Từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2012-2015; giai đoạn 2016-2020 là một trong những hoạt động chính của dự án phòng, chống một số bện
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Người bệnh tăng huyết áp đến khám và điều trị tại phòng khám tim mạch Bệnh viện đa khoa Đồng Nai
Bệnh nhân từ 25 tuổi trở lên có nhu cầu điều trị tăng huyết áp tại phòng khám tim mạch của Bệnh viện đa khoa Đồng Nai Đây bao gồm những người đã được chẩn đoán và đang điều trị tăng huyết áp cũng như những trường hợp mới được chẩn đoán bệnh này Điều trị tăng huyết áp đúng cách tại bệnh viện giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả, giảm nguy cơ biến chứng tim mạch Bạn có thể đến phòng khám tim mạch Đồng Nai để được thăm khám, tư vấn và xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp nhất với tình trạng sức khỏe của mình.
Cư trú tại Thành phố Biên Hòa
Có khả năng trả lời phỏng vấn
Có điện thoại cầm tay có chức năng cài lịch nhắc nhở hằng ngày
Có mặt tại địa bàn nghiên cứu và không có ý định chuyển sinh sống tại các tỉnh thành hoặc các huyện/thị xã khác trong tỉnh Đồng Nai
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tình trạng bệnh nặng: liệt toàn thân, biến chứng tâm thần, phụ nữ có thai.v.v
Bệnh nhân không ở một nơi cố định
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 6-12/2018 đến tháng 6- 2019 tại phòng khám tim mạch Bệnh viện đa khoa Đồng Nai.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
Can thiệp lâm sàng trên 1 nhóm đối tượng chữa bệnh ngoại trú về tăng huyết áp tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai
Chọn bệnh ngẫu nhiên Đánh giá trước và sau can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu Áp dụng công thức so sánh một tỷ lệ:
Pa: tỷ lệ thực hành tuân thủ điều trị ở người tăng huyết áp tại cộng đồng @% (tham khảo theo nghiên cứu tại 4 quận nội thành Hà Nội năm
Po: tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị kỳ vọng sau can thiệp (Po 51%)
α: Với độ tin cậy 95%; sa i l ầ m l o ại I là 5 %(α ) , lực mẫu 90%
Do đó: số bệnh cần tham gia vào nhóm nghiên cứu là 173 bệnh nhân
Bệnh nhân điều trị bệnh cao huyết áp ngoại trú lần đầu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2018 đã được lựa chọn vào nhóm nghiên cứu theo độ tuổi, được chia thành các nhóm tuổi từ 25 đến 54 tuổi gồm 25 – 34 tuổi, 35 – 44 tuổi, 45 – 54 tuổi.
64 tuổi và từ 65 tuổi trở lên), giới
Chọn bệnh nhân cho đến khi đủ cở mẫu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Là biến số thứ tự gồm có 5 giá trị:
Và từ 65 tuổi trở lên
Là biến số nhị giá
Với hai giá trị là: nam và nữ
Là biến số nhị giá
Với hai giá trị là: kinh và dân tộc khác
Tr nh độ học ấn:
Là biến số thứ tự với 5 giá trị là:
Chưa tốt nghiệp tiểu học: học tiểu học nhưng chưa tốt nghiêp lớp 5 hoặc không biết đọc,không biết viết
Tốt nghiệp tiểu học: học trung học cơ sở nhưng chưa tốt nghiệp lớp 9
Tốt nghiệp trung học cơ sở: học trung học phổ thông nhưng chưa tốt nghiệp lớp 12
Tốt nghiệp trung học phổ thông: tốt nghiệp lớp 12
Là biến số danh định với 9 giá trị là:
Công nhân nhà nước là những cá nhân làm việc trong các văn phòng, tổ chức hoặc cơ quan của nhà nước và nhận lương từ ngân sách nhà nước Họ đảm nhận các công việc hành chính, quản lý và phục vụ cộng đồng trong khu vực công Việc làm của công nhân nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo các dịch vụ công được vận hành hiệu quả.
Công nhân viên phi chính phủ là người được tuyển dụng để làm việc tại văn phòng, nhận lương hoặc thù lao từ các tổ chức, cơ quan, công ty không thuộc bộ máy nhà nước Họ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, góp phần thúc đẩy các mục tiêu phi lợi nhuận Với đặc điểm làm việc trong môi trường ngoài khu vực nhà nước, nhân viên phi chính phủ giúp đa dạng hóa nguồn lực và hỗ trợ các dự án xã hội, nhân đạo Việc hiểu rõ vai trò của công nhân viên phi chính phủ giúp nâng cao nhận thức về các hoạt động phi lợi nhuận và khả năng đóng góp của họ trong cộng đồng.
Tự làm chủ là người làm công việc gia đình, làm ruộng để tự sản xuất hàng hóa bán ra thị trường Người làm chủ thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ cho các đối tượng hoặc công ty khác nhau, góp phần nâng cao khả năng tự chủ tài chính và phát triển kinh tế gia đình.
+ Làm không công: là người dành phần lớn thời gian để làm tình nguyện cho các tổ chức xã hội mà không nhận tiền thù lao
+ Sinh viên: là người dành phần lớn thời gian trong ngày để theo học các trường đại học, cao đẳng hoặc các trường dạy nghề
+ Nội trợ: là người dành phần lớn thời gian để làm các công việc nội trợ trong nhà mà không được trả công
+ Nghỉ hưu: là người đã từng làm việc và có lương nhưng do tuổi tác cao nên không còn đi làm nữa
+ Không có việc làm (có thể xin việc): là người có khả năng làm việc nhưng hiện tại chưa xin được việc làm (không tính người nội trợ)
+ Thất nghiệp (không thể làm việc): là người không thể làm việc vì tình trạng sức khoẻ không đảm bảo
Là biến số thứ tự với 2 giá trị:
Nghèo là người có thu nhập ≤ 1.000.000đ/tháng/người
Không nghèo là người có thu nhập > 1.000.000đ/tháng/người (Theo
QĐ 59/2015 QĐ_TTg Bộ LĐ – TB – XH)
2.2.4.2 Mức độ tăng huyết áp
Huyết áp tâm thu biến số định lượng liên tục được hiển thị rõ ràng trên màn hình của máy đo huyết áp điện tử khi bạn ở tư thế ngồi đúng chuẩn Để đảm bảo kết quả chính xác, cần đặt cánh tay ngang tim và thực hiện đầy đủ các bước chuẩn bị theo hướng dẫn trước khi đo.
Huyết áp tâm trương là một biến số đo lường liên tục, được thể hiện rõ trên màn hình của máy đo huyết áp điện tử khi người bệnh ngồi đúng tư thế Trong quá trình đo, cánh tay cần đặt ngang tim để đảm bảo độ chính xác của kết quả, đồng thời thực hiện đầy đủ các bước chuẩn bị theo hướng dẫn để có kết quả huyết áp chính xác và tin cậy.
THA được chẩn đoán khi bệnh nhân có huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên, đáp ứng các điều kiện về huyết áp cao theo tiêu chuẩn y học.
Mức độ tăng huyết áp được xác định dựa trên số đo huyết áp trung bình sau hai lần đo, theo khuyến cáo phân loại huyết áp của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2007 Đây là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ bệnh huyết áp và đưa ra hướng điều trị phù hợp Việc đo huyết áp chính xác và định rõ mức độ tăng huyết áp giúp kiểm soát bệnh hiệu quả hơn, giảm nguy cơ biến chứng tim mạch. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung? [JustDone](https://pollinations.ai/redirect-nexad/LK8cICw7) có thể giúp bạn! Với các công cụ như AI Paraphraser và Grammar Checker, chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn diễn đạt lại bài viết một cách mạch lạc, tuân thủ các quy tắc SEO Hơn nữa, AI Detector và Text Humanizer của chúng tôi đảm bảo nội dung của bạn là duy nhất và hấp dẫn Hãy để JustDone giúp bạn tạo ra những bài viết chất lượng cao một cách dễ dàng.
