Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc sốt rét phối hợp dihydroartemisinin-piperaquin do Việt Nam sản xuất đến một số chức năng tim mạch và thần kinh trung ương của động vật thực nghiệm Mục tiêu: 1, Đánh giá cảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến huyết áp và tim 2, Đánh giá ảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến việc tìm thức ăn trong mê lộ ở chuột nhắt lang
Trang 1+2
BỘ Y TẾ VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG TRUNG ƯƠNG
$
BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI CAP VIEN
Tên đề tài:
NGHIEN CUU ANH HUONG CUA THUOC SOT RET
PHO! HOP DIHYDROARTEMISININ - PIPERAQUIN -
DO VIET NAM SAN XUAT DEN MOT SO CHUC NANG
TIM MACH VA THAN KINH TRUNG ƯƠNG CỦA
ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
N
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Minh Thu
Cơ quan chủ trì để tài: Viện Sốt rét - KST - CT TƯ Cấp quản lý: Viện Sốt rét - KST - CT TỪ
HÀ NỘI - 2007
T143
23 JkI0 3
Trang 2BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI CAP VIEN
Tén dé tai:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CUA THUOC SOT RET PHOI HOP DIHYDROARTEMISININ - PIPERAQUIN DO VIET NAM SAN XUAT DEN MOT SO CHUC NANG TIM MACH VA THAN KINH
TRUNG UONG CUA DONG VAT THUC NGHIEM
Chủ nhiệm đề tài: Thể Nguyễn Thị Minh Thu Thời gian thực hiện: 1 năm (5/2006 - 4/2007)
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
Viện Sốt rét - KST - CT TƯ Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Dược lý
Nguyễn Thị Minh Thu Nguyễn Trần Thị Giáng Hương Trương Văn Như Trần Thanh Tùng
Bùi Thị Sáu Nguyễn Kiểu Vân
Dinh Thi Xuan Huong Đình Quang Trường
HÀ NỘI - 2007
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TAT
ACT: Antimalarial Combination Treatment
ALT: Alanine aminotransferase
ECG: điện tâm đồ (electrocardiogram)
G6PD: glucose 6-phosphate dehydrogenase
IC50: nồng độ ức chế 50% số sinh vat thi nghiém (inhibitory concentration)
KH & CN VN: Khoa học và công nghệ Việt Nam
tị„: thời gian bán thải
TƯ: trung ương
VSDT: vệ sinh dịch tễ
XNDPTƯ I: Xí nghiệp Dược phẩm trung ương Ï
'WHO: tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 4MUC LUC
PHẦN A: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 1
1 Đóng góp của đề tài về nội dung nghiên cứu 1
2 Hiệu quả về đào tạo * TT 1
5 Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội 2
PHẦN B: NỘI DUNG BÁO CAO CHI TIET KET QUANGHIEN CUU 3
1 Dat vin dé 3
3 Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 1]
3.4 Các dụng cụ và thiết bị đùng trong nghiên cứu ` 11
3.6 Các chỉ tiêu đánh giá 15
4.1 Ảnh hưởng của thuốc phối hợp đến huyết áp chó l6
4.3 Ảnh hưởng của thuốc phối hợp đến phản xa tìm thức ăn trong mê lộ 19
Trang 5CAC BAI BAO KHOA HQC DA CONG BO VỀ KET QUANGHIEN 5,
CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 6PHAN A: TOM TAT CAC KET QUA NOI BAT CUA DE TAI
Nghiên cứu này, ở một mức độ nhất định, đã đánh giá được ảnh hưởng của thuốc sốt rét phối hợp dihydroartemisinimn - piperaquin (DHA-PQP, nguyên liệu do
Việt Nam sản xuất) đến một số chức năng tim mạch và hoạt động thần kinh trung ương của động vật thực nghiệm Kết quả nghiện cứu của đề tài bổ sung cho hồ sơ thử nghiệm tiền lâm sàng của một thuốc sốt rét hiện đang rất được quan tâm với khả
năng chống kháng cao, hiệu quả điều trị tốt và an toàn khi sử dụng Các kết quả nghiên cứu này đã đóng góp được một số lợi ích như sau:
1 Đóng góp của đề tài về nội dung nghiên cứu
