Lạm phát kỳ vọng và Chính sách tiền tệ ở Ấn Độ Khám phá thực nghiệm
Trang 1Lạm phát kỳ vọng và Chính sách tiền tệ ở
Ấn Độ: Khám phá
thực nghiệm Michael Debarata Patra và Partha Ray
£ t
WP/10/84
IMF Working Paper
Trang 2IMF Working Paper Office of the Executive Director Lạm phát kỳ vọng và Chính sách tiền tệ ở Ấn Độ: Khám phá thực nghiệm
Thực hiện bởi Michael Debabrata Patra và Partha Ray Bản quyền phân phối thuộc về Arviin Virmani
Tháng 3/2010 Giới thiệu
Bài nghiên cứu này không mang tính đại diện cho quan điểm của IMF Quan điểm
trong Bài nghiên cứu này thuộc về (các) tác giả và không đại diện cho quan điểm của IMF và chính sách của IMF Bài nghiên cứu thể hiện quá trình nghiên cứu của (các) tác giả và được xuất bản nhằm đưa ra các nhận định và cần tranh luận thêm
Bài nghiên cứu này theo hướng sử dụng các kỹ thuật tính toán chuyên sâu để tính lạm phát ở tương lai, dựa trên việc tìm kiếm các yếu tố quyết định của lạm phát kỳ vọng bằng cách ước tính theo đường cong Phillips theo thuyết Keynes mới được xây dựng trên các đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, lập trường của chính sách tiền tệ và tài khóa, chi phí biên tế, và các cú sốc ngoại sinh Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng lạm phát cao
và không ngừng gia tăng dễ dàng ăn sâu vào dự đoán của người dân về lạm phát trong tương lai, khó thay đổi Ngày nay, chính sách tiền tệ nhằm ứng phó với lạm phát được tin cậy hơn là biện pháp lập tức cắt giảm trong thời kỳ tăng trưởng nóng
Trang 3I Dẫn nhập 1
II Nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát ở Ấn Độ trong thời gian gần đây 3
Dấu vết của lạm phát kỳ vọng: quy định của luật chơi 8
III Phương pháp luận 9
Đo lường lạm phát kỳ vọng tại Ấn Độ: Một cách tiếp cận thực tế 11
Các yếu tố ảnh hưởng lạm phát kỳ vọng 13
IV Kết quả ước lượng 16
Đặc trưng chuỗi thời gian các biến 19
Các yếu tố quyết định lạm phát kỳ vọng 19
Đó có phải là phương trình kết hợp? 23
V Kết luận 24
Bảng biểu Bảng 1: Kết quả hồi quy phương trình lạm phát kỳ vọng 17
Bảng 2: Thống kê mô tả hiệu quả mô hình 18
Bảng 3: Kiểm định Roots và bậc tích phân 19
Bảng 4: Kiểm định các biến phụ thuộc trên cơ sở mô hình lạm phát kỳ vọng 23
Bảng 5: Kiểm định biến phụ thuộc Consensus Expectations 23
Bảng 6: Kết quả theo phương pháp Engle-Granger 24
Bảng 7: Các biến trong mô hình xác định lạm phát kỳ vọng 27
Bảng 8: Các biến trong mô hình xác định lạm phát kỳ vọng theo Consensus Expectations 28
Bảng 9: Kiểm định đồng liên kết vector LR theo Maximal Eigenvalue 29
Bảng 10: Kiểm định đồng liên kết vector LR theo Trace of Stochastic Matrix 29
Trang 4Đồ thị
Đồ thị 1: Consumer price inflation 5
Đồ thị 2: Biến động WPI và lạm phát CPI 6
Đồ thị 3: Lạm phát thực tế và mô phỏng (PI) 17
Đồ thị 4: Dự báo lạm phát của Consensus và lạm phát thực tế (tháng) 18
Đồ thị 5: Phản ứng đột xuất đối với thay đổi trong lãi suất thực 21
Phụ lục Phụ lục I: yếu tố xác định lạm phát kỳ vọng 27
Phụ lục II: đồng liên kết vetor lạm phát kỳ vọng và các yếu tố quyết định 29
Trang 5I Dẫn nhập
Trong vài tháng trở lại đây, những tín hiệu phục hồi trở lại từ cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đã rộng mở hơn Nỗ lực ngăn chặn đà suy giảm được dẫn dắt từ sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế khu vực Châu Á, mà ở đó các nền kinh tế riêng biệt đều
có những xuất phát điểm khác nhau trong một chu kì, ví dụ Ấn Độ và Trung Quốc cho thấy sự phục hồi theo hình chữ V Trong lúc, các nhà đánh phân tích kinh tế đang đánh giá xem liệu có hay không điều tồi tệ nhất cũng đã trôi qua, thì có sự đồng tình rằng các biện pháp “giải cứu” dường như giảm đi và không còn mạnh mẽ như trước, tình trạng thất nghiệp và tín dụng đã được kiềm chế, ít nhất là trong giai đoạn gần đây Tuy nhiên, sự phục hồi này đang đứng trước một thách thức lớn Đó chính là sự trở lại mạnh mẽ của lạm phát, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển, và điều này đã dấy lên nỗi lo về một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ sớm được thực hiện và khi đó sự tăng trưởng kinh tế – vốn đang khá mong manh – lại bị bóp chặt trở lại
