1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu mô hình bệnh tật, tử vong, chuyển tuyến theo icd 10 trong 3 năm 2015 2017 và đánh giá kết quả giảm tỉ lệ chuyển tuyến bằng can thiệp đào tạo chuyên môn ngắn hạn tại trung tâm

95 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu mô hình bệnh tật, tử vong, chuyển tuyến theo ICD 10 trong 3 năm 2015-2017 và đánh giá kết quả giảm tỷ lệ chuyển tuyến bằng can thiệp đào tạo chuyên môn ngắn hạn tại trung tâm
Tác giả Nguyễn Minh Vũ
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Huỳnh Trang
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý Y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2019
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Một số khái niệm về sức khỏe, bệnh tật và mô hình bệnh tật (12)
    • 1.2. Phân loại quốc tế bệnh tật phiên bản lần thứ 10 (ICD – 10) (17)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật (17)
    • 1.4. Mô hình tử vong các nước trên Thế giới và Việt Nam (22)
    • 1.5. Một số vấn đề về chuyển tuyến và quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật (24)
    • 1.6. Các nghiên cứu về mô hình bệnh tật và tử vong (26)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (45)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (30)
    • 2.3. Vấn đề y đức (44)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (52)
    • 3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (45)
    • 3.2. Tỉ lệ bệnh tật và tử vong theo chương ICD 10, 10 nhóm bệnh và đặc điểm 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm (0)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (65)
    • 4.2. Về tỉ lệ bệnh tật, tử vong theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm (69)
    • 4.3. Tỉ lệ bệnh chuyển tuyến theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh chuyển tuyến thường gặp hàng năm và 3 năm (0)
    • 4.4. Đánh giá kết quả bước đầu giảm tỉ lệ chuyển tuyến ở bệnh nhân điều trị nội trú qua giải pháp đào tạo chuyên môn ngắn hạn cho cán bộ y tế (79)
  • KẾT LUẬN (84)

Nội dung

Mặc dù, hệ thống y tế ở nước ta, trong thời gian qua, đã được quan tâm đầu tư từ Trung ương đến địa phương nhiều hơn trước, hệ thống dự phòng và điều trị ngày càng phát triển, tuy nhiên

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang - mô tả

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn toàn bộ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2017 nhằm đảm bảo đáp ứng tiêu chí chọn mẫu theo thời gian Tổng số mẫu mục tiêu 1 là 33.182 trường hợp, mục tiêu 2 là 3.444 trường hợp, và mục tiêu 3 (từ ngày 01/7/2018 đến 30/6/2019) là 11.677 trường hợp.

2.2.3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

- Giới tính: có 2 giá trị

- Độ tuổi: Phân theo 5 độ tuổi:

- Nghề nghiệp: gồm có 8 loại nghề nghiệp được thống kê, cụ thể như sau: + Còn nhỏ: Trẻ em dưới 6 tuổi

+ Già, hưu trí, mất sức (60 tuổi trở lên)

Trong huyện Trà Ôn, có các địa phương đáng chú ý như thị trấn Trà Ôn, một đô thị trung tâm, cùng với các xã Thiện Mỹ, Tân Mỹ, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn, Thới Hòa, Nhơn Bình, Hòa Bình, Xuân Hiệp, Phú Thành và Lục Sĩ Thành.

Ngoài huyện: Các xã lân cận thuộc huyện khác trong tỉnh

+ Chuyển mùa khô sang mưa (từ tháng 4 – 6)

+ Chuyển mùa mưa sang khô ( tháng 10 – 12)

2.2.3.2 Tỉ lệ bệnh tật, tử vong theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh nội trú theo ICD 10 thường gặp hàng năm và 3 năm

- Phân loại bệnh tật theo cơ cấu bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm và chấn thương tai nạn, ngộ độc

+ Bệnh lây nhiễm: Tất cả các bệnh do vi khuẩn, vi rút và ký sinh vật gây bệnh, gồm có:

Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (A00 – B99)

Chương VI: Viêm hệ thần kinh trung ương (G00 – G09)

Chương VII: Bệnh mi mắt, hệ thống tuyến lệ và hốc mắt (H00 – H06), Bệnh kết mạc (H10 – H13)

Chương XVIII: Bệnh tai ngoài (H60 – H62), Bệnh tai giữa và xương chũm (H65 – H75)

Chương X bao gồm các bệnh nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên (J00 – J06), cúm và viêm phổi (J10 – J18), nhiễm khuẩn hô hấp cấp khác dưới đường hô hấp (J20 – J22), bệnh mãn tính đường hô hấp dưới (J85 – J86) và các bệnh khác của màng phổi (J90 – J91) Những căn bệnh này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ hô hấp và cần được chẩn đoán, điều trị kịp thời để giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương XI: Bệnh thực quản, dạ dày và tá tràng (K20, K29), Bệnh ruột thừa (K35 – K38), Các bệnh của phúc mạc (K65 – K67), Bệnh túi mật, đường mật, tụy (K80 – K87)

Chương XII: Nhiễm khuẩn da và mô dưới da (L00 – L08), Hoại tử mủ da (L88)

Chương XIII: Bệnh khớp nhiễm khuẩn (M00 – M03), Viêm cơ (M60), Bệnh khác của xương (M86 – M87)

Chương XIV: Bệnh khác của hệ tiết niệu (N30, N77), Bệnh cơ quan sinh dục nam (N41, N490), Bệnh cơ quan vùng chậu nữ (N70 – N77)

Chương XV: Biến chứng chủ yếu liên quan đến sau đẻ (O85, O86, O91, O98), Nhiễm khuẩn đặc thù ở thời kỳ chu sinh (P35 – P39, P77)

Chương XVIII: Hoại tử không phân loại ở nơi khác (R02)

Chương XXI tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế, đặc biệt liên quan đến nhóm người có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm (mã Z20 – Z29) Các yếu tố này bao gồm môi trường sống, hành vi cá nhân, và mức độ tiếp xúc với các dịch vụ y tế, từ đó tác động đến nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm Hiểu rõ nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cộng đồng Việc xác định nhóm nguy cơ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh.

+ Chấn thương, ngộ độc, tai nạn, thương tích gồm:

Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài (S00 – S98)

Chương XX: Nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong

+ Bệnh không lây nhiễm: Gồm tất cả các chương bệnh, nhóm bệnh phân loại còn lại không thuộc hai nhóm trên

- Phân loại bệnh tật theo ICD 10: được chia thành 22 chương bệnh, ký hiệu từ I đến XXII, trong chương bệnh có các bệnh và nhóm bệnh

Chương I (Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng) có các nhóm bệnh: Nhóm nhiễm trùng đường ruột (A00 – A09), Nhóm bệnh lao (A15 – A19), Một số bệnh nhiễm trùng từ súc vật truyền sang người (A20 – A28), Bệnh vi khuẩn khác (A30 - A49), Nhóm nhiễm trùng lây truyền chủ yếu qua đường tình dục (A50 – A64), Nhóm bệnh do xoắn khuẩn khác (A65 – A69), Nhóm bệnh khác do Clamydia (A70 – A74), Nhóm bệnh do Rickettsia (A75 – A79), Nhóm bệnh thần kinh trung ương do virus (A80 – A89), Bệnh virus và sốt xuất huyết do virus truyền (A90 - A99), Nhiễm virus gây tổn thương da và niêm mạc (B00 – B09), Viêm gan virus khác (B15 – B19), Bệnh suy giảm miễn dịch ở người do virus (B20 – B24), Bệnh do virus khác (B25 – B34), Bệnh nấm (B35 – B49), Bệnh do đơn bào (B50 – B64), Bệnh giun sán (B65 – B83) , Bệnh cháy rận, bệnh do ve và nhiễm khuẩn ký sinh vật khác (B85 – B89), Di chứng bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (B90 – B94), Các tác nhân vi khuẩn, virus và tác nhân gây nhiễm trùng khác (B95 – B98), Các bệnh nhiễm trùng khác (B99)