Góp phần nghiên cứu về độc tính của thuốc sốt rét phối hợp DHA-PQP với nguyên liệu PQP lần đầu tiên được sản xuất thành công ở Việt Nam (mà thị trường nguyên liệu này
từ trước tới nay vẫn do Trung Quốc độc quyền) Kết quả cho thấy:
Với liều 64 mg/kg (tương đương với liều gấp hai lần liều điều trị trên người)
và liêu 120 mg/kg, thuốc phối hợp DHA-PQP không gây ảnh hưởng có ý nghĩa
thếng kê đến các giá trị huyết áp và nhịp tim của chó sau khi dùng thuốc so với thời điểm ban đầu, cũng như giữa lô uống thuốc so với lô chứng (các giá trị P > 0,05)
Ở nồng độ I6 mg/100mL (tương đương với liều điều trị trên người) và 32 mg/100mL, thuốc phối hợp DHA-PQP có làm giảm nhịp tim và tăng biên độ của
tim ếch cô lập, nhưng sự thay đổi các chỉ số trước và sau khi nhẻ thuốc khác nhau
không có ý nghĩa thống ké (P > 0,05)
Với liều 120 mg/kg/ngày x 5 ngày, 1 đợt (liều tương ứng với liều dùng điều
trị trên người) và 120 mg/kg/ngày x 5 ngày, 2 đợt, thuốc phối hợp DHA-PQP làm
thay đổi không có ý nghĩa thống kê số ngày tập để hình thành phản xạ và thời giar
chạy tới đích so với lô chứng (P > 0,05)
Ở liều 240 mg/kg/ngày x 5 ngày, 1 đợt, thuốc phối hợp DHA-PQP làm tăng
có ý nghĩa thống kê thời gian chuột chạy tới đích (P < 0,05) so với lô chứng Thuốc
DHA-PQP thể hiện tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương ở liều 240 mg/kg/ngày
x 5 ngày, l đợt
2 Hiệu quả về đào tạo
Nghiên cứu góp phần bổ sung các dữ liệu cho luận án tiến sĩ Dược học, chuyên ngành Dược lý
3 Hiệu quả về kinh tế
Trang 7Nghiên cứu này đã bổ sung các dữ liệu về độc tính của thuốc sốt rét phối hợp
DHA-PQP, với nguyên liệu PQP lần đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam, góp phần phát triển một thuốc sốt rét với nguyên liệu sẵn xuất trong nước, không phải nhập
khẩu
4 Hiệu quả về xã hội ` _
Thuốc phối hợp DHA-PQP hiện nay đã được đưa vào danh mục thuốc sốt rét thiết yếu trong chương trình phòng chống sốt rét quốc gia của Việt Nam Các kết
quả nghiên cứu này góp phần bổ sung cho việc đánh giá tính an toàn của thuốc, làm
tăng hiệu quả sử dụng thuốc trong cộng đồng, hạn chế các tác dụng phụ
5 Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Thuốc phối hợp DHA-PQP an toàn với chức năng tìm mạch và hoạt động
thần kinh trung ương của động vật thí nghiệm ở liễu tương đương với liều điều trị
trên người Với liều cao, thuốc gây ức chế hệ thần kinh trung ương Vì vậy, với những người vận hành máy móc hoặc đi tàu xe phải thận trọng khi dùng quá liều
Trang 8PHAN B: NOI DUNG BAO CAO CHI TIET KET QUA NGHIEN CUU
Tóm tắt:
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc sốt rét phối hợp 40 mẹ dihydroarlemisiin
(DHA) và 320 mg piperaqguin phosphat (PQP), với nguyên liệu PQP lân đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam đến huyết áp và tim cô lập của động vật thực nghiệm được tiến hành tại Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Y Hà Nội, tháng 3 và từ tháng 7-8 năm 2006 Ảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến phản xạ tìm thức ăn trong mê lộ của chuột nhất trắng được nghiên cứu tại Khoa Nghiên cứu điều trị sốt
rét, Viện Sốt rét - KST - CT TU từ tháng 4-12 năm 2006 Kết quả cho thấy:
Với liêu 64 mg!kg (tương đương với liêu gấp hai lần liêu điều trị trên người)
và liêu 120 mglkg, thuốc phối hợp DHA-PQP không gây ảnh hưởng có ý nghĩa
thống kê đến huyết áp và nhịp tìm của chó sau khi dùng thuốc so với thời điểm bạn
đâu, cũng như giữa lô uống thuốc so với lô chứng (P > 0.05)
