1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vai trò x quang cắt lớp điện toán trong chẩn đoán thủng ruột thừa trên bệnh nhân viêm ruột thừa cấp

8 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò X quang cắt lớp điện toán trong chẩn đoán thủng ruột thừa trên bệnh nhân viêm ruột thừa cấp
Tác giả Luu Hieu Thao, Pham Ngoc Hoa, Tran Thi Mai Thuy, Vo Tan Duc
Người hướng dẫn BS CK II Luu Hieu Thao
Trường học Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 336,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh Tập 19 Phụ bản của Số 1 2015 Chuyên Đề Ngoại Khoa 30 VAI TRÒ X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẤN THƯƠNG THẬN NẶNG Lưu Hiếu Thảo, Phạm Ngọc Hoa, Trần Thị M. Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh Tập 19 Phụ bản của Số 1 2015 Chuyên Đề Ngoại Khoa 30 VAI TRÒ X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẤN THƯƠNG THẬN NẶNG Lưu Hiếu Thảo, Phạm Ngọc Hoa, Trần Thị M. Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh Tập 19 Phụ bản của Số 1 2015 Chuyên Đề Ngoại Khoa 30 VAI TRÒ X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẤN THƯƠNG THẬN NẶNG Lưu Hiếu Thảo, Phạm Ngọc Hoa, Trần Thị M.

Trang 1

VAI TRÒ X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẤN THƯƠNG THẬN NẶNG

Lưu Hiếu Thảo*, Phạm Ngọc Hoa**, Trần Thị Mai Thùy**,Võ Tấn Đức**

TÓM TẮT

Mở đầu: Chấn thương thận là bệnh lý thường gặp Xác định chẩn đoán sớm, phân độ chính xác, xác

định những dấu hiệu chỉ điểm sẽ giúp ích được rất nhiều cho các nhà lâm sàng trong phương hướng điều trị cho bệnh nhân

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính, tìm các dấu hiệu gợi ý chỉ điểm cho chỉ

định phẫu thuật và xác định giá trị của cắt lớp vi tính trong chấn thương thận nặng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 220 trường hợp chấn thương thận nặng được chẩn

đoán và điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01- 2007 đến 12-2013 Phân độ tổn thương thận theo AAST hiệu chỉnh (2011) Thu thập kết quả hình ảnh và so sánh với kết quả phẫu thuật.

Kết quả: (1) Phân độ: độ III: 51,4%, độ IV: 43,2%, độ V: 5,4% (2) Các dấu hiệu gợi ý chỉ điểm cho chỉ định

phẫu thuật: Phân độ V theo AAST, thoát thuốc thì bài tiết, huyết khối động mạch thận chính, không bắt thuốc cản quang toàn bộ nhu mô thận, thoát thuốc cản quang thì nhu mô, phình mạch, khối máu tụ sau phúc mạc kích thước lớn, dịch tự do trong ổ bụng lượng nhiều (3) Giá trị chẩn đoán: Phân độ: độ nhạy 44,4% đến 100%%, độ đặc hiệu 70.6 đến 100% Rách nhu mô đến bể thận: độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 83,3% Thoát thuốc thì bài tiết: độ nhạy 22,2%, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương 100% Tổn thương mạch máu: Huyết khối động mạch thận chính: độ nhạy 66,6%, độ đặc hiệu 92,8% Phình mạch: các giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu 97,4% Thoát thuốc cản quang thì nhu mô: độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 94,1%

Kết luận: (1) Cần lưu ý các dấu hiệu chỉ điểm trên hình ảnh X quang cắt lớp vi tính như: Phân độ V theo

AAST, thoát thuốc thì bài tiết, huyết khối động mạch thận chính, không bắt thuốc cản quang toàn bộ nhu mô thận, thoát thuốc cản quang thì nhu mô, phình mạch, khối máu tụ sau phúc mạc kích thước lớn, dịch tự do trong

ổ bụng lượng nhiều (2) XQCLVT có giá trị cao trong chẩn đoán chấn thương thận

Từ khóa: X quang cắt lớp vi tính, chấn thương thận

ABSTRACT

ROLE OF COMPUTED TOMOGRAPHY IN MAJOR KIDNEY INJURY

Luu Hieu Thao, Pham Ngoc Hoa, Tran Thi Mai Thuy, Vo Tan Duc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 30 - 37

Introduction: Kidney injury is a common condition Early diagnosis, identifying accurate degree, and

indicative imaging findings would be very helpful for physicians to propose treatment plan for patients