Chương II (Bướu tân sinh) có các mục sau: U ác tính (C00 – C97), U tại chỗ (D00 – D09), U lành (D10 – D36), U không rõ hoặc chưa biết tính chất (D37 – D48)

Chương III (Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch) gồm các nhóm sau: Bệnh thiếu máu do dinh dưỡng (D50 – D53),

Các bệnh về máu bao gồm thiếu máu do tan máu (D55 – D59), suy tủy xương và các bệnh thiếu máu khác (D60 – D64), rối loạn đông máu, ban xuất huyết và các bệnh lý chảy máu khác (D65 – D69) Ngoài ra còn có các bệnh khác của máu và cơ quan tạo máu (D70 – D77), cùng với các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch (D80 – D89) Các tình trạng này đều ảnh hưởng đến hệ thống máu và đòi hỏi chẩn đoán chính xác để điều trị hiệu quả và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Chương IV (Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa) gồm các nhóm sau: Bệnh tuyến giáp (E00 – E07), Đái tháo đường (E10 – E14), Các rối loạn khác về sự điều hòa glucose và nội tiết tuyến tụy (E15 – E16), Rối loạn các tuyến nội tiết khác (E20 – E35), Suy dinh dưỡng (E40 – E46), Các bệnh – thiếu dinh dưỡng khác (E50 – E64), Béo phì và các dạng thừa dinh dưỡng khác (E65 – E68), Rối loạn chuyển hóa (E70 – E90)

Chương V (Rối loạn tâm thần và hành vi) gồm các nhóm: Rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng (F00 – F09), Rối loạn tâm thần và hành vi do dùng chất tác động tâm thần (F10 – F19), Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và rối loạn hoang tưởng (F20 – F29), Rối loạn khí sắc cảm xúc] (F30 – F39), Loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể (F40 – F48), Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất (F50 – F59), Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành (F60 – F69), Chậm phát triển tâm thần (F70 – F79), Rối loạn về phát triển tâm lý (F80 – F89), Rối loạn về hành vi và cảm xúc với sự khởi bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ em và thiếu niên (F90 – F98), Rối loạn tâm thần không xác định (F99)

Chương VI (Bệnh của hệ thần kinh) gồm các nhóm bệnh sau: Bệnh viêm hệ thần kinh trung ương (G00 – G09), Bệnh teo hệ thống ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (G10 – G14), Hội trứng ngoại tháp và rối loạn vận động (G20 – G26), Bệnh thoái hóa khác của hệ thần kinh (G30 – G32), Bệnh mất myelin của hệ thần kinh trung ương (G35 – G37), Bệnh chu kỳ và kịch phát (G40 – G47), Bệnh dây, rễ và đám rối thần kinh (G50 – G59), Viêm đa dây thần kinh và các bệnh khác của hệ thần kinh ngoại vi (G60 – G64), Bệnh khớp nối thần kinh - cơ và cơ (G70 – G73), Bại não và những hội chứng liệt khác (G80 – G83), Bệnh khác của hệ thần kinh (G90 – G99)

Chương VII (Bệnh mắt và phần phụ) gồm các nhóm bệnh sau: Bệnh của mí mắt, lệ bộ và hốc mắt (H00 – H06), Bệnh của kết mạc (H10 – H13), Bệnh của củng mạc, giác mạc, mống mắt và thể mi (H15 – H22), Bệnh thủy tinh thể (H25 – H28), Bệnh hắc mạc và võng mạc (H30 – H36), Bệnh glôcôm (H40 – H42), Bệnh dịch kính và nhãn cầu (H43 – H45), Bệnh thần kinh thị và đường dẫn truyền thị giác (H46 – H48), Bệnh cơ vận nhãn, vận động hai mắt, điều tiết và khúc xạ, Rối loạn thị giác và mù lòa (H53 – H54), Bệnh khác của mắt và phần phụ (H55 - H59)

Chương VIII (Bệnh tai và xương chũm) gồm các nhóm bệnh: Bệnh của tai ngoài (H60 – H62), Bệnh của tai giữa và xương chũm (H65 – H75), Bệnh của tai trong (H80 – H83), Bệnh khác của tai (H90 – 95)

Chương IX (Bệnh của hệ tuần hoàn) gồm các nhóm bệnh: Bệnh thấp khớp (I00 – I02), Bệnh tim mạn tính do thấp (I05 – I09), Bệnh tăng huyết áp (I10 – I15), Bệnh tim thiếu máu cục bộ (I20 – I25), Bệnh tim do bệnh phổi và bệnh hệ tuần hoàn phổi (I26 – I28), Các bệnh tim khác (I30 – I52), Bệnh mạch máu não (I60 – I69), Bệnh động mạch, tiểu động mạch và mao mạch (I70 – I79), Bệnh tĩnh mạch, mạch bạch huyết và hạch bạch huyết không phân loại nơi khác (I80 – I89), Rối loạn khác và chưa xác định của hệ tuần hoàn (I95 – I99)

Chương X (Bệnh hệ hô hấp) gồm các nhóm bênh:, Nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính (J00 – J06), Cúm và viêm phổi (J09 – J18), Các tình trạng nhiễm trùng hô hấp dưới cấp (J20 – J22), Các bệnh khác của đường hô hấp trên (J30 – J39), Các bệnh hô hấp dưới mạn tính (J40 – J47), Các bệnh phổi do tác nhân bên ngoài khác (J60 – J70), Bệnh hô hấp khác ảnh hưởng chủ yếu đến mô kẽ (J80 – J84), Các tình trạng nung mủ và hoại tử của đường hô hấp dưới (J85 – J86), Các bệnh khác của màng phổi (J90 – J94), Các bệnh khác của hệ hô hấp (J95 – J99)

Chương XI (Bệnh hệ tiêu hóa) gồm các nhóm bệnh sau: Bệnh của khoang miệng, tuyến nước bọt và xương hàm (K00 – K14), Bệnh của thực quản, dạ dày và tá tràng (K20 – K31), Bệnh ruột thừa (K35 – K38), Thoát vị (K40 – K46), Viêm ruột và viêm đại tràng không do nhiễm trùng (K50 – K52), Bệnh dường tiêu hóa khác (K55 – K63), Bệnh của phúc mạc (K65 – K67), Bệnh của gan (K70 – K77), Rối loạn của túi mật, đường mật và tụy

(K80 – K87), Bệnh khác của hệ tiêu hóa (K90 – K93)

Chương XII (Bệnh da và mô dưới da) gồm các nhóm: Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da (L00 – L08), Bệnh da có bọng nước (L10 – L14), Viêm da và chàm (L20 – L30), Bệnh sẩn có vảy (L40 – L45), Mày đay và hồng ban (L50 – L54), Bệnh da và tổ chức dưới da liên quan đến phóng xạ (L55 – L59), Các bệnh của phần phụ da (L60 – L75), Các bệnh khác của da và tổ chức dưới da (L80 – L99)

Vấn đề y đức

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phương pháp cắt ngang được sử dụng để mô tả và thống kê số liệu, dựa trên phần mềm quản lý khám chữa bệnh và hồ sơ bệnh án lưu tại đơn vị Phương pháp này cho phép phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác mà không tác động đến yếu tố y đức.

Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm cơ sở khoa học cho địa phương xây dựng kế hoạch phát triển ngành y tế huyện, bao gồm việc đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, và đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu chính là đảm bảo chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong huyện cũng như các huyện lân cận Các hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, thúc đẩy phát triển bền vững ngành y tế địa phương, và đáp ứng hiệu quả nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2017, tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng của Trung tâm Y tế huyện Trà Ôn đạt 33.182 lượt, trong đó có 3.444 lượt bệnh nhân được chuyển tuyến trên để điều trị.

3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân nhập viện theo giới tính

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân nữ giới điều trị nội trú cao hơn so với nam giới, trong 3 năm tỉ lệ nữ chiếm 56,30% so với nam giới là 43,70%

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo đối tƣợng Đối tƣợng 2015 2016 2017 3 năm

Nhận xét: Bệnh nhân điều trị nội trú thuộc đối tượng BHYT tăng theo từng năm và chiếm tỉ lệ cao

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo dân tộc

Phần lớn bệnh nhân điều trị nội trú là người Kinh, chiếm tỷ lệ vượt trội Trong khi đó, bệnh nhân dân tộc Khmer chỉ chiếm khoảng 5,1%, còn các dân tộc khác có tỷ lệ rất thấp, phản ánh sự phân bổ dân cư và nhu cầu chăm sóc y tế chưa đồng đều giữa các nhóm dân tộc.

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nhóm tuổi

Nhận xét: Nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên có tỉ lệ nhập viện cao nhất, nhóm 6 đến 15 tuổi có tỉ lệ nhập viện thấp nhất

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nghề nghiệp

Già, hưu trí, mất sức n 2699 2873 3646 9218

Nhận xét: Tỉ lệ nhập viện ở bệnh nhân già, hưu trí chiếm tỉ lệ cao nhất

27,8%, kế đến là lứa tuổi dưới 6 tuổi và nông dân, bệnh nhân có nghề nghiệp buôn bán chiếm tỉ lệ thấp nhất chỉ 0,1%

Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nơi cƣ trú

Nhận xét: Bệnh nhân nhập viện theo nơi cư trú tương đối ổn định trong

3 năm, đa số là người dân trong tỉnh chiếm 90,3%, ngoài tỉnh chỉ tỉ lệ chiếm 9,7%

Bảng 3.6 Số lƣợng bệnh nhân nhập viện theo 4 mùa

Khô Khô mƣa Mƣa Mƣa khô Tổng Nhập viện 7433 7894 8406 9449 33182

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện theo từng mùa trong năm, trong đó giai đoạn chuyển mùa từ mưa sang khô ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 28,50%, phản ánh mức độ ảnh hưởng lớn của sự thay đổi thời tiết đến sức khỏe cộng đồng Ngược lại, mùa khô có tỷ lệ bệnh nhân nhập viện thấp nhất, chỉ chiếm 22,40%, thể hiện sự giảm đáng kể các trường hợp nhập viện trong giai đoạn này Những số liệu này cho thấy rõ mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và tỉ lệ nhập viện, góp phần nâng cao nhận thức về việc phòng tránh các bệnh liên quan đến thời tiết.

3.2 Tỉ lệ bệnh tật, tử vong theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm

Bảng 3.7 Cơ cấu bệnh tật theo nhóm bệnh lây, không lây, TNTT Năm

Bệnh lây 4994 53,3 5982 52,7 5957 47,8 16933 51,0 Không lây 3938 42,0 4691 41,4 5395 43,2 14024 42,3 TNTT 434 4,6 668 5,9 1123 9,0 2225 6,7 Tổng 9366 100 11341 100 12475 100 33182 100

Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ nhập viện theo nhóm bệnh lây truyền, không lây truyền và TNTT Nhóm bệnh lây nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 51,0%, nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm Trong khi đó, nhóm bệnh không lây truyền và TNTT đang tăng lên theo thời gian, cho thấy sự chuyển biến trong cơ cấu các nhóm bệnh của bệnh viện.

Bệnh lây Bệnh không lây Tai nạn thương tích

Bảng 3.8 Tỉ lệ bệnh tật 22 chương theo ICD 10 Năm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân nhập viện theo giới tính

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân nữ giới điều trị nội trú cao hơn so với nam giới, trong 3 năm tỉ lệ nữ chiếm 56,30% so với nam giới là 43,70%

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo đối tƣợng Đối tƣợng 2015 2016 2017 3 năm

Nhận xét: Bệnh nhân điều trị nội trú thuộc đối tượng BHYT tăng theo từng năm và chiếm tỉ lệ cao

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo dân tộc

Phần lớn bệnh nhân điều trị nội trú là người Kinh, trong khi tỷ lệ bệnh nhân là người dân tộc Khmer chiếm chỉ khoảng 5,1% Người bệnh thuộc các dân tộc khác có tỷ lệ khá thấp, không đáng kể, thể hiện sự tập trung chủ yếu của dịch vụ y tế vào cộng đồng người Kinh.

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nhóm tuổi

Nhận xét: Nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên có tỉ lệ nhập viện cao nhất, nhóm 6 đến 15 tuổi có tỉ lệ nhập viện thấp nhất

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nghề nghiệp

Già, hưu trí, mất sức n 2699 2873 3646 9218

Nhận xét: Tỉ lệ nhập viện ở bệnh nhân già, hưu trí chiếm tỉ lệ cao nhất

27,8%, kế đến là lứa tuổi dưới 6 tuổi và nông dân, bệnh nhân có nghề nghiệp buôn bán chiếm tỉ lệ thấp nhất chỉ 0,1%

Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân nhập viện theo nơi cƣ trú

Nhận xét: Bệnh nhân nhập viện theo nơi cư trú tương đối ổn định trong

3 năm, đa số là người dân trong tỉnh chiếm 90,3%, ngoài tỉnh chỉ tỉ lệ chiếm 9,7%

Bảng 3.6 Số lƣợng bệnh nhân nhập viện theo 4 mùa

Khô Khô mƣa Mƣa Mƣa khô Tổng Nhập viện 7433 7894 8406 9449 33182

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện theo 4 mùa, trong đó giai đoạn chuyển mùa mưa sang khô có tỷ lệ bệnh nhân nhập viện cao nhất, chiếm 28,50% Ngược lại, mùa khô ghi nhận tỷ lệ nhập viện thấp nhất, chỉ khoảng 22,40% Điều này cho thấy sự biến đổi theo mùa ảnh hưởng đáng kể đến số lượng bệnh nhân nhập viện hàng năm.