Sự bùng phát trở lại của lạm pháp đang đặt ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ trên thế giới – “vấn đề nan giải nhất hiện nay trong kinh tế học” (Samuelson, 2009) Tình trạng lạm phát thấp với nỗi lo suy thoái đang hiện diện ở một số lĩnh vực và sự trì trệ hiện rõ trong hoạt động kinh tế đã tạo ra lí do hợp lý để tiếp tục chính sách tiền tệ có sự linh hoạt cao Cùng lúc đó, nỗi lo sợ về mầm mống của lạm phát tương lai sẽ trở lại khi thanh khoản dư thừa Và điều này này là lý
do hợp lý ủng hộ cho việc kết thúc sớm những kế hoạch/chiến lược linh hoạt ở trên Bài học trong quá khứ về tình huống này chính là “vấn đề thuộc về tâm lý” Kì vọng hình thành theo cách mà những bộ phận/thành phần trong nền kinh tế ứng xử Nếu họ
lo ngại về lạm phát, họ sẽ hành động theo cách này hoặc cách khác mà chính những điều này đã gây ra lạm phát Chiều ngược lại cũng đúng trong giai đoạn cuối những năm 1940
Tại Ấn Độ, có lẽ rõ ràng hơn những nơi khác, tình huống khó xử này căng thẳng như nằm trên cạnh một chiếc “dao cạo” Khi mà chỉ số giá bán sỉ (WPI) đã tăng từ mức khoảng 1% vào tháng 10/2009 lên mức 9,9% vào tháng 2/2010, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã và đang tăng mạnh lên hai con số do sự đắt đỏ của giá lương thực kéo dài suốt hơn một năm Lạm phát hai con số cũng xuất hiện trong rổ thực phẩm của chỉ số
Trang 6WPI Chỉ số các loại hàng hóa là thực phầm tăng 17,8% trong thời gian chưa đến một năm (tính tại tháng 2/2010) Chỉ số giá các loại hàng hóa thiết yếu, chiếm 22,03% trong rổ WPI, đã tăng đến 15,5%, ngang ngửa với các loại thực phẩm Điều đáng lo ngại là sự gia tăng giá cả hàng hóa lại xảy trong trong môi trường dư thừa thanh khoản
và nó có thể được cho là có nguồn gốc từ những phản ứng về các chính sách trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tháng 9/2008, khi mà những thị trường tài chính nội địa bị ảnh hưởng/mắc kẹt do tác động của sự phát triển toàn cầu và đóng băng thanh khoản (Subbarao, 2008a, 2008b, 2009a và 2009b phần mô tả về tác động của cuộc khủng hoảng đối với Ấn Độ và các chính sách tương ứng)
Giá cả thực phẩm tăng lên là sự tác động qua lại của những yếu tố mang tính cấu trúc
và chu kì Mặc dù áp lực lạm phát từ sự gia tăng trong giá cả lương thực có thể giới hạn quy mô ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, nhưng có những dấu hiệu cho thấy lạm phát kỳ vọng nếu áp lực giá cả vẫn tiếp tục tồn tại Nếu nỗi lo lạm phát được biến thành kì vọng, không sớm thì muộn, chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với tình huống tiến thoái trên Điều này đòi hỏi sự điều hành thận trọng trong việc đánh đổi giữa hai mục tiêu: nhu cầu tăng trưởng đòi hỏi chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài nhưng những
lo lắng về lạm phát thì đòi hỏi sự kết thúc nhanh hơn Một sự kết thúc nhanh chóng do nỗi lo lạm phát lại gia tăng rủi ro mất đi sự tăng trưởng vốn còn mong manh (chưa vững chắc), trong khi đó một trì hoãn có thể gia tăng thêm lạm phát kỳ vọng (Subbarao, 2009c) Một sự đánh đổi, được thiết lập để đạt được tăng trưởng rõ nét hơn,
đã thúc đẩy (GDP) để khép lại ở mức tăng 8% trong quý III/2009 Và cùng lúc đó, mọi
ý kiến cũng thống nhất cho rằng lạm phát sẽ tăng trở lại từ mức thấp hiện nay lên với mức tương xứng (khoảng 8%) vào đầu năm 2010, nếu không sớm hơn Vấn đề đặt ra là chính sách tiền tệ nên phản ứng như thế nào và lúc nào khi mà các chỉ số đánh giá lạm phát có những biến động mạnh theo chiều hướng tăng trở lại?