2.2.4.3 Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp:
Thói quen hút thuốc lá là biến nhị giá chia làm 2 nhóm là có và không Bằng cách hỏi:
Thời gian bắt đầu hút thuốc
Số lượng hút mỗi ngày ( điếu/ ngày)
Người có thói quen hút thuốc lá: là người hút thường xuyên, liên tục, ngày nào cũng hút, mỗi ngày ít nhất là 5 điếu thuốc lá
Là biến nhị phân chia làm 2 nhóm:
Uống 60ml rượu vang, 300ml bia hoặc 30ml rượu nặng mỗi ngày có thể gây ra tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe (THA) Việc nắm rõ loại rượu, liều lượng và tần suất tiêu thụ là rất quan trọng để đánh giá mức độ ảnh hưởng Cần sử dụng đơn vị uống chuẩn, tương đương với 10 gram ethanol nguyên chất, để tính chính xác lượng rượu đã tiêu thụ, giúp phân tích rõ ràng tác động của rượu đối với cơ thể.
Cách tính một đơn vị uống chuẩn ở các loại đồ uống có rượu:
+ Với nam giới: dưới 04 đơn vị uống chuẩn / ngày
+ Với nữ giới: dưới 02 đơn vị uống chuẩn / ngày
+ Một tuần có 2 ngày không uống rượu
Là biến số nhị giá với hai giá trị không và có
Không : khi bình thường sử dụng trong nấu ăn bằng dầu, bơ thực vật
Có : khi bình thường sử dụng trong nấu ăn bằng mỡ động vật
Viện Dinh dưỡng, thuộc Bộ Y tế, khuyến nghị mức tiêu thụ chất béo hàng ngày cho người trưởng thành từ 18-25% tổng năng lượng khẩu phần ăn để duy trì sức khỏe tối ưu Trong đó, lượng lipid có nguồn gốc thực vật nên chiếm khoảng 20-30% tổng lượng lipit trong chế độ ăn hàng ngày, giúp cân bằng dinh dưỡng và giảm thiểu các nguy cơ về bệnh lý liên quan đến tiêu thụ chất béo không lành mạnh.
Biến số nhị giá với hai giá trị không và có
+ Không: khi ăn bình thường, không được người khác và trong gia đình cho là ăn mặn và ăn các món mặn ≤ 3 ngày /tuần
+ Có: được người khác và trong gia đình cho là ăn mặn và ăn các món mặn > 3 ngày /tuần
Ăn mặn được định nghĩa là tiêu thụ các loại thực phẩm như mắm (mắm cá, mắm tép, ba khía), các loại khô, nón kho, dưa muối, tương chao, thịt muối, trứng muối Việc giảm ăn mặn xuống còn dưới 6 gram muối mỗi ngày, tương đương khoảng 1 thìa cà phê muối, giúp phòng tránh các bệnh về huyết áp và tim mạch, đồng thời duy trì sức khỏe toàn diện.
Là biến số nhị giá: có tập thể dục, không tập thể dục
Lối sống tĩnh tại, thiếu hoạt động thể lực, là một trong những yếu tố nguy cơ cao gây bệnh THA Để giảm nguy cơ này, nên tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 ngày trong tuần; nếu không thể duy trì quãng thời gian này, có thể tập 10 phút/ngày Hoạt động thể chất bao gồm loại công việc, phương tiện đi lại, thể thao và vui chơi giải trí thường xuyên của các cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh THA.
+ Hoạt động nặng: đào đất, cày ruộng, tập tạ, chạy nhanh, khuân vác, gánh đất, cưa xẻ, chạy đường dài, thể thao gắng sức, đạp xe ≥ 16 km/giờ
+ Hoạt động vừa: làm ruộng, đạp xe, đi bộ vừa phải, lau chùi nhà cửa, bơi lội, leo cầu thang, chơi cầu lông, bóng chuyền, công nhân điện nước
+ Hoạt động nhẹ: tập thể dục nhẹ, đi bộ chậm, tập dưỡng sinh, bán hàng, làm thủ công, làm vườn cắt hoa/tỉa cành, cán bộ văn phòng
+ Nghỉ hoặc không hoạt động: xem tivi, đọc sách báo, ngồi/nằm nghỉ thư giãn
Chiều cao là biến số định lượng liên tục được tính bằng centimét
Cân nặng là biến số định lượng liên tục được tính bằng kg, lấy 1 số lẻ
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là biến thứ tự (được tính theo công thức: cân nặng (kg)/ (chiều cao) 2 (m))
Béo phì độ I: ≥25 kg/m 2 - 29,99 kg/m 2
Béo phì độ II: ≥ 30 kg/m 2
Vòng eo (được tính bằng centimét): là biến số định danh với 2 giá trị:
Bình thường(< 90 cm ở Nam ; < 80 cm ở nữ)
Cao ( ≥ 90 cm ở Nam ; ≥ 80 cm ở nữ)
Vòng hông: là biến liên tục, được tính bằng centimét
Là biến nhị giá với 2 giá trị: bình thường và cao
Chỉ số vòng eo - mông (WHR) của nam giới phải lớn hơn 0,9, trong khi ở phụ nữ là trên 0,85 theo tiêu chí của WHO WHR được tính bằng công thức chia số đo vòng eo cho số đo vòng mông, phản ánh mức độ phân bố mỡ thừa trên cơ thể Chỉ số này là một chỉ số quan trọng để đánh giá nguy cơ các bệnh liên quan đến béo phì và các vấn đề sức khỏe khác Đo lường chính xác và duy trì chỉ số WHR phù hợp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe tổng thể.
Cholesterol huyết thanh toàn phần: là biến số nhị giá, với hai giá trị bình thường và cao
Bình thường: ≤ 200mg/dl (≤ 5,2 mmol/L)
Triglyceride huyết thanh: là biến số nhị giá, với hai giá trị bình thường và cao
Bình thường: ≤ 150mg/dl (≤ 1,7mmol/L)
LDL cholesterol huyết thanh: là biến số nhị giá, với hai giá trị bình thường và cao
Bình thường: ≤ 130mg/dl (≤ 3,4mmol/L)
HDL cholesterol huyết thanh: là biến số nhị giá, với hai giá trị bình thường và thấp
Bình thường : ≥ 40mg/dl (≥1 mmol/L)
Đường huyết: là biến số nhị giá, với hai giá trị bình thường và cao
Bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – Medication Adherence Questionnaire – Morisky 8) là công cụ đánh giá mức độ tuân thủ điều trị hiệu quả Mỗi câu hỏi trong bộ câu hỏi này được chấm điểm theo thang điểm 0 hoặc 1, giúp đo lường chính xác hành vi tuân thủ của bệnh nhân Mức độ tuân thủ được phân loại dựa trên tổng điểm đạt được, từ đó đánh giá mức độ tuân thủ điều trị một cách khách quan và dễ dàng hơn.