Purpose: This study described the characteristics of CT imaging, suggestive imaging findings for indication

for surgery, and evaluated the role of CT in major kidney injury

Methods: This analysis reviewed 220 cases of major kidney injury All cases were diagnosed and treated at

Cho Ray hospital from 01 – 2007 to 12 – 2013 Degree of kidney injury according to modified AAST classification (2011) The image conclusions were collected and compared with surgery results

Results: (1) Grade: III 51.4%, IV: 43.2%, V: 5.4% (2) Suggestive findings for surgery: AAST grade V,

extravasation of contrast media on excretory phase, renal artery thrombosis, absence of renal enhancement, contrast blush on parenchymal phase, renal artery aneurysms, large retroperitoneal hematoma, major peritoneal

Trang 2

fluid collection (3) Diagnosis values: AAST grade V: sensitivity 44.4 - 100%, specificity 70.6-100% Laceration: sensitivity 100%, specificity 83.3% Extravasation of contrast media on excretory phase: sensitivity 22.2%, specificity and PPV 100% Vascular injury: renal artery thrombosis: sensitivity 66.6%, specificity 92.8% Aneurysm: sensitivity 97.4% specificity 97.4% Contrast blush on nephrographic phase: sensitivity 80%, specificity 94.1%

Conclusions: (1) CT imaging findings need to pay attention: AAST grade V, extravasation of contrast

media on excretory phase, renal artery thrombosis, absence of renal enhancement, contrast blush on parenchymal phase, renal artery aneurysms, large retroperitoneal hematoma, major peritoneal fluid collection.(2) Multidetector

CT is the modality of choice in renal injuries

Key words: Multidetector CT, kidney injury

MỞ ĐẦU

Chấn thương thận độ I, II thường được điều

trị bảo tồn, chấn thương thận độ III, IV có thể

phẩu thuật trì hoãn, chấn thương thận độ V chỉ

định phẫu thuật sớm là cần thiết nhằm mục đích

cầm máu bảo vệ tính mạng bệnh nhân và phục

hồi tưới máu nuôi dưỡng thận Việc cung cấp

thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ về tình

trạng thận tổn thương, thận đối bên cũng như

các tổn thương phối hợp khác, và việc xác định

những dấu hiệu chỉ điểm sẽ giúp ích được rất

nhiều cho các nhà lâm sàng trong phương

hướng điều trị cho bệnh nhân(5,6,15)

Mục tiêu nghiên cứu

1 Tìm các dấu hiệu chỉ điểm giúp tham khảo

chỉ định phẫu thuật trên nhóm chấn thương

thận nặng

2 Xác định giá trị của X quang cắt lớp vi tính

trong chẩn đoán chấn thương thận nặng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu 220 trường hợp chấn thương

thận nặng được chẩn đoán và điều trị tại bệnh

viện Chợ Rẫy từ 01- 2007 đến 12-2013

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Chẩn đoán xác định chấn thương thận trên

lâm sàng và chụp XQCLVT

Bệnh nhân được phân độ chấn thương thận

độ III, IV, V trên XQCLVT

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân tổn thương thận có kết hợp các

tổn thương cơ quan khác trong ổ bụng

Bệnh nhân đã được phẫu thuật thận trước

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở hình ảnh ghi nhận được trên XQCLVT, chúng tôi phân độ theo AAST có hiệu chỉnh năm 2011 và ghi nhận tần số xuất hiện các dấu hiệu tổn thương thận theo nhóm phân độ III, IV và V

Chia bệnh nhân làm hai nhóm: điều trị nội bảo tồn và phẫu thuật: Tìm những dấu hiệu có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm điều trị nội bảo tồn và nhóm phẫu thuật (những dấu hiệu chỉ điểm)

So sánh tổn thương phát hiện được trên XQCLVT với tổn thương mô tả trong biên bản tường trình phẫu thuật.Sử dụng bảng 2x2 để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương

KẾT QUẢ Đặc điểm chung

Tuổi trung bình: 32,82 ± 12,87 tuổi, là độ tuổi học tập và lao động chính Tỉ lệ nam/nữ= 4/1 Nguyên nhân: TNGT chiếm đa số (78,6%.) CTT/thận bệnh lý: sỏi và ứ nước thận chiếm

đa số (82,6%) Phương pháp điều trị: ĐT nội 175 (79,6%),

PT 39 (17,7%), can thiệp nội mạch 6 (2,7%)

Các dấu hiệu chỉ điểm giúp tiên lượng phẫu thuật ở bệnh nhân chấn thương thận nặng