Ở các nông độ 16 mẹ!100mL (tương đương với liêu điều trị trên người) và 32
mal100mL, thuốc phốt hợp DHA-PQP có làm giảm nhịp tim và tăng biên độ của
tìm ếch cô lập, những sự thay đổi các chỉ số trước và sau khi nhỏ thuốc khác nhau
không có ý nghĩa thống kê (các giá trị P > 0,05)
Với liêu 120 mglkgingày x $ ngày, 1 đợt (liểu tương ứng với liễu dùng điều trị trên người) và 120 mglkgingày x 5 ngày, 2 đợi, thuốc phối hợp DHA-PQP làm thay đổi không có ý nghĩa thống kê số ngày tập để hình thành phân xờ và thời gian chạy tới đích so với lô chứng (P > 0,09)
Ở liêu 240 mglkglngày x 5 ngày, 1 đợt, thuốc phối hợp DHA-PQP làm tăng
không có ý nghĩa thống kê số ngày học tập để hình thành phản xạ (P > 0,05) và tăng có ý nghĩa thống kê thời gian tới đích (P < 0,05) so với lô chứng Thuốc DHA- PQP thể hiện tác dụng ức chế hệ thân kinh trung ương ở liêu 240 mgikgingdy x 5 ngày, Ì đợi
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét (SR) là bệnh có tỷ lệ số người mắc cao ở nhiều nơi trên thế giới cũng
như ở Việt Nam, với khoảng 300 - 500 triệu ca bệnh và tối thiểu có 2 triệu ca tử
vong hàng năm (WHO, 1997) Hiện nay, sốt rết vẫn còn là vấn để y tế công cộng
quan trọng Khoảng 100 nước trên thế giới nằm trong vùng sốt rét, hơn 2400 triệu
người, xấp xi 40% dân số thế giới có nguy cơ bị sốt rét (WHO, 2000) [1] Bệnh đã gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với sức khoẻ của cộng đồng và hạn
chế sự phát triển kinh tế ở những vùng sốt rét lưu hành [31].
Trang 9Do hiện tượng kháng thuốc của ký sinh trùng (KST) ngày càng gia tăng nên hiện nay Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đang khuyến cáo phát triển các công thức
thuốc phối hợp Điển hình là các thuốc có thành phần cơ bản là dẫn xuất của
artemisinin với một thuốc khác có thời gian bán thải dài hơn
Mới đây, thuốc Artekin với thành phần cơ bản là piperaquin (gồm: 320mg piperaquin va 40mg dihydroartemisinin, do Trung Quốc sản xuất) đã được sử dụng
và cho kết quả điều trị sốt rét tốt (thời gian sạch KST nhanh, tỷ lệ điều trị khỏi cac
95 - 96%) [23] Cho đến đầu năm 2004, trên thế giới mới chỉ có Trung Quốc là nước
duy nhất sân xuất được PQP và xuất khẩu sang Việt Nam Cũng năm đó, các nhà
khoa học của Viện Hoá học, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam đã sản xuất thành công piperaqgin phosphat (PQP) Đó là cơ sở để sản xuất thuốc sốt rét phối hợp dihydroartemisinin - piperaquin (DHA-PQP) từ nguyên liệu trong nước [9] PQP đã được Viện Sốt rét - KST - CT TƯ sơ bộ thử tác dụng trên KST SR, kết quả cho thấy mẫu PQP của Viên Hoá học tương tự như mẫu nhập của Trung Quốc về tác dụng trên KST [16] Thuốc phối hợp DHA-PQP (nguyên liệu do Việt Nam sản xuất) đang được nghiên cứu thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng tại nước ta
Để góp phần vào việc nghiên cứu một thuốc SR có khả năng chống kháng, hiệu quả điều trị cao, ít độc, an toàn, được bào chế từ các nguyên liệu sản xuất tron
nước, đề tài này được tiến hành nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc sốt rét phối
hợp dihydroartemisinin - piperaquin đến huyết áp, tim cô lập và một số chức năng hoạt động thần kinh trung ương của động vật thực nghiệm
Mục tiên:
1 Đánh giá ảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến huyết áp và lim cô
lập của động vật thực nghiệm
2 Đánh giá ảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến phản xạ âm thức
ăn trong mê lộ ở chuột nhất trắng.