1-2 điểm: tuân thủ trung bình
≥ 3 điểm: tuân thủ kém / không tuân thủ
Trong nghiên cứu này, để phù hợp với việc so sánh với các nghiên cứu tại Việt Nam, nghiên cứu chia theo 2 mức gồm:
Có tuân thủ: điểm số từ 0-2
2.2.4.5 Tình hình kiểm soát huyết áp sau can thiệp
Kiêm soát huyết áp : Là biến số nhị giá với hai giá trị kiểm soát được và chưa kiểm soát được
Kiểm soát được: Là khi đối tượng có HA tâm thu nhỏ hơn 140 mmHg và/hoặc HA tâm trương nhỏ hơn 90 mmHg
Chưa kiểm soát được huyết áp là khi bệnh nhân có huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên Đây là dấu hiệu cảnh báo cần điều chỉnh phương pháp điều trị để kiểm soát tốt hơn huyết áp của người bệnh Việc kiểm soát huyết áp giúp giảm nguy cơ các biến chứng tim mạch và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Can thiệp điều trị thuốc hạ áp và truyền thông tích cực Biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe tích cực bao gồm:
Tư vấn giáo dục sức khỏe truyền thống
Tờ gấp tuyên truyền phòng chống THA
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng tham gia và đảm bảo tính tự nguyện của họ, khi ký vào giấy thỏa thuận tham gia mà không tiết lộ danh tính Các mục đích và nội dung của nghiên cứu được trình bày rõ ràng nhằm đảm bảo minh bạch và tuân thủ quy định về quyền lợi của người tham gia Việc cam kết tự nguyện tham gia nghiên cứu giúp nâng cao tính hợp pháp và đạo đức trong quá trình thực hiện Chính sách bảo mật thông tin cá nhân cũng được áp dụng nhằm bảo vệ danh tính của các đối tượng nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, bệnh nhân có quyền từ chối tham gia mà không cần cung cấp lý do Nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ Bệnh viện đa khoa Đồng Nai và được phối hợp thực hiện một cách chặt chẽ Đề cương nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội đồng nghiên cứu y sinh của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đảm bảo tính hợp pháp và chất lượng của dự án.
Theo quy trình nghiên cứu, tất cả những người tự nguyện điều trị (THA) không được chọn vào mẫu nghiên cứu chính nhưng vẫn được khám và tư vấn điều trị bởi các bác sĩ có kinh nghiệm và chuyên môn cao Những người này không tham gia phỏng vấn và kết quả của họ không được đưa vào phân tích chính của nghiên cứu, tuy nhiên, tỷ lệ người tự nguyện tham gia chương trình sẽ được đánh giá và trình bày trong phụ lục của báo cáo.
Hoạt động khám bệnh không kèm theo với bất kỳ hoạt động tư vấn bán thuốc/thực phẩm chức năng hay quảng cáo mang tính thương mại nào.
KẾT QUẢ
Đặc điểm bệnh nhân tăng huyết áp
Bảng 3.1 Đặc đ ểm giới của bệnh nhân tăng h yết áp Đặc điểm giới Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ bệnh nhân nữ gần bằng tỉ lệ bệnh nhân nam lần lượt là 50,9% và 49,1%
Bảng 3.2 Đặc đ ểm dân tộc của bệnh nhân tăng h yết áp
Dân tộc Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Trong dân số nghiên cứu thì dân tộc kinh chiếm đa số với 97,7%, dân tộc khác 2,3%
Bảng 3.3 Đặc đ ểm tuổi của bệnh nhân tăng h yết áp
Nhóm tuổi Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ bệnh nhân theo nhóm tuổi từ 25 – 34 chiếm 2,3%; từ 35 – 44 chiếm 2,3%; từ 45 – 54 chiếm 3,7%; từ 55 – 64 tuổi 41,7% và từ 65 trở lên chiếm 40%
Bảng 3.4 Đặc đ ểm ngh nghiệp của bệnh nhân tăng h yết áp
Nghề nghiệp Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Trong cơ cấu nghề nghiệp, tỷ lệ lớn nhất là bệnh nhân nghỉ hưu chiếm 48,6%, phản ánh tình trạng ngày càng tăng của nhóm người đã rời khỏi thị trường lao động Các nghề nghiệp khác bao gồm công nhân viên nhà nước chiếm 10,9%, công nhân viên phi chính phủ chiếm 2,3%, tự làm chủ chiếm 13,1%, nội trợ chiếm 22,9%, và tỷ lệ thất nghiệp là 2,9% Những số liệu này thể hiện sự đa dạng trong cơ cấu nghề nghiệp và ảnh hưởng của các yếu tố về tuổi tác và trạng thái công việc đến cộng đồng.
Bảng 3.5 Đặc đ ểm thu nhập cá nhân của bệnh nhân tăng h yết áp
Thu nhập cá nhân Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Đa số bệnh nhân không nghèo chiếm 96,0%; bệnh nhân nghèo chiếm 4,0%
Bảng 3.6.Đặc đ ểm tr nh độ học vấn của bệnh nhân tăng h yết áp
Trình độ học vấn Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhóm nghiên cứu có trình độ học vấn cao nhất là tốt nghiệp cấp 3, chiếm tỷ lệ 61,2% Trong đó, tỷ lệ tốt nghiệp trên cấp 3 là 29,7%, còn tốt nghiệp cấp 2 chiếm 24,6% Các thành viên có trình độ học vấn thấp hơn gồm tốt nghiệp cấp 1 với 9,1% và chưa tốt nghiệp tiểu học là 5,1%.
Bảng 3.7 Đặc đ ểm huyết áp của bệnh nhân nhóm nghiên cứu
Tình trạng huyết áp Tần số (n) Tỉ lệ (%) Đạt HA mục tiêu 21 12%
Chưa đạt HA mục tiêu 154 88%
Tỉ lệ huyết áp đạt mục tiêu ở nhóm nghiên cứu chiếm 21% và chưa đạt mục tiêu chiếm 88%
3.1.2 Kiến thức và thực hành điều trị tăng huyết áp
Bảng 3.8 Kiến thức v bệnh THA ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp
Kiến thức về bệnh Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Biết trị số huyết áp
Phải kiểm tra HA hằng ngày
Biết cách đo huyết áp
Trong nhóm nghiên cứu trước can thiệp, kiến thức về bệnh tăng huyết áp khá vững chắc, với 88,6% người tham gia biết rõ trị số huyết áp của mình Hơn nữa, tỷ lệ người kiểm tra huyết áp hàng ngày đạt 98,9%, thể hiện ý thức chủ động trong quản lý bệnh Ngoài ra, 87,4% người khảo sát đã biết cách đo huyết áp đúng cách, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp và phòng ngừa các biến chứng liên quan.
Bảng 3.9 Quan niệm v bệnh tăng h yết áp ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp
Quan niệm về bệnh Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tăng huyết áp nguy hiểm
Nguy cơ bị biến chứng
Trong nhóm nghiên cứu trước can thiệp, 93,1% người tham gia nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp, trong khi chỉ có 37,7% nhận thức được nguy cơ biến chứng của bệnh Tuy nhiên, khả năng phòng ngừa bệnh còn rất hạn chế, chỉ đạt 9,7% Ngược lại, tỷ lệ không biết về nguy cơ biến chứng chiếm đến 62,3%, và ý thức về phòng bệnh còn thấp hơn với 90,3%, cho thấy cần tăng cường công tác truyền thông và nâng cao kiến thức cộng đồng về bệnh tăng huyết áp.
Bảng 3.10.Thực hành v bệnh tăng h yết áp ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp
Thực hành điều trị bệnh Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Có máy đo tại nhà
Tổng 175 100% Đo HA tại nhà mỗi ngày
Ghi lại chỉ số HA
Trong nhóm nghiên cứu trước can thiệp, tỷ lệ bệnh nhân có máy đo huyết áp tại nhà chiếm đến 86,9%, cho thấy mức độ tiếp cận thiết bị khá cao Mặc dù gần như còn lại chia đều giữa những người thường xuyên đo huyết áp tại nhà mỗi ngày (51,4%) và những người không thực hiện đều đặn (48,6%), tỷ lệ bệnh nhân chưa có thói quen ghi lại huyết áp vẫn rất cao, lên tới 95,4% Điều này cho thấy cần đẩy mạnh giáo dục bệnh nhân về tầm quan trọng của việc theo dõi và ghi nhớ huyết áp để quản lý bệnh tăng huyết áp hiệu quả hơn.