Trong 220 bệnh nhân nghiên cứu có 175 trường hợp được điều trị nội bảo tồn, 45 trường hợp được phẫu thuật trong đó 06 bệnh nhân

Trang 3

được điều trị can thiệp nội mạch qua DSA, 39

trường hợp phẫu thuật bụng Chúng tôi chọn

một số dấu hiệu phát hiện được trên X quang cắt

lớp vi tính, so sánh tỉ lệ xuất hiện trên nhóm

bệnh nhân được phẫu thuật với nhóm bệnh

nhân được điều trị nội bảo tồn Tìm sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê bằng phép kiểm 2

Phân độ

Chấn thương thận độ III và độ IV đa số được

điều trị nội bảo tồn (92,9% so với 7,1% và 71,6%

so với 28,4%) Chấn thương thận độ V đa số

được phẫu thuật (83,3% so với 16,7%) p < 0,001

Tổn thương nhu mô

Dấu hiệu rách nhu mô sâu đến hệ thống góp

và vỡ thận nhiều mảnh: nhóm bệnh nhân được

phẫu thuật có tỉ lệ thấp hơn so với nhóm điều trị

nội bảo tồn (35,2% so với 64,8%) p<0,001

Tổn thương hệ thống góp

Dấu hiệu thoát thuốc cản quang thì bài tiết:

nhóm bệnh nhân được phẫu thuật có tỉ lệ cao

hơn so với nhóm điều trị nội bảo tồn (75% so với

25%) p <0,001

Tổn thương mạch máu thận

Dấu hiệu không bắt thuốc toàn bộ nhu mô

thận, huyết khối động mạch chính, thoát thuốc

thì nhu mô và phình mạch: tỉ lệ ở nhóm bệnh

nhân được phẫu thuật đều cao hơn so với

nhóm điều trị nội bảo tồn ( 75% so với 25%,

80% so với 20%, 64,7 so với 35,3 và 72,7 so với

27,3%) p≤ 0,001

Máu tụ sau phúc mạc

Dấu hiệu khối máu tụ lớn: Nhóm bệnh nhân

được phẫu thuật có tỉ lệ cao hơn so với nhóm

điều trị nội bảo tồn (60% so với 40%) p< 0,001

Dịch tự do trong ổ bụng

Dấu hiệu dịch bụng lượng nhiều: nhóm

bệnh nhân được phẫu thuật có tỉ lệ cao hơn so

với nhóm điều trị nội bảo tồn (80% so với 20%)

p < 0,001

Giá trị của X quang cắt lớp vi tính trong chẩn đoán chấn thương thận nặng

Phân độ

Chấn thương thận độ III: Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm đều có giá trị là: 100%

Chấn thương thận độ IV: Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 95%, 70,6%, 84,6%, 80,8%, 92,3%

Chấn thương thận độ V: Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 44,4%, 96,7%, 84,6%, 80%, 85,3%

Tổn thương nhu mô thận

Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 75%, 92,5%, 87,2%, 81,8%, 89,3%

Tổn thương hệ thống góp

Dấu hiệu rách bể thận (n=39): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương

và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là:

100%, 83,3%, 94,9%, 93,1%, 100%

Dấu hiệu thoát thuốc thì bài tiết (n=39): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 22,2%, 100%, 46,1%, 100%, 36,3%

Tổn thương mạch máu thận

Dấu hiệu phình mạch (n=45): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương

và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 100%, 97,4%, 97,7%, 87,5%, 100%

Dấu hiệu huyết khối động mạch thận chính (n=45): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 66.6%, 92,8%, 91,1%, 40%, 97,5%

Dấu hiệu thoát thuốc thì nhu mô (n=45): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 80%, 94,1%, 88,8%, 72,7%, 94,1%

Trang 4

Rách động mạch và rách tĩnh mạch: Trên X

quang cắt lớp vi tính không ghi nhận được

trường hợp nào

Liên hệ giữa dấu hiệu thoát thuốc thì nhu

mô + nhu mô không ngấm thuốc nhiều vùng

hoặc toàn bộ thận trên hình ảnh X quang cắt lớp

vi tính với ghi nhận tổn thương mạch máu tại

cuống thận khi phẫu thuật như (huyết khối

động mạch gốc, rách động tĩnh mạch gốc):

Dấu hiệu tổn thương mạch máu tại cuống

thận (n=45): độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính

xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán

âm có các giá trị lần lượt là: 76,9%, 96,8%,

91,1%, 90,9%, 91,1%

Tụ máu sau phúc mạc (n=39)