Trang 102 TONG QUAN
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Artemisinin (ART) va cdc dẫn xuất có tác dụng cắt sốt và làm sạch KST nhanh nhất trong tất cả các thuốc SR hiện có Hiệu lực điều trị P #¿lciparum da kháng thuốc, khả năng làm chậm hiện tượng kháng thuốc khi dùng phối hợp dẫn
đến việc sử dụng nhóm thuốc này ngày càng nhiều trong những năm gần đây Các
dẫn xuất ART được chứng minh là dung nạp rất tốt trong các thử nghiệm lâm sàng (Hien and White, 1993) Chỉ có ít tác dụng phụ đáng kể được ghi nhận ở hơn 2 triệ" bệnh nhân được điều trị (Price và cộng sự (cs), 1999) Artemether và arteether là các
dẫn xuất không ưa nước của dihydroartemisinin (DHA), dùng tiêm bắp trong các dung môi đầu lạc và dầu vừng Ở các loài gặm nhấm, chó, khỉ, tiêm bắp artemether
và arteether liều tương đối cao gây ra kiểu thương tổn chọn lọc bất thường ở một số vùng trên thân não (nhân đỏ và nhân dây thần kinh vận nhãn), phần lớn các trung tâm này liên quan đến việc dẫn truyền tín hiệu thính lực và tiền đình (Petras và cs, 1997) Trên mô hình nghiên cứu độc tính thần kinh ở chuột, artesunat dang tiém ít
gây độc thần kinh hơn rất nhiều so với artemether tiêm bắp; uống đều đặn thuốc tan
trong dau sé gây độc thân kinh nhiều hơn so với dùng thuốc dạng uống từng đợt theo cách thông thường Artemether, artesunat và DHA dạng uống có các tác dụng độc thần kinh tương tự nhau và không có bằng chứng về mặt lâm sàng hay bệnh học
thần kinh về độc tính của thuốc với các liều thấp hơn 200 mg/kg/ngày x 28 ngày Điều đó chứng tỏ dùng artemether, artesunat và DHA bằng đường uống 1 - 2 lần /
ngày thì tương đối an toàn so với dùng đường tiêm bắp các hợp chất tan trong dầu
[32]
DHA ở liều 351tmol / kg tiêm tĩnh mạch chuột cống đực cho thấy chất chuyển
hóa chủ yếu qua đường mật là dihydroartemisinin glucuronide không còn hoạt tính [21] DHA (cotexin) viên 60mg do xưởng Dược số 6 Bắc Kinh, Trung Quốc sản
xuất, dung nạp tốt, hầu như không độc ở liều điều trị L¡ và cộng sự ở Trung Quốc diéu tri 349 BNSR do P falciparum téng liéu là 480mg DHA trong 5 ngày đạt tỷ lệ
khỏi bệnh 97% Ở Thái Lan, Looareesuwan điều trị 52 BNSR do P #¿lciparum phác
đồ như trên đạt tỷ lệ khỏi 90% [18]
Piperaquin là một bisquinoline được tổng hợp đầu tiên vào những năm của
thập kỷ 1960, được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc và Đông Dương trong dự phòng
và điều trị SR 20 năm tiếp sau đó Một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đã dẫn
chứng rằng PQP dung nạp tốt hơn chloroquin (CQ) và có hiệu lực điều trị sốt rét (SR) do P falciparum va P vivax ít nhất là tương tự CQ Việc phát triển các chủng
Trang 11P Kalciparum kháng PQP và sự xuất hiện của các dẫn xuất ART đã khiến cho PQP
ít được sử dụng vào những năm của thập ký 1980 [24] Độ nhạy in vitro cha PQP va một số các thuốc SR khác đã được các nhà khoa học Trung Quốc nghiên cứu ở tỉnh Yunnan Kết quả cho thấy mức độ kháng cao của P falciparum vGi CQ va PQP [25] [28] [34] Dé nhay in vivo cha PQP trên P ƒalciparum cũng đã được đánh giá ở Lin
Shui va Baisha, tinh Haman, Trung Quốc năm 1986 Với tổng liều 1,5¢ dang base trong 3 ngày điều trị, thời gian hết sốt là 36 + 20,7 giờ, thời gian trung bình sạch
KST thể vô tính là 69,7 + 20,9 giờ Tỷ lệ tái phát ở ngày 14 và 28 là 7/47 ca cho thấy mức độ kháng RI với PQP [30]
Các nghiên cứu đầu tiên trên người của PQP đã được tiến hành từ những năm
của thập kỷ 1970, thuốc đã được điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân người lớn và trẻ
