TURNOVER cho ra kết quả tương quan nghịch biến, không như mong đợi Như đã thảo luận trong Cukierman (1992), TURNOVER không phải là thước đo tốt cho CBI ở các nền kinh tế phát triển, trong khi LEGAL không ngụ ý thể hiện CBI ở các nền kinh tế mới nổi Chúng ta trở lại với phát biểu này trong phần kết quả
3 Kết quả:
Bảng 5 trình bày kết quả từ ước lượng của phương trình (1) mà không có chỉ số CBI như là một so sánh với những phát hiện trước đó Tuy nhiên,chúng tôi hạn chế các mẫu
tôi, chúng tôi xem cả biến IT và biến CBI cùng với các biến phụ thuộc trễ như là các biến hồi quy được xác định trước (mặc dù không hoàn toàn ngoại sinh) Vì vậy, chúng tôi giả định rằng lạm phát hiện nay không ảnh hưởng đến việc thực hiện IT mặc dù lạm phát quá khứ có thể Trong phần 3.2, chúng tôi thử nghiệm với việc xem các biến IT và CBI là nội sinh.9 Biến giả HIGHINF được xem như là một biến nội sinh trong tất cả các phép hồi quy
Trang 18Kết quả chỉ ra rằng IT liên quan đến chế độ tiền tệ khác,kéo lạm phát trung bình trong mẫu tổng thể xuống 1.7%, 0.34% ở các nước tiên tiến (nhưng không đáng kể), và 2% trong nền kinh tế đang nổi lên (p-value = 0.11 ) Kết quả cho cả nền kinh tế phát triển
và nền kinh tế đang nổi lên đều phù hợp với phần lớn các nghiên cứu trước đây Trong khi IT được mong đợi làm giảm biến động lạm phát (Cecchetti và Ehrmann, năm 2002), cột 4 - 6 trong bảng phía trên cho thấy IT không có một tác động đáng kể Kết quả này cho các nền kinh tế mới nổi là phù hợp với Brito và Bystedt (2010) nhưng không phù hợp Lin và Ye (2009) và Batini và Laxton (2007), những người tìm ra rằng IT làm giảm biến động lạm phát Các tác dụng không đáng kể đối với các nền kinh tế phát triểnlà phù hợp Ball (2010)
Trong bảng dưới cùng, IT làm giảm tốc độ tăng trưởng trung bình trong mẫu đầy đủ cho nền kinh tế mới nổi, nhưng tăng tăng trưởng cho nền kinh tế phát triển Kết quả cho nền kinh tế mới nổi là phù hợp Brito và Bystedt (2010), nhưng kết quả cho nền kinh tế phát triển là trái ngược với Ball (2010), người tìm thấy nó không có ảnh hưởng trong nền kinh tế phát triển Cột 4 - 6 trong bảng dưới cùng chỉ ra rằng IT có tác động ngược chiều nhưng không đáng kể về biến động tăng trưởng trong mẫu đầy đủ (p-value = 0.14) và cho nền kinh tế mới nổi (p-value = 0,24) nhưng hiệu quả cùng chiều và không đáng kể đối với các nền kinh tế phát triển Kết quả cho nền kinh tế mới nổi là tương tự như Brito và Bystedt (2010), Batini và Laxton (2007), và Goncalves và Salles (2008), những người tìm thấy một tác động ngược chiều và đáng kể Kết quả cho nền kinh tế phát triển là phù hợp với Ball (2010), người tìm thấy một hệ số cùng chiều nhưng không đáng kể.1
18
Ví dụ, các kết quả cho nền kinh tế mới nổi rất gần với cột 5 Bảng 3 và 4 trong Brito và Bystedt (2010) Sự khác biệt duy nhất là hai quốc gia của họ đã không có dữ liệu về Turnover Ngoài ra, các quốc gia với các dữ liệu về Turnover không nhất thiết phải có dữ liệu cho tất cả các thời kỳ, kết quả trong một tổn thất hơn nữa của các quan sát
Trang 19Cuối cùng, HIGHINFL kết hợp cùng chiều với lạm phát trung bình, biến động lạm phát, và sự biến động tăng trưởng cao hơn, nhưng tăng trưởng bình quân thấp hơn Đối với nền kinh tế phát triển, biến được bỏ qua do cộng tuyến vì chỉ có một quốc gia trải qua một thời kỳ lạm phát cao