Dấu hiệu khối máu tụ lớn: Độ nhạy, độ đặc

hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá

trị tiên đoán âm có các giá trị lần lượt là: 88,2%,

100%, 94,8%, 100%, 91,6%

Dịch tự do trong ổ bụng lượng nhiều (n=39)

Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị

tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm có các

giá trị lần lượt là: 87,5%, 100%, 97,4%, 100%,

96,8%

BÀN LUẬN

Các dấu hiệu chỉ điểm giúp tham khảo chỉ

định phẫu thuật

Phân độ chấn thương thận

Giá trị của XQCLVT đánh giá mức độ chấn

thương thận được chứng minh qua nghiên cứu

MC Aninch, Federle 1981 và Bretan 1986 như

là phương tiện chẩn đoán hình ảnh lựa chọn

để đánh giá chấn thương thận với độ nhạy và

độ đặc hiệu cao hơn niệu đồ tĩnh mạch Chụp

XQCLVT được coi là sự kết hợp giữa niệu đồ

tĩnh mạch và chụp động mạch thận trong đánh

giá tổn thương, trước tiên là chấn thương thận

nặng Chất lượng chẩn đoán hình ảnh giúp

cho phân độ giải phẫu chấn thương thận chính

xác hơn và nhờ đó khả năng bảo tồn thận được

nâng cao(2,9,13)

Do đó việc phân độ của chấn thương thận

là điều cần thiết để chẩn đoán đúng tổn thương về mặt định lượng, mức độ thiệt hại sau chấn thương, ra quyết định điều trị và kiểm soát kết quả

Chấn thương thận độ III và độ IV đa số được điều trị nội bảo tồn (độ III có 105/113 chiếm tỉ lệ 92,9% so với 8/113 chiếm tỉ lệ 7,1%

và độ IV có 68/95 chiếm tỉ lệ 71,6% so với 27/95 chiếm tỉ lệ 28,4%)

Chấn thương thận độ V đa số được phẫu thuật (10/12 chiếm tỉ lệ 83,3% so với 2/12 chiếm

tỉ lệ 16,7%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Tổn thương nhu mô

Dấu hiệu rách nhu mô sâu đến hệ thống góp

và vỡ thận nhiều mảnh: Nhóm bệnh nhân được phẫu thuật có tỉ lệ thấp hơn so với nhóm điều trị nội bảo tồn (31/88 chiếm tỉ lệ 35,2% so với 57/88 chiếm tỉ lệ 64,8%)

Tổn thương hệ thống góp

Dấu hiệu thoát thuốc cản quang thì bài tiết: Nhóm bệnh nhân được phẫu thuật có tỉ lệ cao hơn so với nhóm điều trị nội bảo tồn (6/8 chiếm 75% so với 2/8 chiếm 25%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001

Tổn thương mạch máu

Tổn thương mạch máu bao gồm bứt đứt động mạch, bóc tách cũng như giả phình, và rất hiếm là rò động tĩnh mạch Phổ biến hơn là tổn thương đụng dập gây huyết khối dẫn đến nhồi máu phân thùy và thùy, những tổn thương này

đã được đưa vào thang điểm đánh giá có sửa đổi AAST 2011 Trong 6-14 % của chấn thương thận,

có đồng thời chấn thương mạch máu thận, 30% liên quan đến tĩnh mạch hoặc cả hai động mạch

và tĩnh mạch

Nhồi máu thận phân thùy hoặc dưới phân thùy biểu hiện như là một vùng nhu mô giảm đậm độ hình chêm, không tăng quang qua các thì Nhồi máu phân thùy có thể đơn độc hay nhiều và thường kết hợp với những tổn thương thận khác(16)

Trang 5

Các tác giả như Bretan(2) và Smith(17) cũng

nhận định rằng XQCLVT chẩn đoán tổn thương

cuống thận tốt nhất gồm các dấu hiệu như nhu

mô không ngấm thuốc, không bài tiết chất cản

quang, tụ máu quanh rốn thận trên thận có hình

thái bình thường và đôi khi nhìn rõ huyết khối

động tĩnh mạch

XQCLVT có thể chẩn đoán chấn thương

mạch máu với hình ảnh thoát thuốc cản quang

từ động và tĩnh mạch ngay lập tức sau tiêm

thuốc Thu nhận hình ảnh nhanh cho phép phân

biệt sự thoát thuốc cản quang là do đang chảy

máu từ mạch thấy trong thì vỏ tủy hay do thoát

nước tiểu do vỡ đường bài tiết của thận

Tuy nhiên XQCLVT không phân định được

các nguyên nhân khác nhau của tắc nghẽn động

tĩnh mạch do chấn thương như huyết khối do

tổn thương nội mạc, rách mạch máu, đứt rời

hoặc do co mạch sau chấn thương(4,6)