em PQP đã chứng tỏ hiệu lực điều trị và khả năng dung nạp tốt, không có hiện
tượng kháng chéo với CQ Guo XE và cs (1986) khi so sánh hiệu quả điều trị của viên đạn ART và PQP trên 56 bệnh nhân người lớn Trung Quốc mắc SR P falciparum đã nhận thấy: liệu trình điều trị 3 ngày của ART đạn cho thời gian sạch
KST (71,8 + 16,0 giờ) ngắn hơn của PQP (100,3 + 20,3 giờ) nhưng tỷ lệ tái phát ở
ngày 28 của ART đạn (48,2%) cao hơn rất nhiều so với của PQP (17,0%) [28] Gu
(1988) cũng nhận thấy hiệu quả của dihydroartemisinin (DHA) (cả liệu trình điều trị
5 và 7 ngày) đều tốt hơn của PQP trên bénh nhan SR do P falciparum; thoi gian sạch KST và thời gian hết sốt của hai nhóm điều trị bằng DHA và PQP là như nhau,
tỷ lệ tái phát khác nhau không có ý nghĩa thống kê [27] Gần đây, dược động học
của PQP đã được nghiên cứu trên BN người lớn và trẻ em Campuchia mắc SR do P
falciparum hoac P vivax Theo Hung TY va cs (2004), PQ là thuốc có khả năng
hoà tan tốt trong lipid, PQP có thể tích phân bố (Vss/F) lớn, thời gian bán thải (ta)
đài (trung bình 23 ngày ở người lớn và 14 ngày ở trẻ em), độ thanh thải (CL) ở trẻ
em cao hơn ở người lớn [28]
Theo LK Basco và P Ringwald (2003), PQP cé hoat tinh cao in vitro d6i véi
các ching P falciparum phan lap cua Cameroon (ICS50 = 38,9nM, 7,76 - 78,3nM>
PQP thể hiện khả năng ức chế mạnh tất cả các phân lập ở nồng độ 50 hoặc 100
nmol/L; có hoạt tính đối với các phân lập nhạy va kháng CQ Giữa PQP và CQ có
mối tương quan về đáp ứng mặc dù mối tương quan này rất nhỏ (r = 0,257; P<
0,05) Các kết quả này gợi ý rằng, việc phát triển PQP, phối hợp với DHA, mang lại
nhiều hứa hẹn cho điều trị SR kháng CQ [22]
Các thập kỷ tiếp theo thập ký 1980, các nhà khoa học Trung Quốc đã phối hợp PQP với một dẫn xuất của ART [24] Cơ sở của các phối hợp thuốc này là tạo ra các
Trang 12thuốc phối hợp có liệu trình điều trị ngắn ngày đạt tỷ lệ điều trị khỏi cao, thuốc dung
nạp tốt, giảm được lan truyền SR và ngăn ngừa được phát triển kháng của KST Một
trong các phối hợp đó là CV8, có thành phần cơ bản PQP (PQP - based Antimalarial
Combination Treatment: ACT) CV§ gồm: DHA 32 mg, PQP 320 mg, trimethoprim
90 mg và primaquine phosphat 5 mg.{3]
Sự có mặt của primaquine trong viên CV8 cổ thể gây huyết tán ở những BN thiếu enzyme G6PD Mặt khác, CV§ không dùng được cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 3 tuổi, độc tính của CV cũng chưa được chứng minh rõ ràng Do đó có 2 phố:
hợp thuốc mới của PQ ra đời để hạn chế những thiếu sót trên Một trong số đó là
Artecom (DHA 32mg, PQP 320mg, trimethoprim 90mg) Thuéc da dugc sir dung
trong các thử nghiệm lâm sàng, tỏ ra an toàn và dung nạp tốt ở Trung Quốc, Việt
Nam, Lào, Campuchia Nghiên cứu so sánh Artecom và artesunat - mefloquine trong diéu tri SR do P falciparum chua bién chứng ở Thái Lan trên 432 BN cho
thấy: tất cả các BN đều đáp ứng nhanh với thuốc, thời gian cắt sốt và sạch KST giữa
hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ điều trị khỏi cao vào ngày thứ
28 (97%) ở cả hai nhóm Artecom có hiệu quả và được dung nạp tốt nhu AS - mefloquine (phối hợp thuốc được dùng nhiều ở các vùng cé P falciparum da khang thuốc) [19]
Mới đây, công thức thuốc có 2 thành phần DHA-PQP đã được thử nghiệm
lâm sàng ở Campuchia, Việt Nam, Thái Lan Hiệu quả và tính an toàn của Artekin
(Holeykin Pharmaceuticals, g6m DHA 40mg và PQP 320mg) đã được đánh giá trên
106 BN (76 người lớn và 30 trẻ em) Campuchia nhiễm P falciparum chưa biến chứng Tổng liều trung bình của DHA và PQP 9,1 và 73,9 mg/kg với trẻ em và 6,6