Nội dung của bài nghiên cứu này chủ yếu bàn về những gì mà chúng ta nghĩ về lạm phát và yếu tố tác động đến ứng xử của chúng ta về vấn đề này Mặc dù, bài nghiên cứu chỉ tập trung trong phạm vi Ấn Độ, nhưng các phân tích và kết quả thu nhận được chứa đựng giá trị tổng quát để có để áp dụng tốt trong những trường hợp tương tự ở các quốc gia đang phát triển Phần tiếp theo của bài nghiên cứu được bố cục thàng 4
Trang 7phần mà đầu tiên là giới thiệu một số thực tế điển hình về động lực của lạm phát ở Ấn
Độ và sau đó chuyển sang phần phân tích – định lượng lạm phát kỳ vọng và chỉ ra những yếu tố tác động – theo sau đó là đề xuất chính sách tiền tệ phù hợp với kết quả thu nhận được từ mô hình kiểm định lạm phát kỳ vọng Ở mỗi phần, bài nghiên cứu chỉ ra những đóng góp quan trọng trước đó Phần kết luận được trình bày trong phần cuối của bài nghiên cứu
II Nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát ở Ấn Độ trong thời gian gần đây
Biến động trong WPI, được xem như chỉ số giá của các doanh nghiệp sản xuất, được theo dõi vì những mục tiêu liên quan đến chính sách, và được xem như một công cụ chỉ báo về lạm phát ở Ấn Độ Việc sử dụng chỉ số này, có vẻ như mâu thuẫn với việc dùng CPI để đánh giá lạm phát theo thông lệ quốc tế, nhưng WPI vẫn được sử dụng và theo dõi rộng rãi (với 447 hàng hóa và chiếm tới 57% là sản xuất), và chỉ số này được cập nhật một cách thường xuyên và kịp thời (từ tháng 10/2009, chỉ số WPI được thông báo hàng tháng và cho đến gần đây, chỉ số này được thông báo hàng tuần như chỉ số cơ bản, cùng với các chỉ số về thực phẩm và nhiên liệu) Những công bố về chỉ số WPI được các thị trường tài chính theo dõi rất sát sao và những công bố lãi suất tham khảo,
từ đó tác động đến những dự đoán về hành động trong chính sách tiền tệ tiếp theo Trong thời kỳ trước, ý tưởng này đưa ra cơ hội rất hay cho việc rút ra những chỉ báo thị trường cơ bản cho lạm phát kỳ vọng CPI được tính trên bốn khu vực khác nhau của
xã hội – công nhân công nghiệp, người lao động khu vực thành thị, lao động lĩnh vực nông nghiệp, người lao động khu vực nông thôn, được phân biệt trên cơ sở khác nhau trên những rổ tiêu dùng bình quân, và nó là quan trọng nhằm mục đích chỉ số hóa cho nhiều loại thu nhập và tiền lương kiếm được Biến động trong chỉ số CPI tác động nhiều đến các hộ gia đình vì phần lớn thu nhập chi tiêu cho thực phẩm (chiếm 40-70 phần trăm trên tổng chỉ số) và những hàng hóa thiết yếu Tuy nhiên, mức độ đại diện
và chất lượng của chỉ tiêu CPI là một vấn đề cần được kiểm nghiệm, ví dụ CPI cho công nhân lĩnh vực công nghiệp chỉ bao gồm 260 hàng hóa có liên quan tới chỉ số WPI Theo ngân hàng trung ương ở Ấn Độ, ngân hàng dự trữ quốc gia Ấn Độ (RBI), tính hiệu quả của các loại chỉ số giá đã thất bại trong việc phản ánh sát thực những
Trang 8điều kiện căn cơ gây ra lạm phát, có nguyên nhân bởi tính đại diện không đồng nhất và cũng bởi vì sự khác biệt trong năm cơ sở đã không thể phản ánh sự thay đổi các mô hình sản xuất và tiêu dùng Điều này đã nhấn mạnh đến nhu cầu phải đẩy nhanh việc xem xét lại tính bao quát và cập nhật năm cơ sở cho chỉ số WPI, cũng như những chỉ
số giá cả tiêu dùng như CPI – Thành thị và CPI – Nông thôn (RBI, 10/2009) Hệ số khử lạm phát trong đo lường GDP cũng là tiêu chí tổng quát nhất về lạm phát ở Ấn Độ nhưng nó chỉ có sẵn theo năm cơ sở với độ trễ dài Những phương pháp đo lường chỉ
số lạm phát cơ sở và chính yếu đã được phát triển dựa trên nguyên tắc loại trừ và chọn lọc những yếu tố có ý nghĩa, đặt biệt là ở RBI, nhưng thực tế vẫn còn mang tính lý thuyết sâu sắc và không tìm thấy sự ủng hộ từ cộng đồng trên quan điểm về tính tự nhiên của nó Thực tế là thực phẩm và nhiên liệu – những hàng hóa tiêu biểu bị loại trừ khỏi phương pháp định lượng – lại có ảnh hướng rất lớn trong rổ tiêu dùng Những năm gần đây, khi điều hành chủ yếu bởi các chỉ tiêu không chắc chắn, một nỗ lực đáng ghi nhận đã được thực hiện bởi RBI là tiến hành những cuộc khảo sát về lạm phát kỳ vọng, bao gồm cả cho những nhà dự báo chuyên nghiệp Kết quả từ những khảo sát này, khi được công bố hứa hẹn sẽ là một triển vọng thú vị đối với hoạt động nghiên cứu và phân tích cho các nhà phân tích và cho việc thực thi chính sách vĩ mô