3.2 Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp
Bảng 3.11 Yếu tố ng y cơ thó q en ăn mặn ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp Ăn mặn Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ bệnh nhân có thói quen không ăn mặn ở nhóm nghiên cứu chiếm đa số 80,6%, có ăn mặn chiếm tỉ lệ ít là 19,4%
Bảng 3.12 Yếu tố ng y cơ thó q en ăn chất béo thực vật ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp Ăn chất béo thực vật Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Bệnh nhân có thói quen còn ăn mỡ ở nhóm nghiên cứu chiếm tỉ lệ cao là 97,1% và không ăn mỡ chiếm 2,9%
Bảng 3.13 Yếu tố ng y cơ thói quen hút thuốc lá, uống rượu ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp
Yếu tố nguy cơ Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Theo số liệu, tỷ lệ bệnh nhân không có thói quen hút thuốc chiếm đến 69,7%, trong khi đó, tỷ lệ người không hút thuốc lá là hơn 30,3% Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân uống rượu chỉ chiếm khoảng 21,1%, trong khi số còn lại là những người không sử dụng rượu, chiếm đến 78,9% Điều này cho thấy thói quen hút thuốc và uống rượu có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mắc bệnh của bệnh nhân.
Bảng 3.14 Yếu tố ng y cơ thói quen tập thể dục ở nhóm nghiên cứ trước can thiệp
Tập thể dục Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ bệnh nhân có thói quen tập thể dục gần bằng tỉ lệ không có thói quen tập thể dục lần lượt là 46,9% và 53,1%
Bảng 3.15 Tình trạng thừa cân – béo phì
BMI Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tình trạng thừa cân – béo phì chiếm tỉ lệ cao ở mức thừa cân là 34,3%, béo phì 32,6%, thấp nhất là thiếu cân chiếm 2,3%, tỉ lệ bình thường là 30,8%
Bảng 3.16 Tỉ số eo/ hông
Tỷ số eo hông Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận Xét: Ở nhóm nghiên cứu tỷ lệ bệnh nhân có tỉ số eo/ hông cao chiếm 66,3%, bình thường chiếm 33,7%
Bảng 3.17 Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu
Chỉ số sinh hóa Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ bệnh nhân có chỉ số sinh hóa trong máu bất thường cao nhất là triglycerid >1,7 mmol/l, chiếm đến 60,0% Tiếp theo là các chỉ số cholesterol toàn phần >5,2 mmol/l với tỷ lệ 37,7%, HDL 3,4 mmol/l với tỷ lệ 30,3% Những số liệu này cho thấy nhiều bệnh nhân gặp phải các bất thường về lipid máu, góp phần vào nguy cơ các bệnh tim mạch Việc kiểm tra và duy trì các chỉ số sinh hóa trong giới hạn bình thường là rất cần thiết để phòng ngừa các biến chứng sức khỏe.
Bảng 3.18 Tỷ lệ rối loạn đường huyết ở nhóm nghiên cứu Đường huyết Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Ở nhóm nghiên cứu tỉ lệ đường huyết < 7mmol/l chiếm đa số là 83,9%, đường huyết ≥ 7 mmol/l chiếm 17,1%
3.3 Đánh giá kết quả sau 3 tháng can thiệp
3.3.1 Tỷ lệ kiến thức, thực hành và các chỉ số sinh hóa của bệnh nhân trước và sau can thiệp
Bảng 3.19 K ến thức bệnh tăng h yết áp trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Kiến thức về bệnh tăng huyết áp Biết Không P
Trị số tăng huyết áp Trước 155(88,6) 20(11,4)
Kiểm tra HA hằng ngày
Cách đo huyết áp Trước 153(87,4) 22(12,6)
Hiểu rõ về bệnh tăng huyết áp, bao gồm cách đo huyết áp chính xác trước và sau các can thiệp khác nhau, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và điều trị bệnh.
Kiến thức về biết kiểm tra HA hằng ngày trước và sau can thiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05
Bảng 3.20 Q an n ệm bệnh tăng h yết áp trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Quan niệm về bệnh tăng huyết áp Biết Không P
Tăng huyết áp nguy hiểm
Nguy cơ bị biến chứng
Quan niệm về bệnh tăng huyết áp cho thấy rằng việc nhận thức về mức độ nguy hiểm của bệnh, các nguy cơ biến chứng, cũng như khả năng phòng ngừa trước và sau khi can thiệp đều có ý nghĩa thống kê quan trọng với mức độ significance P < 0,05 Hiểu rõ các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phòng ngừa bệnh tăng huyết áp.
Bảng 3.21 Thực hành đ trị trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Thực hành điều trị tăng huyết áp Có n(%) Không n(%) p
Máy đo huyết áp Trước 152(86,9) 23(13,1)
Sau 173(98,9) 2(1,1) Đo huyết áp mỗi ngày
Ghi lại chỉ số huyết áp
Thực hành điều trị tăng huyết áp bao gồm việc sử dụng máy đo huyết áp chính xác hàng ngày để theo dõi chỉ số huyết áp của bệnh nhân Việc ghi lại các chỉ số huyết áp trước và sau các can thiệp khác nhau giúp đánh giá hiệu quả điều trị một cách chính xác Các kết quả thu được có ý nghĩa thống kê với giá trị P < 0,05, cho thấy các phương pháp điều trị này mang lại sự cải thiện rõ rệt trong kiểm soát huyết áp.
Bảng 3.22 Thó q en hút th ốc, ống rượ trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Thói quen hút thuốc, uống rượu trước và sau can thiệp khác nhau có ý nghĩa thống kê với P 0,05, cho thấy không có ảnh hưởng rõ rệt trên mức Cholesterol sau quá trình can thiệp.
Bảng 3.26 Chỉ số đường h yết trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Chỉ số đường huyết Bình thường n(%) Bất thường n(%) P Đường huyết Trước 145(82,9) 30(17,1)
Chỉ số đường huyết của bệnh nhân ơ nhóm nghiên cứu trước và sau can thiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.3.3 Tỷ lệ tăng huyết áp sau 3 tháng điều trị
Bảng 3.27 H yết áp của nhóm ngh ên cứ trước à sa can th ệp
Huyết áp Trước n (%) Sau n (%) p Đạt HA mục tiêu 21 (12,0) 129 (73,7)
Không đạt HA mục tiêu 154(88,0) 46 (26,3)
Trước can thiệp, tỷ lệ huyết áp đạt mục tiêu chỉ 12%, nhưng sau can thiệp tăng đáng kể lên 73,7% (p < 0,05), cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kiểm soát huyết áp Ngược lại, tỷ lệ không đạt huyết áp mục tiêu giảm từ 88% xuống còn 26,3% sau can thiệp, phản ánh hiệu quả của phương pháp điều trị Sự khác biệt giữa các tỷ lệ này đều có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ can thiệp đã mang lại kết quả tích cực trong quản lý huyết áp cho bệnh nhân.
Đánh giá kết quả sau 3 tháng can thiệp
3.3.1 Tỷ lệ kiến thức, thực hành và các chỉ số sinh hóa của bệnh nhân trước và sau can thiệp
Bảng 3.19 K ến thức bệnh tăng h yết áp trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Kiến thức về bệnh tăng huyết áp Biết Không P
Trị số tăng huyết áp Trước 155(88,6) 20(11,4)
Kiểm tra HA hằng ngày
Cách đo huyết áp Trước 153(87,4) 22(12,6)
Hiểu biết về bệnh tăng huyết áp, đặc biệt là cách đo huyết áp chính xác và ý nghĩa của các trị số huyết áp trước và sau các can thiệp điều trị khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh Các nghiên cứu cho thấy rằng việc đo huyết áp đúng quy trình giúp theo dõi hiệu quả điều trị và đưa ra các quyết định lâm sàng chính xác, với giá trị thống kê có ý nghĩa (P < 0,05) Do đó, trang bị kiến thức đầy đủ về tăng huyết áp là yếu tố thiết yếu để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng.