Bảng 6 thể hiện kết quả ước tính từ phương trình (1) với lạm phát trung bình là biến phụ thuộc mà chúng tôi bao gồm CBI và tương tác của nó với IT Chúng tôi cung cấp kết quả cho mẫu đầy đủ, các quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới nổi sử dụng hoặc LEGAL hoặc TURNOVER làm thước đo CBI Để kiểm tra hiệu quả của IT, chúng tôi sử dụng hệ số của IT và hệ số IT*CBI Trong mẫu đầy đủ có định rõ (1) kết quả đưa đến là IT không ảnh hưởng gì đến lạm phát, bất chấp sự độc lập luật pháp Tuy nhiên mẫu đầy đủ chỉ rõ (2), hệ số IT*TURNOVER lại phủ nhận và quan trọng, đưa đến là IT hiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát ở những quốc gia có mức TURNOVER cao hơn Cụ thể là, tác động của IT lên lạm phát là 36.3% điểm khác với các quốc gia có mức TURNOVER cao nhất so với các quốc gia có mức thấp nhất, các quốc gia khác bằng nhau.Tính toán xa hơn tiết lộ là tác động của IT là phủ định quan trọng nhưng chỉ đối với các quốc gia TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0.26, cao hơn chút ít so với mức trung bình của mẫu đầy đủ Kích thước của ảnh hưởng dự đoán lên lạm phát trung bình khi TURNOVER bằng 0.26 xấp xỉ -3% điểm Ảnh hưởng này gia tăng khi TURNOVER gia tăng đến tối đa là -29.9% điểm đối với quốc gia với TURNOVER bằng với 1 Vì vậy tác động của IT lên lạm phát trung bình trong mẫu thử đầy đủ phụ thuộc vào mức độ CBI Tác động này là bằng chứng, tuy nhiên, chỉ khi chúng tôi sử dụng TURNOVER làm thước đo CBI Chúng tôi sẽ giải thích ngắn tại sao tình hướng như vậy
9
Các số liệu thống kê tóm tắt trong bảng 2 cho thấy rằng các nước đang lạm phát cao hơn có nhiều khả năng áp dụng IT, cho thấy khả năng phản hồi, có lẽ với một độ trễ Do đó, chúng tôi xem IT như là một biến được xác định trước (hoặc như là một biến nội sinh như là một kiểm tra thực nghiệm) thay vì một biến ngoại sinh
Trang 20Đối với các nước tiên tiến, IT không có một tác động đáng kể cho tất cả các giá trị của LEGAL trong cột (3) và TURNOVER trong cột (4) Đối với nền kinh tế đang nổi (5),
IT không có tác động đáng kể đến lạm phát đối với bất kỳ giá trị của quy phạm pháp luật Ngoài ra, hệ số IT*LEGAL là không đáng kể, ngụ ý rằng tất cả, pháp lý độc lập không làm thay đổi tác động của IT đối với lạm phát Kết quả đặc tả (6), tuy nhiên, hàm
ý rằng tác động của IT khác nhau 57% trong nước với mức TURNOVER cao nhất so với mức thấp nhất, tất cả các khoản khác bằng nhau (chúng tôi thảo luận về các hệ số này và sự hiện diện của tác động bên ngoài tại Mục 3.1) Cụ thể, hiệu quả của IT là có ý nghĩa tích cực ở cấp độ 10% với TURNOVER ít hơn hoặc bằng 0,06 (4 quốc gia và 11 quan sát) Ngược lại, hiệu quả là đáng kể tiêu cực ở mức 10% khi TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0,26 (25 quốc gia và 114 quan sát), mà là mức trung bình đối với các nền kinh tế mới nổi Đối với các quan sát với TURNOVER ở giữa 0,06 và 0,26 (34 quốc gia, 175 quan sát), IT không có ảnh hưởng đáng kể Điều này được mô tả trong Hình 1, trong đó trình bày các hiệu ứng biên của IT trên lạm phát trong nền kinh tế mới nổi cho các giá trị khác nhau của TURNOVER và sự tự tin 90% khoảng thời gian
Để tóm tắt, kết quả đặc tả (6) có nghĩa là, IT không có ảnh hưởng đáng kể khi TURNOVER ít hơn 0,26 nhưng đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm lạm phát liên quan đến chế độ tiền tệ cho số lượng lớn các nền kinh tế mới nổi với Turnover trên 0,26 Kích thước của các tác động dự đoán về lạm phát khi TURNOVER bằng 0,26 là -4,6% Hiệu ứng này phát triển như TURNOVER tăng đến tối đa là 46,6% khi Turnover tương đương với 1