Từ năm 2008, hai tình huống khác biệt trong sự biến động của lạm phát xảy ra khá rõ ràng Sự suy giảm của chỉ số WPI trong giai đoạn từ mức cao điểm xảy ra trong 08/2008 – khi giá cả hàng hóa thế giới tăng rất mạnh – cùng nhịp với sự sụt giảm của lạm phát toàn cầu, ám chỉ mức độ liên thông chặt chẽ của Ấn Độ với chu kì kinh tế toàn cầu Lạm phát giá cả tiêu dùng tính theo năm giảm từ 4,9% xuống còn -0.3% vào tháng 8/2009 Trong số những nền kinh tế lớn, lạm phát ở Mỹ, Nhật Bản và khu vực Châu Âu diễn biến theo chiều hướng tiêu cực Lạm phát chính yếu cũng giảm đi ở một
số nền kinh tế chủ chốt cùng với lạm phát giá cả sản xuất Ở các quốc gia mới nổi, lạm phát sụt giảm rõ rệt từ tháng 7/2008 cùng nhịp với sự sụt giảm trong giá cả hàng hóa quốc tế và sự suy giảm trong hoạt động kinh tế gây ra bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong số những nền kinh tế mới nổi, lạm phát giá cả tiêu dùng ở Trung Quốc
và Thái Lan chuyển sang tiêu cực vào đầu năm 2009, trong khi ở Malaysia bắt đầu vào tháng 6/2009; những nền kinh tế khác cũng chứng kiến sự suy yếu đi trong áp lực
Trang 9giá cả Theo IMF (tháng 1/2010), lạm phát toàn cầu được cho rằng sẽ ở mức thấp được
lí giải bởi hiệu quả sản xuất kém và lạm phát kỳ vọng chưa thay đổi Lạm phát được
dự kiến sẽ tăng từ 0% năm 2009 đến 1,3% năm 2010, trên thực tế lạm phát trong một
số nền kinh tế đang phát triển được kì vọng sẽ tăng từ 5,2% năm 2009 đến 6.2% năm
2010 Trung Quốc, một số ít nền kinh tế khu vực ASEAN và hầu hết các nước Châu
Âu dự báo sẽ có mức lạm phát thấp hơn mức 5%
Đồ thị 1: Consumer price inflation
Theo các chỉ số đánh giá lạm phát trên, rủi ro lạm phát đang bùng phát trở, đặt ra mối
đe dọa đến điều kiện ổn định được dự báo Giá hàng hóa quốc tế sụt giảm mạnh trong thời gian từ tháng 7 – 12/2008, nhưng nó được ổn định tăng trở lại trước kì vọng về sự phục hồi kinh tế toàn cầu Giá của lương thực như gạo, lúa mì, ngô đã tăng trở lại mặc
dù vẫn còn thấp so với mức quá cao trong nửa đầu năm 2008 Giá dầu thô tăng lên một cách ổn định kể từ tháng 03/2009 phản ánh sự mong đợi nhu cầu tiêu thụ sẽ gia tăng trở lại, song song với việc cắt giảm sản lượng của nhóm các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cũng đã hỗ trợ cho giá dầu Giá nguyên liệu hồi phục từ tháng 4/2009, dẫn đầu là đồng, chì, niken, chủ yếu phản ứng lại trước nhu cầu tăng trở lại từ Trung Quốc
Trang 10Như đã đề cập trước đó, lạm phát ở Ấn Độ được đo lường bởi chỉ số WPI, biến động theo diễn biến của lạm phát toàn cầu, giảm mạnh từ 12,9% trong năm 2008 tới 0,8% vào cuối tháng ba năm 2009, rơi vào vùng tiêu cực trong 13 tuần liên tiếp bắt đầu từ tháng 6/2009, trước khi chuyển biến tích cực vào đầu tháng 9/2009 Kể từ tháng 12, áp lực giá cả tràn lên mạnh mẽ Rõ ràng, những dấu hiệu này đã bắt nguồn từ việc xem xét tăng giá của xăng và dầu diesel (có hiệu lực ngày 02 tháng 7 2009), tăng giá các sản phẩm tự do theo nhóm nhiên liệu có quan hệ chặt chẽ với giá dầu thô quốc tế, tăng giá sản phẩm đường, rau và các loại thuốc Hàng thực phẩm có mức lạm phát lên hai con số và phần nào phản ánh xu hướng tăng giá rõ nét Ngày 6/2/2010, giá rau ghi nhận mức tăng gần 20% so với tháng 2/2009, mặc dù yếu tố mùa vụ đã giảm đi rất nhiều Sự tăng giá các loại đậu là khoảng 32% vào ngày 13/3/2010 Lạm phát được đánh giá dựa trên nhóm chỉ số CPIs đã tăng từ tháng 6/2008, chủ yếu là do sự gia tăng trong giá cả thực phẩm, giá nhiên liệu và dịch vụ, và ghi nhận ở mức khoảng 16,2 - 17,6% trong suốt tháng 1/2010 Chỉ số giá tiêu dùng ở khu vực nông thôn (CPI – Rural) ngày càng tăng với một tốc độ nhanh hơn so với các chỉ số khác Sự phản ứng của chính sách cho thấy các mặt tích cực cho nguồn cung:loại bỏ các hạn chế như giới hạn lượng dự trữ để tạo điều kiện tư nhân mua bán trong mùa thu hoạch; hạn chế tiêu dùng số lượng lớn đường nhằm để đảm bảo nguồn dự trữ và đẩy mạng cung ứng hàng hóa thông qua hệ thống phân phối công; loại bỏ thuế nhập khẩu gạo, lúa mì và đường thô; miễn thuế nhập khẩu đường tinh luyện bởi các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp
tư nhân được chỉ định Có mối quan ngại tại Ấn Độ rằng lạm phát cao tồn tại kéo dài
có thể dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy và gia tăng mức độ lạm phát kỳ vọng
Đồ thị 2: Biến động WPI và lạm phát CPI
Trang 11Rõ ràng, RBI đang cho thấy sự lúng túng với việc lạm phát bắt đầu tích lũy tăng trở lại Vào tháng 4/2009, báo cáo thường niên về chính sách tiền tệ của RBI trong giai đoạn 2009 – 2010 đã xác định lạm phát WPI xoay quanh mức 4% vào cuối tháng 3/2010 Bản cập nhật sau đó về Chính sách tiền tệ được phát hành tháng 7/2009 chú ý rằng sự tiêu cực của chỉ số lạm phát WPI là do bởi những tác động cơ bản về mặt thống kê và nó không cho thấy sự sụt giảm tương ứng trong lạm phát kỳ vọng.Theo đó,