và 52,9 mg/kg với người lớn Các BN đều sạch KST trong vòng 72 giờ Tỷ lệ điều trị
khỏi sau ngày 28 là 96,9%, sau ngày 56 là 95,5% [23]
Artekin là thuốc an toàn, hiệu quả cho điều trị SR do P falciparum ở người lớn và trẻ em Mặc dù PQP có thời gian bán thải dài nhưng chưa thấy có dấu hiệu ảnh hưởng đến tim mạch và chuyển hoá của thuốc [29] Các nghiên cứu về thuốc phối hợp DHA-PQP trên BN nhiễm P.falciparum đa kháng đã được tiến hành ở Thái Lan và Việt Nam Kết quả cho thấy thuốc có hiệu quả cao, an toàn, dung nạp tốt
trong điều trị P.falciparum đa kháng và hiệu quả không được cải thiện khi tăng liều
DHA (theo Ashley và cs, 2005) [22]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Nguyễn Xuân Trường (2003) khi nghiên cứu ảnh hưởng của DHA do công ty Dược liệu trung ương I sản xuất đã nhận thấy: liều độc cấp của DHA theo đường
Trang 13uống ở chuột nhất tring 1A 1150 mg/kg (1027 - 1288 mg/kg) Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của DHA theo đường uống ở thỏ cho thấy: liều 20 mg/kg x 28 ngày liên tục không làm thay đổi các chỉ số huyết học, điện tim thỏ nhưng gây tăng ALT (có ý nghĩa thống kê) ở thời điểm sau 28 ngày uống DHA (P < 0,05), gây thoái hoá
từng vùng tế bào ngoại vi tiểu thuỳ gạn và gây xung huyết nhẹ nhu mô thận Liều 50
mg/kg x 28 ngày liên tục, DHA không ảnh hưởng đến điện não, nhưng ảnh hưởng
đến một số chỉ số huyết học, tuy nhiên mức độ không đáng kể; làm tăng biên độ phức bộ QRS, tăng hàm lượng ALT sau 14 và sau 2§ ngày uống DHA; gây thoái hoá
hốc tế bào gan và gây tổn thương tế bào biểu mô ống lượn của thận ở một số vùng
DHA không gây ảnh hưởng đến hoạt động thần kinh cấp cao với liéu 25 va 5°
mg/kg thể trọng chuột cống trắng và liều 50 và 100 mg/kg thể trọng chuột nhất
trắng Đối với nhiễm sắc thể (NST) và sự phát triển của phôi thai: DHA liều 100 mg/kg thể trọng, đường uống, không gây đột biến NST ở tế bào tuỷ xương và tế bào
tỉnh hoàn của chuột nhắt trắng, không ảnh hưởng đến quá trình sinh sản, phát triển
của phôi thai, phát triển của chuột con thế hệ F1, F2 và không gây các đị tật bẩm
sinh DHA với liều 100 mg/kg đường uống gây ảnh hưởng rõ đến sự phát triển phôi thai chuột chửa: làm tăng tỷ lệ thai chết sớm - tỷ lệ thai chết muộn, giảm tỷ lệ thai
sống so với lô chứng, nhưng không gây dị tật bẩm sinh cho các chuột con được sinh
ra [18]
Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn khi nghiên cứu so sánh kết quả điều trị 46 BNSR nhiễm P #Jciparum chưa biến chứng bằng DHA kết hợp primaquine với 50
BN được điều tri bang CV8 cho thấy, cả hai phác đồ đều có thời gian cắt sốt nhanh
(1,7 + 0,7 ngày), sạch KST nhanh (2,0 + 0,7 ngày) nhưng tỷ lệ tái phát của nhóm
dùng DHA + primaquine cao hơn nhóm dùng CV§ (có ý nghĩa thống kê) Điều trị BNSR do P vivax bing CV8 liéu trình 3 ngày cũng cho kết quả cắt sốt, diệt KST
tuong tu nhu nhiém P falciparum Ty lé tai phát sau 28 ngày là 4,3% [L8]
Hiện nay, DHA đã được dùng phối hợp với các thuốc điều trị SR khác trong viên phối hợp như: CV8, Artecom, Artekin, Arterakine
CV§ đã được Xí nghiệp Dược phẩm trung ương 26 sản xuất (với nguyên liệu nhập của Trung Quốc) được thử nghiệm sơ bộ tiền lâm sàng và lâm sàng ở nước ta Từ
năm 2000, dự án quốc gia PCSR đã sử dụng CV8 cho các khu vực SR trọng điểm
thuộc 8 tỉnh của miền Trung và Tây Nguyên [2]
Theo Lê Đình Công, Nguyễn Văn Hường và cs (2001), liều độc cấp LD50 của
CV8 ở chuột nhất trắng là 1580 mg/kg (1370 - 1817 mg/kg) CV8 có hiệu lực cao,
tác dụng diệt KST nhanh, cả chủng nhạy và kháng CQ, khỏi bệnh 100%, chưa thấy