3.2 Tỉ lệ bệnh tật, tử vong theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm

Bảng 3.7 Cơ cấu bệnh tật theo nhóm bệnh lây, không lây, TNTT Năm

Bệnh lây 4994 53,3 5982 52,7 5957 47,8 16933 51,0 Không lây 3938 42,0 4691 41,4 5395 43,2 14024 42,3 TNTT 434 4,6 668 5,9 1123 9,0 2225 6,7 Tổng 9366 100 11341 100 12475 100 33182 100

Biểu đồ 3.3 thể hiện tỷ lệ nhập viện theo nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm và TNTT Nhóm bệnh lây nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 51,0%, và có xu hướng giảm dần theo từng năm Trong khi đó, nhóm bệnh không lây nhiễm và TNTT ngày càng tăng, phản ánh sự thay đổi trong các nguyên nhân gây bệnh và xu hướng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Bệnh lây Bệnh không lây Tai nạn thương tích

Bảng 3.8 Tỉ lệ bệnh tật 22 chương theo ICD 10 Năm

Nhận xét: Bệnh về hệ hô hấp (chương X) chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm

31,3%, kế đến là bệnh hệ tuần hoàn (chương IX); bệnh về mắt, dị tật bẩm sinh, bất thường nhiễm sắc thể chiếm tỉ lệ ít nhất

Bảng 3.9 Tỉ lệ bệnh 10 nhóm bệnh thường gặp Năm

Nhận xét: Các nhóm bệnh thuộc chương hô hấp chiếm tỉ lệ cao, kế đến là các nhóm bệnh về tim mạch và tiêu hóa

3.2.3 Đặc điểm 10 bệnh thường gặp trong 3 năm từ 2015 - 2017

Bảng 3.10 Tỉ lệ 10 bệnh thường gặp trong 3 năm

J18 Viêm phổi, không xác định vi sinh vật

I10 Tăng huyết áp vô căn (nguyên phát)

I25 Bệnh tim do thiếu máu cục bộ mạn

K29 Viêm dạ dày và tá tràng 353

K52 Viêm dạ dày-ruột và viêm đại tràng không nhiễm trùng khác

J44 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác

Viêm họng cấp chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất với 11,0%, cho thấy đây là bệnh phổ biến và cần chú ý chăm sóc sức khỏe Tiếp theo là bệnh viêm phổi với tỷ lệ nhập viện 10,3%, phản ánh mức độ nghiêm trọng của các bệnh về đường hô hấp Bệnh tăng huyết áp vô căn chiếm 7,8%, là một bệnh lý mãn tính thường gặp, đòi hỏi quản lý chặt chẽ để phòng ngừa các biến chứng.

Bảng 3.11 Tỉ lệ 10 bệnh mắc cao nhất theo giới tính

J18 Viêm phổi, không xác định vi sinh vật

I10 Tăng huyết áp vô căn (nguyên phát)

I25 Bệnh tim do thiếu máu cục bộ mạn

K29 Viêm dạ dày và tá tràng 620

K52 Viêm dạ dày-ruột và viêm đại tràng không nhiễm trùng khác

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác

Nhận xét: Viêm họng cấp nam giới có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất, trong khi nữ giới bệnh tăng huyết áp chiếm tỉ lệ cao nhất

Bảng 3.12 Tỉ lệ 10 bệnh mắc cao nhất theo nhóm tuổi

Nhận xét: Có sự khác biệt về tỉ lệ các bệnh thường gặp ở các nhóm tuổi

Bảng 3.13 Phân bố 10 bệnh mắc cao nhất theo mùa

Tổng Khô Khô mƣa Mƣa Mƣa khô n

Nhận xét: Mùa mưa – khô và mùa mưa có tỉ lệ bệnh nhân nhập viện cao hai mùa còn lại

3.2.3 Tình hình bệnh nhân tử vong trong 3 năm

Bảng 3.14 Tình hình bệnh nhân tử vong trong 3 năm

Số điều trị nội trú 9366 11341 12475 33182

Nhận xét: Tỉ lệ tử vong chung trong 3 năm là 0,01%

3.3 Tỉ lệ bệnh tật theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh được chuyển tuyến thường gặp hàng năm và 3 năm

Bảng 3.15 Tình hình bệnh nhân đƣợc chuyển tuyến trong 3 năm

Số điều trị nội trú 9366 11341 12475 33182

Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ chuyển tuyến theo nhóm tuổi, với tỷ lệ chung trong vòng 3 năm là 10,4% Trong đó, nhóm tuổi từ 60 trở lên có tỷ lệ chuyển tuyến cao nhất, cho thấy rằng bệnh nhân thuộc độ tuổi này thường cần chuyển tuyến nhiều hơn để đảm bảo chăm sóc y tế phù hợp.

Dưới 6 tuổi 6 - 15 tuổi 16 - 59 tuổi ≥ 60 tuổi

Tỉ lệ bệnh tật và tử vong theo chương ICD 10, 10 nhóm bệnh và đặc điểm 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

4.1.1 Về nhập viện theo giới tính

Tỉ lệ bệnh nhân nữ giới nhập viện điều trị chiếm 56,30%, cao hơn tỉ lệ nhập viện của nam giới là 43,70%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Phạm Thanh Hải, Phạm Hùng Lực, Nguyễn Thị Thu Hà và Võ Quốc Hiển, với tỷ lệ nữ giới lần lượt là khoảng trên 55% Điều này cho thấy phụ nữ thường chiếm đa số trong số các bệnh nhân nhập viện, đặc biệt ở huyện Trà Ôn, nơi cư dân chủ yếu làm nông nghiệp; vì vậy, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, dễ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt liên quan đến vấn đề sinh đẻ.

4.1.2 Về nhập viện theo đối tượng

Kết quả bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện thuộc đối tượng BHYT tăng đều qua các năm, từ 83,9% năm 2015 lên 86,9% vào các năm 2016 và 2017, trong khi tỷ lệ bệnh nhân không BHYT giảm từ 16,1% xuống còn 13,1% Trung bình trong 3 năm, tỷ lệ đối tượng BHYT chiếm khoảng 86,1%, còn không BHYT là 13,9%, phản ánh sự gia tăng đáng kể trong số người dân tham gia BHYT mỗi năm, đồng nghĩa với việc số bệnh nhân khám chữa bệnh thuộc nhóm BHYT ngày càng tăng Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Văn Lình và Phạm Thị Tâm, với tỷ lệ BHYT chiếm 95,2%, cao hơn nhiều so với nhóm không BHYT là 4,8%.

4.1.3 Về nhập viện theo dân tộc

Dựa trên bảng 3.2, đa số bệnh nhân nhập viện là người dân tộc Kinh, chiếm tỷ lệ cao nhất là 94,8% Người dân tộc Khmer chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ 5,1%, trong khi các dân tộc khác chỉ chiếm tỷ lệ rất ít, 0,1% Điều này phù hợp với cơ cấu dân số của huyện và khu vực xung quanh, nơi người dân tộc Kinh chiếm đa số, còn dân tộc Khmer và các dân tộc khác có số lượng rất ít.

4.1.4 Về phân bố bệnh nhân nhập viện theo nhóm tuổi

Trong 3 năm, nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất đạt 36,7%, cho thấy mức độ ảnh hưởng lớn của bệnh tật đối với nhóm này Nhóm từ 16 đến 59 tuổi (nhóm lao động) chiếm tỷ lệ 34,7%, với tỷ lệ nhập viện ổn định qua các năm từ 2015 đến 2017 Nhóm trẻ dưới 6 tuổi có tỷ lệ nhập viện là 19,2%, có xu hướng giảm dần theo thời gian, trong khi nhóm từ 6 đến 15 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 9,4%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên nhập viện ngày càng tăng theo từng năm, khác với các nghiên cứu trước đây của Phạm Thanh Hải, Phạm Hùng Lực, Tạ Tùng Lâm và Nguyễn Thị Thu Hà, vốn tập trung vào nhóm tuổi lao động có tỷ lệ nhập viện cao nhất Sự thay đổi này chủ yếu do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trong những năm gần đây, khi tỷ lệ người cao tuổi trong dân số tăng nhanh, kéo theo tỷ lệ nhập viện của nhóm này cũng tăng theo Điều này cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi ngày càng lớn, đòi hỏi các cơ sở y tế xây dựng kế hoạch phát triển nguồn lực ngành lão khoa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người cao tuổi trong hiện tại và tương lai.