Kiến thức về biết kiểm tra HA hằng ngày trước và sau can thiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05
Bảng 3.20 Q an n ệm bệnh tăng h yết áp trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Quan niệm về bệnh tăng huyết áp Biết Không P
Tăng huyết áp nguy hiểm
Nguy cơ bị biến chứng
Quan niệm về bệnh tăng huyết áp cho thấy rằng hiểu rõ mức độ nguy hiểm của bệnh và các nguy cơ biến chứng liên quan là rất quan trọng Ngoài ra, nhận thức về khả năng phòng ngừa bệnh trước và sau can thiệp đều mang ý nghĩa thống kê với P < 0,05, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức để kiểm soát bệnh hiệu quả.
Bảng 3.21 Thực hành đ trị trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Thực hành điều trị tăng huyết áp Có n(%) Không n(%) p
Máy đo huyết áp Trước 152(86,9) 23(13,1)
Sau 173(98,9) 2(1,1) Đo huyết áp mỗi ngày
Ghi lại chỉ số huyết áp
Thực hành điều trị tăng huyết áp bao gồm sử dụng máy đo huyết áp, thực hiện đo huyết áp hàng ngày để theo dõi sự biến động, đồng thời ghi lại các chỉ số huyết áp trước và sau các phương pháp can thiệp khác nhau Các kết quả thu được có ý nghĩa thống kê với giá trị P < 0,05, cho thấy hiệu quả của các biện pháp điều trị tăng huyết áp được thực hiện đều đặn và chính xác.
Bảng 3.22 Thó q en hút th ốc, ống rượ trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Thói quen hút thuốc, uống rượu trước và sau can thiệp khác nhau có ý nghĩa thống kê với P 0,05, phản ánh rằng can thiệp không tác động đáng kể đến mức cholesterol tổng.
Bảng 3.26 Chỉ số đường h yết trước à sa can th ệp ở nhóm ngh ên cứ
Chỉ số đường huyết Bình thường n(%) Bất thường n(%) P Đường huyết Trước 145(82,9) 30(17,1)
Chỉ số đường huyết của bệnh nhân ơ nhóm nghiên cứu trước và sau can thiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.3.3 Tỷ lệ tăng huyết áp sau 3 tháng điều trị
Bảng 3.27 H yết áp của nhóm ngh ên cứ trước à sa can th ệp
Huyết áp Trước n (%) Sau n (%) p Đạt HA mục tiêu 21 (12,0) 129 (73,7)
Không đạt HA mục tiêu 154(88,0) 46 (26,3)
Trước khi can thiệp, tỷ lệ huyết áp đạt mục tiêu là 12%, nhưng sau khi thực hiện can thiệp, tỷ lệ này tăng lên đến 73,7%, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Đồng thời, tỷ lệ không đạt huyết áp mục tiêu trước can thiệp là 88%, giảm xuống còn 26,3% sau can thiệp, phản ánh hiệu quả rõ rệt của phương pháp can thiệp trong việc kiểm soát huyết áp.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Cỡ mẫu ban đầu là 147 người cho mỗi nhóm, và cỡ mẫu trong nghiên cứu đã tăng khoảng 25,8% so với dự kiến ban đầu Việc tăng cỡ mẫu này không ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả nghiên cứu mà còn giúp nâng cao độ chính xác của dữ liệu Nguyên nhân của việc bổ sung thêm đối tượng nghiên cứu là do thời gian thu thập dữ liệu kéo dài hơn dự kiến, và dù việc tăng cỡ mẫu có thể ảnh hưởng đến nguồn lực, nhưng vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát của nghiên cứu này.
Trong nhóm nghiên cứu gồm 185 đối tượng, có 7 người mất dấu, không liên lạc được và 3 người không tái khám đúng hẹn Sau khi hoàn thành việc phân tích dữ liệu, nghiên cứu đã quyết định loại bỏ các đối tượng này khỏi phân tích chính nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ mất theo dõi khoảng 2% là chấp nhận được đối với thiết kế can thiệp lâm sàng, đặc biệt khi người lao động là người nhập cư phổ biến tại thành phố Biên Hòa Mặc dù đã lựa chọn những người có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng biến động dân cư và các trường hợp tự lựa chọn, thay đổi nơi điều trị vẫn là những yếu tố khó kiểm soát Tỷ lệ mất theo dõi này thấp hơn mức tối đa khuyến cáo là dưới 10%, cho thấy khả năng theo dõi hiệu quả trong nghiên cứu.
Việc mất thông tin trong quá trình thu thập dữ liệu từ đối tượng nghiên cứu rất hiếm, cho thấy công tác kiểm soát dữ liệu diễn ra hiệu quả, từ đó giảm thiểu sai lệch chọn mẫu trong nghiên cứu.
4.1.2 Giới tính Ở nhóm nghiên cứu với cỡ mẫu 175 bệnh nhân thì tỉ lệ nữ chiếm 50,9% và nam chiếm 49,1% Tỉ lệ bệnh nhân nữ chiếm ưu thế hơn bệnh nhân nam nhưng sự chênh lệch không đáng kể
Kết quả nghiên cứu cho thấy cỡ mẫu có thể ảnh hưởng đến khả năng phát hiện sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm Đối tượng chủ yếu là bệnh nhân tăng huyết áp, trong đó xu hướng tử vong cao hơn ở nam giới tuổi cao do tác động bởi các yếu tố như lao động nặng, hút thuốc, uống rượu Mặc dù một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn ở nam giới, theo Mozaffarian D (2012), tỷ lệ tăng huyết áp ở nữ giới cũng đáng kể ở các nhóm tuổi khác nhau, cụ thể như từ 25-34 tuổi tỷ lệ nữ là 6,2% so với 8,6% ở nam, và từ 35-44 tuổi tỷ lệ nữ là 18,3% so với 22,6% ở nam Ở nhóm trên 65 tuổi, tỷ lệ tăng huyết áp của nữ là 53,7% còn nam là 54,6%, thể hiện sự gần bằng nhau về tỷ lệ Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp chung là 16%, trong đó nam giới chiếm 18% còn nữ giới chiếm 13%, phản ánh sự phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới và độ tuổi.
Trong mẫu nghiên cứu gồm 175 bệnh nhân, phân tích cho thấy nhóm tuổi từ 55 trở lên chiếm tỷ lệ lớn nhất, với đối tượng từ 55-64 tuổi chiếm 41,7% và nhóm trên 65 tuổi chiếm 40% Điều này cho thấy rằng tuổi trưởng thành trung niên và cao tuổi có khả năng mắc bệnh cao hơn so với các nhóm tuổi khác, làm nổi bật tầm quan trọng của việc chú trọng phòng ngừa và quản lý bệnh ở nhóm tuổi này.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu dịch tễ học về bệnh tăng huyết áp, cho thấy rằng khi tuổi càng cao, thành mạch càng lão hóa và xơ cứng, làm giảm khả năng đàn hồi của mạch mách Điều này dẫn đến tăng áp lực trong lòng mạch, khiến huyết áp ở người lớn tuổi cao hơn so với lúc còn trẻ Ngoài ra, người cao tuổi còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ bệnh tật, do các biến đổi sinh lý liên quan đến tuổi tác ảnh hưởng đến hệ tim mạch.
Nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các phát hiện của nhiều tác giả khác Theo báo cáo của Piyamitr Sritra từ Thái Lan, một nghiên cứu cắt ngang tiến hành năm 2003-2004 cho thấy tỷ lệ tăng vượt quá 50% ở nhóm đối tượng được khảo sát.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ rằng huyết áp tăng dần theo tuổi và người cao tuổi mắc THA có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn [2],[14] Theo nghiên cứu của Mozaffarian D (2012), tỷ lệ cao huyết áp ở nhóm tuổi 25-34 là khoảng 6,2% ở phụ nữ và 8,6% ở nam giới, trong khi ở nhóm 35-44 tuổi tăng lên lần lượt là 18,3% và 22,6% Đặc biệt, ở người trên 65 tuổi, tỷ lệ này đã đạt tới hơn 53% ở nữ và 54,6% ở nam, và tỷ lệ cao huyết áp ở nhóm trên 75 tuổi lên đến gần 80% [31], [50] Năm 2010, tỷ lệ người Đức bị cao huyết áp trong nhóm tuổi 20-79 là 15,9%, trong khi ở Anh là 10,4%; ở nhóm 40-49 tuổi là khoảng 20% và trên 60 tuổi lên đến 40-45% [28].
Kết quả của nghiên cứu này chỉ tương đồng với các nghiên cứu khác, nhưng tỷ lệ không cao có thể do mẫu nghiên cứu còn nhỏ và chủ yếu tập trung vào bệnh nhân sống ở thành phố Các bệnh nhân thành phố có khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn và quan tâm đến sức khỏe nhiều hơn, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dân tộc Kinh chiếm đa số tới 97,7%, trong khi dân tộc khác chiếm 2,3%, phản ánh đúng đặc điểm dân cư tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, miền Đông Nam Bộ Sự predominance của dân tộc Kinh góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả trong giáo dục sức khỏe cộng đồng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi với mẫu 175 bệnh nhân, kết quả cho thấy 48,6% người tham gia đã nghỉ hưu, điều này phù hợp với tỷ lệ tăng huyết áp cao ở nhóm người cao tuổi do tuổi tác Các nghề nghiệp khác gồm nội trợ (22,9%), tự làm chủ (13,1%), công nhân viên nhà nước (10,9%), thất nghiệp (2,9%) và công nhân viên phi chính phủ (2,3%), cho thấy tăng huyết áp không phân bố riêng biệt theo ngành nghề Mặc dù tỷ lệ khác nhau giữa các nhóm, nhưng sự phân bố đa dạng nghề nghiệp trong mẫu nghiên cứu cho thấy tăng huyết áp không giới hạn ở một ngành nghề cụ thể.
Nghiên cứu chưa đánh giá các nguồn thông tin mà bệnh nhân nhận được, gây khó khăn trong việc xác định chính xác nghề nghiệp của nhóm tham gia Điều này ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả can thiệp và hạn chế khả năng đưa ra các kết luận chính xác về hiệu quả của các phương pháp điều trị Việc thiếu dữ liệu về nguồn thông tin của bệnh nhân cũng làm giảm độ tin cậy của nghiên cứu trong các phân tích liên quan đến nghề nghiệp và kết quả điều trị.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhóm nghiên cứu tốt nghiệp cấp 3 chiếm 61,2%, trong khi đó, nhóm có trình độ trên cấp 3 chiếm 29,7% Những người có trình độ học vấn thấp hơn như tốt nghiệp cấp 2 chiếm 24,6%, tốt nghiệp cấp 1 chiếm 9,1%, và chưa tốt nghiệp tiểu học chỉ chiếm 5,1% Mặc dù những người có trình độ học vấn cao thường dễ tiếp cận thông tin hơn, nhưng trong bối cảnh công nghiệp 4.0 với nhiều kênh truyền thông đa dạng, sự khác biệt về hành vi giữa các nhóm học vấn thấp và cao không còn rõ ràng, thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận và xử lý thông tin.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chưa đánh giá các nguồn thông tin người bệnh nhận được, do đó cũng khó có cơ sở đánh giá được chính xác
4.1.7 Thu nhập cá nhân: Ở nhóm nghiên cứu này, tỉ lệ bệnh nhân không nghèo chiếm 96,0%; bệnh nhân nghèo chiếm 4,0% theo quyết định quyết định 59/2015 QĐ-TTg
Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp
4.2.1 Thói quen ăn uống Ăn mặn: Theo kết quả nghiên cứu chúng tôi, đối tượng có thói quen ăn mặn thấp hơn rất nhiều so với người không ăn mặn Có thể đối tượng trong nghiên cứu này đã được điều trị tăng huyết áp nên thói quen được thay đổi Thành phần chính của muối ăn là Natri, bình thường nồng độ Natri trong cơ thể là 9‰, khi dùng muối nồng độ đó sẽ tăng lên tức thời, cơ thể sẽ điều chỉnh bằng cách thẩm thấu dịch gian bào từ thành động mạch vào trong lòng mạch máu để nồng độ muối trong máu được duy trì ở trạng thái bình thường Khi đó lòng động mạch bị thu hẹp do mất nước trong khi đó khối lượng máu trong lòng mạch máu tăng lên khiến áp suất trong thành mạch tăng Lòng mạch co lại, áp suất tăng chính là nguyên nhân gây tăng huyết áp
Graham Macgregor từ Vương quốc Anh khẳng định rằng có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc giảm lượng muối trong chế độ ăn, dù là ở người bị huyết áp cao hay người bình thường, sẽ giúp giảm huyết áp hiệu quả Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Long cũng hỗ trợ quan điểm này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát lượng muối để duy trì huyết áp khỏe mạnh và phòng ngừa các bệnh tim mạch.
Nghiên cứu về tình hình sức khỏe người cao tuổi tại xã Vụ Bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2012 cho thấy chương trình can thiệp nâng cao kiến thức về phòng chống tăng huyết áp đã mang lại kết quả tích cực, đặc biệt là cải thiện kiến thức và giảm thói quen ăn muối của người cao tuổi Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi còn có thói quen ăn nhiều chất béo vẫn khá cao, chiếm đến 97,1%, phần lớn do ảnh hưởng từ chế độ ăn cùng gia đình Đặc biệt, với người cao tuổi, các cơ quan tiêu hóa, như enzyme lipase, đều suy giảm khiến việc tiêu hóa mỡ gặp khó khăn; ăn nhiều mỡ dễ làm tăng mỡ trong máu, làm tăng cholesterol và gây ra các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe Lượng cholesterol cao trong máu dễ lắng đọng, tích lũy ở nội mạc mạch máu, hình thành các mảng xơ vữa, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh xơ vữa động mạch và tăng huyết áp.
Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Long cho thấy, sau khi thực hiện can thiệp nâng cao kiến thức phòng chống tăng huyết áp, tỷ lệ người cao tuổi tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, biết mỡ động vật không tốt đã tăng từ 6,3% Kết quả này cho thấy can thiệp đã cải thiện đáng kể kiến thức về sức khỏe của người cao tuổi nơi đây, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng.
4.2.2 Thói hút thuốc lá, uống rượu
Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân không có thói quen hút thuốc chiếm tới 69,7%, trong khi chỉ có 30,3% mắc phải thói quen hút thuốc lá Điều này cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu đã có ý thức về sức khỏe và nhận thức rõ về tác hại của việc hút thuốc lá đối với sức khỏe của bản thân.
Khói thuốc lá chứa Nicotine gây tăng huyết áp cấp tính, tác dụng này không giảm sút sau các lần hút thuốc Nicotine làm co mạch và kích thích tuyến thượng thận tiết catecholamin, gây co mạch và tăng huyết áp Ngoài ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hút thuốc còn tác động tiêu cực lên hệ tim mạch, trở thành yếu tố nguy cơ chính của bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh mạch ngoại vi Các bệnh lý này lẫn nhau tạo thành vòng xoắn tụ làm cho tình trạng lâm sàng ngày càng nghiêm trọng hơn.
Nghiên cứu của Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy tỷ lệ tăng cao của bệnh tăng huyết áp (THA) liên quan đến việc hút thuốc nhiều năm (P = 0,05) và số gói năm (P = 0,03) sau khi đã điều chỉnh theo tuổi tác, chỉ số BMI và thói quen uống rượu Tuy nhiên, THA không liên quan đến tình trạng hút thuốc hiện tại Thêm vào đó, THA không ổn định cũng có thể là hậu quả của việc hút thuốc kéo dài.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân uống rượu chiếm 21,1%, thấp hơn so với tỷ lệ bệnh nhân không uống rượu chiếm 78,9% Uống quá nhiều rượu có thể tác động trực tiếp đến vận mạch, gây tăng huyết áp và tiềm ẩn nguy cơ tử vong, trong khi uống ít quá có thể làm mất đi nhiều lợi ích về tim mạch Mức độ an toàn của việc tiêu thụ rượu đối với huyết áp ở nam giới là dưới 2 ly chuẩn mỗi ngày, mỗi ly chuẩn tương đương 30ml rượu whisky, 120ml rượu vang hoặc 360ml bia Các khuyến nghị cho nam giới không uống quá 2 ly chuẩn, trong khi phụ nữ nên hạn chế dưới 1 ly chuẩn mỗi ngày để đảm bảo an toàn và phòng ngừa các vấn đề về tim mạch.
4.2.3 Thói quen tập thể dục
Hoạt động thể lực không chỉ cần thiết cho việc giảm cân mà còn giúp giảm tử vong, phòng ngừa tăng huyết áp, giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường và bảo vệ tim mạch Tuy nhiên, trong nhóm nghiên cứu này, chỉ có 46,9% người có thói quen tập thể dục, trong khi 53,1% không tập thể dục đều đặn Tỷ lệ thấp về hoạt động thể lực có thể do bệnh nhân chưa nhận thức rõ lợi ích của việc tập luyện hoặc do tư vấn y tế và truyền thông chưa đủ hiệu quả, cùng với ảnh hưởng của cuộc sống bận rộn trong môi trường công nghiệp Một nghiên cứu theo dõi kéo dài 11 năm trên 12.000 người Phần Lan cho thấy tần suất giảm huyết áp trung bình là 28% ở nam và 35% ở nữ khi tham gia hoạt động thể lực cường độ cao như chạy chậm hoặc bơi lội.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ thừa cân chiếm đến 34,3% và tỷ lệ béo phì là 32,6%, phản ánh mức độ phổ biến cao của vấn đề này trong cộng đồng Kết quả cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa việc ít vận động và tình trạng thừa cân, béo phì, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hoạt động thể chất để cải thiện sức khỏe cộng đồng.
Béo phì ngày càng gia tăng toàn cầu, trở thành một đại dịch và gây nhiều hệ lụy về sức khỏe Theo ước tính của WHO năm 2005, có khoảng 1,6 tỷ người trưởng thành thừa cân, trong đó ít nhất 400 triệu bị béo phì, và đến năm 2015, dự kiến có 2-3 tỷ người lớn thừa cân, hơn 700 triệu trong số đó bị béo phì Sự gia tăng này chủ yếu do thay đổi chế độ ăn uống và lối sống, đặc biệt ở các nước châu Á, nơi tỷ lệ béo phì cao hơn so với quần thể da trắng Nguyên nhân của béo phì cũng liên quan đến tăng huyết áp, với 60-70% các trường hợp cao huyết áp do béo phì gây ra Cơ chế liên quan bao gồm kháng insulin, giữ natri, hoạt động quá mức của hệ giao cảm, hoạt hóa hệ renin-angiotensin-aldosterone và thay đổi chức năng mạch máu.
Chỉ số vòng eo/vòng mông phản ánh mối liên hệ riêng biệt với huyết áp động mạch, trong đó vòng eo liên quan đến huyết áp tâm thu ở nữ và huyết áp tâm trương ở cả nam và nữ Trong khi đó, chỉ số vòng mông chỉ liên quan đến huyết áp tâm thu ở cả hai giới Tăng chỉ số vòng mông là yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vòng eo/hông cao chiếm tới 66,3%, phản ánh mức độ phổ biến của chỉ số này trong nhóm đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, tỷ lệ này có mối liên quan thuận với chỉ số khối cơ thể, cho thấy rằng vòng eo/hông cao có thể là chỉ số dự báo các vấn đề về sức khỏe liên quan đến cơ thể Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và kiểm soát tỷ lệ vòng eo/hông để duy trì sức khỏe tốt.
4.2.5 Chỉ số sinh hóa, đường huyết
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bất thường về sinh hóa lipid máu và đường huyết khá cao, với 37,7% người có cholesterol toàn phần trên 5,2 mmol/lít, và 60,0% mắc triglycerid vượt ngưỡng 1,7 mmol/l Ngoài ra, có 30,3% người có LDL cholesterol trên 3,4 mmol/l, trong khi 33,1% có HDL dưới 1 mmol/l Tỷ lệ người có đường huyết ≥ 7 mmol/l là 17,1%, cho thấy nguy cơ tiểu đường cao trong cộng đồng.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tăng cholesterol máu, đặc biệt là LDL cholesterol, dẫn đến xơ vữa mạch máu và làm cứng mạch, gây ra bệnh tăng huyết áp (THA) Nghiên cứu của Katulanda P G R tại Sri Lanka trong giai đoạn từ 2005 đến 2006 trên hơn 5.000 người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường (ĐTĐ) liên quan chặt chẽ đến tình trạng tăng cholesterol máu và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác.
Kết quả sau 3 tháng can thiệp
4.3.1 Kiến thức, quan niệm, thực hành của bệnh nhân trước và sau can thiệp
Sau 3 tháng, có sự thay đổi đáng kể về kiến thức, quan niệm và thực hành điều trị của nhóm nghiên cứu Bệnh nhân có kiến thức đúng tăng có ý nghĩa so với trước can thiệp: biết trị số tăng huyết áp tăng 96,0% so với 88,6% trước can thiệp, biết cách đo huyết áp 99,4% so với 87,4%, biết tăng huyết áp nguy hiểm 100% so với 93,7%, biết nguy cơ biến chứng 77,7% so với 37,7% và biết tăng huyết áp có khả năng phòng ngừa tăng 26,3% so với 9,7%
Trong nhóm nghiên cứu này, hơn 90% bệnh nhân cho rằng cần theo dõi huyết áp thường xuyên, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 63,6% trong nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh [6], điều này phản ánh nhận thức ngày càng nâng cao về tầm quan trọng của việc kiểm soát huyết áp Nghiên cứu được thực hiện trên cộng đồng vào năm 2014, do đó tỷ lệ này thấp hơn phù hợp với không gian và thời gian của nghiên cứu chúng tôi; bên cạnh đó, phương pháp can thiệp của chúng tôi còn bổ sung giải pháp nhắc nhở uống thuốc đúng giờ hàng ngày và nhắc tái khám định kỳ, góp phần nâng cao ý thức của bệnh nhân về việc theo dõi huyết áp thường xuyên Đối tượng nghiên cứu được áp dụng điều trị hạ áp kết hợp truyền thông tích cực, bao gồm tư vấn giáo dục sức khỏe truyền thống, phát tờ rơi tuyên truyền phòng chống tăng huyết áp, cùng with ứng dụng phần mềm nhắc nhở trên điện thoại để nhắc lịch uống thuốc và tái khám Đồng thời, bệnh nhân được khuyến khích tự theo dõi và ghi nhận huyết áp vào phiếu theo dõi HA, được kẹp trong sổ khám bệnh, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát huyết áp tại cộng đồng.
Sau can thiệp, quan niệm của đối tượng nghiên cứu về bệnh đã được nâng lên rõ rệt, cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức về bệnh lý Phương pháp can thiệp không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn cải thiện quan điểm và thái độ về bệnh, góp phần thúc đẩy thực hành điều trị đúng đắn hơn Điều này đặc biệt thể hiện qua việc nâng cao ý thức tuân thủ điều trị, như uống thuốc đúng giờ và tái khám đúng hẹn, từ đó nâng cao kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Các nghiên cứu đều khẳng định vai trò của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về sức khỏe và thúc đẩy thay đổi hành vi tích cực Do đó, việc mở rộng và đa dạng hóa nội dung tư vấn, truyền thông giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả chăm sóc và phòng bệnh cho cộng đồng.
4.3.2 Kết quả thực hành điều trị sau can thiệp
Sau 3 tháng can thiệp, hành vi đo huyết áp tại nhà của người tham gia đã có những cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ sử dụng máy đo huyết áp đúng cách tăng từ 86,9% trước can thiệp lên 98,9% sau can thiệp Ngoài ra, việc đo huyết áp hàng ngày được thực hiện đều đặn tăng từ 51,4% lên 96%, trong khi việc ghi lại số đo huyết áp hàng ngày cũng tăng từ 4,6% lên 86,9% Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc trang bị máy đo huyết áp và thực hành theo đúng quy trình sau 3 tháng đều có sự cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê.
Trong quá trình nghiên cứu, việc ghi lại trị số huyết áp của nhóm tham gia đã có sự cải thiện rõ rệt Tỷ lệ ghi nhận số đo huyết áp trước khi thực hiện nghiên cứu chỉ đạt 4,6%, trong khi sau khi kết thúc nghiên cứu, tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể, lên đến 86,9% Sự khác biệt giữa hai thời điểm ghi nhận này là có ý nghĩa thống kê, cho thấy hiệu quả của chương trình hoặc can thiệp nghiên cứu trong việc nâng cao nhận thức và kiểm soát huyết áp của nhóm đối tượng.
Trang bị máy đo huyết áp tại nhà và đo huyết áp hàng ngày giúp theo dõi chính xác chỉ số huyết áp của bệnh nhân Sau khi thực hiện can thiệp, số liệu huyết áp của đối tượng nghiên cứu tăng rõ rệt, cho thấy sự cải thiện trong nhận thức và thực hành kiểm soát huyết áp của bệnh nhân Việc ghi lại kết quả đo huyết áp thường xuyên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tự quản lý sức khỏe của người bệnh.
4.3.3 Các yếu tố nguy cơ thay đổi được của tăng huyết áp sau can thiệp
Sau can thiệp, các thói quen như hút thuốc, uống rượu, ăn mặn, ăn chất béo và tập thể dục đã được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ không hút thuốc lá tăng từ 69,4% lên 83,4%, không uống rượu từ 78,9% lên 92,0%, không ăn mặn từ 87,4% lên 93,1% và tập thể dục từ 46,9% lên 69,7% Những thay đổi này thể hiện sự tiến bộ trong hành vi hút thuốc, uống rượu và ăn chất béo sau 3 tháng, góp phần quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp cho bệnh nhân Đặc biệt, việc thay đổi chế độ ăn mặn và hành vi tập thể dục có vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu điều trị tăng huyết áp, giúp nâng cao hiệu quả của quá trình kiểm soát bệnh.
Nghiên cứu “Tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức thực hành phòng chống tăng huyết áp tại 2 xã Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2012” của Trần Văn Long cho thấy, can thiệp dựa trên kiến thức còn thiếu của người cao tuổi được thực hiện bởi các sinh viên cử nhân điều dưỡng đã giúp nâng cao nhận thức về tăng huyết áp và cách phòng tránh bệnh này Kết quả cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi hiểu rõ về tác hại của mỡ động vật không tốt đã tăng từ 6,3% lên 35,8%, đồng thời tỷ lệ người cao tuổi tham gia tập thể dục cũng tăng từ 50,3% lên 58,7% Tuy nhiên, nghiên cứu chưa ghi nhận sự thay đổi trong thói quen hút thuốc và sử dụng rượu bia của người cao tuổi sau khi thực hiện can thiệp.
4.3.4 Kết quả sự thay đổi các chỉ số sinh hóa, đường huyết
Mặc dù chưa ghi nhận sự khác biệt rõ ràng về các trị số sinh hóa như cholesterol toàn phần, LDL, HDL và triglyceride sau 3 tháng can thiệp, nhưng các chỉ số này đã có sự thay đổi tích cực Những cải thiện này thể hiện qua các giá trị thay đổi theo hướng có lợi cho sức khỏe, đồng thời các kết quả này đều đạt ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy sự hiệu quả của phương pháp can thiệp.
Chương trình can thiệp phòng và điều trị tăng huyết áp tại cộng đồng do Viện Tim mạch Việt Nam thực hiện sejak năm 2004 đã mang lại những kết quả tích cực trong việc kiểm soát huyết áp và nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh tăng huyết áp Các hoạt động của chương trình bao gồm khám sàng lọc, tư vấn và điều trị từ sớm giúp giảm thiểu các biến chứng tim mạch nguy hiểm Nhờ đó, tỷ lệ kiểm soát huyết áp trong cộng đồng đã được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh Chương trình còn thúc đẩy sự phối hợp liên ngành trong công tác phòng chống bệnh tăng huyết áp và xây dựng các chính sách y tế phù hợp.
Năm 2007, các chỉ số hóa sinh máu của nhóm bệnh nhân này có xu hướng tích cực, với mức độ glucose máu giảm đáng kể sau can thiệp, trong khi sự thay đổi của cholesterol toàn phần không thể hiện ý nghĩa thống kê Mặc dù nghiên cứu cho thấy chưa có sự thay đổi rõ rệt trong các trị số sinh hóa, nhưng do các yếu tố như đối tượng nghiên cứu, thời điểm và phương pháp tác động khác nhau, kết quả dễ bị ảnh hưởng và khó đạt được sự đồng thuận Thay đổi các trị số sinh hóa trước và sau điều trị chủ yếu phản ánh hiệu quả của việc tuân thủ thuốc và tái khám đúng hẹn, đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc nhắc nhở bệnh nhân sử dụng thuốc đều đặn.
4.3.5 Kết quả đạt huyết áp sau 3 tháng can thiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau can thiệp, tỷ lệ huyết áp đạt huyết áp mục tiêu tăng lên 73,7% so với chỉ 12% trước can thiệp, cho thấy sự cải thiện rõ rệt và phù hợp với tiêu chuẩn y tế Trước can thiệp, tỷ lệ không đạt huyết áp mục tiêu là 88%, nhưng sau khi áp dụng các biện pháp, tỷ lệ này giảm còn 26,3%, thể hiện sự hiệu quả của chiến lược can thiệp Năm 2011, Márquez đề xuất duy trì hệ thống phản hồi hai chiều giữa bệnh nhân và thầy thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời chứng minh rằng hình thức nhắn tin hàng ngày nhắc uống thuốc qua điện thoại di động là phương pháp hỗ trợ quản lý huyết áp thành công.
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng các tiện ích trên điện thoại di động, đặc biệt là điện thoại thông minh, là một công cụ hiệu quả để nhắc nhở người bệnh sử dụng thuốc đúng lịch trình và tái khám định kỳ Tuy nhiên, công tác truyền thông vẫn cần duy trì các giải pháp hiện có như tư vấn trực tiếp, các câu lạc bộ bệnh nhân để nâng cao hiệu quả điều trị Người bệnh cần được khuyến khích và tạo điều kiện tiếp cận đa dạng các phương pháp hỗ trợ dựa trên điều kiện của cơ sở y tế và khả năng của người bệnh nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức và thực hành điều trị, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Với sự phổ biến của điện thoại di động trong mọi tầng lớp xã hội, chức năng nhắc nhở trong điện thoại là giải pháp tiện lợi, dễ sử dụng, giúp tăng cường sự tuân thủ điều trị và tái khám, đặc biệt đối với các bệnh mạn tính Do đó, giải pháp này cần được mở rộng và đánh giá toàn diện tại nhiều bệnh viện mà không gây thêm chi phí, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho người dân.