kế hoạch lạm phát WPI đã được nâng lên mức 5% Trong bản báo cáo về chính sách tiền tệ số tháng 10/2009, RBI đã xác định rằng những tác động cơ sở, mà đã dẫn tới sự tiêu cực của chỉ số lạm phát WPI trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8/2009, sẽ có những ảnh hưởng theo chiều ngược lại theo hướng gia tăng lên bởi giá lương thực cao Những khảo sát về lạm phát kỳ vọng hàng quý của RBI đối với hộ gia đình chỉ ra rằng phần lớn các đối tượng khảo sát mong đợi lạm phát sẽ tiếp tục tăng trong 3 tháng tới cũng như qua năm kế tiếp Theo đó, mốc kế hoạch cho lạm phát WPI cuối tháng 3 năm
2010 được đặt ra là 6,5% “ với độ nghiêng dốc lên” cũng đồng nghĩa với “rủi ro gia tăng rõ ràng hơn” Đứng trên quan điều hành, chính sách tiền tệ bắt đầu sẵn sàng “phản ứng nhanh chóng và hiệu quả thông qua những điều chỉnh chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát kỳ vọng” (RBI, tháng 10/2009) Trong bản cập nhật theo quý số tháng 1/2010, RBI chỉ ra rằng lạm phát tăng đã trở thành sự thật và thừa nhận những dấu hiệu cho thấy sức ép lên nhu cầu, cùng lúc đó RBI nâng mức kế hoạch lạm phát WPI cuối tháng 3/2010 lên 8,5% Gần đây, vào ngày 19/3/2010 RBI chỉ ra rằng
Trang 12sức ép của lạm phát đã tăng cao vượt ra khỏi giới hạn kế hoạch, đang phản ánh vào sự đắt đỏ của giá cả lương thực, sự gia tăng giá cả hàng hóa phi lương thực, gia tăng trong hiệu suất sử dụng và tăng giá cả hàng hóa và năng lượng, “tăng cường sức ép lên nhà cung cấp dịch vụ/sản phẩm mà khi đó hình thành nên vòng xoáy lạm phát phổ biến”
Dấu vết của lạm phát kỳ vọng: quy định của luật chơi
Ở Ấn Độ, sự đa dạng quá mức các chỉ báo giá cả và những thiếu sót của nó, và đặc biệt, sự bất bình được nêu lên bởi RBI về những chỉ báo này đã đặt ra một vấn đề cấp bách gắn liền với việc hướng đến một nhóm chỉ tiêu phản ánh được lạm phát dưới góc nhìn của con người và ở đó nó có thể được sử dụng chủ đạo trong việc dự báo Tuy nhiên, nói có vẻ dễ hơn làm Ở điểm bắt đầu, nỗ lực này đã vấp phải những cản trở rất lớn Một phương pháp đo lường chuẩn mực về lạm phát kỳ vọng không tồn tại có sẵn
ở Ấn Độ Chưa có một cuộc khảo sát nào về lạm phát kỳ vọng được thực hiện trong phạm vi cộng đồng Từ tháng 12/2005, RBI đã thực hiện một những cuộc điều tra lạm phát kỳ vọng hàng quý đối với các hộ gia đình để phục vụ công tác quản lý nội bộ Cuộc điều tra bao gồm 4.000 hộ gia đình được sử dụng để lấy mẫu, trải dài qua 12 thành phố ở 4 vùng của đất nước Thiết kế khảo sát có mục đích và các hộ gia đình được lựa chọn để đạt được tính đại diện tốt theo vùng địa lý và giới tính Khảo sát đạt được kết quả (i) những phản hồi chất lượng với những thay đổi giá cả (giá cả chung được phản ánh tốt thông qua giá cả của một số nhóm hàng đặc biệt) trong 3 tháng tiếp theo và năm kế tiếp và (ii) phản hồi mang tính định lượng tại thời điểm hiện tại, tỷ lệ lạm phát cho 3 tháng kế tiếp và một năm sau Một Ủy Ban Tư vấn Kỹ thuật cho cuộc khảo sát (TACS) đã được thiết lập trong suốt năm 2007 để kiểm tra sự tồn tại và khả năng tin cậy đối với số liệu của cuộc khảo sát Những phân tích của nó đã phát hiện ra rằng mẫu nghiên cứu về tiêu thụ thay đổi qua các thành phố Điều này cũng phản ánh thông qua sự giao động giữa các thành phố lớn gần nhau trong những chỉ tiêu lo lường giá cả có sẵn Khoảng trống/biến động giữa các thành phố được giải quyết bằng phương thức thay đổi mẫu theo hướng co hẹp khoảng từ 20 đến 30 điểm nhưng gia tăng chuỗi thời gian, điều này chỉ ra rằng những đối tượng khảo sát có sự kết nối hơn trong nhận thức về lạm phát hiện tại so với lạm phát kỳ vọng trong tương lai gần
Trang 13Dựa trên những phát hiện này, một nhóm trong nước đã khuyến khích kết quả của cuộc khảo sát nên được công bố ra công chúng với sự kì vọng vào một sự cải cách trong vấn đề minh bạch chính sách tiền tệ (RBI, tháng 9/2009) Tuy nhiên nó sẽ phải mất một khoản thời gian để chuỗi dữ liệu được đầy đủ cho các phân tích dựa trên kết quả này là có ý nghĩa Điều này đặt ra vấn đế cho những nhà dự báo chuyên nghiệp của RBI về việc xây dựng những nghiên cứu và cập nhật thường xuyên theo sự vận động nền kinh tế – mở rộng cho những đối tượng Ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, sàn giao dịch chứng khoán, tổ chức môi giới quốc tế, cơ quan giáo dục chọn lọc,