Cuối cùng, các hệ số của quy phạm pháp luật, chính nó là không đáng kể trong cả ba mẫu Các hệ số Turnover, chính nó có dấu hiệu dự đoán tích cực và có ý nghĩa quan trọng trong toàn mẫu và đối với các nền kinh tế đang nổi lên, ngụ ý rằng CBI thấp có liên quan với lạm phát cao hơn Chú ý, tuy nhiên, đối với mẫu đầy đủ và nền kinh tế mới nổi, các hệ số của TURNOVER và IT*TURNOVER tương đương về độ lớn nhưng
Trang 21có dấu hiệu ngược lại Điều này chỉ ra rằng IT là có thể trung hòa tác động của CBI thấp lên lạm phát
Như đã đề cập ở trên, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy IT làm giảm lạm phát tương đối so với các chế độ khác trong mẫu đầy đủ khi chúng ta sử dụng Turnover như
là một biến CBI, nhưng không đúng khi chúng ta sử dụng quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật không có tác dụng đối với các nước tiên tiến, mà dường như không được hưởng lợi từ IT Nó cũng không hiệu quả cho các nền kinh tế mới nổi, mặc dù có nhiều lợi ích từ IT, có lẽ vì các biện pháp pháp lý độc lập không chính xác ở các nước mới nổi (Cukierman, et al.1992) Trong khi đó, Turnover có tác dụng mạnh mẽ trong nền kinh tế mới nổi, nhưng nhỏ hơn và có ý nghĩa thống kê yếu hơn (mặc dù vẫn còn đáng kể) có hiệu lực trong mẫu đầy đủ Sự sụt giảm trong độ lớn và ý nghĩa với đầy đủ các mẫu có thể được giải thích bởi thực tế rằng một số các nước tiên tiến có tỷ lệ Turnover cao hơn so với các nước đang phát triển, nhưng vẫn không chịu những tác động mang lại lợi ích của IT Cukierman, và cộng sự (1992) lập luận rằng biện pháp này là ít chỉ dẫn của CBI cho các nước tiên tiến hơn so với các biện pháp pháp lý Trong các mẫu đầy đủ, hiệu quả của Turnover, mặc dù yếu hơn, vẫn còn đáng kể Lý do
là các nước tiên tiến có tỷ lệ Turnover thấp hơn trên các tác động trung bình và nhỏ hơn của IT so với các nền kinh tế mới nổi, trong khi các nền kinh tế đang nổi lên với tỷ lệ Turnover cao cho thấy sự giảm lớn hơn trong lạm phát so với những nước với tỷ lệ Turnover thấp.(11)
Bảng 7 trình bày kết quả từ dự toán của phương trình (1) với biến động lạm phát là biến phụ thuộc Bất kể giá trị của pháp lý hay Turnover, hiệu quả của IT không có tác động đáng kể trong mẫu đầy đủ và cho nền kinh tế mới nổi Đối với nền kinh tế tiên tiến, tuy nhiên, IT làm tăng đáng kể biến động lạm phát đối với pháp luật lớn hơn hoặc bằng 0,51 (trên trung bình của 0,42) (CBI cao) Kích thước của các tác động dự đoán biến
(11)
Lời giải thích này tương tự như trong Cukierman và cộng sự (1992): Tại sao Turnover là quan trọng trong giải thích lạm phát trung bình cho các nước đang phát triển và tất cả các mẫu, mặc dù nó không phải là quan trọng cho các nước công nghiệp
Trang 22động lạm phát khoảng từ 0,9% (quy phạm pháp luật bằng 0,51) đến 3.7 (quy phạm pháp luật bằng 1,0) Vì vậy IT trong các nền kinh tế tiên tiến có CBI dẫn đến một sự gia tăng tương đối biến động lạm phát so với các nước có CBI thấp Không có hiệu lực trong nền kinh tế tiên tiến cho tất cả các giá trị của Turnover
Bảng 8 trình bày các kết quả từ dự toán của phương trình (1) với tốc độ tăng trưởng trung bình là biến phụ thuộc Trong các mẫu đầy đủ, IT có liên quan với mức tăng trưởng thấp hơn trong nước CBI thấp khi chúng tôi sử dụng Turnover là biện pháp của CBI Cụ thể, IT đã không có hiệu lực cho tất cả các giá trị của Quy phạm pháp luật nhưng có một ảnh hưởng tiêu cực đáng kể cho Turnover lớn hơn 0,21 Ở các nền kinh