Trang 14tái phat & chudt nhiém P berghei Ty lé điều trị khỏi trên BNSR ở Phước Long, Bìn':
Phước (nhiễm P falciparum va P vivax) la 95%, tdi phat 5%, thoi gian sach KST nhanh, trung bình 2 + 0,7 ngày, thời gian hết sốt nhanh, trung bình 1,7 + 0,7 ngày
(vi BN nhiém P falciparum) O BN nhiễm P vivax, thời gian cắt sốt trung bình là
1,1 + 0,3 ngày và thời gian sạch KSK trung bình là 1,2 + 0,4 ngày; chưa thấy có triệu
chứng không mong muốn đáng kể xảy ra [2] ‘
Nông Thị Tiến và cs (2001) khi nghiên cứu hiệu quả của CV8 trên 62 BNSR nhiễm P falciparum & Tay Nguyén nhan thay: mic di da that bai do điều trị bằng
CQ hay SR2 (sulfadoxine / pyrimethamine) hoac tdi phát sau điều tri bang artesunat,
nhung khi diéu tri thay thé bang CV8 (dang uéng, liéu trinh diéu tri 3 ngay), thời
gian hết sốt và sạch KST nhanh (sau 2-3 ngày điều trị), chưa thấy tác dụng không
mong muốn đáng kể Tỷ lệ điểu trị khỏi sau 28 ngày là 100% (29/29 ca theo dõi)
[17]
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, phối hợp thuốc DHA-PQP có hiệu quả
cao trong điều trị SR, tỷ lệ điều trị khỏi > 94%, thời gian hết sốt và sạch KST nhanh,
các tác dụng phụ là rất thoảng qua (đau đầu, hoa mắt) Thuốc có hiệu quả với P.filciparum đa kháng thuốc, giá thành rẻ [8]
Đoàn Hạnh Nhân va cs khi nghiên cứu đánh giá hậu thị trường CV§ tại Bình Thuận (2003) đã nhận thấy, CV8 có tác dụng diệt KST mạnh sau 3 ngày uống thuốc, mật độ KST giảm 99,8% ở nhóm BN nhiém P falciparum vagiam 99,9% ở BN nhiễm P vivax Thuốc có hiệu lực điều trị cao, 2033 / 2039 BN khỏi bệnh (99,7%),
chỉ có 6 ca điều trị thất bại muộn (trong đó có 4 ca P vivax), thời gian cắt sốt trung
bình ở nhóm nhiễm P.fuiciparum và P vivax là tương đương nhau (2,4 và 2,3 ngày)
[2] [10]:
Dược động học theo đường uống của PQP (một thành phần trong viên nén phối hợp CV8) đã được nghiên cứu trên người tình nguyện khoẻ mạnh uống CV8 Kết
qua cho thấy, nồng độ hấp thu tối đa của PQP ở ngày | 14 1015 nM, ở ngày 3 là
1050 nM, t„ là 30 - 57 ngày, thời gian hấp thu tối đa là 3 - 5 giờ sau khi uống thuốc
[7]
Theo Đoàn Hạnh Nhân và cs, liều độc tính cấp của Arterakine do (Xí nghiệp Dược phẩm trung ương ï sản xuất) tương tự của CVArtecan (Công ty OPC sản xuất), các chỉ số huyết áp, nhịp tim, điện tim, sinh hoá trên 10 người tình nguyện trước và
sau khi uống thuốc 7 ngày khác nhau không có ý nghĩa thống kê [I I]
Cho đến đầu năm 2004, trên thế giới, Trung Quốc là nước duy nhất sản xuất
được PQP và xuất khẩu sang Việt Nam; chưa có tài liệu nào trong nước công bố ve
Trang 15việc sản xuất hợp chất này [9] Ở nước ta, năm 2004 do nhu cầu về thuốc SR phối hợp (trong việc thực hiện chiến lược sử dụng thuốc SR của dự án quốc gia PCSR), các nhà khoa học thuộc Viện Hoá học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã sản xuất thành công piperaquin, cả dạng base và phosphat (đã nghiệm thu để tài cấp
cơ sở ngày 06/10/2004 theo quyết định số 147/QĐ-VHH ngày 01/10/2004) Sản
phẩm được kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn như sản phẩm nhập khẩu của Trung Quốc
và đã được Viện Sốt rết - KST - CT TƯ sơ bộ đánh giá tác dụng trên KST SR cho thấy hiệu lực í viro của PQP tương đương với mẫu của XNDPTƯ I (nhập của
Trung Quốc) [16] Đây là một triển vọng cho Việt Nam trong việc sản xuất thuốc
chống SR phối hợp DHA-PQP từ các nguyên liệu trong nước nhằm chủ động nguồn nguyên liệu Năm 2005, Viện Sét rét KST - CT TU đã phối hợp với Viện Hoá học
(Viện KH & CN Việt Nam) thực hiện đề tài cấp Bộ “Chế tạo thuốc chống sốt rét piperaquin”’
