Ở Việt Nam, chất thải y tế được xác định là chất thải nguy hại, nằm trong danh mục A, các chất thải nguy hại đã được Bộ Y tế quy định và đã ban hành “Qui chế bệnh viện”, trong đó có qui
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN LÊ HOÀI BẢO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI
CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TỈNH SÓC TRĂNG
NĂM 2018-2019
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
CẦN THƠ – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN LÊ HOÀI BẢO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TỈNH SÓC TRĂNG
NĂM 2018-2019
Chuyên ngành: Quản lý Y tế
Mã số: 8720801CK
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS LÊ THÀNH TÀI
CẦN THƠ- 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Cần Thơ, ngày 08 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
TRẦN LÊ HOÀI BẢO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân, bạn bè, gia đình và các nhà khoa học trong ngành Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Khoa Y tế công cộng trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS LÊ THÀNH TÀI đã dành cho em tất cả sự hướng dẫn tận tình, động viên em
trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng yêu thương tới vợ và con tôi, những người đã sát cánh bên tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và công việc
Xin trân trọng cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
TRẦN LÊ HOÀI BẢO
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Đặt vấn đề 1
Chương 1 Tổng quan tài liệu 3
1.1.Tổng quan về chất thải rắn y tế 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y t ế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế 16
1.3 Đặc điểm về nơi nghiên cứu 22
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3 Đạo Đức trong nghiên cứu 41
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 42
3.1 Thực trạng quản lý CTRYT của các cơ sở y tế 42
3.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu……… …….52
3.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu có kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu 53
3.4 Mối liên quan đến kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu 57 3.5 Kết quả can thiệp 65
Chương 4 Bàn luận 67
Trang 64.1.Thực trạng quản lý Chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế 67
4.2.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 71
4.3.Đặc điểm kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế 76
4.4.Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành chung chưa đúng của đối tượng nghiên cứu 82
4.5.Kết quả can thiệp 86
KẾT LUẬN 87
KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
ĐHYD CT Trường Đại học Y dược Cần Thơ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Đặc điểm chung của CSYT 42
Bảng 3 2 Lượng CTRYT phát sinh hàng ngày 43
Bảng 3 3 Thành phần CTRYT phát sinh hàng ngày 44
Bảng 3 4 Lượng CTRYT phát sinh hàng ngày/giường bệnh 45
Bảng 3 5 Biện pháp và kinh phí xử lý CTRYT 46
Bảng 3 6 Thực trạng dụng cụ thu gom CTRYT lây nhiễm 47
Bảng 3 7 Thực trạng dụng cụ thu gom CTRYT sắc nhọn 48
Bảng 3 8 Thực trạng dụng cụ thu gom CTRYT hóa học 49
Bảng 3 9 Thực trạng phân loại và thu gom CTRYT tại các cơ sở Y tế 50
Bảng 3 10 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ CTRYT 51
Bảng 3 11 Thực trạng quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế 51
Bảng 3 12 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 52
Bảng 3 13 Đặc điểm về nguồn thông tin tiếp cận 53
Bảng 3 14 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết chưa đúng các cơ bản về CTRYT 54
Bảng 3 15 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức chung về vận chuyển CTRYT đúng 54
Bảng 3 16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức về phân loại và xử lý CTRYT theo quy định đúng 55
Bảng 3 17 Mối liên quan giữa kiến thức chung và giới tính của đối tượng nghiên cứu 57
Bảng 3 18 Mối liên quan giữa kiến thức chung và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 57
Bảng 3 19 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thâm niên làm việc của đối tượng nghiên cứu 58
Bảng 3 20 Mối liên quan giữa kiến thức chung và trình độ của đối tượng nghiên cứu 59
Trang 9Bảng 3 21 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực trạng được t ập huấn
về CTRYT của đối tượng nghiên cứu 59 Bảng 3 22 Mối liên quan giữa kiến thức chung và nguồn thông tin tiếp cận của đối tượng nghiên cứu 60 Bảng 3 23 Mối liên quan giữa thực hành chung và giới tính của đối tượng nghiên cứu 61 Bảng 3 24 Mối liên quan giữa thực hành chung và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 61 Bảng 3 25 Mối liên quan giữa thực hành chung và thâm niên làm việc của đối tượng nghiên cứu 62 Bảng 3 26 Mối liên quan giữa thực hành chung và trình độ của đối tượng nghiên cứu 62 Bảng 3 27 Mối liên quan giữa thực hành chung và thực trạng được tập huấn
về CTRYT của đối tượng nghiên cứu 63 Bảng 3 28 Mối liên quan giữa thực hành chung và nguồn thông tin tiếp cận được của đối tượng nghiên cứu 64 Bảng 3 29 Mối liên quan giữa thực hành chung và kiến thức chung chưa đúng của đối tượng nghiên cứu 65 Bảng 3 30 Kết quả can thiệp về kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu65 Bảng 3 31 Hiệu quả sau can thiệp về thực hành chung 66