cơ quan sếp hạng tín dụng, công ty chứng khoán, công ty quản lý tài sản…Những dự báo mang tính định kì từng quý về biến số kinh tế vĩ mô quan trọng bao gồm lạm phát
là dựa trên WPI và CPI cho công nhân lĩnh vực công nghiệp đã được suy luận ra, cũng như xác suất kết quả có thể xảy ra Một số điểm nổi bật của cuộc khảo sát đã đưa ra trong báo cáo quý của RBI nhưng một lần nữa không cho thấy chuỗi tự nhiên phù hợp
mà chỉ đưa ra những kết quả phân tích Một nhận định tổng quan được thực hiện bởi một nhóm thuộc RBI là mặc dù cuộc khảo sát là mới và dữ liệu chỉ thu thập trong khoản thời gian ngắn, nhưng những dự báo về GDP thì sát với kết quả thực hơn những
dự báo trong lạm phát Cuộc khảo sát sẽ cho ra những đánh giá tốt nếu có thể tiến hành với chuỗi thời gian dài hơn Hơn thế nữa, lạm phát kỳ vọng được tham khảo trên cơ sở trái phiếu thả nổi theo lạm phát hoặc từ hoạt động bảo hiểm là không hữu ích Theo hiểu biết của chúng tôi, chỉ có duy nhất một loại trái phiếu chỉ số vốn được phát hành,
mà giá trị khoản vốn đầu tư được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát, là không chịu sự ảnh hưởng lớn từ những yếu tố thị trường khác
III Phương pháp luận
Lạm phát kỳ vọng từ lâu đã đóng vai trò trung tâm trong việc phân tích các chính sách tiền tệ và phân tích hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong thông điệp từ Tổng thống Milton Friedman đối với Hiệp hội Kinh tế Mỹ năm 1968 Vấn đề kỳ vọng tác động như thế nào và đặc điểm của chúng là gì, cách đo lường , mức độ phản ứng tức thời đối với những thay đổi chính sách; đây là một số vấn đề trong nhiều vấn đề được tranh luận gay gắt trong thời gian qua Trong số những vấn đề này, có những bất đồng và
Trang 14điều này đã thúc đẩy việc mở rộng nghiên cứu những kỹ thuật và phương pháp thu thập và xử lý thông tin (Mankiw, Reis and Wolfers, 2003) Tuy nhiên, trong số đó thì khía cạnh được đa số đồng ý chính là: trong khi lạm phát tác động đến sức mua thì lạm phát kỳ vọng tác động đến hành vi của dân chúng và chính điều này sẽ tác động đến sự phát triển dài hạn của nền kinh tế Chính vì thế, ngày nay, mục tiêu của chính sách tiền
tệ nhằm kiểm soát lạm phát kỳ vọng Neo lạm phát kỳ vọng là bước đầu tiên để tiến hành kiểm soát lạm phát và tối thiểu hóa chi phí đầu ra của việc giảm lạm phát , đặc biệt khi có sự tồn tại của những cú sốc ngược lớn
Thật không may là không thể biết một cách chính xác kỳ vọng lạm phát của dân chúng, những người khác nhau có những cách hiểu khác nhau về lạm phát Điều quan trọng nhất chính là kỳ vọng về những vấn đề tác động trực tiếp đến giá và lương đối với nhân công hay các công ty,… Tuy nhiên, thông qua việc khái quát hóa chi phí, có
ba cách tiếp cận để ước tính làm phát kỳ vọng – (1) chỉ số lạm phát trái phiếu chính phủ cho biết lạm phát kỳ vọng là sự khác biệt giữa lãi suất của một trái phiếu thông thường và trái phiếu có điều chỉnh theo chỉ số lạm phát với cùng một kỳ hạn thanh toán; (2) hoán đổi lạm phát cung cấp một công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát và được thể hiện qua phí bảo hiểm; (3) và những bảng khảo sát đo mức kỳ vọng lạm phát thông qua việc hỏi ý kiến của dân chúng, đặc biệt khi họ nhận thức được những cách thức mà thị trường tài chính phát tín hiệu lạm phát Mỗi biện pháp có những thiếu sót của riêng
nó và điều này chứng minh là có những trở ngại nghiêm trọng cho phân tích thực nghiệm Chỉ số thị trường có thể phản ánh rủi ro và những nhân tố khác của thị trường ngoài nhân tố lạm phát kỳ vọng Ngay cả chỉ số kinh tế trực tiếp như dữ liệu quyết toán tiền lương có thể phản ánh không chỉ lạm phát kỳ vọng mà còn những nhân tố như năng suất và khả năng chi trả Những đo lường bằng khảo sát nhạy cảm với các cách thức đo lường liên quan đến lạm phát – CPI, WPI và hạt nhân lạm phát… Các cuộc khảo sát nói chúng không chỉ định những chỉ số cụ thể vì thế kết quả của chúng phải được giải thích một cách thận trọng Một số bài nghiên cứu còn chỉ ra rằng bảng khảo sát đưa ra những kết quả có tính biến động cao (Blanchflower và các cộng sự, 2009)
Vì vậy, chìa khóa để thiết lập chính sách tiền tệ trong tương lai là cách thức đo lường lạm phát kỳ vọng Trong trường hợp không có các cách thức thông thường thay thế thì
Trang 15cách tiếp cận thứ hai là sự hình thành của lạm phát kỳ vọng với giả định hợp lý liên quan đến nhân tố hành vi
