MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGIỆP 2 1 1 Một số khái niệm cơ bản về môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2 1 1 1 Khái niệm môi trư. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGIỆP21.1. Một số khái niệm cơ bản về môi trường bên ngoài doanh nghiệp21.1.1 Khái niệm môi trường bên ngoài doanh nghiệp21.1.2. Đặc điểm của môi trường bên ngoài doanh nghiệp21.2. Phân loại môi trường bên ngoài doanh nghiệp21.2.1. Môi trường vĩ mô21.2.2. Môi trường ngành31.3. Sự tác động của môi trường bên ngoài đến đặc điểm cấu trúc tổ chức công ty4CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM52.1. Giới thiệu chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam52.1.1. Thông tin chung công ty52.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức72.2. Thực trạng môi trường bên ngoài của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam82.2.1. Môi trường pháp lý82.2.2. Môi trường kinh doanh82.3. Thực trạng tác ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam92.3.1. Môi trường pháp lý92.3.2. Môi trường kinh doanh10CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CẤU TRÚC TỔ CHỨC PHÙ HỢP VỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM103.1. Đề xuất mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức103.2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị11KẾT LUẬN13TÀI LIỆU THAM KHẢO14 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUSau 5 năm đi vào hoạt động, với số vốn 500 tỷ đồng, bước đầu VAMC mới tập trung thực hiên một số chức năng, nhiệm vụ được giao như:Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng bằng trái phiếu đặc biệt; Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ và đã đạt được những kết quả nhất định đặc biệt là giảm tỷ lệ nợ xấu toàn ngành về dưới 3%, đây là một trong những thành tích đáng kể mà VAMC đã đạt được cho ngành ngân hàng. Trong giai đoạn tiếp theo, VAMC có cơ hội rất lớn để khẳng định, nâng cao vai trò, vị thế theo định hướng của Đảng, Quốc hội, Chính Phủ và Ngân hàng nhà nước theo hai hướng như sau:Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận với vai trò là công cụ đặc biệt của Nhà nước trong xử lý nợ xấu và đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống các tổ chức tín dụng (tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống đảm bảo dưới 3% tổng dư nợ).Hoạt động với vai trò là trung tâm thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ: VAMC kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, tài sản đảm bảo; tư vấn, môi giới mua, bán nợ; kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ; đầu tư tài chính, góp vốn mua cổ phần; đầu tư, nâng cấp, khai thác sử dụng tài sản đảm bảo đã được VAMC thu nợ…Xuất phát từ thực tế trên, qua quá trình học tập nghiên cứu, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Sự tác động của môi trường bên ngoài doanh nghiệp đến đặc điểm cấu trúc tổ chức của công ty Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam” làm đề tài. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGIỆP1.1. Một số khái niệm cơ bản về môi trường bên ngoài doanh nghiệp1.1.1 Khái niệm môi trường bên ngoài doanh nghiệpMôi trường bên ngoài của doanh nghiệp là một tập hợp các yếu tố, lực lượng, điều kiện ràng buộc ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tới sự tồn tại, vận hành và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sự tác động qua lại giữa doanh nghiệp và các yếu tố của môi trường bên ngoài giúp doanh nghiệp nhận biết và khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Cụ thể, phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp góp phần (Thompson và Strickland, 1987; Johnson và các cộng sự, 2005):1.1.2. Đặc điểm của môi trường bên ngoài doanh nghiệpCác yếu tố cấu thành không cố định mà thường xuyên biến đổi: Các yếu tố từ vĩ mô cho đến nội tại đều biến đổi không ngừng theo sự biến đổi của xã hội. Sự biến đổi của các yếu tố thậm chí còn nhanh và rõ ràng hơn trong xã hội hiện đại. Các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời được sự biến đổi của các yếu tố xung quanh sẽ có cơ hội để phát triển.Sự tác động giữa doanh nghiệp và môi trường bên ngoài là tác động hai chiều, có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau: Các yếu tố môi trường bên ngoài tác động tới doanh nghiệp tạo ra cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của những doanh nghiệp ngược lại cũng tác động tới khách hàng, môi trường,…từ đó tác động ngược lại tới môi trường bên ngoài. Việc dung hòa mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và doanh nghiệp là nghệ thuật tạo nên sự thành công của doanh nghiệp.1.2. Phân loại môi trường bên ngoài doanh nghiệp1.2.1. Môi trường vĩ môMôi trường vĩ mô (hay môi trường xã hội) là tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược và sự tồn tại trong dài hạn của doanh nghiệp, gồm bốn nhóm môi trường cơ bản: (i) môi trường kinh tế; (ii) môi trường chính trị – pháp luật; (iii) môi trường văn hóa xã hội; (iv) môi trường tố công nghệ; tùy theo loại hình và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố môi trường tự nhiên, nhân khẩu học, môi trường quốc tế.Điều kiện kinh tế: là tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng tới nền kinh tế một quốc gia như tổng sản phẩm trong nước, thu nhập bình quân đầu người, dự trữ ngoại hối, sức mạnh thị trường vốn,…mà nếu các yếu tố này tốt sẽ cải thiện tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.Chính sách kinh tế: Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều bị chi phối bởi chính sách kinh tế do Chính phủ quyết định theo từng thời kỳ như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách xuất nhập khẩu,…Hệ thống kinh tế: Nền kinh tế thế giới chủ yếu bị chi phối bởi ba hệ thống kinh tế là tư bản chủ nghĩa, tư bản xã hội và nền kinh tế hỗn hợp. Mỗi doanh nghiệp tại một nền kinh tế sẽ có những định hướng phù hợp để tồn tại.1.2.2. Môi trường ngànhMôi trường ngành (hay môi trường nhiệm vụ) là môi trường ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động trong đó; gồm tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ doanh nghiệp. Cụ thể, môi trường ngành gồm nhiều yếu tố, bao gồm: khách hàng; nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh; cổ đông; nhà phân phối; tổ chức tín dụng; công đoàn; công chúng; nhóm quan tâm đặc biệt. Trong đó, khách hàng; nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh nhất tới môi trường ngành của doanh nghiệp.Khách hàng là những cá nhân tổ chức có nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp. Mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ qua lại. Yếu tố khách hàng có ảnh hưởng rất lớn trong chiến lược thu hút kinh doanh của từng doanh nghiệp. Nắm bắt được thị phần khách hàng riêng sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững.Nhà cung cấp là những cá nhân doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra các yếu tố đầu vào trong chu trình sản xuất và cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp. Số lượng, chất lượng của các nhà cung cấp sẽ ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành của sản phẩm làm ra, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.Đối thủ của doanh nghiệp bao gồm các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hiện tại và các đối thủ tiềm tàng. Đối thủ cạnh tranh hiện tại là các doanh nghiệp trong cùng một mảng thị trường, đã có vị thế vững vàng tương đương. Số lượng, quy mô và sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đối thủ tiềm tàng là các doanh nghiệp hiện chưa ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai. Đối thủ tiềm tàng càng nhiều càng ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.Cổ đông là các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần. Chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu này gọi là cổ phiếu. Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.Nhà phân phối là các cá nhân vàhoặc tổ chức trung gian phân phối sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp đến khách hàng cuối cùng. Ở một nghĩa hẹp, họ chính là khách hàng của doanh nghiệp.1.3. Sự tác động của môi trường bên ngoài đến đặc điểm cấu trúc tổ chức công tyMôi trường bên ngoài đề cập đến những vấn đề liên quan đến khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và nguồn tài nguyên... Có thể đánh giá môi trường bên ngoài của tổ chức dựa trên các đặc điểm: năng động, phức tạp, đa dạng và mức độ cạnh tranh. Khi môi trường bên ngoài năng động, tổ chức cần một cơ cấu hữu cơ để nhanh chóng thích ứng với những thay đổi. Khi môi trường bên ngoài phức tạp, cơ cấu tổ chức theo dạng phân quyền có thể sẽ phù hợp vì tính tiếp cận của tổ chức với môi trường gần hơn, có thể có nhiều thông tin hơn. Khi môi trường đa dạng, tổ chức nào làm việc trong đặc điểm môi trường này sẽ đa dạng về sản phẩm, dịch vụ, khách hàng hoặc phạm vi địa lý.Càng đa dạng bao nhiêu tổ chức lại càng cần bộ phận hóa theo sản phẩm. Khi môi trường mức độ cạnh tranh cao, mức độ cạnh tranh này bao gồm cả sự khan hiếm về nguồn tài nguyên và nhiều đối thủ cạnh tranh. Cơ cấu hữu cơ thích hợp với yếu tố môi trường này. Tuy nhiên khi mức độ cạnh tranh quá cao thì tổ chức tạm thời phải tập quyền để nhanh chóng ra quyết định và nhà điều hành cảm thấy dễ dàng kiểm soát hơn. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM2.1. Giới thiệu chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam2.1.1. Thông tin chung công tyTên công ty:
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGIỆP 2
1.1 Một số khái niệm cơ bản về môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2
1.1.1 Khái niệm môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2
1.1.2 Đặc điểm của môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2
1.2 Phân loại môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2
1.2.1 Môi trường vĩ mô 2
1.2.2 Môi trường ngành 3
1.3 Sự tác động của môi trường bên ngoài đến đặc điểm cấu trúc tổ chức công ty 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 5
2.1 Giới thiệu chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam 5
2.1.1 Thông tin chung công ty 5
2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 7
2.2 Thực trạng môi trường bên ngoài của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam 8 2.2.1 Môi trường pháp lý 8
2.2.2 Môi trường kinh doanh 8
2.3 Thực trạng tác ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam 9
2.3.1 Môi trường pháp lý 9
2.3.2 Môi trường kinh doanh 10
Trang 2CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CẤU TRÚC TỔ CHỨC PHÙ HỢP VỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN
LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 10
3.1 Đề xuất mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức 10
3.2 Đề xuất sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Sau 5 năm đi vào hoạt động, với số vốn 500 tỷ đồng, bước đầu VAMC mới tập trung thực hiên một số chức năng, nhiệm vụ được giao như:
Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng bằng trái phiếu đặc biệt; Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ và đã đạt được những kết quả nhất định đặc biệt là giảm tỷ lệ nợ xấu toàn ngành về dưới 3%, đây là một trong những thành tích đáng kể mà VAMC
đã đạt được cho ngành ngân hàng Trong giai đoạn tiếp theo, VAMC có cơ hội rất lớn để khẳng định, nâng cao vai trò, vị thế theo định hướng của Đảng, Quốc hội, Chính Phủ và Ngân hàng nhà nước theo hai hướng như sau:
- Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận với vai trò là công cụ đặc biệt của Nhà nước trong xử lý nợ xấu và đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống các tổ chức tín dụng (tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống đảm bảo dưới 3% tổng dư nợ)
- Hoạt động với vai trò là trung tâm thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ: VAMC kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, tài sản đảm bảo; tư vấn, môi giới mua, bán nợ; kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ; đầu tư tài chính, góp vốn mua cổ phần; đầu tư, nâng cấp, khai thác sử dụng tài sản đảm bảo đã được VAMC thu nợ…
Xuất phát từ thực tế trên, qua quá trình học tập nghiên cứu, tác giả đã
chọn nghiên cứu đề tài “Sự tác động của môi trường bên ngoài doanh nghiệp đến đặc điểm cấu trúc tổ chức của công ty Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam” làm đề
tài
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
DOANH NGIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản về môi trường bên ngoài doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp là một tập hợp các yếu tố, lực lượng, điều kiện ràng buộc ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tới sự tồn tại, vận hành và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Sự tác động qua lại giữa doanh nghiệp và các yếu tố của môi trường bên ngoài giúp doanh nghiệp nhận biết và khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả hơn Cụ thể, phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp góp phần (Thompson và Strickland, 1987; Johnson và các cộng sự, 2005):
1.1.2 Đặc điểm của môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố cấu thành không cố định mà thường xuyên biến đổi: Các yếu
tố từ vĩ mô cho đến nội tại đều biến đổi không ngừng theo sự biến đổi của xã hội Sự biến đổi của các yếu tố thậm chí còn nhanh và rõ ràng hơn trong xã hội hiện đại Các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời được sự biến đổi của các yếu tố xung quanh sẽ có cơ hội để phát triển
Sự tác động giữa doanh nghiệp và môi trường bên ngoài là tác động hai chiều, có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau: Các yếu tố môi trường bên ngoài tác động tới doanh nghiệp tạo ra cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Tuy nhiên, việc sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của những doanh nghiệp ngược lại cũng tác động tới khách hàng, môi trường,…từ đó tác động ngược lại tới môi trường bên ngoài Việc dung hòa mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và doanh nghiệp là nghệ thuật tạo nên sự thành công của doanh nghiệp
1.2 Phân loại môi trường bên ngoài doanh nghiệp
1.2.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô (hay môi trường xã hội) là tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược và sự tồn tại trong dài hạn của doanh nghiệp, gồm bốn nhóm môi trường cơ bản: (i) môi trường kinh tế; (ii) môi trường chính trị – pháp luật; (iii) môi trường văn hóa xã hội; (iv) môi trường tố công nghệ; tùy theo loại hình và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp còn chịu
Trang 5sự tác động của nhiều yếu tố môi trường tự nhiên, nhân khẩu học, môi trường quốc tế
Điều kiện kinh tế: là tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng tới nền kinh tế một quốc gia như tổng sản phẩm trong nước, thu nhập bình quân đầu người, dự trữ ngoại hối, sức mạnh thị trường vốn,…mà nếu các yếu tố này tốt sẽ cải thiện tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế
Chính sách kinh tế: Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều bị chi phối bởi chính sách kinh tế do Chính phủ quyết định theo từng thời kỳ như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách xuất nhập khẩu,…
Hệ thống kinh tế: Nền kinh tế thế giới chủ yếu bị chi phối bởi ba hệ thống kinh tế là tư bản chủ nghĩa, tư bản xã hội và nền kinh tế hỗn hợp Mỗi doanh nghiệp tại một nền kinh tế sẽ có những định hướng phù hợp để tồn tại
1.2.2 Môi trường ngành
Môi trường ngành (hay môi trường nhiệm vụ) là môi trường ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động trong đó; gồm tập hợp các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ doanh nghiệp Cụ thể, môi trường ngành gồm nhiều yếu tố, bao gồm: khách hàng; nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh; cổ đông; nhà phân phối; tổ chức tín dụng; công đoàn; công chúng; nhóm quan tâm đặc biệt Trong đó, khách hàng; nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh nhất tới môi trường ngành của doanh nghiệp
Khách hàng là những cá nhân tổ chức có nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp Mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ qua lại Yếu tố khách hàng có ảnh hưởng rất lớn trong chiến lược thu hút kinh doanh của từng doanh nghiệp Nắm bắt được thị phần khách hàng riêng sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững
Nhà cung cấp là những cá nhân doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra các yếu tố đầu vào trong chu trình sản xuất và cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp Số lượng, chất lượng của các nhà cung cấp sẽ ảnh hưởng tới chất lượng
và giá thành của sản phẩm làm ra, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp
Đối thủ của doanh nghiệp bao gồm các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hiện tại và các đối thủ tiềm tàng Đối thủ cạnh tranh hiện tại là các doanh nghiệp
Trang 6trong cùng một mảng thị trường, đã có vị thế vững vàng tương đương Số lượng, quy mô và sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối thủ tiềm tàng là các doanh nghiệp hiện chưa ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai Đối thủ tiềm tàng càng nhiều càng ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Cổ đông là các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần Chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu này gọi là cổ phiếu Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Nhà phân phối là các cá nhân và/hoặc tổ chức trung gian phân phối sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp đến khách hàng cuối cùng Ở một nghĩa hẹp,
họ chính là khách hàng của doanh nghiệp
1.3 Sự tác động của môi trường bên ngoài đến đặc điểm cấu trúc tổ chức công ty
Môi trường bên ngoài đề cập đến những vấn đề liên quan đến khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và nguồn tài nguyên Có thể đánh giá môi trường bên ngoài của tổ chức dựa trên các đặc điểm: năng động, phức tạp, đa dạng và mức độ cạnh tranh
- Khi môi trường bên ngoài năng động, tổ chức cần một cơ cấu hữu cơ để nhanh chóng thích ứng với những thay đổi
- Khi môi trường bên ngoài phức tạp, cơ cấu tổ chức theo dạng phân quyền có thể sẽ phù hợp vì tính tiếp cận của tổ chức với môi trường gần hơn, có thể có nhiều thông tin hơn
- Khi môi trường đa dạng, tổ chức nào làm việc trong đặc điểm môi
trường này sẽ đa dạng về sản phẩm, dịch vụ, khách hàng hoặc phạm vi địa lý Càng đa dạng bao nhiêu tổ chức lại càng cần bộ phận hóa theo sản phẩm
- Khi môi trường mức độ cạnh tranh cao, mức độ cạnh tranh này bao gồm
cả sự khan hiếm về nguồn tài nguyên và nhiều đối thủ cạnh tranh Cơ cấu hữu
cơ thích hợp với yếu tố môi trường này Tuy nhiên khi mức độ cạnh tranh quá cao thì tổ chức tạm thời phải tập quyền để nhanh chóng ra quyết định và nhà điều hành cảm thấy dễ dàng kiểm soát hơn
Trang 7CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN
LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản
lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
2.1.1 Thông tin chung công ty
Tên công ty:
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM
Tên đầy đủ bằng tiếng Anh: VIETNAM ASSET MANAGEMENT COMPANY
Tên viết tắt bằng tiếng Anh: VAMC
Địa chỉ:
Trụ sở chính: số 22 Hàng Vôi, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Hoạt động chính:
a Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
b Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm;
c Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay;
d Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được Công ty Quản lý tài sản thu nợ;
e Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay;
f Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
g Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần;
h Tổ chức bán đấu giá tài sản;
i Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng;
j Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VAMC sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép
Tổng quan về hoạt động của VAMC
Trang 8VAMC được ủy quyền cho các tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện các hoạt động được nêu tại điểm b, c, d, e
Vốn điều lệ: 5.000.000.000.000 đồng (Năm nghìn tỷ đồng)
Quyết định thành lập số: 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
VAMC là công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý nền kinh tế VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu
VAMC là doanh nghiệp đặc thù, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, cơ chế tài chính và tiền lương theo cơ chế của Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt
VAMC có trụ sở chính đặt tại 22 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội và có thể thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số tỉnh, thành phố lớn trực thuộc Trung ương
Từ ngày 1/10/2013, VAMC đã chính thức mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng theo kế hoạch được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt hàng năm Sau khi mua nợ xấu, VAMC thực hiện tổng hợp, phân loại, đánh giá và xây dựng danh mục khoản nợ xấu để áp dụng các biện pháp thu hồi nợ có hiệu quả như đôn đốc thu hồi, khởi kiện, cơ cấu nợ, bán nợ, bán tài sản bảo đảm hoặc ủy quyền cho các tổ chức tín dụng thu hồi nợ
Hoạt động mua, bán, xử lý nợ xấu của VAMC nhận được sự quan tâm rất lớn từ các tổ chức tài chính trong nước cũng như quốc tế Trong quá trình hoạt động, VAMC đã có nhiều lượt làm việc với các đoàn đại diện của những tổ chức tài chính quốc tế uy tín đến trao đổi về khả năng hợp tác trong việc mua, bán nợ Đây là cơ hội lớn đối với VAMC nói riêng và đối với các tổ chức tài chính trong nước nói chung để học hỏi kinh nghiệm quốc tế, vận dụng có hiệu quả vào thị trường Việt Nam
Được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
sự ủng hộ của các Bộ, ngành và chính quyền trong cả nước; với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, có năng lực, phẩm chất tốt, kinh nghiệm lâu năm từ
Trang 9Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, hoạt động của VAMC đang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước
2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức hiện tại của VAMC
Ưu điểm:
(i) Mô hình này đảm bảo sự chỉ đạo tập trung từ Tổng Giám đốc xuống các Phó Tổng Giám đốc và các Ban nghiệp vụ, đảm bảo mọi chỉ đạo của cấp trên đều được xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời;
(ii) Các Ban nghiệp vụ được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn giữa các Ban nghiệp vụ, không bị chồng chéo lẫn nhau nên thuận lợi cho Tổng giám đốc trong việc điều hành và ra quyết định;
(iii) Tạo điều kiện cho các chuyên viên ở các Ban nghiệp vụ phát huy được kinh nghiệm, chuyên môn của mình, hỗ trợ tham mưu cho Tổng giám đốc, Hội đồng thành viên trong quá trình ra quyết định mà vẫn giữ được tính thống nhất quản trị ở mức độ nhất định
Hạn chế: Mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức với 3 đơn vị thực hiện chức
năng mua, bán, xử lý nợ, chỉ đáp ứng khi VAMC tập trung hoạt động mua nợ
Trang 10bằng trái phiếu đặc biệt, chưa có các đơn vị thực hiện các nghiệp vụ khác như mua bán nợ theo giá trị thị trường, đấu giá, định giá…
2.2 Thực trạng môi trường bên ngoài của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
2.2.1 Môi trường pháp lý
Ngày 18/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, trên cơ sở đó VAMC được thành lập với vai trò là công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp
lý cho nền kinh tế Nghị định 53 quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động , quyền và nghĩa vụ của VAMC trong hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu, TSĐB của khoản nợ xấu Theo Nghị định 53 thì VAMC được phép thực hiện các hoạt động, bao gồm:
Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm (TSBĐ);
Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay;
Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê TSBĐ đã được VAMC thu nợ;
Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát TSBĐ có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay;
Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần;
Tổ chức bán đấu giá tài sản;
Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của TCTD;
Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VAMC sau khi được Thống đốc NHNN cho phép [4, điều 12]
2.2.2 Môi trường kinh doanh
Đến cuối năm 2018, tổng nợ xấu toàn hệ thống ở mức 168,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% so với cuối năm 2017 Tỷ lệ nợ xấu ở mức 2,13%, tăng so với mức 1,99% cuối năm 2017, trong hệ thống vẫn còn một số TCTD có tỷ lệ nợ