tế tiên tiến, hiệu quả của IT là tích cực và quan trọng đối với quy phạm pháp luật giữa 0,22 và 0,46, với sự gia tăng tăng trưởng từ 1,5 đến 1,0 % Hiệu ứng này là không đáng
kể với tất cả các giá trị của Turnover Đối với nền kinh tế đang nổi lên, ảnh hưởng của
IT là không đáng kể cho tất cả giá trị của quy phạm pháp luật Tuy nhiên, hiệu quả là tiêu cực đáng kể đối với Turnover lớn hơn hoặc tương đương với 0,13 Hiệu ứng này dao động từ -0,9% khi Turnover bằng 0,13 - 4.3 % khi Turnover tương đương với 1 Vì vậy một số lượng lớn nền kinh tế tiên tiến với CBI thấp được hưởng tăng trưởng cao hơn với các chế độ khác như là kết quả của IT, trong khi một số lượng lớn của các nền kinh tế mới nổi với CBI thấp tăng trưởng thấp hơn Lưu ý rằng lạm phát danh nghĩa cao vẫn được tính đến trong dự toán để so sánh dễ dàng hơn với các nghiên cứu trước đã bao gồm biến này và bởi vì lạm phát cao có thể tác động đến tăng trưởng trong thực tế Bảng 9 trình bày các kết quả từ dự toán của phương trình (1) với sự biến động tăng trưởng là biến phụ thuộc Đối với mẫu đầy đủ, IT có một tác động nhỏ nhưng với ý nghĩa tiêu cực cho giá trị rất thấp của Turnover Đối với nền kinh tế phát triển, IT có một tác động nhỏ với ý nghĩa tích cực đối với giá trị trung gian của quy phạm pháp luật Đối với các nền kinh tế mới nổi, không có tác dụng của luật pháp hay Turnover
3.1 Chi tiết về lạm phát trong nền kinh tế đang nổi lên:
Trang 23Các hệ số lớn IT, TURNOVER và IT*TURNOVER trong cột (6) Bảng 6 cho thấy rằng các quan sát lạm phát cao có thể có ảnh hưởng trong việc thúc đẩy các kết quả, mặc dù bao gồm các lạm phát cao giả Tiếp theo, chúng tôi giới hạn sự chú ý đến TURNOVER như là một đơn vị đo lường của CBI bởi vì như đã thảo luận chúng tôi không tìm thấy bằng chứng rằng IT ảnh hưởng đến lạm phát bằng cách sử dụng LEGAL, biến không phản ánh chính xác CBI cho các nền kinh tế mới nổi Trong bảng 10, chúng tôi trình bày kết quả bỏ qua quan sát với lạm phát lớn hơn 100% hoặc 40% Bỏ qua lạm phát lớn hơn 100% (40%) làm mất đi 23 (56) mẫu quan sát Kết quả là tương tự nhưng ít hơn đáng kể hơn so với những báo cáo trong Bảng 5 và 6 Đặc biệt, trong cột (1), nơi chúng tôi hạn chế lạm phát ít hơn 100%, hệ số IT* TURNOVER là không đáng kể, mặc dù chúng tôi vẫn còn tìm thấy rằng tác động tổng thể của IT là tiêu cực và đáng kể khi TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0.25 Dự đoán về kích thước của các tác động trên lạm phát khi TURNOVER bằng 0,25 là -1,4% Tác động này càng lớn lên cụ thể TURNOVER tăng lên tối đa là -8,6% khi TURNOVER tương đương với một
Khi chúng tôi hạn chế lạm phát dưới 40% trong cột (2), hệ số IT * TURNOVER lại là tiêu cực nhưng không đáng kể Hơn nữa, tác động của IT là nhỏ và không đáng kể cho tất cả các giá trị của TURNOVER Điều này cho thấy rằng quan sát lạm phát cao có ảnh hưởng trong việc thúc đẩy kết quả Điều này là không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng
ta thấy trong hồi quy điểm chuẩn của chúng tôi thì ảnh hưởng mạnh nhất của IT trong các nước có CBI thấp là tỷ lệ lạm phát cao hơn nhiều trước khi IT thông qua Như đã thảo luận sau đó, những tỷ lệ lạm phát cao có nhiều khả năng là kết quả của thâm hụt tài chính, xảy ra trong môi trường CBI thấp Loại bỏ những mẫu quan sát có IT hiệu quả nhất
3.2 Kiểm tra mức độ chắc chắn:
Chúng tôi tiến hành một số thử nghiệm nhằm kiểm tra mức độ chắc chắn của kết quả đạt được Trong bảng 6-10, chúng tôi xem như IT được định trước Tuy nhiên vẫn xảy