Qua các kết quả nghiên cứu các dấu hiệu tổn

thương mạch máu chúng tôi nhận thấy:

Các dấu hiệu nhu mô thận không bắt thuốc

cản quang một vùng và nhiều vùng, dấu hiệu

huyết khối động mạch nhánh đa số gặp ở nhóm

điều trị nội bảo tồn

Các dấu hiệu còn lại như nhu mô không

ngấm thuốc toàn bộ thận, huyết khối động mạch

chính, thoát thuốc thì nhu mô, phình mạch đều

có tỉ lệ xuất hiện ở nhóm phẫu thuật cao hơn

nhóm điều trị nội bảo tồn, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05

Dấu hiệu tụ máu sau phúc mạc

Các dấu hiệu khối máu tụ có kích thước nhỏ

và trung bình đều có tỉ lệ ở nhóm phẫu thuật

thấp hơn nhóm điều trị nội bảo tồn (18% so với

82% và 11% so với 89%)

Dấu hiệu khối máu tụ lớn: nhóm bệnh nhân

được phẫu thuật có 15/25 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ

60% cao hơn rõ so với nhóm điều trị nội bảo tồn

có 10/25 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 40% Sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p< 0,001

Dấu hiệu dịch tự do trong ổ bụng

Dấu hiệu dịch bụng lượng nhiều ở nhóm phẫu thuật cao hơn nhóm điều trị nội bảo tồn (8/10 BN, tỉ lệ 80% so với 2/10 BN tỉ lệ 20%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Tóm lại qua nghiên cứu đối chiếu các dấu hiệu X quang cắt lớp vi tính của những tổn thương thận do chấn thương thận kín, chúng tôi nhận thấy các dấu hiệu có tỉ lệ cao khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm được điều trị phẫu thuật

so với nhóm điều trị nội bảo tồn là:

Phân độ V theo AAST (83,3%) Tổn thương hệ thống góp: thoát thuốc thì bài tiết (75%)

Tổn thương mạch máu: huyết khối động mạch thận chính (80%), không bắt thuốc cản quang toàn bộ nhu mô thận (75%), thoát thuốc cản quang thì nhu mô (64,7%), phình mạch (72%)

Khối máu tụ sau phúc mạc kích thước lớn (60%)

Dịch tự do trong ổ bụng lượng nhiều (80%)

Giá trị của XQCLVT trong chẩn đoán tổn thương thận

Giá trị chẩn đoán mức độ chấn thương thận theo phân độ của AAST

Chụp XQCLVT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tốt nhất trong chẩn đoán chấn thương thận kín, không chỉ đánh giá về thương tổn của thận mà còn phân loại chính xác mức độ chấn thương thận(3) Các thông tin thu được từ hình ảnh XQCLVT phản ánh khá chính xác và trung thực các thương tổn giải phẫu bệnh Phân loại AAST là yếu tố quan trọng kết hợp với mức độ

tụ máu sau phúc mạc, tình trạng huyết động và lượng máu cần truyền là cơ sở quyết định can thiệp phẫu thuật hay theo dõi bảo tồn những trường hợp chấn thương thận nặng(7, 8, 14)

Trong nghiên cứu này chúng tôi tính được các giá trị:

Chấn thương thận độ III các giá trị đều đạt 100%

Trang 6

Chấn thương thận độ IV có độ nhạy 95.4%,

độ đặc hiệu 70,6% , độ chính xác 84,6%, giá trị

tiên đoán dương 80,8% và giá trị tiên đoán âm

92,3%

Chấn thương thận độ V có độ nhạy 44,4%,

độ đặc hiệu 96,7%, độ chính xác 84,6%, giá trị

tiên đoán dương 80% và giá trị tiên đoán âm

85,3%

Giá trị độ đặc hiệu của chẩn đoán chấn thương

thận độ IV (70,6%) và giá trị độ nhạy trong chẩn

đoán chấn thương thận độ V (44,4%) do có sự sai

biệt 06 trường hợp, trong đó: 05 trường hợp phân

độ trên XQCTVT là độ IV nhưng đánh giá trong

phẫu thuật là độ V vì trên hình ảnh XQCLVT

không phát hiện được 01 trường hợp huyết khối

động mạch chính và 04 trường hợp rách động tĩnh

mạch chính Một trường hợp từ độ V qua độ IV do

trong phẫu thuật không ghi nhận huyết khối động

mạch chính

Giá trị chẩn đoán sự thay đổi hình dạng thận

Qua 39 bệnh nhân chấn thương thận có phẫu

thuật được nghiên cứu cho thấy XQCLVT có giá

trị cao trong đánh giá sự thay đổi hình dạng

thận với độ nhạy 75%, độ đặc hiệu 92,5%, độ

chính xác 87,2%, giá trị tiên đoán dương 81,8%

và giá trị tiên đoán âm 89,3%

So sánh với nghiên cứu của Hoàng Long(11)