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ kiến thức chưa đúng của đối tượng nghiên cứu 53 Biểu đồ 3 2 Tỷ lệ thực hành chưa đúng của đối tượng nghiên cứu 56
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải nói chung và chất thải y tế nói riêng đang là vấn đề quan tâm của cộng đồng và toàn xã hội Chất thải y tế là một trong những loại chất th ải nguy hại, phức tạp, có khả năng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đây cũng là mối quan tâm của toàn thế giới [7], [75]
Chất thải y tế nếu không được xử lý an toàn sẽ tích tụ lâu dài trong môi trường, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và không khí, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Ở Việt Nam, chất thải y tế được xác định là chất thải nguy hại, nằm trong danh mục A, các chất thải nguy hại đã được Bộ Y tế quy định và đã ban hành “Qui chế bệnh viện”, trong đó có qui chế xử lý chất thải, Quy chế chống nhiễm khuẩn bệnh viện, “Quy chế quản lý chất thải y tế” bao gồm các nội dung: tổ chức quản lý, qui trình kỹ thuật, các mô hình tiêu hủy chất thải, cơ sở hạ tầng và p hương tiện phục vụ cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế [7] [74]
Theo Bộ Tài nguyên môi trường, dự báo đến năm 2011, lượng chất thải rắn của Việt Nam sẽ tăng từ 24 – 30% tương đương 45 triệu tấn rác/năm.Trong đó chất thải y tế nguy haị vào khoảng 25.000 tấn/năm [4]
Ngành y tế hiện nay, ngoài hơn 800 bệnh viện công lập trên toàn quốc còn có 157 bệnh viện tư nhân và hơn 30.000 phòng khám tư nhân Trong khi
đó, số lượng các bệnh viện và phòng khám tư nhân vẫn không ngừng gia tăng Hiện nay, trung bình mỗi một ngày lượng chất thải y tế của các bệnh viện lên tới 400-500 tấn, trong đó khoảng 10% là chất thải nguy hại (40-45 tấn) [6]
Sóc Trăng là một trong những tỉnh ven biển thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu long, mạng lưới các cơ sở Y tế của tỉnh được xây dựng từ t ỉnh đến phường, xã với các trang thiết bị tương đối cơ bản phục vụ cho sức khoẻ của nhân dân trong tỉnh Trong quá trình hoạt động khám và chữa bệnh cho người dân các bệnh viện, trung tâm đã thải ra môi trường một khối lượng lớn chất thải y tế Chất thải y tế nguy hại phát sinh toàn tỉnh khoảng 197 tấn/năm, bao
Trang 12gồm từ các cơ sở y tế công lập khoảng 131 tấn/năm và các cơ s ở y t ế ngoài công lập khoảng 66 tấn/năm Đây là một trong những nguy cơ gây ô nhiểm nghiêm trọng đối với môi trường sống, là nguồn gây ô nhiểm trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng [45] Mặt khác,các bệnh viện và cơ sở y tế trong tỉnh lại nằm trong khu vực đông dân cư,khi có dịch bệnh xảy ra sẽ dể dàng p hát tán nhanh chóng
Xuất phát từ cơ sở trên đây, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình và đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập tỉnh Sóc Trăng năm 2018-2019”,
3 Đánh giá kết quả can thiệp sau 6 tháng về quản lý chất thải rắn y tế của các nhân viên y tế có kiến thức hoặc thực hành chưa đúng tại các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm 2018-2019
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế
1.1.1 Chất thải y tế và quản lý chất thải rắn y tế
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở
y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, p hóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự p hát
thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác
Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi
thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải thành những sản phẩm
mới
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp,
đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ
sở y tế
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát
sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy
Trang 14Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm
làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [7], [10]
1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải p hát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
+ Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ p hận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
+ Chất thải là các mô, cơ quan người, động vật (loại E) (dù có bị nhiễm khuẩn hay không)
- Chất thải hóa học:
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
Trang 15+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quy chế này)
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quy chế này)
+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ
từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
- Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí p hát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế
- Các bình chứa khí có áp suất: [7], [10]
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
- Chất thải sinh hoạt: [7], [10]
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai
lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Trang 16+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [ 7], [10]
1.1.2.2 Theo Tổ chức Y tế thế giới