4.1.5 Về phân bố bệnh nhân nhập viện theo nghề nghiệp

Chỉ số nhập viện theo nghề nghiệp trong 3 năm cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm nghề, với nhóm già, hưu trí, mất sức chiếm tỉ lệ cao nhất là 27,8% Nghề nông chiếm 18,1%, trong khi các nhóm công nhân, cán bộ - công chức và buôn bán có tỉ lệ nhập viện thấp nhất, lần lượt là 1,2%, 1,1% và 0,1% Nhóm người cao tuổi, hưu trí, mất sức là nhóm có tỉ lệ nhập viện cao nhất, tiếp theo là trẻ em dưới 6 tuổi Người nông dân đứng thứ ba trong số các nghề có tỷ lệ nhập viện cao, còn công nhân, cán bộ - công chức và người buôn bán chiếm tỷ lệ thấp, phù hợp với các nghiên cứu của Phạm Thanh Hải, Phạm Hùng Lực, Võ Quốc Hiển và Nguyễn Thị Thu Hà Kết quả phản ánh đúng thực tế khu vực nông thôn, nơi chủ yếu hoạt động kinh tế nông nghiệp, ít xuất hiện các công ty, nhà máy và xí nghiệp.

4.1.6 Về phân bố nhập viện theo nơi cư trú

Tỉ lệ nhập viện theo nơi cư trú tương đối ổn định qua từng năm Trong

Trong vòng 3 năm qua, tỷ lệ bệnh nhân nội tỉnh nhập viện chiếm 90,3%, trong khi đó bệnh nhân ngoài tỉnh chỉ chiếm 9,7%, phản ánh xu hướng tập trung điều trị nội tỉnh Trong số bệnh nhân nội tỉnh, tỷ lệ bệnh nhân đến từ huyện chiếm 80,5%, trong đó thị trấn chiếm 12,1% và các xã chiếm 68,4%, còn bệnh nhân ngoài huyện chiếm 19,5% Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các công trình của Nguyễn Văn Dũng và Phạm Hùng Lực, với tỷ lệ bệnh nhân nội tỉnh là 94,1%, ngoài tỉnh là 5,9%, cũng như của Tạ Tùng Lâm và Đàm Văn Cương, với tỷ lệ nội tỉnh là 93,4%, ngoài tỉnh 6,6%, cho thấy xu hướng tập trung điều trị nội tỉnh trong các nghiên cứu về dịch bệnh.

Tỉ lệ nhập viện theo nơi cư trú ổn định qua các năm phản ánh đúng tình hình sức khỏe của cộng đồng địa phương và khu vực lân cận Trong những năm gần đây, trên địa bàn không xuất hiện dịch bệnh lớn nhỏ nào, gây ra biến động đáng kể về tỉ lệ nhập viện, điều này cho thấy công tác phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh đã được thực hiện hiệu quả.

4.1.7 Về phân bố bệnh nhân nhập viện theo mùa

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú trong 3 năm không có sự chênh lệch đáng kể giữa 4 mùa, với cao nhất vào thời điểm chuyển mùa mưa sang khô (tháng 10–12) đạt 28,50%, tiếp theo là mùa mưa (tháng 7–9) với 25,33%, mùa khô sang mưa (tháng 4–6) chiếm 23,80%, và thấp nhất là mùa khô (tháng 1–3) với 22,40% Kết quả này cho thấy giai đoạn chuyển mùa mưa sang khô và mùa mưa là thời điểm người dân dễ mắc bệnh hơn Nguyên nhân có thể do giai đoạn chuyển mùa từ mưa sang khô làm thay đổi thời tiết từ mát lạnh sang nóng ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho virus phát triển gây các bệnh truyền nhiễm cấp tính, tăng tỷ lệ nhập viện Mùa mưa cũng tạo điều kiện phát sinh muỗi, là vector truyền bệnh, làm thay đổi cơ cấu bệnh tật và làm tăng số ca nhập viện do các bệnh liên quan đến muỗi truyền.

Kết quả về phân bố bệnh nhân nhập viện theo mùa trong nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Võ Quốc Hiển, theo đó mùa mưa chuyển sang khô chiếm tỷ lệ 30,90%, mùa mưa chiếm 25,90%, mùa khô chuyển sang mưa 23,20%, và mùa khô chiếm 20,00% Tuy nhiên, các số liệu này khác biệt so với nghiên cứu của Phạm Thanh Hải và Phạm Hùng Lực, trong đó tỷ lệ nhập viện cao nhất là vào mùa mưa với 35,57%, tiếp theo là mùa khô 29,49%, chuyển mùa mưa sang khô 19,27%, và mùa khô chuyển sang mưa 15,67% Sự khác biệt này có thể do điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm địa lý của từng địa phương ảnh hưởng đến tỷ lệ nhập viện theo mùa.

Về tỉ lệ bệnh tật, tử vong theo 22 chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh nội trú thường gặp hàng năm và 3 năm

4.2.1 Cơ cấu bệnh tật theo nhóm bệnh lây, không lây và TNTT

Về cơ cấu bệnh nhân nhập viện theo nhóm bệnh lây, không lây và TNTT, nhóm bệnh lây nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất 51,0%, tiếp theo là nhóm bệnh không lây chiếm 42,3%, trong khi nhóm bệnh do chấn thương, tai nạn, ngộ độc chiếm tỷ lệ thấp nhất 6,7% Tuy nhiên, theo bảng 3.7, nhóm bệnh lây nhiễm có xu hướng giảm dần từ 53,3% năm 2015 xuống còn 47,8% năm 2017, trong khi nhóm bệnh không lây và nhóm tai nạn thương tích, ngộ độc đều có xu hướng tăng Mô hình bệnh tật này phù hợp với đặc điểm của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, khi bệnh không lây nhiễm, tai nạn thương tích và ngộ độc gia tăng vừa phải, còn bệnh lây nhiễm đang được kiểm soát tốt hơn theo thời gian.

Tỉ lệ bệnh không lây nhiễm trong nghiên cứu này khá tương đồng với kết quả của tác giả Phạm Văn Lình và Phạm Thị Tâm, với tỉ lệ 44,82% Tuy nhiên, kết quả về cơ cấu các nhóm bệnh lại khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau năm 2017, trong đó bệnh không lây chiếm 53,97%, nhóm TNTT chiếm 25,0% đứng thứ hai, và nhóm bệnh lây chiếm 21,03% Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về vị trí địa lý, cũng như cấp độ của các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, ảnh hưởng đến cơ cấu bệnh tật của từng khu vực.