dấu hiệu thay đổi hình dạng thận trên hình

ảnh XQCLVT của chấn thương thận kín có độ

chính xác, độ nhạy và giá trị tiên đoán dương

đều đạt 100% Nghiên cứu của chúng tôi đều

có các giá trị thấp hơn do hai trường hợp

không được ghi nhận có thay đổi hình dạng

thận khi phẫu thuật nên xem như dương tính

giả Ba trường hợp âm tính giả do thận vỡ

nhiều mảnh, thời gian từ lúc chụp XQCLVT

đến lúc phẫu thuật lần lượt là 1 ngày, 2 ngày

và 10 ngày, có thể giải thích do sau khoảng

thời gian, khối máu tụ tăng lên nên đẩy các

mảnh vỡ xa nhau làm thay đổi hình dạng thận

Giá trị chẩn đoán các dấu hiệu tổn thương hệ thống góp

Giá trị chẩn đoán hình ảnh tổn thương sâu đến hệ thống góp và vỡ thận nhiều mảnh

Chúng tôi tính được độ đặc hiệu là 83,3%, độ chính xác là 94,9%, giá trị tiên đoán dương là 93.1% và các độ nhạy, giá trị tiên đoán âm đều đạt 100%

Hai trường hợp dương tính giả do vùng dập

vỡ nhu mô kèm khối máu đông ở bể thận tạo hình ảnh liên tục nên ảnh hưởng lên nhận định

độ sâu của tổn thương

Giá trị chẩn đoán dấu hiệu thoát thuốc thì bài tiết

Độ nhạy, độ chính xác và giá trị tiên đoán

âm đều thấp với các giá trị lần lượt là 22,2%, 46,1%, 36,3% Trong khi giá trị độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương đều đạt 100%

Điều này được giải thích là do vết rách bể thận được lấp bởi các khối máu đông nên thuốc cản quang không thoát ra ngoài được Và cũng phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Long(11) là nhiều trường hợp chấn thương thận độ IV nhưng không thấy hình ảnh thoát thuốc cản quang ở thì muộn do máu cục bít kín đường vỡ đài bể thận

Giá trị chẩn đoán các dấu hiệu tổn thương mạch máu thận

Giá trị chẩn đoán dấu hiệu phình mạch

Các giá trị độ nhạy, giá trị tiên đoán âm đều đạt 100% Độ đặc hiệu 97,4%, giá trị tiên đoán dương 87,5% Như vậy chứng tỏ XQCLVT có giá trị rất cao trong việc xác định dấu hiệu phình mạch

Giá trị chẩn đoán huyết khối động mạch thận chính

Các giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán

âm có các giá trị lần lượt là: 66,6%, 92,8%, 91,1%, 40%, 97,5%

Giá trị chẩn đoán dấu hiệu rách động mạch thận

Trong phẫu thuật có ghi nhận được 05 bệnh nhân có rách động mạch thận, 03 bệnh nhân có rách tĩnh thận và 02 bệnh nhân có rách động tĩnh

Trang 7

mạch thận Tuy nhiên trên XQCLVT không phát

hiện được hình ảnh trực tiếp ở trường hợp nào

Cho thấy hình ảnh rách động mạch và tĩnh mạch

thận rất khó phát hiện trực tiếp trên hình ảnh

XQCLVT Điều này cũng phù hợp với nhận định

của Blankenship(1) và nghiên cứu của Hoàng

Long(11): Hạn chế lớn nhất của XQCLVT là không

có khả năng xác định chấn thương tĩnh mạch

thận một cách đầy đủ

Giá trị chẩn đoán dấu hiệu thoát thuốc cản quang thì

nhu mô

Chúng tôi tính được các giá trị độ nhạy 80%,

độ đặc hiệu 94,1%, độ chính xác 88,8%, giá trị

tiên đoán dương 72,7% và giá trị tiên đoán âm

94,1% Cho thấy đây cũng là một dấu hiệu quan

trọng trong đánh giá rách động tĩnh mạch thận

Giá trị chẩn đoán tổn thương động tĩnh mạch ở

cuống thận

Chúng tôi nghiên cứu liên hệ giữa sự kết

hợp các dấu hiệu trên hình ảnh XQCLVT như

(thoát thuốc nhu mô + nhu mô không ngấm

thuốc nhiều vùng hoặc toàn bộ thận) với ghi

nhận trong phẫu thuật có tổn thương mạch máu

tại cuống thận như (huyết khối động mạch

chính, rách động tĩnh mạch chính):