Viện Sốt rét - KST - CT TƯ đã nghiên cứu độc tính bán trường diễn theo
đường uống của PQP (Viện Hoá học sản xuất) trên thỏ thực nghiệm ở hai liều 50 và
100 mg/kg/ngày x 28 ngày liên tục Kết quả cho thấy thỏ sống khoẻ mạnh bình
thường Ở liều 50 mg/kg/ngày x 28 ngày, các chỉ số sinh hoá (SGOT, SGPT, protein
và bilirubin) và huyết học (hemoglobin, bạch cầu, công thức bạch cầu) thay đổi không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) qua các thời điểm nghiên cứu, riêng creatinin
và hồng cầu tăng lên có ý nghĩa thống kê ở ngày 14 và 28 Ở liều 100 mg/kg/ngay x
28 ngay, cdc chi s6 sinh hod (SGOT, protein) va hyét hoc (hemoglobin, hồng cầu,
bạch cầu, công thức bạch cầu) thay đổi không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05); còn hàm lượng SGPT, creatinin thay đổi có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) ở ngày 14 và 28 Riêng hàm lượng bilrubin făng lên có ý nghĩa thống kê ở ngày 14 nhưng sau đó ở ngày 28 lại trở lại giới hạn bình thường [14]
Tóm lại, nghiên cứu tổng quan tài liệu cho thấy, thuốc phối hợp DHA-PQP với các nguyên liệu được sản xuất tại Việt Nam (đặc biệt PQP là nguyên liệu mà Việt Nam lần đầu tiên sẵn xuất được, sau Trung Quốc) cần được nghiên cứu đầy đủ
hơn nữa về tiền lâm sàng để chứng minh tính an toàn của thuốc Để góp phần vào
nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc SR phối hợp
DHA-PQP được sản xuất từ các nguyên liệu trong nước đến huyết áp, tim cô lập và
phản xạ tìm thức ăn trong mê lộ ở động vật thực nghiệm
10
Trang 163 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc phối hợp DHA-PQP đến phản xạ tìm thức
ăn trong mê lộ của chuột nhắt trắng được tiến hành tại Khoa Nghiên cứu điều trị sốt
rét - Viện Sốt rớt - KST - CT TƯ từ trăng 4-12/2006
~- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc đến huyết áp và tim cô lập của động vật
thực nghiệm được tiến hành tại Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y Hà Nội, tháng
3 và từ tháng 7-8/2006
3.2 Động vật nghiên cứu:
- Chó trưởng thành, cả hai giống, khoẻ mạnh, nặng 10-12 kg (15 con)
- Ếch 60 con, cả hai giống, khoẻ mạnh, nặng 200 + 30 g
- Chu6t nhat trang (Mus musculus L.), 40 con, chiing Swiss, thudn ching, trong
lượng 20 + 2 g, trưởng thành, khoẻ mạnh, không phân biệt đực - cái, do Viện Vệ
sinh dich té Trung ương cung cấp, được nuôi ổn định 2-3 ngày trước khi tiến hành nghiên cứu (trong cùng điều kiện môi trường và thức ăn chuẩn do Viện Vệ sinh địch
tễ Trung ương cung cấp)
3.3 Thuốc và hoá chất nghiên cứu:
- _ Viên nén phối hợp 40 mg DHA và 320 mg PQP, do Xí nghiệp Dược phẩm trung
ương I sản xuất, đạt tiêu chuẩn cơ sở (Phiếu kiểm nghiệm số 510, Tiêu chuẩn cơ
sở 04 Z, - 14 - 09) Nguyên liệu là bột PQP và DHA tính khiết do Viện Hoá học sản xuất, đạt tiêu chuẩn cơ sở
- Gé6m arabic duge dụng
- Thuốc được nghiền mịn tạo thành hỗn dịch với dung môi gém arabic 1%, pha ngay trước khi đùng Liều lượng thuốc dùng trong nghiên cứu này được tính theo phương pháp ngoại suy liều có hiệu quả tương đương giữa người và động
vật thí nghiệm (Đỗ Trung Dam) [4], [5]
- Dung dich thiopental 5% để gây mê chó
- Dung dich ringer lactat
3.4 Các dụng cụ và thiết bị dùng trong nghiên cứu:
- Máy ghi huyết áp và nhịp tim chó là máy Power lab 4/20 ADI Instruments (Italia), gồm các bộ phận ghi được nối với huyết áp kế và máy vi tính
- Bộ ghi hoạt động của tim ếch cô lập trên giấy ám khói
- Chuồng mê lộ (Học viện Quân y), đồng hồ hẹn giờ dùng cho nghiên cứu phản
xạ tìm thức ăn của chuột
1]