4.2.2 Về tỉ lệ bệnh tật 22 chương theo ICD 10

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy các chương bệnh có tỷ lệ nhập viện cao nhất bao gồm Chương X (Bệnh hô hấp) với 31,3%, Chương IX (Bệnh hệ tuần hoàn) với 17,0%, Chương I (Bệnh về nhiễm khuẩn và ký sinh trùng) với 11,9%, và Chương XI (Bệnh tiêu hóa) với 11,3% Ngoài ra, các chương bệnh khác như Chương XIX (Chấn thương, ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân bên ngoài) chiếm 6,1%, Chương XV (Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản) là 5%, và Chương XVIII (Các triệu chứng, dấu hiệu và biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở đâu khác) đạt 3,2% Trong khi đó, chỉ một số ít bệnh như Chương VII (Bệnh về mắt và phần phụ) và Chương XVII (Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường nhiễm sắc thể) có tỷ lệ nhập viện thấp hơn, phản ánh sự phân bố không đều của các loại bệnh trong thống kê này.

Nghiên cứu này xác định có 6 chương bệnh có tỷ lệ nhập viện cao nhất, phù hợp với các kết quả của Tạ Tùng Lâm và Đàm Văn Cương, cũng như Phạm Văn Lình và Phạm Thị Tâm, giúp làm rõ mối liên hệ giữa các loại bệnh và tỷ lệ nhập viện, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác chăm sóc và quản lý bệnh nhân.

Hà[14], Võ Quốc Hiển[17], tuy nhiên thứ tự có sự thay đổi

Trong 10 chương bệnh có tỉ lệ nhập viện cao nhất, cho thấy mô hình bệnh tật có sự đan xen giữa bệnh không lây và bệnh lây, bệnh về tuần hoàn chiếm tỉ lệ 17,0% đứng vị trí thứ 2, bệnh về nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm 11,3% đứng vị trí thứ 3, TNTT – ngộ độc chiếm 6,1% đứng vị trí kế tiếp cũng là vấn đề cần đáng quan tâm Trong quá trình chuyển đổi từ một nước đang phát triển sang một nước phát triển và quá trình toàn cầu hóa, các bệnh lý không lây bắt đầu chiếm ưu thế, tuy nhiên bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng vẫn còn nhiều, vẫn nằm trong nhóm có tỉ lệ nhập viện cao Bên cạnh đó vấn đề chấn thương, tai nạn và ngộ độc cũng bắt đầu gia tăng theo sự phát triển của kinh tế - xã hội Đây là vấn đề làm cơ sở để lãnh đạo đơn vị cần có kế hoạch xây dựng và phát triển đơn vị theo xu thế chuyển đổi của mô hình bệnh tật tại địa phương

4.2.3 Tỉ lệ 10 nhóm bệnh thường gặp

Mười nhóm bệnh mắc thường gặp nhất ở bệnh nhân điều trị nội trú trong 3 năm từ 2015 – 2017 là nhóm nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính (J00 – J06) 12,3%; cúm và viêm phổi (J09 – J18) 12,3%; bệnh tăng huyết áp (I10 – I15) 7,8%; bệnh tim thiếu máu cục bộ (I20 – I25) 7,3%; bệnh của thực quản dạ dày và tá tràng (K20 – K31) 6,9%; nhiễm khuẩn đường ruột (A00 – A09) 6,2%; cuộc đẻ (O80 – O84) 3,8%; viêm ruột và viêm đại tràng không do nhiễm trùng (K50 – K52) 3,5%; các bệnh hô hấp dưới mạn tính (J40 – J47) 3,3% và các tình trạng nhiễm trùng hô hấp dưới cấp (J20 – J22) 2,9% Từ kết quả bảng 3.9 cho thấy các nhóm bệnh về hô hấp chiếm tỉ lệ cao, trong 10 nhóm bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất thì có đến 4 nhóm bệnh về đường hô hấp, các nhóm bệnh về tim mạch cũng chiếm tỉ lệ cao Kết quả nghiên cứu này khá phù hợp với kết quả nghiên của tác giả Võ Quốc Hiển[17], tuy có sự thay đổi về thứ tự các nhóm bệnh thường gặp

Có thể nói rằng với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nước ta đang trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các vấn đề về ô nhiễm không khí, môi trường nước, an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát tốt, kèm với đặc điểm là nước nhiệt đới gió mùa, dẫn đến tỉ lệ các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, đường tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao và có xu hướng giảm dần theo từng năm là phù hợp Bên cạnh đó khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, tuổi thọ trung bình của người dân được tăng lên, người dân trở nên khá giả thì tỉ lệ các bệnh về tim mạch, chuyển hóa cũng bắt đầu có khuynh hướng tăng lên

4.2.4 Đặc điểm 10 bệnh thường gặp theo ICD 10

Qua khảo sát mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú trong 3 năm

(2015 -2017) tại TTYT huyện Trà Ôn, chúng tôi nhận thấy mười bệnh nội trú thường gặp có đặc điểm như sau:

Về 10 bệnh thường gặp trong 3 năm

Viêm họng cấp là bệnh thường gặp thứ nhất 11,0%; Viêm phổi, không xác định vi sinh vật 10,3%; Tăng huyết áp vô căn (nguyên phát) 7,8%; Bệnh tim do thiếu máu cục bộ mạn 7,0; Nhiễm khuẩn đường ruột 4,9%; Viêm dạ dày và tá tràng 4,7%; Viêm dạ dày-ruột và viêm đại tràng không nhiễm trùng khác 3,5%; Viêm phế quản cấp 2,9%; Đẻ thường một thai 2,9%; Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác 2,6% Kết quả 10 bệnh thường gặp trong nghiên cứu này có sự khác biệt về bệnh thường gặp nhất và thứ tự của một số bệnh thường gặp của tác giả Tạ Tùng Lâm[23], tác giả Nguyễn Thị Thu Hà[14] và tác giả Võ Quốc Hiển[17] có tỉ lệ đẻ thường một thai chiếm tỉ lệ cao nhất Sự khác biệt này có thể là do có sự khác biệt về quy mô, phân tuyến kỹ thuật của bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện khu vực và bệnh viện tuyến huyện

Theo từng năm, chúng ta thấy bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn, bệnh viêm dạ dày và tá tràng, viêm dạ dày-ruột và viêm đại tràng không nhiễm trùng khác tăng dần qua từng năm; bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm họng cấp, viêm phế quản có tỉ lệ tương đối ổn định, trong khi đó bệnh nhiễm khuẩn đường ruột có khuynh hướng giảm Điều này phù hợp với xu thế thay đổi của mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển bệnh lý không lây nhiễm, bệnh tim mạch ngày càng tăng Tỉ lệ sinh thường một thai có khuynh hướng giảm theo từng năm cho thấy một vấn đề trước đây là khi dân số tăng nhanh Nhà nước ban hành chính sách nhằm giảm tỉ lệ sinh, cùng với xã hội ngày càng phát triển tỉ lệ phụ nữ sinh ít con ngày càng nhiều, cho đến thời điểm hiện tại mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế, đây là vấn đề cần đáng quan tâm để xây dựng một chiến lược phát triển dân số trong tương lai

Bệnh viêm họng cấp tuy là bệnh thông thường nhưng có tỉ lệ nhập viện điều trị cao nhất, điều này đã gây áp lực không đáng có cho bệnh viện làm tiêu tốn tài nguyên trong cung cấp dịch vụ y tế, tăng chi phí điều trị cho người bệnh, để giải quyết được vấn đề này lãnh đạo địa phương cần có giải pháp tăng cường chất lượng khám và điều trị các bệnh thông thường cho các trạm y tế tuyến xã để tránh tình trạng bệnh nhân dồn lên điều trị ở tuyến trên

Mười bệnh mắc thường gặp theo giới tính

Bảng 3.11 cho thấy nam giới mắc nhiều nhất là các bệnh viêm họng cấp (14,0%), viêm phổi không xác định vi sinh vật (10,3%), nhiễm khuẩn đường ruột (5,1%), tăng huyết áp vô căn (4,6%), bệnh tim thiếu máu cục bộ (4,4%) Trong khi đó bệnh thường gặp ở nữ là tăng huyết áp vô căn (10,4%), viêm phổi, không xác định vi sinh vật (10,3%), bệnh tim thiếu máu cục bộ (9,0%), viêm họng cấp (8,6%), viêm dạ dày và tá tràng (5,0%) Trong 10 bệnh thường gặp theo giới tính thì có đến 7 bệnh nữ giới có tỉ lệ nhập viện điều trị nhiều hơn nam giới Vấn đề khác biệt là ở nữ giới việc sinh đẻ (Đẻ thường một thai) là chức năng đặc trưng của phụ nữ, trong khi đó bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính chỉ xuất hiện ở nam giới, điều này cho thấy có mối liên quan rõ ràng giữa bệnh COPD với việc hút thuốc là nhiều ở nam giới

Mười bệnh mắc thường gặp theo nhóm tuổi

Có sự khác biệt rõ rệt về cơ cấu 10 bệnh mắc thường gặp theo từng nhóm tuổi Bệnh nhiễm trùng thường gặp ở tuổi nhỏ, ở trẻ dưới 6 tuổi và nhóm 6 – 15 tuổi bệnh nhập viện có tỉ lệ cao nhất là viêm họng chiếm tỉ lệ lần lượt là 32,1% và 33,3%, kế đến là viêm phổi và nhiễm trùng đường tiêu hóa Kết quả này phù hợp sự phát triển sinh lý thường đối với trẻ nhỏ vì đây là giai đoạn hoạt động của vòng Waldayer Ở nhóm 16 – 59 tuổi có tỉ lệ nhập cao nhất là đẻ thường 1 thai (7,9%), tiếp đến là viêm dạ dày tá tràng (7,8%), với phụ nữ ở nhóm tuổi này là nhóm tuổi trong độ tuổi sinh đẻ vì vậy đẻ thường có tỉ lệ nhập viện cao là phù hợp Ở người từ 60 tuổi trở lên, có sự thay đổi về mô hình bệnh tật, bệnh viêm phổi (16,2%), tăng huyết áp (15,3%) và bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (14,6%) là ba bệnh có tỉ lệ nhập viện cao nhất Điều này cho thấy có sự gia tăng đáng kể về tỉ lệ bệnh tim mạch ở người cao tuổi, đây là vấn đề đặt ra cho ngành y tế cần phải đẩy mạnh các hoạt động về dự phòng, quản lý và điều trị các bệnh ở người cao tuổi nói chung và bệnh tăng huyết áp nói riêng

Cơ cấu 10 bệnh nhập viện thường gặp theo nhóm tuổi trong nghiên cứu này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Tùng[40], tác giả Tạ Tùng Lâm[23]

Mười bệnh mắc thường gặp theo mùa

Qua khảo sát mô hình bệnh tật theo 4 mùa trong năm cho thấy tỉ lệ bệnh nhân nhập viện nhiều nhất là vào mùa mưa – khô (28,50%), mưa (25,33%, mùa khô – mưa (25,80%) và mùa khô (22,40%) Trong đó, bệnh viêm họng và viêm phổi chiếm tỉ lệ cao nhất qua 2 mùa mưa và mưa – khô Các bệnh thường gặp còn lại tỉ lệ nhập viện tương đối ổn định qua các mùa trong năm Kết quả này có khác biệt với nghiên cứu của Phạm Thanh Hải và Phạm Hùng Lực[15], tác giả Võ Quốc Hiển[17] Sự khác biệt này có thể là do điều kiện kinh tế - xã hội, vị trí địa lý của từng địa phương khác nhau, nên tỉ lệ nhập viện theo từng thời điểm có sự khác nhau

4.2.5 Tình hình tử vong trong 3 năm

Trong 3 năm từ 2015 – 2017 có 4 bệnh nhân tử vong tại BVĐK huyện Trà Ôn (nay là TTYT), tỉ lệ tử vong bình quân là 0,01%; về đặc điểm có 03 bệnh nhân là nam, 01 bệnh nhân nữ, độ tuổi và nguyên nhân tử vong: gồm 01 bé trai 09 tuổi mắc bệnh bướu nguyên bào thận, 01 bệnh nhân nam 40 tuổi và

Đánh giá kết quả bước đầu giảm tỉ lệ chuyển tuyến ở bệnh nhân điều trị nội trú qua giải pháp đào tạo chuyên môn ngắn hạn cho cán bộ y tế

Để từng bước nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh cho người dân tại TTYT huyện Trà Ôn trong đó có bệnh nhân ngoại trú và bệnh nhân nội trú, Ban Giám đốc Trung tâm luôn quan tâm chú trọng củng cố, tăng cường nguồn lực bao gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị và quan trọng nhất là đào tạo nguồn nhân lực để có đủ trình độ tiếp quản, sử dụng hiệu quả các trang thiết bị y tế, có tay nghề cao hơn để khám và điều trị bệnh có hiệu quả cho người bệnh

Trong công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn có các hình thức như: đào tạo sau đại học, đào tạo ngắn hạn (3 đến 10 tháng) và đào tạo liên tục (tập huấn, bồi dưỡng ) Hình thức đào tạo chuyên môn ngắn hạn có nhiều ưu điểm phù hợp với đơn vị Với tình hình thiếu hụt nguồn lực bác sĩ và nhu cầu đào tạo cho từng lĩnh chuyên môn, hình thức đào tạo này đơn vị được chủ động hơn trong việc sắp xếp phân công cán bộ cử đi đào tạo trong thời gian ngắn và theo nhu cầu chuyên môn

Từ năm 2017 đến đầu năm 2018, TTYT huyện Trà Ôn đã cử các bác sĩ đa khoa đi đào tạo chuyên môn ngắn hạn (3 – 10 tháng) ở một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể như sau:

Một bác sĩ đa khoa học về Hồi sức cấp cứu Nội khoa

Một bác sĩ đa khoa học định hướng Nhi khoa

Một bác sĩ đa khoa học về đo và đọc điện tâm đồ

Một bác sĩ đa khoa về Nội soi tiêu hóa - chẩn đoán và điều trị

Một bác sĩ đa khoa về Siêu âm tổng quát

Một bác sĩ định hướng Vật lý trị liệu & Phục hồi chức năng

Một bác sĩ định hướng chuyên khoa Tai Mũi Họng

Các bác sĩ được cử đi đào tạo đã trở về đơn vị công tác và được phân công tại các khoa phù hợp với chuyên môn được đào tạo

4.4.1 Đánh giá tỉ lệ chuyển tuyến trước và sau can thiệp

Qua kết quả bảng 3.15, cho chúng ta thấy rằng, tỉ lệ chuyển tuyến ở bệnh nhân điều trị nội trú có sự thay đổi tăng giảm theo từng năm: năm 2015 là 9,1%, năm 2016 là 12,9% và năm 2017 là 9,1% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Từ bảng 3.19, cho thấy tỉ lệ chuyển tuyến ở bệnh nhân điều trị nội trú, bình quân trong 3 năm trước khi thực hiện giải pháp can thiệp là 10,4%, tỉ lệ chuyển tuyến sau khi can thiệp là 10,0%, tỉ lệ chuyển tuyến sau khi thực hiện giải pháp can thiệp có giảm so với trước Tuy nhiên, tỉ lệ chuyển tuyến giảm không đáng kể và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trong giai đoạn hiện nay, các cơ sở y tế công lập đang thực hiện cơ chế tài chính là tự chủ một phần kinh phí và tiến tới lộ trình tự chủ hoàn toàn kinh phí, để đảm bảo nguồn thu từ các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thì các cơ sở y tế, cụ thể hơn là Ban lãnh đạo đơn vị cần phải xây dựng một kế hoạch trung hạn và dài hạn phát triển đơn vị một cách tương đối toàn diện về cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y bác sĩ, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh, để từ đó thu hút bệnh nhân đến khám chữa bệnh Khi người bệnh đã có được niềm tin đến cơ sở để khám chữa bệnh thì việc điều trị có hiệu quả và giảm tỉ lệ chuyển tuyến trên là vấn đề hết sức quan trọng để duy trì và tạo được nguồn thu đảm bảo kinh phí hoạt động và thu nhập cho đội ngũ cán bộ, viên chức trong đơn vị

4.4.2 Đánh giá tỉ lệ chuyển tuyến theo 10 nhóm bệnh, 10 bệnh thường gặp trước và sau can thiệp

Tỉ lệ chuyển tuyến ở bệnh nhân điều trị nội trú theo 10 nhóm bệnh, 10 bệnh thường gặp trước và sau can thiệp, qua kết quả bảng 3.20 và bảng 3.21, cho thấy:

Nhóm bệnh cúm và viêm phổi (J10 – J18) có tỉ lệ bệnh nhân được chuyển tuyến cao nhất, trung bình 3 năm trước can thiệp là 14,7%, sau can thiệp là 11,1%, trong nhóm bệnh này hầu hết tất cả bệnh nhân được chuyển tuyến là mắc bệnh viêm phổi, không xác định vi sinh vật (J18); ở nhóm các bệnh hô hấp dưới mạn tính (J40 – J47) có tỉ lệ chuyển tuyến trước can thiệp thường gặp đứng hàng thứ ba là 5,9%, sau can thiệp là 2,8%, bệnh chuyển tuyến chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm bệnh này là bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính (J44) Tỉ lệ chuyển tuyến ở hai nhóm bệnh này cũng như hai bệnh J18 và J44 giảm, tỉ lệ chuyển tuyến giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), có thể là do chất lượng và hiệu quả điều trị ở bệnh nội trú mắc bệnh về hô hấp đã được nâng lên thông qua các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề chuyên về lĩnh vực hô hấp do các bệnh viện tuyến trên tổ chức cùng với hiệu quả của Dự án phòng chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh không lây nhiễm phổ biến, thuộc chương trình mục tiêu y tế dân số, trong đó có hoạt động phòng chống bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính và hen phế quản

Trong khi đó, các nhóm bệnh về mạch máu, tỉ lệ chuyển tuyến có khuynh hướng tăng theo hàng năm Nhóm bệnh mạch máu não (I60 – I69) có tỉ lệ chuyển tuyến tăng từ 5,7% lên 7,1%, bệnh lý bệnh lý nhồi máu não là bệnh được chuyển tuyến chủ yếu trong nhóm bệnh này tăng từ 5,3% đến 6,8%, Sự tăng tỉ lệ chuyển tuyến ở nhóm bệnh này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) có thể là do các bệnh tim mạch ngày tăng trong cộng đồng, trong đó có bệnh lý mạch máu não nói chung và bệnh lý nhồi máu não nói riêng, đối với TTYT huyện là bệnh lý vượt khả năng điều trị và tiên lượng

Ngược lại, nhóm bệnh tim thiếu máu cục bộ (I20 – I25) với bệnh lý được chuyển tuyến là bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (I25) có tỉ lệ giảm Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn giảm từ 9,0% xuống còn 8,6% Khi xu hướng bệnh lý không lây nhiễm ngày càng tăng trong cộng đồng vì đây là xu hướng mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển, trong đó có bệnh tim mạch

Tuy nhiên, tỉ lệ chuyển tuyến của bệnh tim thiếu máu cục bộ giảm ở mức có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) có thể đánh giá bước đầu đây là hiệu quả một phần của giải pháp can thiệp thông qua đào tạo chuyên môn ngắn hạn cho cán bộ y tế, một bác sĩ hồi sức cấp cứu nội khoa và một bác sĩ đo và đọc điện tim, qua đó có thể nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị có hiệu quả bệnh tim thiếu máu cục bộ, từ đó đã góp phần làm giảm tỉ lệ chuyển tuyến

Nhóm bệnh của thực quản, dạ dày và tá tràng (K20 – K31) cũng có tỉ lệ chuyển tuyến giảm khi so sánh trước và sau can thiệp với tỉ lệ chuyển tuyến tương ứng là 4,5% và 3,3% Bệnh chuyển tuyến chiếm đa số của nhóm bệnh này là viêm dạ dày và tá tràng với tỉ lệ trước và sau can thiệp lần lượt là 4,4% và 2,7% Bệnh viêm dạ dày và tá tràng là bệnh thông thường có thể điều trị với điều kiện của TTYT tuyến huyện Tuy nhiên, có một số bệnh nhân có thể trước đây điều trị nhiều đợt nhưng không giảm, sau khi có bác sĩ được đào tạo về nội soi thực quản dạ dày và tá tràng, TTYT đã triển khai thêm dịch vụ kỹ thuật nội soi thực quản, dạ dày tá tràng, kết hợp với thực hiện kỹ thuật Clo - test xác định sự hiện diện của vi khuẩn Helicobacter pylori, áp dụng phác đồ điều trị có hiệu quả, nên tỉ lệ chuyển tuyến của bệnh viêm dạ dày và tá tràng giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

Kết quả bảng 3.21 cũng cho thấy bệnh lý nhiễm trùng đường ruột (A04) có tỉ lệ chuyển tuyến từ 2,7% trước can thiệp tăng 3,2% sau can thiệp Mặc dù, đơn vị có tăng cường đào tạo chuyên môn bác sĩ định hướng nội khoa, tuy nhiên bệnh lý nhiễm trùng đường ruột đối với tuyến y tế cơ sở khó chẩn đoán được nguyên nhân gây bệnh, nên hiệu quả điều trị chưa cao, dẫn đến bệnh nhân được chuyển tuyến nhiều Tương tự, đối với triệu chứng đau bụng và vùng chậu (R10), TTYT cũng đã cử đào tạo cho một bác sĩ chuyên môn về siêu âm tổng quát, bên cạnh cần phải kết hợp với nhiều dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng khác, song đối với triệu chứng này có nhiều bệnh lý có liên quan khó chẩn đoán và điều trị trong điều kiện của TTYT huyện, đối với các triệu chứng này cần phải thận trọng theo dõi và không thể chủ quan, vì thế tỉ lệ chuyển tuyến không giảm như mục tiêu mong muốn.

Ngày đăng: 23/03/2023, 06:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w