Độ nhạy 76,9%; độ đặc hiệu 96,8%; độ chính

xác 91,1%; giá trị tiên đoán dương 90,9%; giá trị

tiên đoán âm 91,1%

Qua các kết quả trên chúng tôi nhận thấy

hình ảnh rách động mạch và tĩnh mạch thận rất

khó phát hiện trực tiếp trên hình ảnh XQCLVT

Có thể kết hợp các dấu hiệu thoát thuốc nhu mô

+ nhu mô không ngấm thuốc nhiều vùng hoặc

toàn bộ thận để tiên đoán tổn thương động tĩnh

mạch ở cuống với giá trị cao Dấu hiệu thoát

thuốc cản quang thì nhu mô và dấu hiệu phình

mạch đều có các giá trị chẩn đoán cao

Giá trị chẩn đoán máu tụ sau phúc mạc

Đối với nhóm dấu hiệu khối máu tụ lớn, trên

XQCLVT có 13 bệnh nhân, nhưng ghi nhận

trong phẫu thuật có 15 bệnh nhân, các giá trị tính

được lần lượt là: độ nhạy 88,2%, độ chính xác

94,8%, giá trị tiên đoán âm 91,6%, độ đặc hiệu và

giá trị tiên đoán dương đều đạt 100%

Sự sai lệch 2 trường hợp khối máu tụ trung bình trên XQCLVT tăng lên thành khối máu tụ lớn trong phẫu thuật được giải thích do thời gian kéo dài từ lúc chụp XQCLVT đến lúc phẫu thuật làm khối máu tụ tăng lên

Như vậy, XQCLVT có giá trị rất cao trong việc xác định có máu tụ sau phúc mạc hay không cũng như đánh giá kích thước khối máu tụ

So sánh gần tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Long(11) và một số tác giả khác(2,10,12): giá trị chẩn đoán tụ máu sau phúc mạc là tuyệt đối, với

độ chính xác độ nhạy và giá trị tiên đoán dương đều đạt 100%

Giá trị chẩn đoán dấu hiệu dịch bụng:

Đối chiếu dấu hiệu dịch bụng lượng nhiều trên hình ảnh XQCLVT và sau phẫu thuật chúng tôi tính được độ nhạy 87,5%, độ chính xác 97,4%, giá trị tiên đoán âm 96,8%, độ đặc hiệu và giá trị

tiên đoán dương đều đạt 100%

Một trường hợp trên XQCLVT đánh giá tràn dịch màng bụng lượng trung bình nhưng sau phẫu thuật ghi nhận dịch lượng nhiều do bệnh nhân chấn thương thận nặng, thận vỡ nát, diễn tiến sau thời gian từ lúc chụp XQCLVT đến lúc

phẫu thuật là 7 giờ

KẾT LUẬN Các dấu hiệu chỉ điểm giúp tiên lượng phẫu thuật ở bệnh nhân chấn thương thận nặng

Phân độ V theo AAST

Tổn thương hệ thống góp: thoát thuốc thì bài tiết

Tổn thương mạch máu: huyết khối động mạch thận chính, không bắt thuốc cản quang toàn bộ nhu mô thận, thoát thuốc cản quang thì nhu mô, phình mạch

Khối máu tụ sau phúc mạc kích thước lớn Dịch tự do trong ổ bụng lượng nhiều

Trang 8

Giá trị của X quang cắt lớp vi tính trong

chẩn đoán chấn thương thận

Phân độ: độ nhạy 44,4% đến 100%, độ đặc

hiệu 70,6 đến 100%

Đối với chẩn đoán tổn thương hệ thống góp:

Dấu hiệu rách nhu mô đến bể thận có các giá trị

cao: độ nhạy, giá trị tiên đoán dương đều đạt

100%, độ đặc hiệu 83,3% Dấu hiệu thoát thuốc

thì bài tiết: Có độ nhạy thấp 22,2%, trong khi độ

đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương đều đạt

100%

Đối với chẩn đoán tổn thương mạch máu:

Dấu hiệu huyết khối động mạch thận chính: Độ

nhạy 66,6%, độ đặc hiệu 92,8%, giá trị tiên đoán

dương 40% Dấu hiệu phình mạch: các giá trị độ

nhạy, giá trị tiên đoán dương đều đạt 100%, độ

đặc hiệu 97,4% Dấu hiệu thoát thuốc cản quang

thì nhu mô: độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 94,1%, giá

trị tiên đoán dương 72,7%

Tổn thương động tĩnh mạch ở cuống thận:

rách động mạch và tĩnh mạch thận rất khó phát

hiện trực tiếp trên hình ảnh XQCLVT Cần kết

hợp các dấu hiệu thoát thuốc cản quang thì nhu

mô cộng với nhu mô không ngấm thuốc nhiều

vùng hoặc toàn bộ thận để tiên đoán tổn thương

động tĩnh mạch ở cuống thận với giá trị cao Độ

nhạy 76,9%, độ đặc hiệu 96,8%, giá trị tiên đoán

dương 90,9%

Tụ máu sau phúc mạc : độ nhạy 100%, độ

đặc hiệu 93-94,8%

Dịch bụng: độ nhạy 87,5%, độ đặc hiệu 100%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Blankenship B, Earls JP, Talner LB (1997), Renal vein

thrombosis after vascular pedicle injury[clin conference] AJR

Am J Roentgenol, 168 (6), 1574

2 Bretan PNJr, McAninch JW, Federle MP, Jeffrey R (1986),

Computerized tomographic staging of renal trauma: 85

consecutive cases J Urol, 136 (3), 561-5

3 Cain MP, Matsumoto JM, Husmann DA (1995), Retrograde filling of the renal vein on computerized tomography for

blunt renal trauma: an indicator of renal artery injury J Urol,

153 (4), 1247-8

4 Cass AS, Luxenberg M (1989), Accuracy of computed

tomography in diagnosing renal artery injuries.Urology, 34 (5),

249-51

5 Fanney DR, Casillas J, Murphy BJ (1990), CT in the diagnosis

of renal trauma.Radiographics, 10 (1), 29-40

6 Federle MP, Kaiser JA, McAninch JW, Jeffrey RB (1981), The

role of computed tomography in renal trauma.Radiology, 141

(2), 455-60

7 Gonzalez RP, Falimirski M, Holevar MR, Evankovich C (1999), Surgical management of renal trauma: is vascular

control necessary? J Trauma, 47 (6), 1039-42; discussion 1042-4

8 Hai MA, Pontes JE, Pierce JM (1977), Surgical management of major renal trauma: a review of 102 cases treated by

conservative surgery J Urol, 118 (1 Pt 1), 7-9

9 Herschorn S, Radomski SB, Shoskes DA, et al (1991),

Evaluation and treatment of blunt renal trauma J Urol, 146 (2),

274-6; discussion 276-7

10 Heyns CF (2004), Renal trauma: indications for imaging and

surgical exploration BJU Int, 93 (8), 1165-70

11 Hoàng Long (2008), "Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật

bảo tồn chấn thương thận", Luận án Tiến sĩ Y học- Ngoại tiết

niệu, Đại học Y Hà Nội

12 Hoàng Long, Nguyễn Duy Huề, Vũ Nguyễn Khải Ca, Lê Ngọc Từ (2006), Vai trò của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn

đoán và điều trị chấn thương thận kín.Y học Việt Nam, tr

17-27

13 Husmann DA, Morris JS (1990), Attempted nonoperative management of blunt renal lacerations extending through the corticomedullary junction: the short-term and long-term

sequelae J Urol, 143 (4), 682-4

14 Kuo RL, Eachempati SR, Makhuli MJ, Reed RL (2002), Factors affecting management and outcome in blunt renal

injury.World J Surg, 26 (4), 416-9

15 Lynch D, Martinez-Piñeiro L, et al (2003), Guideline on

Urologycal Trauma European Association of Urology, 115-127

16 Scherr MK and Linsenmaier U (2012), Kidney, urete, adrenal gland In Mariano Scaglione, Ulrich Linsenmaier, Gerd Schueller Emergency Radiology of the Abdomen pp

111-133 Springer Heidelberg NewYork Dordrecht London

17 Smith SD, Gardner MJ, Rowe MI (1993), Renal artery occlusion in pediatric blunt abdominal trauma decreasing

the delay from injury to treatment J Trauma, 35 (6), 861-4

Ngày đăng: 23/03/2023, 06:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w