Tổ chức Y tế thế giới chia chất thải y tế ra làm 8 loại như sau [73]:
Rác nhiễm trùng: Có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, kí sinh
trùng và nấm với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ cảm nhiễm
Loại rác này thường sinh ra từ những nguồn như: Môi trường nuôi cấy mầm bệnh từ phòng thí nghiệm; rác từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi các bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng; rác từ phòng cách ly các bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng; súc vật được tiêm truyền dùng trong phòng thí nghiệm; dụng cụ hoặc
vật liệu tiếp xúc với bệnh nhân truyền nhiễm
Rác sắc nhọn: Có thể làm rách da, tổn thương da, bao gồm kim tiêm,
dao mổ, bộ tiêm truyền, mảnh thuỷ tinh vỡ…
Thuốc thải loại: Gồm các thuốc quá hạn, thuốc không dùng đến hoặc
các loại vacxin, huyết thanh, kể cả những dụng cụ chai lọ đựng chúng
Rác có tính chất độc với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái
thai Gồm các loại thuốc chống ung thư kể cả phân, chất nôn, nước tiểu của
các bệnh nhân được điều trị bằng những thuốc này
Hoá chất: Có thể dưới dạng đặc, lỏng, khí Sinh ra trong quá trình chẩn
đoán, điều trị, thí nghiệm của bệnh viện, cũng như trong quá trình cọ rửa, tẩy
uế Chúng được xếp vào loại độc hại khi:
Trang 17Rác chứa kim loại nặng - độc: các chất chứa chì, thuỷ ngân, asen Các bình chứa khí nén: Được dùng trong y tế dưới dạng khí oxy, các
khí gây mê, các khí để tiệt trùng các bộ đồ phẫu thuật
Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng giác quan, chúng thường gây
ảnh hưởng lâu dài, bao gồm các loại tia anpha, bêta, gama, tia X, chúng thường gây ion hoá các chất trong tế bào và gây độc đối với gen
Theo đánh giá của Tổ chức y tế thế giới thì trong các loại chất thải y tế
có 85% chất thải y tế không lây nhiễm, 10% là lây nhiễm và 5% rất độc hại Nếu đốt hết chất thải thì sẽ gây ra khí thải, khí độc hại làm ô nhiễm môi trường, nhất là nhựa có chứa Chlor [73] Vì vậy khâu thu gom, phân loại chất thải phải theo đúng quy trình Bộ Y tế cũng đã ban hành danh mục chất thải được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế Theo đó các vật liệu thuộc chất thải thông thường không dính, chứa các thành phần nguy hại được p hép thu gom phục vụ mục đích tái chế bao gồm: chai nhựa, chai thủy tinh, kim loại đựng các dung dịch không có chất hóa học nguy hại, giấy báo, bìa, thùng các tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu giấy [73]
1.1.3 Thu gom chất thải rắn trong cơ sở y tế
− Nơi đặt thùng đựng chất thải
+ Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải phải có loại thùng thu gom tương ứng
+ Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom
+ Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và p hải được vệ sinh hàng ngày
+ Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải p hát sinh
để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của cơ sở y tế
Trang 18− Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải: + Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
+ Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ + Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ + Màu trắng đựng chất thải tái chế
− Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợp chất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y
1 lần trong ngày và khi cần
− Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất thải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải [3]
1.1.4 Vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn trong cơ sở y tế [6]
- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất một lần một ngày
Trang 19vực tập trung đông người tối thiểu là 10 mét Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến
- Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và
có khóa Không để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ
tự do xâm nhập Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y
tế Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ, trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh có thể đến 72 giờ [6], [7]
1.1.5 Phương pháp xử lý chất thải y tế
- Phương pháp xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý an toàn ở gần nơi chất thải phát sinh Phương pháp xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
+ Khử khuẩn bằng hoá chất: ngâm chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trong dung dịch Cloramin B 1-2%, Javen 1-2% trong thời gian tối thiểu 30 phút hoặc các hoá chất khử khuẩn khác theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất và theo quy định của Bộ Y tế
+ Khử khuẩn bằng hơi nóng: cho chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao vào trong máy khử khuẩn bằng hơi nóng và vận hành theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất
+ Đun sôi liên tục trong thời gian tối thiểu 15 phút
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao sau khi xử lý ban đầu có thể đem chôn hoặc cho vào túi nilon mầu vàng để hoà vào chất thải lây nhiễm Trường hợp chất thải này được xử lý ban đầu bằng phương pháp tiệt khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các công nghệ hiện đại khác đạt t iêu chuẩn thì sau đó có thể xử lý như chất thải thông thường và có thể tái chế