Đo lường lạm phát kỳ vọng tại Ấn Độ: Một cách tiếp cận thực tế
Đối với vấn đề này, một quy trình gồm hai giai đoạn được áp dụng để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát kỳ vọng tại Ấn Độ Đầu tiên, chúng tôi dựa vào hàng loạt các lý thuyết để tiến hành tính toán lạm phát kỳ vọng dựa trên mô hình ước lượng không chệch về lạm phát kỳ vọng và sau đó mở rộng cách tiếp cận theo hướng thực tế
để thu thập chuỗi dữ liệu theo thời gian của lạm phát kỳ vọng Cách tiếp cận này dựa trên 2 giả định: (1) hành vi hợp lý; (2) tất cả các thông tin đều được phản ánh dưới những thay đổi trong giá cả, nhưng về bản chất thì cung tiền luôn biến động trong ngắn hạn Để thực hiện điều này, chỉ số giá được lấy từ dữ liệu WPI tháng, với các loại hàng hóa có tính ổn định cao Dữ liệu thống kê từ tháng 4 năm 1997 đến tháng 12 năm
2008, trùng với thời kỳ Ấn Độ bắt đầu nhận các thành quả từ công cuộc cải cách kinh
tế Ấn Độ, thực hiện tự do hóa bên ngoài, đồng thời tích cực chuyển đổi thị trường trong nước theo hướng nới lỏng kiểm soát, bỏ dần các quy định Thời kỳ này cũng đánh dấu một sự thay đổi từ cơ chế điều hành chính sách tiền tệ chỉ căn cứ vào mở rộng cung tiền, sang điều hành dựa theo các chỉ số, giảm bớt quy định kiểm soát, xem xét cả thông tin trên thị trường tài chính và các yếu tố như sản lượng, chính sách tài khóa, cán cân thanh toán cho việc hoạch định chính sách Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng xây dựng các mô hình về lạm phát trong giai đoạn này rất phức tạp do biến động giá của một số mặt hàng chủ yếu, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành chủ lực với các ngành khác trong nền kinh tế Hơn nữa, sự phát triển của M1 còn bao hàm thông tin về lạm phát trong thời gian tới, khi mà chỉ số output gap – thể
hiện sự chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế - không thể sử dụng được để
đánh giá (theo Callen and Chang, 1999) Chúng tôi cũng gặp vấn đề tương tự trong quá trình thu thập dữ liệu, đó là sự không phù hợp về thông tin liên quan ở các tần suất khác nhau (như dữ liệu hàng tháng so với dữ liệu hàng quý/hàng năm trong các nghiên cứu trước đó)
Trang 16Các đồ thị minh họa trong phần sau, có dữ liệu lạm phát tháng theo mô hình ARMA –
tự hồi quy trung bình trượt, bao gồm dữ liệu quá khứ (thành phần AR), dữ liệu hiện tại,
và các giá trị nhiễu trắng được làm trượt (thành phần MA)…, sai số dự báo trong quá khứ, hiện tại Tính mùa vụ trong mô hình AR và MA được khử bằng kỹ thuật toán X12, và được xác nhận bằng các kiểm định khác, sẽ được trình bày ở phần sau Như đã biết, ARMA đưa ra mô hình hồi quy đơn biến, đồng thời tính toán độ lệch của chuỗi
dữ liệu với kỳ vọng toán của nó, đặc biệt là với những dữ liệu có tính ổn định Những đặc trưng của mô hình ARMA khiến nó được lựa chọn trong quá trình tìm kiếm một phương án phù hợp nhất Chúng tôi không tuân theo các phương pháp chuẩn dùng để
đo lường lạm phát kỳ vọng, mà dự báo theo mô hình ước lượng không chệch để kết quả là đáng tin cậy, thực sự thể hiện mức kỳ vọng hợp lý vào tương lai của dân chúng Trên thực tế, có những khó khăn trong việc nhận dạng mô hình, đó là việc mô hình chưa được ghi nhận trong bất kỳ lý thuyết hay công thức nào trước đó Hơn nữa, ARMA có thể dự đoán thiếu chính xác tại điểm ngoặt (turning point) Dù vậy, mô hình ARMA được minh chứng minh là có thể dùng để dự báo lạm phát trong ngắn hạn khá tốt, tốt hơn so với mô hình cấu trúc, cũng là yếu tố quan trọng khi xem xét chọn lựa
mô hình trong Bài nghiên cứu này (xem Stockton và Glassman, 1987; Litterman, 1986; Meyler et al, 1998)
Với dữ liệu theo tháng, công thức phù hợp nhất để tính lạm phát là:
(1) t t ]
Trong đó p, q, m và n tương ứng là bậc của AR, MA, SAR và SMA, và SAR và SMA đại diện cho tính thời vụ đã được giải thích ở phần trên Sử dụng công thức (1), dữ liệu không chệch của dự báo lạm phát đại diện cho mức lạm phát kỳ vọng Điều này được thực hiện bằng cách tạo ra một chuỗi tĩnh theo hiệp phương sai
Chúng tôi ý thức được rằng cách tiếp cận dựa trên mô hình lạm phát kỳ vọng sẽ mở ra một làn sóng chỉ trích rằng chúng được dựa báo từ mô hình lạm phát thực tế Như đã
đề cập ở trên, đây là một cách tiếp cận thực tế tốt thứ hai mà chúng ta đang phải áp dụng trong trường hợp không có một biện pháp tiêu chuẩn nào cho lạm phát kỳ vọng, nhưng được RBI xem xét để neo lạm phát kỳ vọng trong điều hành chính sách tiền tệ,
Trang 17thực hiện chính sách tiền tệ Hơn nữa, nó đã có từ tiền lệ truyền thống trong lý thuyết (xem Meyler, Keeny và Quin, 1998; McCulloch và Stec, 2000; Junita, 2001) Tương
tự, để so sánh và kiểm tra kết quả của mình, chúng tôi lấy lạm phát kỳ vọng từ các báo cáo khảo sát của Concensus Economics đối với các tổ chức tài chính như ngân hàng, quản lý quỹ và các công ty tài chính (được xem như mức đồng thuận kỳ vọng) Các báo cáo không hệ thống và thống nhất các mẫu khác nhau theo tháng Hơn nữa, các báo cáo này được đưa ra bởi một chủ thể riêng biệt, do đó, dữ liệu đại diện duy nhất cho một tháng cụ thể được tính trung bình của dữ liệu của các dự báo từ trước đó
et al (2004) và Gelos và Iriondo (2008), chúng tôi ước lượng một đường cong Phillip theo thuyết Keynes mới dựa trên giả định: hành vi có lý trí của một bộ phận nền kinh, giá cả cứng nhắc Điều này liên quan đến việc ước lượng một phương trình rút gọn để đánh giá vai trò của các nhân tố cơ bản và những thay đổi trong các nguyên nhân gây
ra lạm phát Bài nghiên cứu đang tìm kiếm các thành phần của lạm phát kỳ vọng ở các nền kinh tế đang phát triển, tập trung vào mức độ lòng tin (Minella et al, 2003; Celasun et al, 2004), hay gần đây là vào vai trò của kỳ vọng tài khóa (Celasun, Gelos,
và Prati, 2004a và 2004b) Ở Ấn Độ, dù chính sách tiền tệ không thiết lập các mục tiêu
về lạm phát rõ ràng, nhưng vẫn có một sự thừa nhận ngầm về mức chịu đựng của xã hội đối với lạm phát Mô hình đã đưa vào các đặc trưng riêng biệt của một quốc gia như lạm phát quá khứ để đánh giá sự tồn tại về độ trễ, output gap – chênh lệch giữ GDP thực và GDP tiềm năng trong đó sử dụng tổng cầu để đo lường, tốc độ tăng trưởng trong chi tiêu thực của chính phủ như một thước đo về quan điểm tài khóa, lãi suất thực được xem như quan điểm về chính sách tiền tệ, những thay đổi trong lãi suất thực được xem là đại diện cho chi phí biên, và giá của thực phẩm và nhiên liệu dùng
Trang 18để khám phá tác động của các cú sốc ngoại sinh đến những khu vực mà nền kinh tế Ấn
Độ thường phụ thuộc vào và những yếu tố mà có ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành lạm phát Về mặt cơ bản, sự hiện diện mức chênh lệch GDP – output gap, các biến quan điểm chính sách, và các đại diện cho chi phí biên và các cú sốc ngoại sinh được xem như các biến điều kiện để xác định mức độ tồn tại của kỳ vọng lạm phát
Để tìm ra các thành phần và độ trễ cơ cấu - lag structure cơ bản - đặc trưng cho quá
trình hình thành lạm phát kỳ vọng, chúng tôi sử dụng phương pháp khái quát đến cụ thể của Hendry (liên quan đến phương pháp của trường kinh tế Luân Đôn – phương pháp LSE) phương pháp này bắt chước thuyết rút gọn – theory of reduction để có được
mô hình kinh tế lượng cuối cùng Thuyết rút gọn và phương pháp khái quát đến cụ thể
là nền tảng của phương pháp LSE cung cấp bước thực hiện mang tính thực nghiệm cao
mà khi đó các mô hình kinh tế lượng kết hợp các hiện tượng thực tế lại để đo lường (Chao, 2001; Campos et al, 2004) Ý tưởng của một mô hình khái quát đến cụ thể là dựa vào tính trực giác Thay vì áp đặt một cách gượng gạo độ trễ cơ cấu vào mô hình, lag structure nên bắt đầu từ một mô hình thống kê tổng quát, từ đó cho thấy các đặc trưng chủ yếu của tập dữ liệu cơ sở Tiếp theo thực hiện các bước thử nghiệm thống kê chuẩn để giảm tính phức tạp bằng cách loại trừ các biến không có ý nghĩa thống kê và kiểm tra tính giá trị (căn cứ vững chắc) của sự rút gọn để đảm bảo tính phù hợp của mô hình Khi quá trình rút gọn được lặp lại, các hướng để rút gọn có thể được xem xét, và
việc này có thể dẫn đến các kết quả mô tả cuối cùng khác nhau Encompassing – kiểm định vòng biến - sau đó được sử dụng để kiểm tra chúng, thường là đan xen nhau, các
kết quả mô tả và chỉ những mô hình mà tồn tại bước kiểm định vòng biến mới được giữ lại xem xét kỹ hơn Nếu có nhiều hơn một mô hình tồn tại bước kiểm tra này, nó
có thể trở thành mô hình tổng quát mới và quy trình này được ứng dụng lại Mô hình khái quát đến cụ thể sẽ được nhìn nhận tốt hơn nếu kèm theo một số giả định liên quan Để minh họa, trong thử nghiệm Monte Carlo, phương pháp tiếp cận từ khái quát đến cụ thể rất thành công trong việc tìm lại các kết quả mô tả của quá trình tạo và xử lý
dữ liệu (data generating process – DGP) với độ chính xác cao (Krolzig, 1999)
Vì vậy, phương trình ước lượng có dạng sau: