chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu mô hình giáo dục dinh d-ỡng phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đ-ờng tại khu vực đô thị" nhằm các mục tiêu sau : Mục tiêu chung: Phòng chống thừa cân và béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đ-ờng từ 6-14 tuổi tại khu vực đô thị với biện pháp can thiệp bằng mô hình giáo dục truyền thông . Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định tỷ lệ béo phì ở trẻ em tuổi học đ-ờng (6-14 tuổiI) tại khu vực đô thị. 2. Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em từ 6 - 14 tuổi. 3. Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình giáo dục truyền thông dinh d-ỡng phối hợp Y tế, nhà tr-ờng, gia đình thông qua hoạt động nhóm"Sao đỏ hình thể đẹp", nhóm" Sức khỏe hình thể đẹp"
Trang 1BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIấN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Nghiên cứu mô hình giáo dục dinh dưỡng phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Phạm Duy tường
CƠ QUAN CHỦ TRè ĐỀ TÀI: Trường đại học Y Hà nội
M∙ số: TC-MT/10-06-2
8019
Hà nội , 2009
Trang 2BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIấN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Nghiên cứu mô hình giáo dục dinh dưỡng phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Phạm Duy tường
CƠ QUAN CHỦ TRè ĐỀ TÀI: Trường đại học Y Hà nội
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIấN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1 Tờn đề tài: Nghiên cứu mô hình giáo dục dinh dưỡng phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Phạm Duy tường
3 Cơ quan chủ trỡ đề tài:Trường đại học Y Hà nội
4 Cơ quan quản lý đề tài: BỘ Y TẾ
5 Thư ký đề tài: TS TRẦN THỊ PHÚC NGUYỆT
6 Phú chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu cú):
7 Danh sỏch những người thực hiện chớnh:
- THS HOÀNG THỊ MINH THU Sở Y tế Hà Nội
- THS TRẦN XUÂN NGỌC Viện Dinh dưỡng
- TS TRẦN THỊ PHÚC NGUYỆT ( Thư kớ khoa học ) Bộ mụn Dinh dưỡng & ATTTP
- TS NGUYỄN VĂN HIẾN Bộ mụn Giỏo dục sức khoẻ
- CN ĐẶNG NGỌC LAN ( Thư kớ tài chớnh) Bộ mụn Sức khoẻ mụi trường
- KTV NGUYỄN THÙY NINH Bộ mụn Dinh dưỡng & ATTTP
- KTV DƯƠNG THỊ THU HIỀN Bộ mụn Dinh dưỡng & ATTTP Cỏc đề tài nhỏnh (đề mục) của đề tài : Không có
8 Thời gian thực hiện đề tài từ thỏng 8 năm 2006 đến thỏng 6 năm 2009
Trang 4OR Odds Ratio (Tû suÊt chªnh)
SD Standard Deviation (§é lÖch chuÈn)
Trang 51.5 Các chương trình phòng chống béo phì cho trẻ em 11
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.4.9 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 22
Trang 6Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1 Thực trạng TCBP 6 -14 tuổi và một số yếu tố liên quan đến TCBP của HS
3.3.1 Hiệu quả thay đổi về kiến thức và thái độ của HS 45 3.3.2 Hiệu quả thay đổi về thực hành của HS 47 3.3.3 Hiệu quả tới sự thay đổi khẩu phần ăn của HS 49 3.3.4 Hiệu quả của can thiệp DD tới thể lực của HS 50 3.3.5 Hiệu quả đối với tình trạng TCBP 51
chống béo phì ở HS lứa tuổi học đường
63
4.4 Hiệu quả can thiệp
4.4.1 Hiệu quả của can thiệp đến kiến thức và thực hành của học sinh 66 4.4.2 Hiệu quả của can thiệp đến khẩu phần ăn của HS 67 4.4.3 Hiệu quả của can thiệp đến tình trạng thể lực của HS 68 4.4.4 Hiệu quả của can thiệp đến tình trạng thừa cân và béo phì 69 4.5 Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai mô hình can thiệp 71
Phụ lục 85
Trang 7Đặt vấn đề
Thừa cân và béo phì (TCBP) đã tăng lên đến mức báo động trong những năm gần đây và hiện nay đã trở thành một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở nhiều nước trên thế giới Tỷ lệ bệnh này không những tăng cao ở các nước đã phát triển
mà còn gia tăng ở các nước đang phát triển, kể cả những nước mà tình trạng SDD vẫn còn phổ biến Người ta quan tâm đến BP trẻ em vì đó là mối đe dọa lâu dài
đến sức khoẻ, tuổi thọ và kéo dài tình trạng BP đến tuổi trưởng thành Hiện nay
số người mắc BP trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng thành trên thế giới Đặc biệt ở các nước Âu Mỹ, tỷ lệ mắc BP lên tới 30 - 40% ở người lớn và trên 10% ở trẻ em
Theo Serena và Cs năm 2009, tổng quan tất cả các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ TCBP của học sinh Australia (6-11 tuổi) là 23,2% đối với nam
và 30,3% đối với nữ Tại Nhật điều tra từ 1996 đến 2000 (61-14 tuổi) tỷ lệ TCBP
là 16,2% (nam) và 14,3% (nữ) Vào năm 2004, ở Hs 6-17 tuổi của Mỹ tỷ lệ TCBP rất cao 35,1% (nam) và 36% (nữ) Trong khoảng thời gian 1999-2000 tại Trung Quốc tỷ lệ TCBP ở trẻ em trai từ 11 -15 tuổi là 14,9% ở trẻ trai và 8,0% ở trẻ gái Một nghiên cứu khác của Bacardi tại Mexico năm 2007 cho thấy tỷ lệ HS TCBP 6-14 tuổi cũng khá cao chiếm 28% Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế
Điều tra hàng năm của Viện Dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ TC trước năm
1995 hầu như không có, nhưng từ năm 1996 thì tỷ lệ này bắt đầu tăng lên Tổng
điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2000 cho thấy ở nhóm tuổi 6-14 tuổi tỷ lệ thừa cân 2,2%(thành phố 6,6%, nông thôn 1,2%) Năm 2000 theo Nguyễn Thị Hiền, điều tra ở Hải Phòng cho thấy tỷ lệ TC 9% trong đó BP là 6 %, ở trẻ tiểu học thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ TC trẻ em dưới 5 tuổi tăng từ 2,0% năm 1996 lên 3,3%(2001) Tại nội thành Hà Nội năm 2003, Hoàng Thị Minh Thu nghiên cứu ở trẻ em từ 6 - 11 tuổi thuộc Quận Cầu giấy cho thấy tỷ lệ TCBP là 6,8%, trong đó béo phì là 3,2% Vào năm 2004, Lê Thị Hải NC tại 7 quận nội thành Hà
Trang 8Nội cho thấy tỷ lệ TC ở trẻ em 7 - 12 tuổi là 7,9%, Cao Thị Yến Thanh NC tại
TP Buôn Ma Thuột đưa ra tỷ lệ TCBP của HS tiểu học 6-11 tuổi là 10,4% Một
công bố mới đây (năm 2008) của Võ Thị Diệu Hiền và Hoàng Khánh, tỷ lệ
TCBP trẻ 11-15 tuổi TP Huế là 8,3% Như vậy TCBP ở Việt Nam đã là một hiện
tượng dịch tễ đáng báo động tăng nhanh theo thời gian và đã trở nên vấn đề có ý
nghĩa sức khoẻ cộng đồng Béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ con người và là một
trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh
mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường týp II
không phụ thuộc Insulin vv Béo phì thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật, tử
vong và BP ở tuổi nào cũng không tốt cho sức khoẻ
Một số biện pháp can thiệp đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhằm hạ thấp tỷ lệ
thừa cân và béo phì ở cộng đồng như chương trình dựa vào gia đình dựa vào nhà
trường để truyền thông, tư vấn dinh dưỡng và đã cho hiệu quả rõ rệt ở nước ta
cũng có một vài tác giả nghiên cứu và đưa ra các biện pháp can thiệp tuy nhiên
còn nặng về các biện pháp đơn lẻ Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài
"Nghiên cứu mô hình giáo dục dinh dưỡng phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em
lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị " nhằm các mục tiêu sau :
Mục tiêu chung:
Phòng chống thừa cân và béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường từ 6-14 tuổi tại
khu vực đô thị với biện pháp can thiệp bằng mô hình giáo dục truyền thông
Mục tiêu cụ thể:
1 Xác định tỷ lệ béo phì ở trẻ em tuổi học đường (6-14 tuổiI) tại khu vực đô thị
2 Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng thừa cân và béo phì ở
trẻ em từ 6 - 14 tuổi
3 Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình giáo dục truyền thông dinh dưỡng
phối hợp Y tế, nhà trường, gia đình thông qua hoạt động nhóm"Sao đỏ hình
Trang 9Chương 1: Tổng quan
1.1 Tình hình thừa cân và béo phì hiện nay trên thế giới
Thừa cân và béo phì đã tăng lên đến mức báo động trong những năm gần
đây và giờ đây đã trở thành một vấn đề sức khoẻ thế giới Đặc biệt tỷ lệ bệnh này cao hơn ở các nước phát triển, song nó không chỉ phổ biến ở các nước phát triển
mà còn đang tăng dần ở các nước đang phát triển, kể cả những nước mà tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) vẫn còn phổ biến, và đang trở thành một vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng Người ta quan tâm đến béo phì (BP) trẻ em vì đó là mối đe dọa lâu dài đến sức khoẻ, tuổi thọ và kéo dài tình trạng BP đến tuổi trưởng thành Hiện nay số người mắc BP trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng thành trên thế giới [22,26,44,50] ở các nước Âu-Mỹ, tỷ lệ người mắc BP lên tới 30 - 40% ở người lớn và trên 10% ở trẻ em Năm 1881 ở Anh, tỷ
lệ BP ở trẻ nam 5 -11 tuổi là 7-12%, nữ 6,5 -10% Đến năm 1992 các tỷ lệ này là nam 10-14,5%, nữ 8-16,5%, và đến năm 2000 có đến 20% trẻ em dưới 4 tuổi thừa cân (TC) và 10% bị béo phì [ 22, 78 ]
Bệnh BP ở Mỹ đang được quan tâm hàng đầu, theo nghiên cứu từ năm
1971 - 1974, tỷ lệ BP ở trẻ nam 6 - 11 tuổi là 18,2%, nữ là 13,9% và đến năm
1988 - 1991 thì tỷ lệ này đã là 22,3% và 22,7%, đáng chú ý TC trẻ em gái 4 -5 tuổi tăng từ 5,8% năm 1974, lên 10,8% năm 1994, số liệu người lớn TC cũng chỉ
ra rằng TC tăng 50% trong vòng 10 năm [105 ] Một nghiên cứu khác của Bacardi tại Mexico năm 2007 cho thấy tỷ lệ HS TCBP 6-14 tuổi cũng khá cao chiếm 28%[54], năm 1998 tỷ lệ trẻ em Mỹ Phi TC là 21,5%, trẻ Mỹ gốc Tây Ban Nha TC là 21,8% [50, 78] ở Cộng hoà Liên bang Nga trong năm 1994 - 1995 tỷ
lệ trẻ BP 6-8 tuổi nam là 26%, nữ 18%, Nam Phi tỷ lệ trẻ BP 6-8 tuổi năm 1994 nam 25%, nữ 20% [86] Theo Serena và Cs năm 2009, tổng quan tất cả các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ TCBP của học sinh Australia (6-11 tuổi)
là 23,2% đối với nam và 30,3% đối với nữ Tại Nhật điều tra từ 1996 đến 2000 (61-14 tuổi) tỷ lệ TCBP là 16,2% (nam) và 14,3% (nữ) Vào năm 2004, ở Hs 6-
Trang 1017 tuổi của Mỹ tỷ lệ TCBP rất cao 35,1% (nam) và 36% (nữ) Trong khoảng thời gian 1999-2000 tại Trung Quốc tỷ lệ TCBP ở trẻ em trai từ 11 -15 tuổi là 14,9%
ở trẻ trai và 8,0% ở trẻ gái.[94]
Theo Popkin tỷ lệ TC ở Bắc Kinh là 30%, ở Bangkok (Thái Lan) là 25%, theo tác giả cho biết trong cùng một hộ gia đình vừa tồn tại tình trạng thiếu dinh dưỡng vừa xuất hiện tình trạng TC, tỷ lệ các hộ này chiếm 3-15% [87] Béo phì ở
TE đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế
1.2 Tình hình thừa cân và béo phì hiện nay ở Việt Nam
Tập tính dinh dưỡng và chế độ ăn trong giai đoạn hiên nay chịu nhiều tác động tích cực và tiêu cực của nền kinh tế đang phát triển, nhiều thức ăn giàu năng lượng được sử dụng kèm theo lối sống ít hoạt động thể lực dẫn đến tỷ lệ trẻ BP
có xu hướng tăng lên [77] Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc cho thấy
tỷ lệ TC ở trẻ dưới 5 tuổi là 1,1% (năm 1999) và 2,7% (năm 2000) Các điều tra hàng năm của VDD cho biết tỷ lệ trẻ TC < 5 tuổi trước năm 1995 không đáng
kể, hầu như không có, nhưng từ năm 1996 tỷ lệ bắt đầu tăng dần Tại thành phố
Hồ Chí Minh tỷ lệ trẻ TC<5 tuổi tăng từ 2,0% năm 1996 lên 3,3% năm 2001 Như vậy từ khi Việt nam thực hiện chính sách “đổi mới” vấn đề TCBP ở đã là một hiện tượng dịch tễ đáng báo động tăng nhanh theo thời gian và trở nên vấn
đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng[38,60] Theo điều tra y tế quốc gia năm
2001-2002 tỷ lệ TC trẻ TC 5-10 tuổi ở Đông Nam Bộ là 2,2%, ở Tây Bắc là 1,6% Năm 1996 nghiên cứu của Lê Thị Khánh Hoà cho thấy tỷ lệ TC ở trẻ 3 - 6 tuổi ở một quận nội thành Hà Nội chiếm 1,1% [5,21, 60]
Theo nghiên cứu của Lê Thị Hải ở học sinh 6 -11 tuổi tại 2 trường tiểu học nội thành Hà Nội năm 1997 thì tỷ lệ TC chung của trẻ là 4,1%; trong đó BP ở trẻ nam là 5,8%, ở trẻ nữ là 2,2% Tỷ lệ TC tăng dần theo tuổi 6 - 7 tuổi là 3,4%; 8 -
11 tuổi là 4,4% [3, 23] Theo nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan năm 1998 trên
Trang 11tỷ lệ TC là 12,2%, ở trẻ nam 17,6%, cao rõ rệt so với trẻ nữ 6,8%, tỷ lệ TC cao nhất ở độ tuổi 7 và 9 tuổi [29] Năm 2000 Nguyễn Thị Hiền điều tra ở Hải Phòng cho thấy tỷ lệ thừa cân là 9% trong đó béo phì là 6 % ở trẻ lứa tuổi tiểu học [23].Theo nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu năm 2001 tại quận Đống Đa, tỷ lệ trẻ 6-11 tuổi TC là 9,9% [10] Theo nghiên cứu của Phạm Duy Tường, Tạ Thị Loan năm 2001 trẻ em 12-15 tuổi tại một trường nội thành Hà Nội tỷ lệ TC là 5%, và tại một trường ngoại thành Hà Nội, tỷ lệ TC là 1,7%[39] Nghiên cứu của Lê Thị Hương, Hà Huy Khôi năm 1999 tại trường tiểu học Kim Liên - Hà Nội , tỷ lệ TC
là 4,1%, tại trường tiểu học Thượng Cát-Từ Liêm, tỷ lệ TC là 0,6%[12] Theo nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt năm 2002 ở trẻ 4-6 tuổi nội thành Hà Nội
tỷ lệ TC là 4,9%, BP là 3,1%, trong đó nam TC là 6,1%, nữ TC là 3,8%[37] Theo nghiên cứu của Lê Thị Hải năm 2004 tại 7 quận nội thành Hà Nội tỷ lệ trẻ em 7-
12 tuổi TC là 7,9%, trong đó tại 2 trường tiểu học quận Cầu Giấy là 5,6%[15] Như vậy chúng ta thấy tỷ lệ BP trẻ em có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn, và chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi học sinh tiểu học, tỷ lệ TC nam cao hơn nữ
1.3.Các yếu tố liên quan đến tình trạng Thừa cân và Béo phì 1.3.1 Yếu tố ăn uống :
Chế độ ăn thay đổi nhanh trong thời kỳ chuyển tiếp là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh mạn tính Cơ thể vốn đã quen với chế độ ăn thanh đạm từ khi còn bé, qua nhiều thế hệ (thuyết nguồn gốc bào thai của các bệnh mạn tính) chuyển sang một chế độ ăn giàu đạm, giàu béo đã tỏ ra bất lực trong quá trình thích nghi Sự bất lực đó trước hết thể hiện bằng thừa cân (mất cân bằng năng lượng), tiến tới béo phì và các bệnh có nguyên nhân rối loạn chuyển hoá Các cá nhân háu ăn, ăn uống quá độ vì một vài lý do khác nhau Họ có thể ăn uống vô độ khi bị stress,
ăn nhiều hơn nhu cầu, ăn đêm, hoặc có thể dùng một chế độ ăn sai thành phần tiêu chuẩn đều dẫn đến tăng cân Nhưng ngay cả khi ăn cùng một lượng quá tiêu chuẩn thì những cá thể khác nhau lại tăng trọng lượng khác nhau vì còn phụ thuộc vào gen di truyền, song người ta đã chỉ ra rằng ăn nhiều hơn mức bình
Trang 12thường cần thiết, thì sẽ tăng cân Một khẩu phần ăn nhiều mỡ, dù số lượng nhỏ cũng có thể gây thừa calo và gây tăng cân Trẻ em BP thường háu ăn và ăn nhiều lần Nếu ăn nhiều chất ngọt, và thói quen ăn nhiều vào bữa tối cũng là nguy cơ gây béo [25, 28,50,55]
Khẩu phần nhiều mỡ hoặc tổng nhiệt lượng cao đều dẫn đến TC và BP Nghiên cứu của Lê Thị Hải và Trần Thị Hồng Loan cho thấy tổng thời gian (78-75-62%) Bên cạnh đó tỷ lệ Protein động vật so với tổng số tăng nhiệt lượng và tỷ lệ Lipid trong khẩu phần ăn của nhóm BP cao hơn hẳn của nhóm chứng [3, 29] Hiện nay ở nước ta, khi mà nền kinh tế đang chuyển tiếp thì cấu trúc chế độ ăn hàng ngày
đang thay đổi rất nhanh: tỷ lệ chất béo và chất ngọt cao hơn và cũng đa dạng phong phú hơn [34] Những người có thói quen ăn nhiều chất ngọt sẽ dễ bị béo phì Theo nghiên cứu khẩu phần ăn của Nguyễn Tố Mai năm 1988, tỷ lệ P: L: G là 12:10:78 Điểm chú ý là tỷ lệ năng lượng từ Glucid giảm dần theo lên khá nhanh (28,2-43,2-57,3%), nhưng tỷ lệ Lipid thực vật lại giảm đi (40,3-34,0-26,3%)
Đây chính là hình ảnh cơ cấu bữa ăn của nền kinh tế trong thời kỳ chuyển tiếp[35]
Một số nghiên cứu cho thấy, trẻ bú sữa mẹ ít bị BP hơn trẻ bú bình Đặc biệt sữa mẹ phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, giảm nguy cơ suy dinh dưỡng và giảm nguyên nhân trung gian gây béo phì Tỷ lệ BP ở trẻ bú mẹ chỉ bằng quá nửa trẻ bú bình (2,8% so với 4,5%) Thời gian bú mẹ càng dài thì tỷ lệ
BP càng giảm Những nghiên cứu trước đây cũng cho rằng, sữa mẹ dường như có chứa những hoạt chất sinh học hạn chế sự phát triển của tế bào mỡ Trẻ bú sữa
mẹ có nồng độ Insulin trong máu thấp hơn so với trẻ bú bình Insulin là một Hormon có tác động quan trọng trong việc tích mỡ Một số tác giả thì cho rằng,
do thức ăn nhân tạo có nhiều Protein và muối hơn nên làm tăng áp lực thẩm thấu máu gây cảm giác khát ở trẻ, kích thích trẻ bú nhiều hơn và tăng cân [50]
1.3.2 Giảm hoạt động thể lực
Trẻ em thừa cân ở thành thị có tỷ lệ cao hơn ở nông thôn Nguyên nhân chủ yếu
là do tác động của chế độ ăn dư thừa năng lượng và các thực phẩm giàu năng
Trang 13để ăn Trong khi trẻ ở nông thôn, ngoài khí hậu trong lành, còn nhiều hoạt động
ở ngoài trời và lao động nhiều Nghiên cứu của Klesges, tỷ lệ trao đổi chất trong suốt quá trình xem tivi là hạ thấp một cách đáng kể và có mối quan hệ giữa BP
và thời gian xem tivi Xem tivi thường kèm với ăn vặt và bản chất các thức ăn này thường giàu calo Vì vậy xem tivi là sự kết hợp của tăng năng lượng ăn vào
và giảm năng lượng tiêu hao ở trẻ [ 90]
Theo nghiên cứu của Locard và cộng sự 1992 cho thấy sự liên quan giữa ngủ ít và BP Nguyên nhân chưa rõ nhưng theo một số tác giả có thể đây là phản
ánh kiểu sống của gia đình thiếu điều độ hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo nên những sóng thấp điện não khi ngủ Cũng có thể do tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về
đêm, và ít ngủ làm giảm tiêu mỡ [37] Kiểu sống tĩnh tại có vai trò quan trọng
ảnh hưởng tới TC và BP Theo Nguyễn Công Khẩn và Cs những người sử dụng phương tiện cơ giới trong sinh hoạt hàng ngày có nguy cơ TCBP cao hơn 70% so với nhóm người đi bằng phương tiện thô sơ và đi bộ [27]
1.3.3 Yếu tố gia đình - di truyền
Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với béo phì Những đứa trẻ béo thường hay có cha mẹ béo, tuy vậy, nhìn trên đa số cộng đồng, yếu tố này không lớn Có những gen quan trọng cấu thành Có đến 20 gen có quan hệ đến tính nhạy cảm với béo phì ở các cá thể khác nhau trong đó có gen Ob với sản phẩm là Leptin
được chú ý nhất ở nước ta, theo nghiên cứu của Lê Thị Hải tại Hà Nội cho thấy 51,8% trẻ BP có bố hoặc mẹ BP 9,8% có cả bố và mẹ BP [3] So với nhóm chứng, tỷ lệ trẻ có bố hoặc mẹ BP là 11,5% và cả 2 bố mẹ BP là không có
1.3.4 Yếu tố môi trường , văn hoá, kinh tế xã hội (KTXH)
Theo nghiên cứu của Lê Quang Hùng 1999 , cân nặng lúc đẻ của trẻ BP cao hơn nhóm bình thường có ý nghĩa thống kê với (p< 0,01) Người ta còn nhận thấy những đứa trẻ có cân nặng sơ sinh hoặc khi một tuổi thấp thì về sau, mỡ có khuynh hướng tập trung ở bụng [6] Một công trình nghiên cứu ở TE 3-6 tuổi và
Trang 147 - 9 tuổi cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng thấp còi và thừa cân Tuy cơ chế còn chưa rõ ràng nhưng phát hiện này có ý nghĩa sức khoẻ cộng
đồng quan trọng ở các nước nghèo, số đông TE bị thấp còi và thiếu cân nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi, chúng dễ dàng trở nên BP mà chúng
ta đều biết, phòng chống BP TE cũng vất vả không kém gì phòng chống SDD, thiếu cân [86] Từ một xã hội thiếu ăn chuyển sang đủ ăn, đời sống kinh tế tăng nhanh, người ta có xu hướng ăn nhiều hơn so với nhu cầu Một chế độ ăn đậm độ năng lượng cao, phối hợp với giảm hoạt động thể lực sẽ dẫn tới thừa cân và béo phì
1.4 Hậu quả của Thừa cân và béo phì
Béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ con người BP là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường týp II không phụ thuộc Insulin vv BP thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong,
và BP ở tuổi nào cũng không tốt cho sức khoẻ.[25, 28, 43]
* Đối với bệnh tim mạch:
Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh mạch ngoại vi
BP là một yếu tố nguy cơ độc lập với bệnh mạch vành, là yếu tố báo trước quan trọng bệnh này, chỉ đứng sau tuổi và rối loạn chuyển hoá Lipid Nguy cơ này cao hơn khi tuổi còn trẻ mà béo bụng Hơn thế nữa, tử vong do bệnh mạch vành đã tăng lên khi thừa cân, dù chỉ 10% so với trung bình Nghiên cứu của Freedman
DS cho thấy béo phì ở TE có liên quan đến yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành ở tuổi người lớn [66]
* Đối với bệnh đái tháo đường:
Có mối liên quan chặt chẽ giữa BP và bệnh đái tháo đường không phụ thuộc Insulin Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng lên liên tục khi
Trang 15BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm Một nghiên cứu gần đây cho thấy có thể giảm tới 65% trường hợp đái tháo đường không phụ thuộc Insulin ở nam và 74%
ở nữ nếu BMI không vượt quá 24 Các nguy cơ đó tiếp tục tăng lên khi BP ở thời
kỳ TE và thiếu niên, tăng cân liên tục, hoặc béo bụng Khi cân nặng giảm, khả năng dung nạp Glucoza tăng, sự kháng lại Insulin giảm [22]
BP làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới gấp 3-4 lần, nguy cơ này cao hơn khi mỡ tập trung quanh bụng ở người BP, cứ 1 kg mỡ thừa làm tăng tổng hợp 20 mg Cholesterol/ngày Tình trạng đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hoà Cholesterol trong mật cùng với mức cơ động của túi mật giảm dẫn tới bệnh sỏi mật [50]
Cần quan tâm đến các hậu quả nhiều mặt của BP ở TE Nguy cơ đầu tiên của BP ở TE là khả năng kéo dài BP đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của
nó, đặc biệt là các bệnh tim mạch và tiểu đường Những nghiên cứu gần đây ở
Mỹ về TC ở thanh thiếu niên đã chỉ ra: Trẻ có W/H cao, hay BMI cao có nguy cơ gia tăng đối với một số bệnh mãn tính ở người lớn và nguy cơ tử vong tăng Các nghiên cứu theo chiều dọc cũng cho thấy BMI tăng ở thanh thiếu niên sẽ dự đoán xảy ra sớm những nguy cơ của các bệnh mãn tính, và BP khởi phát sớm có ảnh hưởng lớn đến bệnh tim mạch hơn là khởi phát muộn [50].
* Hậu quả về mặt tâm lý
Trẻ béo phì phải trải qua nhiều khó khăn về mặt tâm lý hơn trẻ không béo phì, trẻ nữ có nguy cơ cao hơn trẻ nam và nguy cơ mắc các bệnh về tâm lý tăng lên theo tuổi Strauss cho biết 34 % trẻ nữ béo phì 13-14 tuổi có tính tự trọng kém hơn trẻ nam so với trẻ không bị béo phì (8 %) [95], chúng dường như kém nhanh nhẹn và đôi khi còn xấu hổ hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động thể thao [89].
Trang 161.5 Các chương trình phòng chống béo phì cho trẻ em
Khi một cá thể bị mắc bệnh béo phì, người ta có thể sử dụng một số biện pháp xử
lý béo phì như uống thuốc giảm béo, phẫu thuật hút mỡ, châm cứu điều trị thể vị trường thực nhiệt [36][51] Tuy nhiên để dự phòng và điều trị béo phì cho một cộng đồng thì khó khăn hơn nhiều và trên thực tế có một số cách tiếp cận sau
đây:
Chương trình dựa vào gia đình
Gia đình là môi trường ảnh hưởng mạnh nhất đến trẻ có nguy cơ béo phì, ở những gia đình nhận được giáo dục phù hợp về chế độ ăn và lối sống thì tỷ lệ trẻ béo phì giảm đi rõ rệt so với gia đình không nhận được lời khuyên và hỗ trợ trong thời gian nghiên cứu từ 3 tháng đến 3 năm Việc điều hoà cân nặng được cải thiện nếu như có ít nhất cha hoặc mẹ cùng được điều trị béo phì với đứa trẻ
[73][88][103], [104].
Chương trình dựa vào nhà trường
Nhà trường là nơi phát hiện những trẻ có nguy cơ béo phì thông qua các chương trình giáo dục và những lần thăm khám của các bác sĩ tại trường học Tăng cường các hoạt động thể lực thông qua việc lồng ghép chương trình tập luyện
đều đặn vào trong chương trình trường học là một biện pháp hiệu quả để cải thiện sức khoẻ và cân nặng trẻ em Tuy nhiên không dễ dàng để thực hiện biện pháp này bởi lẽ có sự cạnh tranh về các môn học, nhu cầu giáo viên và tài chính thì có hạn [103], [104].
Chương trình dựa vào cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ ban đầu
Một nghiên cứu ở Anh thành công trong việc giảm tỷ lệ béo phì bằng cách cung cấp lời khuyên ăn uống lành mạnh cho bà mẹ có thai và cho trẻ em Tỷ lệ béo phì còn 2% ở nhóm này trong khi còn 8% ở nhóm không nhận lời khuyên Thông qua thăm khám tại gia đình đã cho cơ hội tốt để giáo dục các yếu tố nguy
Trang 17cơ về lối sống liên quan với béo phì cũng như đưa ra các lời khuyên khuyến khích và hỗ trợ cha mẹ chấp nhận mô hình ăn uống tại hộ gia đình và luyện tập ở giai đoạn sớm [72][103], [104].
Chiến lược dự phòng thừa cân và béo phì
Theo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, chiến lược đề phòng tăng cân tỏ ra
dễ hơn, rẻ hơn và hiệu nghiệm hơn là điều trị béo phì bởi lẽ :
- Béo phì phát triển qua thời gian dài, một khi đã mắc bệnh thì rất khó chữa
- Các hậu quả sức khoẻ do béo phì tích luỹ trong thời gian dài không thể phục hồi hoàn toàn khi giảm cân
- ở các nước đang phát triển, kinh phí xử trí béo phì và các bệnh kèm theo là quá tốn kém Thiên về điều trị hơn dự phòng là một thiếu sót đã xảy ra ở các nước phát triển
Năm 2003 TCYTTG đưa ra chiến lược dự phòng béo phì cho các đối tượng khác nhau trong quần thể [105]
- Khuyến khích khẩu phần rau và trái cây
- Hạn chế khẩu phần gồm các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng (như quà vặt, thức ăn đóng gói sẵn)
- Hạn chế khẩu phần đồ uống có đường
Trang 18Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2 1 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh từ 6 -14 tuổi
- Phụ huynh học sinh
- Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên thể dục và nhạc họa
- Cán bộ Y tế của trường học
2.2 Địa điểm nghiên cứu :
- Nghiên cứu mô tả và bệnh chứng tiến hành tại 30 trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc 9 quận nội thành và 6 huyện ngoại thành Hà Nội
- Nghiên cứu can thiệp tại 4 trường (Giảng Võ, Hoàng Diệu, Ngô Sỹ Liên và Nguyễn Du) thuộc quận Ba Đình và Hoàn Kiếm, nội thành HN
2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả và bệnh chứng: từ tháng 5/ 2006 đến tháng 2/2007
- Nghiên cứu can thiệp:từ tháng 9/ 2007 đến tháng 9/2008 (bao gồm 3 tháng hè)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: [47], [101] .
- Nghiên cứu cắt ngang mô tả (Cross - Study): Xác định tỷ lệ thừa cân và béo phì
ở trẻ em tuổi học đường (6-14 tuổi)
- Nghiên cứu bệnh - chứng (Case- Control Study): Tìm hiểu nguyên nhân của
TC, BP trẻ em
- Nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau và so sánh đối chứng sau khi thử nghiệm mô hình giáo dục truyền thông dinh dưỡng phối hợp với tăng cường hoạt
động thể lực, thể dục thể thao
Trang 19n: Cỡ mẫu (số trẻ dưới 6-14 tuổi cần điều tra)
Với độ tin cậy 95 % thì Z2
1- α/2 = 1,96
P : ước tính tỉ lệ trẻ thừa cân là khoảng 10 %
d : ước lượng độ chính xác 0,01 Cỡ mẫu tính được sẽ là 3600 trẻ
Lấy tỷ lệ bỏ cuộc là 10 % thì cỡ mẫu sẽ là 3960 trẻ
Mẫu nghiên cứu được chọn theo mẫu chùm nên được tăng lên gấp đôi để đảm bảo độ tin cậy khi đó mẫu tính được là: 7920 trẻ làm tròn là 8000 trẻ
p0 : tỷ lệ trẻ phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ của nhóm chứng, trẻ bình thường
ε : Độ chính xác mong muốn ( Chênh lệch giữa tỷ xuất chênh (OR) thực của quần thể và (OR) thu được từ mẫu)
Từ công thức trên với ước lượng:
Tỷ lệ p1 phơi nhiễm với yếu tố ăn nhiều là 0.65
Tỷ lệ p0 là 0.15
ε ước tính chênh lệch giữa OR mẫu và quần thể là 0,4
Từ đó mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng mỗi nhóm sẽ là 186 trẻ, tăng thêm 10%
dự phòng bỏ cuộc, làm tròn là 210 trẻ cho nhóm bệnh và nhóm chứng sẽ lấy số mẫu tương ứng
Trang 20- Trường can thiệp: Trường tiểu học Nguyễn du và Trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên thuộc quận Hoàn Kiếm
- Trường không can thiệp (Trường đối chứng): Trường tiểu học Hoàng Diệu và Trung học cơ sở Giảng Võ thuộc quận Ba Đình
Tóm tắt mẫu nghiên cứu thực tế như sau:
- Nghiên cứu cắt ngang mô tả (năm 2006) xác định tỷ lệ TCBP là : 8561 học sinh tại 30 trường tiểu học và THCS thuộc 5 Huyện và 9 Quận thành phố Hà nội
- Nghiên cứu bệnh chứng : 210 nhóm TCBP và 210 nhóm chứng
- Nghiên cứu can thiệp : Chúng tôi can thiệp học sinh của toàn trường, khi đánh giá sau CT (năm 2008) chúng tôi chọn mẫu đại diện của 4 trường can thiệp (n=350trẻ/1trường) và tuân thủ qui trình chọn mẫu như đánh giá ban đầu
Trang 21
Biểu đồ : 2.1 Thiết kế nghiên cứu
TP hà nội năm 2006 ( 9 quận & 6 Huyện)
n = 436 trường tiểu học & trung học cơ sở
30 trường tiểu học & trung học cơ sở
(9/ 2007-9/2008)
Nghiên cứu bệnh chứng
(5/ 2006 - 2/2007)
Nghiên cứu mô tả
(5/2006 -2/2007)
Trang 222.4.4 Xây dựng và thử nghiệm mô hình can thiệp
Mục đích của mô hình can thiệp giáo dục dinh dưỡng phòng chống béo phì ở trẻ
em lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị không dừng lại ở chuyển tải kiến thức cho các giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh, nhân viên phòng y tế, người bán căng tin
và nhân viên bếp ăn Mô hình nhằm hướng dẫn các kĩ năng cho học sinh để phát hiện TCBP, theo dõi cân nặng, rèn luyện thể lực và lựa chọn các thực phẩm hợp lý theo từng lứa tuổi Xây dựng thói quen ăn uống tốt và thực hành rèn luyện thể lực bản thân đều đặn hướng tới xây dựng ngôi trường không có HS béo phì
Xây dựng nguồn nhân lực thực hiện mô hình: Thành phần tham gia mô hình can thiệp bao gồm: Hiệu trưởng/Hiệu phó sẽ điều hành các hoạt động can thiệp Dưới sự chỉ đạo của ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo chủ nhiệm, BM thể dục, nhạc họa, nhân viên nhà bếp, căng tin, tổng phụ trách và phòng y tế cùng toàn thể HS trong trường là những
người trực tiếp tham gia và thực hiện can thiệp
Truyền thông kiến thức phòng chống TCBPcho các thầy-cô giáo và phụ
huynh
- Tập huấn cho 119 giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên phòng y tế, người bán
căng tin và nhân viên bếp ăn phục vụ tại trường Nguyễn Du và Ngô Sỹ Liên Nội dung tập huấn bao gồm tình trạng TCBP hiện nay, các nguyên nhân dẫn đến TCBP và hậu quả của TCBP, cách phát hiện thừa cân - béo phì bằng số đo cân nặng và chiều cao, bảng tra cân nặng theo chiều cao theo lứa tuổi trai riêng, gái riêng, các biện pháp phòng ngừa thừa cân - béo phì cho trẻ, cách lựa chọn thực phẩm hợp lý
- Gửi Thư ngỏ cho các phụ huynh của trường can thiệp bao gồm các nội dung
liên quan đến chương trình phòng chống TCBP như: thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và những việc cần làm ngay của phụ huynh để phòng tránh TCBP cho trẻ (Phụ lục 1 Thư ngỏ)
- Chia sẻ thông tin: Được thực hiện vào buổi sinh hoạt lớp hoặc sinh hoạt ngoại
khóa Tại 2 trường can thiệp 514 nhóm “Sức khỏe hình thể đẹp” và “Sao đỏ hình thể đẹp” sau khi được xây dựng ở 87 lớp, thực hiện các cuộc thảo luận nhóm bao
Trang 23gồm các nội dung: Nguyên nhân gây ra tình trạng TCBP, hậu quả do TCBP mang lại, các biện pháp phòng và chống TCBP, xây dựng thông điệp, phát động toàn trường phòng chống thừa cân béo phì
- Phát tờ rơi: “Phòng chống thừa cân béo phì tuổi học đường’’ cho tất cả học
sinh trong toàn trường chứa đựng các nội dung: nguyên nhân, hậu quả của TCBP
và các biện pháp phòng và chống TCBP được chuyển tải thành các hình ảnh phù hợp với lứa tuổi học sinh, in màu 2 mặt (Phụ lục 2 tờ rơi )
- Phát động toàn trường: Tổ chức phát động toàn trường phòng chống thừa cân
béo phì lứa tuổi học đường với các tiết mục văn nghệ, các vở kịch do học sinh cùng giáo viên chủ nhiệm viết kịch bản và đóng vai với chủ đề hướng dẫn học sinh chế độ ăn hợp lý và rèn luyện thể lực để phòng chống TCBP
Hướng dẫn thực hành cho học sinh tại trường can thiệp
- Chế độ ăn hợp lý theo từng lứa tuổi:
+ Thực hiện thảo luận nhóm nhỏ bao gồm các nội dung: Các thực phẩm nên
dùng và các thực phẩm cần hạn chế để phòng và chống TCBP (sử dụng tờ rơi) + Thực hiện tư vấn nhóm hoặc tư vấn cá nhân tại phòng y tế (sử dụng Poster)
- Theo dõi cân nặng cho trẻ
+ Học sinh được hướng dẫn thực hành cân và đo chiều cao tại Phòng y tế của trường 3 tháng 1 lần sau đó đối chiếu số đo với bảng theo dõi cân nặng theo chiều cao và ghi vào tờ rơi Riêng với các khối 1,2,3 của trường tiểu học do giáo viên chủ nhiệm, giáo viên môn thể dục và cán bộ y tế của trường hỗ trợ học sinh thực hành này
- Thực hiện rèn luyện thể lực cho học sinh:
Các thầy-cô giáo BM thể dục hướng dẫn rèn luyện thể lực cho học sinh tại các lớp [48][49] Mỗi tuần có 2 tiết thể dục, ngoài các bài tập thông thường các giáo viên chú ý cho học sinh tập các bài tập do giáo viên Bộ môn thể dục thiết kế phổ biến với mọi lứa tuổi nhằm tăng cường tiêu hao nhiều năng lượng và tạo sự thích thú cho HS
Trang 242.4.5 Nội dung, các chỉ số nghiên cứu và công cụ thu thập số liệu
[1][2][9][47][71][101]
Các biến số và cách thu thập số liệu
Đánh giá ban đầu và
- Tuổi, Giới, Nghề nghiệp,Dân tộc, Nơi ở
- Trình độ văn hoá của đối tượng
1 Thông tin chung và
điều kiện kinh tế, xã hội
của gia đình học sinh
- Điều kiện kinh tế gia đình
Bộ câu hỏi
- Kiến thức + Khái niệm về bệnh BP + Nguyên nhân BP + Tác hại khi mắc BP + Biện pháp phòng và chống BP
- Thực hành + KP ăn 24 giờ + Thời gian và tần xuất ăn bữa phụ hoặc ăn ban đêm + Sở thích ăn bánh kẹo, uống nước ngọt TP chế biến sẵn, thức ăn xào rán, thịt mỡ
+ Phương tiện đến trường: đi bộ, xe máy, ô tô
+ Hoạt động thể lực: chơi cầu lông, nhẩy dây, bơi
+ Xem ti vi và chơi điện tử
Bộ câu hỏi
Bộ câu hỏi
3 Chỉ số đánh giá xây
dựng mô hình can thiệp
- Xây dựng mô hình can thiệp giáo dục truyền thông DD
- Xây dựng bộ tài liệu truyền thông DD & bài tập thể dục
- Xây dựng đội “ Sao đỏ& Sức khỏe hình thể đẹp “
- Xây dựng tài liệu đánh giá TT thừa cân và béo phì
Báo cáo XD mô hình
Bộ tài liệu Danh sách theo lớp Bảng & biểu đồ
4 Chỉ số theo dõi và
đánh giá can thiệp
- Thay đổi kiến thức và thực hành của HS
- Thay đổi KP ăn của học sinh
- Thay đổi quan điểm về bệnh BP
- Thay đổi các hoạt động thể lực
- Thay đổi tỷ lệ TCBP
- Bộ câu hỏi
- Phiếu theo dõi
- Dụng cụ cân và đo
Trang 252.4.6 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu [1].[20][74]
2.4.6.1 Đánh giá về kiến thức phòng chống TCBP : Mỗi câu hỏi có nhiều tình
huống trả lời (nhiều lựa chọn), tối đa cho 10 điểm, cách đánh giá như sau:
Nếu học sinh trả lời được 1-3điểm : quá kém, 3-5 điểm: kém, 5-8điểm: đạt yêu cầu, 8-10điểm: khá &giỏi Để thuận tiện cho phân tích số liệu chúng tôi chia 2 mức đánh giá <5 điểm : chưa đạt, >= 5 điểm: đạt yêu cầu
2.4.6.2 Đánh giá thừa cân và béo phì:
- Trẻ em dưới 10 tuổi [11][104]: đỏnh giỏ theo cõn nặng/chiều cao (W/H) so với quần thể tham chiếu NCHS:
+ Thừa cõn: khi W/H > + 2SD
+ Bộo phỡ: khi W/H > + 2SD và BDNGD cơ tam đầu và BDNGD dưới xương bả vai đều ≥ 90 percentile
- Trẻ em trên 10 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể BMI tính theo tuổi và giới của trẻ
[106]
+ BMI từ 5 đến dưới 85 percentiles: Bình thường
+ BMI >=85 percentiles: Thừa cân
+ Bộo phỡ: khi BMI ≥ 85th percentile và BDNGD cơ tam đầu và BDNGD dưới xương bả vai đều ≥ 90th percentile hoặc khi BMI >= 97 percentiles.[106]
2.4.6.3 Đánh giá thể lực học sinh
Để đánh giá thể lực học sinh chúng tôi sử dụng các chỉ số thường qui đang
được sử dụng đối với HS tiểu học và THCS tại 4 trường như sau [48][49]:
Cân nặng (kg) Chỉ số khối cơ thể (BMI) = -
Chiều cao2 (m)
Trang 26- Đo thời gian chạy 30 m (tính bằng giây): Chỉ số đánh giá được chia ra 3 mức giỏi, khá và đạt yêu cầu Trong NC chúng tôi sử dụng chỉ số đạt yêu cầu như sau: + Đối với HS nam <6’’2 (khối 6), <6’’00 (khối 7), <5’’8 (khối 8), <5’’6 (khối 9) + Đối với HS nữ <6’’6 (khối 6), <6’’4 (khối 7), <6’’2 (khối 8), <6’’00 (khối 9)
- Nhảy xa (tính bằng cm): Đánh giá độ mạnh của cơ thể và đôi chân Độ dài nhảy xa được tính từ vị trí xuất phát
- Nhẩy dây: Đánh giá độ bền bỉ dẻo dai của cơ thể chung cả hai giới (chỉ đánh giá đối với HS tiểu học): Đạt yêu cầu khi >= 60 lần/phút, khá >= 80 lần/phút và giỏi >= 90 lần/phút Trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng chỉ số đạt yêu cầu
2.4.6.4 Đánh giá hiệu quả can thiệp
- Tính chỉ số hiệu quả của chương trình can thiệp [20] [47]
⏐P1 – P2 ⏐ CSHQ (%) = - x 100
P1
Chỉ số hiệu quả thực sự của can thiệp được tính bằng chỉ số hiệu quả của trường can thiệp (CSHQ CT) trừ đi chỉ số hiệu quả của trường đối chứng (CSHQ ĐC)
P1 = chỉ số nghiên cứu vào thời gian trước can thiệp
P2 = chỉ số nghiên cứu vào thời gian sau can thiệp
2.4.7 Biện pháp khống chế sai số
- Chọn mẫu ngẫu nhiên, cỡ mẫu đủ lớn để nhằm hạn chế sai số ngẫu nhiên
- Tập huấn kỹ lưỡng và chính xác cho điều tra viên, sau đó cho điều tra thử trước khi điều tra chính thức
- Các định nghĩa, tiêu chuẩn và chỉ tiêu rõ ràng để phân loại đúng tình trạng dinh dưỡng, lựa chọn đúng nhóm bệnh, nhóm chứng
Trang 27- Kỹ thuật cân đo chính xác, các công cụ thu thập thông tin đều được thử nghiệm
và có độ chính xác cao
- Bộ câu hỏi rõ ràng, ngôn ngữ dễ hiểu
- Sử dụng phương pháp so sánh trước và sau can thiệp, chọn xã nghiên cứu trên cùng một huyện, chọn nhóm trẻ đối chứng để so sánh nhằm khống chế nhiễu
- Giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình nghiên cứu
2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu phân tích trình bày theo bảng tần số, tỷ lệ, trung bình Biểu diễn bằng các bảng và đồ thị Sử dụng phần mềm theo chương trình EPIINFO (6.04) và SPSS for window với các test thống kê y học
- Đánh giá mối liên quan giữa thừa cân-béo phì và yếu tố nguy cơ dựa vào tỷ suất chênh (OR) Tiêu chuẩn đánh giá OR như sau:
Nếu OR=1 có nghĩa là không có sự kết hợp với yếu tố nguy cơ
Nếu OR>1 có nghĩa là có sự kết hợp với yếu tố nguy cơ (P<0,05)
Nếu OR<1 có nghĩa là có giảm nguy cơ với phơi nhiễm hay yếu tố nguy cơ chính là yếu tố bảo vệ
- Để so sánh sự khác nhau giữa các giá trị trung bình của 2 nhóm hoặc trước và sau nghiên cứu cho mỗi nhóm được dùng test T student So sánh giữa các tỷ lệ dùng test χ2
2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Các cá nhân tham gia nghiên cứu được biết rõ mục tiêu nghiên cứu và các thông tin được sử dụng đúng mục đích nghiên cứu
- Các phụ huynh và đối tượng phỏng vấn hoàn toàn tự nguyện và những thông tin chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu
- Quá trình cân đo trẻ và tham gia vào chương trình can thiệp đảm bảo an toàn cho trẻ
Trang 28Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Thực trạng TCBP 6-14 tuổi và một số yếu tố liên quan
Tổng số học sinh nghiên cứu tại 14 Quận-Huyện Hà nội là 8561 bao gồm 30
trường tiểu học và trung học cơ sở, trừ quận Ba đình có thêm 1 trường THCS và
Quận Đống đa có thêm 1 trường tiểu học với số học sinh là 842 và 852 tương
ứng
Trang 29Bảng 3.2 Phân bố đối t−ợng nghiên cứu theo lứa tuổi
Trang 30B¶ng 3.3 : T×nh tr¹ng TCBP HS 6-14 tuæi ph©n bè theo tuæi vµ giíi ë Hµ Néi ( 2006 )
Tình trạng dinh dưỡng
Đối tượng
NC Bình thường Thừa cân Béo phì
Thừa cân và Béo phì
*p < 0.001 kh¸c biÖt nam so víi n÷
Trang 31Nghiên cứu trên 8561 HS từ 6-14 tuổi tại Hà nội cho thấy tỷ lệ TCBP chung là 10,7% trong đó béo phì chiếm 3,0% Tỷ lệ TCBP cao nhất ở nhóm HS 10 tuổi (18,2%), ở nhóm tuổi này có tới 24% trẻ thừa cân và béo phì là nam, và nữ là 11.7% Tiếp đến là nhóm trẻ 11 tuổi (13,0%), với 23.3% trẻ trai và trẻ em gái chỉ có 3.4% Tỷ lệ TC, BP thấp nhất ở nhóm trẻ 14 tuổi (6,4%) và nhóm trẻ 13 tuổi (7,7%) Thừa cân và béo phì lứa tuổi 6-14 tuổi, trẻ trai cao hơn trẻ gái ở mọi lớp tuổi, tỷ lệ TC, BP của trẻ trai là 16,1%, cao hơn trẻ gái 5.7% với (P<0,001)
0 5 10 15 20 25 30
Trang 32Bảng 3.4 Tình trạng TCBP của học sinh tại các trường tiểu học Hà nội (2006)
Tỡnh trạng dinh dưỡng Bỡnh thường Thừa cõn Bộo phỡ Trường Quận /Huyện n
Tiểu học Tõn Mai Hoàng mai 256 212 82.8 25 9.8 14 5.5 Tiểu học Xuõn Đỉnh Từ liờm 311 251 80.7 23 7.4 12 3.9 Tiểu học Hoàng Diệu Ba Đình 289 231 79.9 29 10.0 16 5.5 Tiểu học Nghĩa Tân Cầu Giấy 278 225 91.7 31 11.2 11 4.0 Tiểu học Văn Chương 308 269 87.3 20 6.5 13 4.2 Tiểu học Lý Thường Kiệt
Đống Đa
301 227 75.4 21 7.0 16 5.3 Tiểu học Ngô Quyền Hai Bà Trưng 269 229 85.1 25 9.3 7 2.6 Tiểu học Nguyễn Du Hoàn Kiếm 258 196 76.0 28 10.9 21 8.1 Tiểu học Đặng Trần
Côn B Thanh Xuân 219 198 90.4 16 5.5 10 4.6 Tiểu học Tứ Liên Tõy Hồ 215 194 90.2 2 0.9 4 1.9 Tiểu học Kim Chung Đụng Anh 223 214 96.0 3 1.3 0 0 Tiểu học Ngũ Hiệp Thanh Trỡ 233 217 93.1 11 4.7 2 0.9 Tiểu học Phủ Lỗ A Súc Sơn 224 200 89.3 12 5.4 8 3.6 Tiểu học Yên Viên Gialâm 232 202 87.1 17 7.3 10 4.3 Tiểu học ái Mỗ Long Biờn 226 193 85.4 24 10.6 7 3.1
Bảng 3.4 cho thấy trong số 3842 HS có 287 TC chiếm 7,2 % Trong đó tỷ lệ TC
và BP ở các trường Nguyễn Du và Hoàng Diệu thuộc quận Hoàn Kiếm và Ba Đình có
tỷ lệ gần như cao nhất (10,9% và 10,0 %), cao hơn cả là trường Nghĩa Tân (Q Cầu Giấy) tỷ lệ TC là 11,2%, tiếp đến là trường Ngô Quyền quận Hai Bà Trưng (9,3 %) Các trường thuộc quận ở xa trung tâm có tỷ lệ TCBP thấp hơn như trường Đặng Trần Côn (Q.Thanh Xuân), Lý thường kiệt (Q.Đống Đa ) là 5,5% và 7,0 % tương ứng Trẻ thừa cân và béo phì ở trường Tứ liên, quận Tây Hồ là thấp nhất 0,9 % Đối với các trường ái mộ, thuộc quận Long Biên (mới) có tỷ lệ TC đáng kể (10,6%), trường Phủ lỗ thuộc các huyện ngoại thành (Sóc sơn) là 5,4% và thấp nhất là trường Kim chung (huyện Đông Anh) là 1,3%
Trang 33Bảng 3.5 Tình trạng TCBP của học sinh tại trường trung học cơ sở Hà nội (2006)
Tỡnh trạng dinh dưỡng Bỡnh thường Thừa cõn Bộo phỡ
TH Ngô Quyền Hai Bà Trưng 349 280 90.3 31 10 20 6.5
TH Ngô Sĩ Liên Hoàn Kiếm 297 200 67.3 57 19.2 23 7.7
TH Kim Giang Thanh Xuõn 308 256 83.1 26 8.4 1 0.3
TH Ngũ Hiệp Thanh trì 263 215 81.7 8 3.0 1 0.4
TH Yên Viên Gia lõm 318 245 77.0 21 6.6 5 1.6
TH Ngọc Thụy Long Biên 281 231 82.2 21 7.5 2 0.7
Bảng 3.5 cho thấy trong số 4378 trẻ có 344 trẻ TC chiếm 8,0 % Trong đó tỷ lệ TC
và BP ở các trường Ngô Sỹ Liên và Giảng Võ thuộc quận Hoàn Kiếm và Ba Đình có tỷ
lệ cao nhất (23,4% và19,2 %), tiếp đến là trường Ngô Quyền quận Hai Bà Trưng (20,0
%) Các quận ở xa trung tâm có tỷ lệ TCBP thấp hơn như trường Kim Giang, Bế văn
Đàn và Nghĩa tân (Thanh Xuân 8,4%, Đống Đa 7,3 % và Cầu Giấy 10,0 %) Trẻ TCBP
ở trường Nhật Tân, quận Tây Hồ là thấp nhất 5,8 % Đối với các trường Ngọc Thụy, thuộc quận Long Biên (mới) có tỷ lệ TCBP đáng kể (7,5%), trường Yên viên thuộc các huyện ngoại thành (Gia lâm) là 6,6% và thấp nhât là trường Kim chung (huyện Đông Anh) là 1,4%
Trang 343.1.2 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến TCBP ở HS 6 -14 tuổi tại Hà Nội
Bảng 3.6 Yếu tố kinh tế của hộ gia đình và tình trạng TCBP
*Sự khác biệt giữa nhóm TCBP và nhóm chứng NS Không có YNTK
Kết quả nghiên cứu cho thấy những trẻ đ−ợc nuôi d−ỡng trong các gia đình sẵn
có các đồ dùng giá trị có liên quan tới bệnh thừa cân-béo phì, tỷ lệ gia đình có các yếu tố đó cao hơn hẳn so với nhóm chứng nh− điều hòa không khí (OR=1,73), máy giặt(OR=1,73) với p<0,001 Còn 3 yếu tố là vô tuyến, tủ lạnh, ô tô không có sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu
Trang 35Bảng 3.7 Thu nhập, chi tiêu hộ gia đình và tình trạng TCBP
>1.200.000
> 600.000
Biểu đồ 3.2 Thu nhập và chi tiờu hộ gia đỡnh và tỡnh trạng TCBP
Bảng 3.7 và biểu đồ 3.3 cho thấy bình quân thu nhập >1.200.000đ đầu
người/tháng nhóm TCBP là 25,2% cao hơn nhóm chứng (23,8%), sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên mức chi tiêu theo
đầu người cho ăn uống > 600.000 đ nhóm TCBP là 82,1% cao hơn nhóm
chứng (24,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Trang 36Bảng 3.8 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình với TC BP
TCBP Không 161(75.5) 193 (92.3) 1.92-6.23
*Sự khác biệt giữa nhóm TCBP và nhóm chứng
Kết quả bảng 3.8 cho thấy gia đình trẻ thừa cân béo phì có anh chị bị thừa cân
cao hơn hẳn nhóm trẻ đối chứng (p<0,001) với tỷ xuất chênh OR=3.46 Yếu tố gia
đình còn thể hiện rõ ở trẻ thừa cân và béo phì có mẹ bị thừa cân béo phì tới 69.9%, còn
ở trẻ bình thường có mẹ thừa cân béo phì chỉ có 9.4% với tỷ xuất chênh với OR=24,8
Hàng ngày
Thỉnh thoảng
Hàng tuần
Hàng ngày
P, OR
Chơi điện tử 35,2 25,8 12,9 32,4 16,0 * 11,7 p <0,05,
OR=1,6 Ngủ trưa 12,8 16,8 62,0 10,2 15,0 71,5 * p <0,05,
Kết quả trên trình bày các yếu tố hoạt động liên quan đến trẻ thừa cân và béo
phì, có sự chênh lệch rõ ở những trẻ có tần xuất hàng tuần chơi điện tử của nhóm
TCBP so với nhóm chứng (25,8% và 16,0 %) với p<0,05, tỷ lệ trẻ tần xuất ngủ trưa
hàng ngày ở nhóm TCBP thấp hơn trẻ nhóm chứng (62,0% và 71,5%) với p
Trang 37Bảng 3.10 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống với TCBP
kẹo ngọt Không 85 (36.3) 92 (35.9)
Có 187 (79.6) 196 (76.6) 1.22(0.77-1.92) >0.005Thích ăn món
ăn nhiều Không 162 (69.2) 113 (44.1)
*Sự khác biệt giữa nhóm TCBP và nhóm chứng
Kết quả bảng trên cho thấy trẻ thừa cân và béo phì có thói quen háu ăn hơn so
với trẻ nhóm chứng với p <0,01 (OR= 3,62) Ngược lại những trẻ nhóm đối chứng
có tình trạng dinh dưỡng bình thường, được ưu tiên những thức ăn ngon hơn và cha
mẹ ép ăn nhiều hơn (p <0,01)
Trang 38Bảng 3.11 Mức tiêu thụ LTTP của trẻ 7- 9 tuổi nhóm TCBP và đối chứng
Nhúm TCBP (n= 70)
Nhúm chứng (n= 70 )
**p<0,001, test T, Sự khác biệt giữa 2 nhóm
Trung bình 1 ngày trẻ 7-9 tuổi nhóm TCBP tiêu thụ 305g gạo và lương thực khác là 40,7g cao hơn nhóm chứng (284g và 33,8g), dầu mỡ 13,7g nhóm TCBP cao hơn hẳn NC (6,0g)/ngày, đặc biệt lượng thịt được tiêu thụ khá cao (150g TCBP và 90 g NC), ngay cả trứng, sữa nhóm TCBP cũng cao hơn NC, Trẻ ăn rau không nhiều (73,7g TCBP thấp hơn NC 136,6g/ngày) nhưng lượng quả lại tiêu thụ khá lớn (300g / ngày so với NC là 121,4g) Lượng đường mật tiêu thụ ở nhóm TCBP cao gấp hai lần NC (28,3g và 12,5g)
Trang 39Bảng 3.12 Các yếu tố cân đối khẩu phần của 2 nhóm trẻ 7- 9 tuổi
Chỉ số cõn đối
của khẩu phần
Nhúm TCBP (n=70)
Nhúm chứng (n= 70)
93.8
14.9 22
63.1
0 20 40 60 80 100 120 140
%
Năng lượng Protein Lipid Glucid
Biểu đồ 3.4 Các yếu tố cân đối khẩu phần của 2 nhóm trẻ 7- 9 tuổi
Năng l−ợng chung của khẩu phần TCBP là 2333,7 kcal, v−ợt 127,9 % so
nhu cầu đề nghị trong khi NC là 1713 Kcal (đạt 94% NCDN) Tổng số protein
nhóm TCBP là 78,9 gam cao hơn NC 62,2g Đặc biệt tổng số lipid nhóm TCBP
67,9g cao hơn NC là 41,2g và chiếm 27,1% NLKP so với NC 22% NLKP
Nh− vậy các thành phần sinh năng l−ợng của KP nhóm TCBP không cân đối
so với nhóm chứng
Trang 403.2 Xây dựng và thực hiện mô hình can thiệp giáo dục dinh dưỡng phòng chống béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường
Mục đích của mô hình can thiệp giáo dục dinh dưỡng phòng chống béo phì
ở trẻ em lứa tuổi học đường tại khu vực đô thị không dừng lại ở chuyển tải kiến thức cho các giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh, nhân viên phòng y tế, người bán căng tin và nhân viên bếp ăn Mô hình nhằm hướng dẫn các kĩ năng cho học sinh để phát hiện TCBP, theo dõi cân nặng, rèn luyện thể lực và lựa chọn các thực phẩm hợp lý theo từng lứa tuổi Xây dựng thói quen ăn uống tốt và thực hành rèn luyện thể lực bản thân đều đặn hướng tới xây dựng ngôi trường không có HS béo phì
3.2.1 Xác định vai trò các thành phần tham gia mô hình can thiệp
Để xây dựng nguồn nhân lực thực hiện mô hình, chúng tôi đã tổ chức hội thảo tại Sở giáo dục và đào tạo Hà nội với các thành phần phó giám đốc SGD, phụ trách khối tiểu học, THCS, chánh văn phòng Sở, đại diện Ban giám hiệu nhà trường, phòng y tế của 4 trường tham gia nghiên cứu Sau khi trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng TCBP học sinh, dự kiến mô hình can thiệp, Chủ nhiệm đề tài và các cán bộ thực hiện NC và các thành viên tham gia hội thảo đã thảo luận và
đưa ra thành phần tham gia mô hình can thiệp bao gồm:
- Hiệu trưởng/Hiệu phó sẽ điều hành các hoạt động can thiệp
- Dưới sự chỉ đạo của ban điều hành, các thầy giáo, cô giáo chủ nhiệm, BM thể dục, nhạc họa, nhân viên nhà bếp, căng tin, tổng phụ trách và phòng y tế cùng toàn thể HS trong trường là những người trực tiếp tham gia và thực hiện can thiệp