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải lây nhiễm
Chất thải lây nhiễm có thể xử lý và tiêu huỷ bằng một trong các phương pháp sau:
Trang 20+ Khử khuẩn bằng nhiệt ướt (autoclave)
+ Khử khuẩn bằng vi sóng
+ Thiêu đốt
+ Chôn lấp hợp vệ sinh: Chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y
tế các tỉnh miền núi và trung du chưa có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương Hố chôn lấp tại địa điểm theo quy định của chính quyền và được sự chấp thuận của cơ quan quản lý môi trường tại địa phương Hố chôn lấp phải đáp ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100 m, đáy hố cách mức nước bề mặt tối thiểu 1,5 mét, miệng hố nhô cao và che tạm thời để tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải phải đổ lên trên mặt hố lớp đất dầy từ 10 -25 cm và lớp đất trên cùng dầy 0,5 mét Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp
+ Trường hợp chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp tiệt khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng và các công nghệ hiện đại khác đạt tiêu chuẩn thì sau đó có thể xử lý, tái chế, tiêu huỷ như chất thải thông thường
- Phương pháp xử lý chất thải sắc nhọn
Có thể áp dụng một trong các phương pháp tiêu huỷ như sau:
+ Thiêu đốt trong lò đốt chuyên dụng cùng với chất thải lây nhiễm khác
+ Chôn trực tiếp trong các hố xây xi măng chuyên dùng để chôn vật sắc nhọn: hố có đáy, có thành và có nắp đậy bằng bê tông
- Phương pháp xử lý chất thải giải phẫu
Có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
+ Xử lý và tiêu huỷ giống như các chất thải lây nhiễm đã nêu ở trên + Bọc trong hai lớp túi mầu vàng, đóng thùng và đưa đi chôn ở nghĩa trang
Trang 21+ Chôn trong hố bê tông có đáy và nắp kín
- Phương pháp xử lý, tiêu huỷ chất thải hoá học
Các phương pháp chung để xử lý, tiêu huỷ chất thải hoá học nguy hại: + Trả lại nhà cung cấp theo hợp đồng
+ Thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao
+ Phá huỷ bằng phương pháp trung hoà hoặc thuỷ phân kiềm
+ Trơ hoá trước khi chôn lấp: trộn lẫn chất thải với xi măng và một
số vật liệu khác để cố định các chất độc hại có trong chất thải Tỷ lệ các chất pha trộn như sau: 65% chất thải dược phẩm, hoá học, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước Sau khi tạo thành một khối đồng nhất dưới dạng cục thì đem đi chôn
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải dược phẩm
+ Thiêu đốt cùng với chất thải lây nhiễm nếu có lò đốt
+ Chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải nguy hại
+ Trơ hoá
+ Chất thải dược phẩm dạng lỏng được pha loãng và thải vào hệ thống xử lý nước thải của cơ sở y tế
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải gây độc tế bào
+ Trả lại nhà cung cấp theo hợp đồng
+ Thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao (Phụ lục 2: Một số thuốc gây độc tế bào thường sử dụng trong y tế và nhiệt độ tối thiểu để tiêu huỷ chất gây độc tế bào)
+ Sử dụng một số chất oxy hoá như KMnO4, H2SO4 v.v… giáng hoá các chất gây độc tế bào thành hợp chất không nguy hại
+ Trơ hoá sau đó chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải tập trung
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải chứa kim loại nặng
+ Trả lại nhà sản xuất để thu hồi kim loại nặng
+ Tiêu huỷ tại nơi tiêu huỷ an toàn chất thải công nghiệp
Trang 22Nếu 2 phương pháp trên không thực hiện được, có thể áp dụng phương pháp đóng gói kín bằng cách cho chất thải vào các thùng, hộp b ằng kim loại hoặc nhựa polyethylen có tỷ trọng cao, sau đó thêm các chất cố định (xi măng, vôi cát), để khô và đóng kín Sau khi đóng kín có thể thải ra bãi rác thải chung
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải phóng xạ
+ Cơ sở y tế sử dụng chất phóng xạ và dụng cụ thiết bị liên quan đến chất phóng xạ phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật về an toàn bức xạ
- Phương pháp xử lý và tiêu huỷ các bình áp suất
Có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
+ Trả lại nơi sản xuất
+ Tái sử dụng
+ Chôn lấp thông thường đối với các bình áp suất có thể tích nhỏ Hiện nay lượng chất thải rắn bình quân của các bệnh viện, cơ sở y tế tuy có được phân loại theo đúng quy định ngay sau khi thu gom tuy nhiên các bọc màu vẫn chưa đảm bảo chuẩn mực theo quy định, hệ thống ký hiệu và thùng chứa chất thải chưa thống nhất, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đôi khi còn lẫn lộn, số lượng rác thải phân loại theo đúng quy trình ước tính khoảng 65% Thành phần rác thải sinh hoạt chiếm khoảng 75% và rác thải y
tế khoảng 25% trong lượng rác phát sinh hàng ngày của bệnh viện
Phương tiện bảo hộ lao động thô sơ, phương tiện vận chuyển chất thải
từ khoa phòng đến lò đốt chưa đảm bảo, chủ yếu là khiêng và xách bằng tay, chưa
có xe
chuyên dùng Các bệnh viện có trang bị lò đốt phần lớn đều sử dụng lò đốt thủ công hoặc không đảm bảo các chỉ tiêu về khói thải của lò đốt theo các tiêu chuẩn về môi trường
Trang 23Sơ đồ 1 1 Mô hình chung về công tác quản lý rác thải y tế
Xử lý nước thải y tế tại bệnh viện
- Lượng nước thải phát sinh hàng ngày của bệnh viện ước tính chỉ có khoảng 10% là đã được xử lý trước khi thải ra môi trường Nước thải sinh hoạt, nước thải y tế vẫn đi chung hệ thống thoát nước mưa và thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận không qua xử lý
- Công nghệ xử lý nước thải hiện nay được sử dụng p hổ biến cho các bệnh viện là phương pháp hoá học, nguyên lý hoạt động của hệ thống có thể tóm tắt theo sơ đồ 1.2
Phân
loại
Rác sinh hoạt
Rác nguy hại
Thu gom
Lưu giữ tại nơi
xử lý
Vận chuyển
Trang 24
Sơ đồ 1.2 Hệ thống xử lý nước nước thải y tế
- Nước thải từ bệnh viện được theo hệ thống ống thu gom chảy vào các
hố thu gom nước thải Trước khi chảy vào hố thu nước thải chảy qua lưới chắn rác để tách các cặn rác có kích thước lớn (nylon, giấy, lá cây ) có lẫn trong dòng nước thải trước khi vào bể lắng cát để lắng sơ bộ hạt cặn có kích thước lớn
- Từ bể lắng cát nước được dẫn vào bể phản ứng, tại đây có định lượng hoá chất keo tụ và diễn ra phản ứng keo tụ nước thải Các chất bẩn không tan liên kết với hạt keo và liên kết với nhau tạo thành hạt cặn có kích thước lớn và
dễ lắng Sau đó nước thải chảy vào bể lắng thứ cấp, các hạt cặn được lắng xuống đáy bể lắng Phần nước trong được dẫn vào máng trộn hoá chấ t khử trùng Nước đã qua xử lý đi vào hệ thống thoát nước chung của khu vực Nước sau xử lý bằng công nghệ này chỉ đảm bảo các chỉ tiêu hoá lý và vi sinh
Trang 25chứ không làm sạch được các chất hữu cơ hoà tan trong nước thải, do đó nước thải ra khó có thể đảm bảo tiêu chuẩn cho phép theo TCVN 7382-2004 mức II
và TCVN 5945-2005 loại B
1.1.6 Ảnh hưởng của chất thải y tế lên môi trường và sức khỏe
1.1.6.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe
- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn:
Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm h viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,
- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm:
CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B, chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua qua da, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp , qua đường tiêu hóa Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện
- Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận… như: Thủy ngân, Chất khử trùng, Dư lượng các hóa chất
sử dụng tại các phòng xét nghiệm
- Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào:
Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu
Trang 26- Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ:
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường
độ và thời gian tiếp xúc Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường, ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền [10]
1.1.6.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường
Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên [10]
1.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trên thế giới
- Nghiên cứu về chất thải rắn y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển chủ yếu là các biện pháp làm giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng chất thải, các p hương p háp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các phương pháp xử lý chất thải
- Ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống
xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại p hế thải từ 1000oC đến trên 4000oC
- Tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của
lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và
cơ học tùy theo loại phế thải
- Các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo
vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh
Trang 27viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải
- Nghiên cứu Taymay K Mehta và cộng sự (2018) tại Ấn Độ tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng quản lý CTRYT là 47,9%, thái độ đúng là 77,5% và thực hành đúng là 57,5% Bác sĩ có kiến thức đúng là 72,49%, thực hành đúng là 61,9% và thái độ đúng là 70,2% Cũng tại nghiên cứu này đã cho thấy tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng ở nhóm có tập huấn cao hơn nhóm không được tập huấn [71]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại Việt Nam
- Trong những năm qua, ngành Y tế và các địa phương đã có nhiề u cố gắng trong công tác quản lý chất thải y tế Nhiều bệnh viện đã được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải y tế; thực hiện phân loại chất thải ngay tại nơi phát sinh, thu gom và lưu giữ tạm thời chất thải rắn y tế tại các bệnh viện; thực hiện việc chuyển giao và xử lý chất thải y tế đảm bảo đúng theo quy định Tuy nhiên, thời gian gần đây qua thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã phát hiện một số bệnh viện chưa
Trang 28làm tốt công tác quản lý chất thải y tế, còn có hiện tượng để chất thải y tế lọt
ra bên ngoài Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về quản
lý chất thải y tế cho cán bộ, nhân viên bệnh viện chưa được thường xuyên Lãnh đạo nhiều bệnh viện còn chưa quan tâm đến công tác quản lý chất thải y
tế Nhiều địa phương chưa bố trí đủ kinh phí để đầu tư xây dựng, vận hành thường xuyên hệ thống xử lý chất thải cho các bệnh viện [4]
- Xét về rác thải y tế, khoảng 50% số bệnh viện tại Việt Nam vẫn chưa
áp dụng quy trình xử lý rác y tế đạt chuẩn Mỗi ngày, ngành y tế thải ra từ 350 đến 450 tấn rác thải, trong đó có 40 tấn thuộc loại độc hại [4]
- Nghiên cứu của Đinh Quang Tuấn tại Thành phố Việt Trì cho biết chỉ có
30,4% trạm y tế đạt yêu cầu quản lý CTRYT, từng bước trong quy trình quản lý gồm: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý có tỷ lệ đạt yêu cầu tương ứng là: 39,1%; 43,5%; 82,6%; 65,2% Chỉ có 43,5% số trạm y tế có đủ dụng cụ chứa đựng CTRYT đúng quy định 24,5% NVYT có kiến thức đầy đủ về QLCTRYT Tỷ lệ đạt các kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và
xử lý chất thải lần lượt là 64%; 91,2%; 42,1%; 78,1% Tỷ lệ cán bộ thực hành đúng quy trình chỉ đạt 10,5% [25]
- Nghiên cứu của Trương Nguyễn Huỳnh Trâm tại các Trung tâm Y tế
huyện của tỉnh Thừa Thiên - Huế” cho thấy: Lượng CTRYT tính theo GB
trong 1 ngày (kg/giường/ngày) là 0,69 kg/giường/ngày, lượng CTRYT nguy hại là 0,12 kg/giường/ngày CTRYT phân loại chưa đúng theo quy định Về thu gom, lưu giữ CTRYT: Một số TTYT đã thực hiện tốt công tác thu gom, lưu giữ CTRYT, một số khoa, phòng thực hiện chưa tốt công tác này, đặc biệt
là CTRYT nguy hại Về biện pháp xử lý CTRYT: Đối với CTRYT thông thường được hợp đồng với các đơn vị chức năng vận chuyển đi xử lý Đối với CTRYT nguy hại được xử lý bằng các biện pháp không đạt các tiêu chuẩn về môi trường Về nhận thức của NVYT về quản lý CTRYT: Đa số NVYT chưa hiểu đúng về cách phân loại các nhóm chất thải và mã màu sắc đựng các loại
Trang 29chất thải tương ứng Về tình hình bỏ rác của bệnh nhân: Đa số bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đã bỏ rác đúng nơi quy định [48]
- Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê, Phạm Đức Khiêm tại Tp Hải Phòng cho thấy, lượng chất thải phát sinh/giường bệnh/ngày là 1,02 kg, trong đó chất thải lây nhiểm là 0,09 kg Còn thiếu các hướng dẫn về nhận lực quản lý chất thải y tế, vệ qui trình xử lý hợp lý và thống nhất giữa các bệnh viện [30]
- Nghiên cứu của tác giả Lê Vĩnh Thịnh tại 19 cơ sở công lập của huyện Long Thành, kiến thức đúng về phương pháp xử lý ban đầu CTRYT nguy hại là thấp nhất 139/267 (52,06%), xử lý chất thải giải p hẫu 161/267 (60,30%), chất thải là dược phẩm 164/267 (61,42%), chất thải lây nhiễm 171/267 (64,04%) Kiến thức xử lý các loại CTRYT khác đạt trên 70% [21]
- Bùi Thị Thu Thủy, Trần Thị Thanh Tâm nghiên cứu tại bệnh viện
Thống nhất, Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về phân loại chất thải y t ế
là 53% và chất thải lây nhiễm là 70,5%, về thời gian lưu giữ tối đa chất thải y
tế nguy hại trong bệnh viện của bác sĩ đạt tỷ lệ 7,7%, điều dưỡng là 21,3%, h ộ lý: 10% Thái độ của nhân viên y tế về tầm quan trọng trong công tác quản lý
và xử lý chất thải Ở mức độ rất quan trọng là > 90% Mức độ quan tâm đến công tác quản lý và xử lý chất thải, tỷ lệ chung rất quan tâm là 64,5% Mức độ tích cực của nhân viên y tế trong việc tham gia lớp tập huấn về quản lý và xử lý chất thải là 69,5% Thái độ của nhân viên y tế đối với các trang thiết bị bảo hộ lao động là 28% [44]
- Một nghiên cứu tại huyện Hóc Môn, Tp HCM cho thấy Lượng chất thải rắn sinh hoạt khoảng 429.9 tấn/năm và lượng CTRYT khoảng 46.28 tấn/năm Công tác kiểm soát chất lượng môi trường tại bệnh viện đã có biện pháp quản lý nhưng công tác kiểm tra, giám sát chưa được quan tâm chặc chẽ Chất thải y tế thải ra khối lượng khá lớn xảy ra tình trạng thất thoát chất thải
mà bệnh viện khó có thể kiểm soát Hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom
và vận chuyển CTR còn thiếu, chưa đồng bộ theo đúng quy định của Bộ Y t ế
Trang 30Nhà lưu giữ CTRYT xuống cấp, diện tích nhỏ không đủ chứa khối lượng chất thải ngày càng gia tăng, nên rác sinh hoạt được đổ đóng p hía ngoài nhà lưu giữ [50]
Tại Đồng bằng song Cửu Long
- Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ Tiên tại 20 Trạm Y tế quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền: chỉ có 37,3% được tập huấn về quản lý và
xử lý CTYT Kiến thức về phân loại CTYT của các cán bộ y tế và các vệ sinh viên còn kém, tỷ lệ biết phân loại CTYT thành 5 nhóm thấp (6,6% ), c ó 2,4% cán bộ không biết loại nào, phần lớn biết về chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường (>95%); các loại chất thải khác biết ít hơn (<50%) Tỉ
lệ kiến thức về xử lý CTYT, tỉ lệ đúng chiếm 67,5% Có 77,1% các cán bộ cho rằng nên xử lý sơ bộ chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom, tuy nhiên chỉ có 59% biết về phương pháp xử lý ban đầu chất thải nguy cơ lây nhiễm cao [20]
- Tác giả Nguyễn Quang Khiêm và Trần Đỗ Hùng nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long Tỷ lê đạt về kiến thức với bác sĩ là 82,1% và 59,6% với y tá Các nội dung hiểu sai nhiều nhất là: p hân biêt 5 nhóm chất thải y tế, nhãn biết mã màu sắc và biểu tương quy định đối với các dụng cụ thu gom các nhóm chất thải khác nhau Tỷ lê đạt về thực hành với bác sĩ là 76,5% và 52,1% với y tá Viêc thu gom, phân loại sai vẫn xảy ra, có 47,1% bác sĩ và 32,8% y tá, hộ lý phân loại sai chất thải tái chế, 36,5% bác sĩ và 37,0% y tá, hộ lý thực hành phân loại sai chất thải hóa học Các yếu tố như trình độ học vấn, thâm niên công tác, tãp huấn, thời gian tãp huấn và số lần tãp huấn ảnh hưởng trực tiếp tới kiến thức và thực hành thu gom và xử lý chất thải y tế của nhân viên y tế [24]
- Nghiên cứu của Hồ Tấn Hòa, Hoàng Trọng Sĩ ở thành phố Sóc Trăng
cho thấy Có 5/6 đơn vị có phân loại rác y tế đúng qui định của Bộ Y tế Hiểu
biết đầy đủ các loại chất thải y tế (72,0%) Hiểu biết những nguy hại của chất
Trang 31thải y tế: lan truyền bệnh (96,5%); Hiểu biết những đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi chất thải y tế: hộ lý (87,3%); Bác sĩ,Y tá (76,0%); nhân viên thu gom, vận chuyển, xử lý rác (90,8%); bệnh nhân (29,5%) Thái độ với qui chế quản lý chất thải y tế (95,0%) Tham dự tập huấn về qui chế quản lý chất thải y tế 66,0%, vận động mọi người tham gia xử lý chất thải y tế ( 78,5%), tư vấn cho người nhà bệnh nhân về chất thải y tế 81,8% [17]
- Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Các tại thành phố Sóc Trăng cho thấy: Tỷ lệ các cơ sở y tế thực hiện đúng về quản lý chất thải rắn y tế theo quy chế của Bộ Y tế là 33,3% Có 33,3% sử dụng dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển đúng, 50% thực hiện phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế đúng, 33,3% vận chuyển chất thải rắn y tế ra ngoài
cơ sở y tế đúng, 67% xử lý chất thải rắn y tế đúng Có kiến thức chung đúng
về quản lý chất thải rắn y tế là 63,9% Kiến thức đúng về thu gom riêng chất thải y tế nguy hại với chất thải thông thường chiếm tỷ lệ cao nhất với 98,7% Kiến thức đúng về phân loại chất thải rắn y tế là thấp nhất với 37,1% Điều dưỡng có kiến thức đúng về phân loại chất thải y tế cao nhất với 52%, nhóm
lỹ thuật viên là thấp nhất với 3,4% Có 96,3% nhân viên có thái độ chung đúng về quản lý chất thải y tế [11]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2015) tại địa bàn tỉnh Long An ghi nhận kết quả với 100% CSYT được khảo sát chưa thực hiện đúng các quy định về hoạt động phân loại, thu gom CTRYT tại nguồn theo quy chế quản lý CTRYT; 12,5% CSYT thực hiện hoạt động vận chuyển CTRYT, 16,7% CSYT hoạt động lưu giữ CTRYT và 14,3% CSYT thực hiện hoạt động xử lý đúng theo quy chế QLCTRYT Kinh phí vẫn chưa đáp ứng
đủ cho công tác xử lý CTYT, từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến mua sắm trang thiết bị, nhận thức của NVYT chưa cao trong hoạt động này [33]
- Nghiên cứu của Phạm Đức Khang (2016) tại bệnh viện Y học Cổ truyền Kiên Giang ghi nhận kết quả với kiến thức, thực hành phân loại
Trang 32CTRYT: 45,4% NVYT đạt kiến thức chung về CTRYT, chỉ 22,3% NVYT
có kiến thức về chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao 92,3% NVYT đạt kiến thức phân loại CTRYT, chỉ có 40,8% có kiến thức về quy định phân loại chất thải hóa học nguy hại 62,2% NVYT đạt thực hành phân loại CTRYT, nhưng chỉ có 45,4% thực hành phân loại đúng chất thải tái chế và 61,3% thực hành phân loại đúng chất thải lây nhiễm sắc nhọn Nghiên cứu này cũng ghi nhận một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NVYT: Trình độ chuyên môn, tập huấn, sự nhắc nhở của lãnh đạo [29]
1.3 Đặc điểm về nơi nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
- Tỉnh Sóc Trăng nằm ở phía Đông Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Cần Thơ 60km Tổng diện tích tự nhiên của Tỉnh Sóc Trăng là 331.164,25 ha, có 11 huyện, thị xã và thành phố (gọi chung là tuyến huyện) bao gồm: TP Sóc Trăng, TX Vĩnh Châu, TX Ngã Năm và 8 huyện (Cù Lao Dung, Kế sách, Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Châu Thành và Trần Đề)
- Dân số trung bình 1.307.749 người Cơ cấu dân số gồm dân tộc: Kinh 840.076 người, Hoa 65.658 người, Khmer 401.590 người, dân tộc khác 425 người [ 9],[28]
1.3.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
- Chất thải rắn chất thải rắn y tế tại tỉnh Sóc Trăng nói chung phát sinh
chủ yếu từ: Các bệnh viện, trung tâm y tế và số ít từ các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân Thành phần chất thải phụ thuộc vào quy mô của cơ sở
1.3.3 Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
- Toàn tỉnh hiện có 126 cơ sở y tế với 2.450 giường bệnh, 3.007 cán bộ
y tế, bình quân có 4,28 bác sỹ/10.000 dan Thời gian qua, Ngành y tế Sóc
Trăng đã tập trung thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch sốt xuất huyết, tai chân miệng, nhiễm HIV/AIDS tăng cường công tác tuyên
Trang 33truyền, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý chất thải y tế tiêm chủng miễn dịch đầy đủ cho 98,4% trẻ em dưới 01 tuổi, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống còn 14,7%, có 78,89% xã đạt 10 chuẩn
Y tế Quốc gia [9],[28]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
y tế tại các CSYT công lập nêu trên ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Các nhân viên y tế vắng mặt ở 3 lần đến bệnh viện khảo sát
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: tháng 5 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019
Địa điểm: Các bệnh viện công lập và các bệnh viện trong các trung tâm
y tế huyện/thị/thành trong tỉnh Sóc Trăng
Trang 352.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và nghiên cứu can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu
Mục tiêu 1:
Toàn bộ các bệnh viện công lập tuyến tỉnh của Sóc Trăng và 5/10 bệnh
viện trong các trung tâm y tế tuyến huyện/thị/thành của tỉnh Sóc Trăng
n là cỡ mẫu của nghiên cứu
Z(1 - α/2): với độ tin cậy 95% thì Z(1 - α/2) = 1,96
- Chọn toàn bộ các bệnh viện công lập tuyến tỉnh của Sóc Trăng
- Chọn 5/10 bệnh viện trong các TTYT công lập tuyến huyện/thị/thành của tỉnh Sóc Trăng bằng bốc thăm ngẫu nhiên Kết quả được chọn là
Trang 36các bệnh viện trong các trung tâm y tế huyện Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, Ngã Năm, Kế Sách và Châu Thành
Mục tiêu 2
Với cỡ mẫu là 352 người và 10 CSYT, để mẫu phân bố đều chúng tôi chọn 30-36 nhân viên y tế của 01 CSYT có tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý chất thải rắn y tế đang làm việc tại các CSYT
Mục tiêu 3
Chọn tất cả các nhân viên y tế được chọn ở mục tiêu 2 có kiến thức
hoặc thực hành chưa đúng về quản lý chất thải rắn y tế Mẫu thực tế là 193
đối tượng có kiến thức chưa đúng và 24 đối tượng có thực hành chưa đúng
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế
Đặc điểm chung của CSYT:
- Số nhân viên: là tổng số nhân viên của CSYT tại thời điểm nghiên cứu
- Số giường thực kê: là tổng số giường thực kê của CSYT tại thời điểm nghiên cứu
- Lượt khám chữa bệnh: là tổng số lượt khám chữa bệnh trong ngày tại thời điểm nghiên cứu
Thực trạng CTRYT:
- Lượng phát sinh chất thải phát sinh: cân toàn bộ lượng rác thải p hát sinh trong 1 ngày của CSYT và cân 7 ngày liên tục rồi tính lượng rác trung bình phát sinh hằng ngày
+ Chất thải sinh hoạt
+ Chất thải lây nhiễm
+ Chất thải hóa học
- Thành phần chất thải
+ Thành phần kim loại, vỏ hộp kim loại
+ Thủy tinh, ông thuốc tiêm, lọ thuốc tiêm, BKT
Trang 37+ Bông, băng, gạc, bôt bó gãy xương, nẹp cố định
+ Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành phần chất dẻo
• Mặt bên ngoài màu vàng
• Có bảng phân loại chất thải tương ứng
• Không vi phạm nguyên tắc quy định mức chứa tối đa
=> Dụng cụ đạt phải 5/6 nội dung (trong đó phải có tiêu chí mặt ngoài màu vàng) và có từ 80% các dụng cụ đạt
+ Qui định dụng cụ đựng CTRYT sắc nhọn:
• Hộp thu gom chuyên dụng
• Dụng cu tự tạo (vỏ chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước, vỏ hộp thuốc)
• Có khả năng chống thấm
• Có nắp đóng mở dễ dàng
• Màu vàng
• Có quai hoặc kèm hệ thông cô định
• Miệng hôp đủ lớn cho vật sắc nhọn vào không cần lực đẩy
• Có biểu tương nguy hai sinh học
• Có dòng chữ “chỉ đựng chất thải sắc nhọn"
Trang 38• Không vi phạm nguyên tắc quy định mức chứa tối đa
=> Dụng cụ đạt phải 7/10 nội dung (trong đó phải có tiêu chí mặt ngoài màu vàng) và có từ 80% các dụng cụ đạt
+ Qui định dụng cụ đựng CTRYT hóa học
• Thùng bị dập, vỡ
• Có nắp đậy
• Có đạp chân
• Mặt bên ngoài màu đen
• Có bảng phân loại chất thải tương ứng
• Không vi phạm nguyên tắc quy định mức chứa tối đa
=> Dụng cụ đạt phải 5/6 nội dung và có từ 80% các dụng cụ đạt
- Thực trạng phân loại và thu gom chất thải rắn y tế:
+ Có phân loại riêng chất thải rắn y tế nguy hại với chất thải sinh hoạt
+ Có phân loại chất thải lây nhiễm riêng
+ Có phân loại chất thải lây nhiễm thành 4 nhóm riêng biệt
+ Có phân loại chất thải hóa học thể rắn riêng
+ Hàng ngày phải thu gom CTRYT
- Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế tại bệnh viện:
+ Tiêu chuẩn đường vận chuyển và thời gian vận chuyển
• Đường vận chuyển xa KV chăm sóc người bệnh (>10m)
• Cách xa nhà ăn (>10m)
• Qua các khu vực sạch khác (>10m)
• Ngoài giờ làm việc hành chính
=> Đường vận chuyển và thời gian vận chuyển đạt phải đạt ¾ nội dung (trong đó phải có đường vận chuyển xa KV chăm sóc người bệnh >10m
và ngoài giờ hành chính)
+ Tiêu chuẩn vị trí lưu trữ chất thải rắn y tế
Trang 39• Có phương tiện bảo hô cho nhân viên
• Đủ diện tích lưu giữ chất thải
• Chất thải tái sử dụng, tái chế đươc lưu giữ riêng
• Có nhà bảo quản lạnh
=> Vị trí lưu trữ chất thải rắn y tế đạt khi đạt 12/16 nội dung
- Đánh giá quản lý CTRYT tại bệnh viện: có 2 giá trị
+ Đạt: Thực hiện đạt 8/10 nội dung trên + Không đạt: thực hiện đạt dưới 8/10 nội dung
Trang 40- Giới: chia làm 2 nhóm nam và nữ
- Tuổi: Tính theo năm dương lịch Là biến số thứ bậc Được chia là 4 giá trị: 18-25 tuổi, 26-35 tuổi, 36-45 tuổi và 46-55 tuổi
- Trình độ: được chia làm 4 nhóm
+ Dưới trung cấp + Trung cấp + Cao đẳng + Đại học và sau đại học
- Thời gian làm việc: là thời gian hoạt động trong ngành
- Có tập huấn về công tác quản lý và xử lý rác thải y tế: trong năm có được tập huấn về công tác quản lý và xử lý rác thải y tế có hai giá trị: Có và không
- Nguồn thông tin tiếp cận: gồm 5 giá trị
* Kiến thức của nhân viên y tế về chất thải rắn y tế
- Kiến thức về khái niệm CTRYT: có 2 giá trị đúng và chưa đúng
+ Đúng: nêu được khái niệm CTRYT là vật chất ở thể rắn được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
+ Chưa đúng: không nêu được khái niệm
- Kiến thức về phân loại CTRYT: Theo Bộ Y tế căn cứ vào các điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế