1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai Trò Con Người Trong Quản Lý Xã Hội, Chất Lượng Lực Lượng Lao Động Việt Nam.docx

31 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Con Người Trong Quản Lý Xã Hội, Chất Lượng Lực Lượng Lao Động Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Lý Xã Hội
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 62,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. MỞ ĐẦU (3)
    • 1. Lý do chọn đề tài (3)
    • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (4)
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (4)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (5)
  • II. NỘI DUNG (6)
  • CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂ LỰC (6)
    • 1.1. Khái niệm con người (6)
    • 1.2. Lý luận về lực lượng sản xuất (8)
    • 1.3. Một số vấn đề chung về chất lượng nguồn nhân lực (11)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỦ TRƯƠNG VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY11 2.1. Phát huy vai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở Việt (14)
    • 2.2. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực (15)
    • 2.3. Đánh giá chung thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay (21)
  • CHƯƠNG III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO VÀ PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY (23)
    • 3.1. Một số vấn đề đặt ra đối với quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao (23)
    • 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lực lượng lao động Việt Nam (25)

Nội dung

MỤC LỤC I MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4 Phương pháp nghiên cứu 3 II NỘI DUNG 4 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI VÀ[.]

NỘI DUNG

LƯỢNG NGUỒN NHÂ LỰC 1.1 Khái niệm con người

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy vật biên chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn đề khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay.

Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên.Con người không thể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người điều đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đacuyn. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂ LỰC

Khái niệm con người

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy vật biên chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn đề khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay.

Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên.Con người không thể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người điều đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đacuyn. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần.

Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loài vật. Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên- xã hội hay một thực thể song trùng. Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người Mác đã nêu trong luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbăc: “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”.

Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cùng đều mang tính xã hội Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với con người là quan hệ bản chất nhất bao trùm lên các mối quan hệ khác Thực tế lịch sử đã chứng minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để SXVC mà phải liên kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau Từ đó hình thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động, hành vi của con người Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình.

Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử Song điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.

Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sử trong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh và điều kiện sẵn có do quá khứ để lại Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ hai chiều giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người.Thông qua môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiện các quan hệ xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật.

Lý luận về lực lượng sản xuất

1.2.1 Định nghĩa và cấu thành lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục của con người với tự nhiên Lực lượng sản xuất là thể thống nhất hữu cơ giữa con người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Ngoài công cụ lao động, trong tư liệu sản xuất còn có đối tượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản đó là sức lao động và tư liệu sản xuất Trong đó:

- Sức lao động là chủ thể, là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định của xã hội, song để trở thành lực lượng sản xuất thì người lao động phải có những điều kiện sau:

+ Khả năng lao động: có thể lao động chân tay hoặc trí óc

+ Nhu cầu lao động: chủ thể đó phải có nhu cầu lao động, lao động một cách tự nguyện

+ Phải tham gia trực tiếp vào quá trình lao động: chủ thể đó phải là người trực tiếp tham gia vào quá trình lao động với một tinh thần trách nhiệm kỷ luật cao - Tư liệu sản xuất: trong đó bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động

+ Tư liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người vào đối tượng lao động nhằm cải biến đối tượng lao động theo mục đích của mình

+ Đối tượng lao động: là một bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến hình thái tự nhiên của nó phù hợp với mục đích của con người đối tượng lao động gồm có hai loại: loại có sẵn trong tự nhiên và loại đã trải qua lao động của con ngườ

1.2.2 Cấu trúc lực lượng sản xuất

LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất.

Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội

Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất.

Bước kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt :

+ Trí lực đóng vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí óc đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động.

+ Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp.

Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Con người không thể SXVC mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong tự nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối tượng lao động Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, cuối cùng là hàm lượng tri thức được kết tinh trong sản phẩm ngày càng nhiều.

Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất Thông qua các công cụ của họ đã chứng tỏ họ có hoạt động lao động và đây cũng chính là ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung, thế giới động vật nói riêng

1.2.3 Tính chất đặc biệt của lực lượng sản xuất hiện đại.

Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.

Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành LLSX trực tiếp

Những phát minh khoa học trở thành thang điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới nguyên vật liệu mới, năng lượng mới Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, cụ thể là vào người lao động và tư liệu sản xuất, trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong sản xuất đã làm cho LLSX có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.

Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học Như vậy, dù không phải là yếu tố thứ ba của LLSX nhưng có thể nói khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho LLSX hiện đại.

Một số vấn đề chung về chất lượng nguồn nhân lực

1.3.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là những người tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, lĩnh vực kinh doanh hoặc nền kinh tế " Vốn con người " đôi khi được sử dụng đồng nghĩa với "nguồn nhân lực", mặc dù vốn con người thường đề cập đến hiệu ứng hẹp hơn (nghĩa là kiến thức mà các cá nhân thể hiện và tăng trưởng kinh tế) Tương tự, các thuật ngữ khác đôi khi được sử dụng bao gồm nhân lực, tài năng, lao động, nhân sự hoặc đơn giản là con người.

Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động (NSLĐ) Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một quốc gia cần và có thể đưa chất lượng nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhân tiến bộ kỹ thuật công nghệ, hòa nhập với nhịp độ phát triển nhân loại Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất.

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực

Trí lực - thể hiện ở giáo dục - đào tạo

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, giáo dục luôn đóng vai trò rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động Những lao động có trình độ chuyên môn lành nghề cao sẽ có nhiều cơ hội tìm được việc làm có thu nhập cao hơn những lao động không có trình độ chuyên môn lành nghề.

Do đó, đầu tư cho giáo dục luôn được Đảng ta coi là “quốc sách hàng đầu”,đây là sự đầu tư cho tái sản xuất con người một cách an toàn và mang lại không chỉ hiệu quả kinh tế mà còn cả hiệu ứng lan tỏa, hiệu quả xã hội cao nhất.

Thông qua giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ thúc đẩy nâng cao NSLĐ, hiệu quả công việc, giảm bớt sự giám sát, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để tăng cường kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hiện công việc, nguồn nhân lực phải được giáo dục, đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề Kết quả của giáo dục - đào tạo được thể hiện ở trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Do đó, tại phần thực trạng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam, trên khía cạnh giáo dục và đào tạo, bài viết sẽ thực hiện phân tích các số liệu thống kê liên quan đến trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực.

Thể lực - thể hiện ở sức khỏe và y tế Đầu tư vào sức khỏe cũng giống như đầu tư vào giáo dục, sẽ giúp cải thiện lực lượng lao động Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế Sức khỏe tốt là một nhân tố hết sức quan trọng của chất lượng lao động, làm tăng khả năng làm việc vừa ở khía cạnh thể chất lẫn tinh thần, qua đó góp phần tăng NSLĐ.

Dân số là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng lao động của mỗi quốc gia Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số Quốc gia nào có quy mô dân số lớn thì có quy mô nguồn nhân lực lớn và ngược lại Mặt khác, cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấu nguồn lao động Mặc dù dân số là cơ sở hình thành các nguồn lao động, nhưng mối quan hệ giữa dân số và các nguồn lao động không phụ thuộc trực tiếp lẫn nhau trong cùng một thời gian, mà việc tăng hoặc giảm gia tăng dân số của thời kỳ này sẽ làm tăng hoặc giảm nguồn lao động của thời kỳ sau đó từ 15 - 16 năm, bởi vì con người từ khi sinh ra đến khi bước vào tuổi lao động phải mất từ 15 - 16 năm Hơn nữa, tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng nguồn nhân lực trong cùng thời kỳ có thể không giống nhau.

Mặt khác, quy mô nguồn nhân lực cũng có tác động ngược trở lại đối với quy mô dân số Một quốc gia có quy mô nguồn nhân lực lớn cũng có nghĩa là quy mô của những người có khả năng sinh sản lớn, do đó kéo theo quy mô dân số có thể tăng nhanh hay làm gia tăng dân số.

Do dân số và chăm sóc y tế - sức khỏe có mối quan hệ mật thiết với nhau (điều kiện chăm sóc y tế có tốt thì sức khỏe của người dân mới tăng cường, qua đó các chỉ số liên quan đến dân số như tốc độ tăng dân số - phản ánh gián tiếp tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử; tuổi thọ trung bình của người dân… sẽ được cải thiện hơn) Vì vậy, ở phần phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam, bài viết sẽ phân tích gộp hai nhân tố dân số và y tế - sức khỏe.

Trình độ khoa học và công nghệ

Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng lớn đến phát triển nguồn nhân lực Sự phát triển không ngừng và những tiến bộ khoa học kĩ thuật đã cho ra đời những công nghệ hiện đại mà nó đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao mới đáp ứng được Do vậy, phương thức giáo dục - đào tạo cần được cải tiến để tạo điều kiện cho người lao động có thể nâng cao trình độ trước những thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ có tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,làm thay đổi quá trình tổ chức, trình độ chuyên môn và là động lực thúc đẩy người lao động không ngừng học hỏi, tự đào tạo, tự trao dồi kiến thức Vì vậy, cần đào tạo, bồi dưỡng thu hút các nhân tài nhằm tạo ra một đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa có năng lực giỏi phục vụ sự nghiệp cách mạng công nghiệp của đất nước.

THỰC TRẠNG CHỦ TRƯƠNG VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY11 2.1 Phát huy vai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở Việt

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

2.2.1 Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực nước ta hiện nay

Về nguồn nhân lực (Nguồn nhân lực), nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, từ Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Kết quả thực hiện đột phá này, Đại hội XII đánh giá: “Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực” Tuy nhiên, “Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm, thiếu lao động chất lượng cao Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông, chưa hợp lý và thiếu đồng bộ”; “Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội…”.

Tại Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh về phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn và chính xác hơn Báo cáo Chính trị Đại hội XIII bổ sung ưu tiên “Phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở chú trọng nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1.

Trên cơ sở tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII về thực hiện đột phá về nguồn nhân lực, các văn kiện Đại hội XIII đã đề ra nhiệm vụ cụ thể hơn rất nhiều so với Đại hội XI, XII của Đảng Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho các lĩnh vực then chốt; tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ; đổi mới sáng tạo, khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.

Với sự ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII cho thấy, đường lối, chủ trương về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta theo xu hướng đáp ứng được chất lượng, yêu cầu trong bối cảnh thế giới hiện nay đó là cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số, cạnh tranh, hội nhập quốc tế, đó là ưu tiên phát triển nhanh, bền vững… Đây cũng là bước đột phá chiến lược trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn thấp khi bước vào nền kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế… Do đó, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững Nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, khoa học – công nghệ… có mối quan hệ nhân – quả với nhau, trong đó nguồn nhân lực được xem là nguồn lực quan trọng nhất, chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý.

2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay

Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng đông, chất lượng không đông, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa có những chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa có những nhà thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi Báo chí nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Hơn nữa, sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể như sau:

 Nguồn nhân lực từ nông dân

Nông dân Việt Nam chiếm khoảng hơn 61 triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước Cả nước có khoảng 113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề, 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100 nước Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác, chưa được tổ chức đầy đủ Người nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa Họ đều tự làm Đến lượt con cháu họ cũng tự làm Có người nói rằng, nghề trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được Ở các nước phát triển, họ không nghĩ như vậy Mọi người dân trong làng đều được hướng dẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng. Hiện có từ 80 đến 90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức.

 Nguồn nhân lực từ công nhân

Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng 20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%.

Vì đồng lương còn thấp, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phải kiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làm nghề thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người vừa là công nhân, vừa không phải là công nhân.

Nhìn chung, qua hơn 25 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến tích cực, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từng bước Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện Bên cạnh đó, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống "Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ" 1

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống, tâm tư, tình cảm của công nhân; những chính sách về giai cấp công nhân tuy đã ban hành, nhưng chưa sát hợp với tình hình thực tế của giai cấp công nhân Trong các doanh nghiệp và người sử dụng lao động, không ít trường hợp còn vi phạm chính sách đối với công nhân và người lao động.

2.2.3 Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến việc phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam

Bắt đầu từ năm 1784, cuộc Cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra những bước tiến đột phá cho lịch sử nhân loại, đó là việc cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực và hơi nước Cuộc CMCN 2.0 năm 1870 đánh dấu bước ngoặt mới với việc sử dụng điện năng để sản xuất hàng loạt CuộcCMCN 3.0 diễn ra vào khoảng năm 1969 với sự ra đời của công nghệ thông tin và sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.

Hiện nay, cuộc CMCN 4.0 được xem như là “nảy nở từ cuộc CMCN 3.0, kết hợp các công nghệ lại với nhau và làm mờ ranh giới giữa vật lý và kỹ thuật số” Cuộc cách mạng này tập trung vào các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, vạn vật kết nối, dữ liệu lớn (Big Data), robot thế hệ mới, xe tự lái, các vật liệu mới,… đồng thời tiến hành nghiên cứu trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường,… (Đỗ Thị Anh Phương, 2020).

Theo đánh giá về mức độ sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0 của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF), Việt Nam hiện nay được xếp ở nhóm Sơ khởi nhưng khá gần với nhóm có tiềm năng cao Về cấu trúc của nền sản xuất, Việt Nam xếp hạng thứ 48/100 và về các yếu tố dẫn dắt sản xuất, Việt Nam đang ở vị trí 53/100 WEF đã ghi nhận nền kinh tế số của Việt Nam có những thành công về hạ tầng kết nối và thị trường kinh doanh.

Số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam đã lên đến 67% dân số (năm 2017) Điều này cho thấy Việt Nam đã luôn rất tích cực trong việc chuẩn bị nền tảng để áp dụng các công nghệ của cuộc CMCN 4.0.

Đánh giá chung thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay

2.3.1 Thành tựu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào (nguồn lao động chiếm 58% dân số) Nguồn lao động này chủ yếu là trẻ, khỏe Số lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần một phần tư lực lượng lao động Chi phí lao động ở Nước ta thấp so với hầu hết các quốc gia khác Nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước có chỉ số phát triển giáo dục cao với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, tạo nền tảng thuận lợi và vững chắc Để thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng cuộc sống, nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang tiến tới thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông trung học Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã xây dựng hệ thống giáo dục với nhiều trường Đại Học, Cao Đẳng và rất nhiều trường đại học chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu học tập của hàng triệu sinh viên Hệ thống các trường này thực hiện chuyên ngành đào tạo trên hầu hết các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ và sư phạm v.v Vấn đề đào tạo cũng như thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là chiến lược lâu dài nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh chóng và bền vững.

2.3.2 Một số hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam

Thứ nhất, thể chất của lực lượng lao động còn yếu: Về cơ bản, thể chất của người lao động Việt Nam đã được cải thiện, nhưng còn thấp so với các nước trong khu vực, thể hiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khoẻ, sức bền, khả năng chịu áp lực…

Thứ hai, trình độ của người lao động còn nhiều hạn chế, bất cập, do chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.

Thứ ba, thiếu đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên lành nghề để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam.

Thứ tư, về cơ bản đội ngũ lao động Việt Nam giỏi lý thuyết, nhưng kém về năng lực thực hành và ứng dụng công nghệ cao vào quá trình lao động, kém về ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao.

Thứ năm, khả năng làm việc theo nhóm, tính sáng tạo, chuyên nghiệp trong quá trình lao động còn nhiều hạn chế, khả năng giao tiếp, năng lực giải quyết xung đột trong quá trình lao động còn yếu kém.

Thứ sáu, tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp,đạo đức công dân, văn hoá doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO VÀ PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

Một số vấn đề đặt ra đối với quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao

Từ những phân tích trên có thể thấy, nguồn nhân lực của Việt Nam đang ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của dân số Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện, thể hiện ở trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động tăng qua từng năm, phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học và công nghệ, đảm nhận được phần lớn các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất - kinh doanh; sức khỏe của người lao động ngày càng được chăm sóc tốt hơn…; qua đó góp phần nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, lực lượng lao động của Việt Nam cũng còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, thể hiện ở các điểm sau đây:

Mức độ cải thiện và chênh lệch về trình độ học vấn là đáng kể giữa khu vực thành thị và nông thôn Đây là dấu hiệu cho thấy sự phân cấp, mất cân đối nguồn nhân lực giữa các vùng miền và tất yếu sẽ kéo theo chênh lệch mức sống dân cư, về phát triển kinh tế - xã hội giữa các khu vực và có thể xem là lỗ hổng lớn về chất lượng lao động của Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, tỷ trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp Theo đánh giá của

WB, Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Trong xu hướng phát triển hiện nay, Việt Nam vẫn có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao và lành nghề Tuy nhiên, những bất cập hiện nay không chỉ cản trở tiềm năng đóng góp của lao động vào tăng năng suất lao động mà còn đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Mặc dù, công tác y tế - chăm sóc sức khỏe của người dân được cải thiện qua từng năm tháng, dân số không ngừng tăng, tuổi thọ trung bình được nâng lên… nhưng tốc độ gia tăng dân số đang có xu hướng giảm, mất câng bằng giới tính tăng, xu hướng già hóa dân số ngày càng hiện hữu qua gánh nặng bệnh tật của người cao tuổi lớn, đời sống vật chất của người cao tuổi còn thấp… Chính vì vậy, đi đôi với tuổi thọ trung bình được nâng lên thì vấn đề già hóa với tốc độ nhanh trong bối cảnh Việt Nam vẫn là một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp đang là một thách thức không nhỏ Già hóa dân số sẽ tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm: thị trường lao động, tài chính, nhu cầu về các hàng hóa, dịch vụ, giáo dục, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

3.1.3 Khoa học và công nghệ

Trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn còn có khoảng cách khá xa so với các quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á, nhất là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học, công nghệ với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vào đời sống xã hội, sản xuất Bên cạnh đó, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia của Việt Nam còn non trẻ, manh mún; hoạt động nghiên cứu và phát triển trong khu vực doanh nghiệp còn ít và thiếu kết nối hiệu quả với các trường đại học, viện nghiên cứu; lực lượng lao động có chất lượng cao còn hạn chế.

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lực lượng lao động Việt Nam

3.2.1 Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, Ưu tiên cho nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt Ở bình diện quốc gia, chúng ta mới đưa ra chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nói chung, về cơ bản chưa có chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Ngay trong chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng chưa xác định rõ nhu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước nói chung cũng như của từng bộ, ngành, địa phương nói riêng Vì vậy, chưa có cơ sở xây dựng một chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thống nhất, đồng bộ để thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và trọng dụng một cách hiệu quả, hợp lý lực lượng này Chính vì vậy, tại Đại hội lần này, Đảng ta xác định là phải tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lao động ở nước ta đã qua đào tạo đạt70%1; trong đó, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt Đây là quan điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Thực tế hiện nay, nước ta đang thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp có trình độ năng lực cao; thiếu đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế, kỹ thuật và công nhân lành nghề, trong đó có lĩnh vực then chốt Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp, đòi hỏi phải ưu tiên phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý, ở các lĩnh vực then chốt là hoàn toàn đúng đắn.

3.2.2 Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng,đãi ngộ nhân tài Để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, vai trò của giáo dục và đào tạo được đặt lên hàng đầu Với tinh thần đó, Đại hội xác định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”2 Thực hiện chủ trương này, cần chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế.Đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện Quan tâm phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; gắn giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ; hình thành các trung tâm nghiên cứu, các nhóm đổi mới sáng tạo Đồng thời, gắn nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài Thực tế cho thấy, nếu có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng không có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ hợp lý thì cũng không thu hút được lực lượng này và sẽ dẫn đến “chảy máu chất xám” Trong khi đó, nhân tài ngày càng khan hiếm, bởi tài năng không phải ngẫu nhiên có được, mà phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện công phu, lâu dài nên cần có cơ chế, chính sách tuyển dụng cụ thể, thiết thực, phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc.

3.2.3 Gắn phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ Để phát triển và phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cần gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động Thực tế ở nước ta những năm qua, “thị trường khoa học và công nghệ phát triển còn chậm, còn ít các tổ chức trung gian có uy tín, kinh nghiệm trong hoạt động kết nối cung - cầu Chưa khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều phát minh, sáng chế trở thành sản phẩm cuối cùng và thương mại hóa” Để khắc phục tình trạng này, cần “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”4 Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo Bên cạnh đó, cần “Nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làm mục tiêu”5 Khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư mở trường đại học, viện nghiên cứu chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển, phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

3.2.4 Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên Đây cũng là quan điểm mới, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới về phát triển nói chung, phát triển nguồn nhân lực nói riêng của Đảng ta Nói đến chất lượng nguồn nhân lực không chỉ nói đến sức khỏe, trí tuệ, năng lực, mà còn phải nói đến yếu tố nền tảng đó là văn hóa, tư tưởng Với tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn với việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”6. Để làm tốt được việc này, cần “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”7 Quan tâm “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”8 Cùng với đó là khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi con người Việt Nam Bởi, đây chính là động lực tinh thần thôi thúc mạnh mẽ họ phấn đấu vươn lên nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức để không ngừng phát triển.

Thực tế, con người luôn là nhân tố số một của lực lượng sản xuất; đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững Với tinh thần đó, thực hiện thắng lợi đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những ưu tiên hàng đầu ở nước ta hiện nay.

Trong bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Nguồn nhân lực đó được đào tạo một cách có chất lượng tốt, nâng cao trình độ của nguồn nhân lực thì lực lượng sản xuất mới có thể phát triển mạnh được, trình độ lực lượng sản xuất mới có thể nâng cao hơn, bởi lẽ lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và con người Con người là nguồn nhân lực, lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ, sự tác động kích thích của con người vào tư liệu sản xuất, con người có được đào tạo, được trang bị thì mới có thể có trình độ để sử dụng tư liệu sản xuất một cách hiệu quả Điều này càng quan trọng càng trở nên cấp thiết khi tư liệu sản xuất ở đây lại là máy móc, công nghệ khoa học kỹ thuật, tư liệu sản xuất này đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có đầy đủ trình độ thì mới có thể thực hiện có hiệu quả được Để tạo điều kiên tốt nhất cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá quả thực là vấn đề không dễ thực hiện được vì thực hiện được vấn đề này có nghĩa là chuyển đổi từ lực lượng sản xuất thấp kém sang một lực lượng sản xuất có trình độ cao, hiện đại Điều này càng trở nên khó khăn đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển thậm chí cả với những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế cơ bản là nông nghiệp, có nguồn vốn ít ỏi và khoa học thấp kém Tuy nhiên, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chúng em tin rằng trong tương lai đất nước ta sẽ còn có nhiều bước tiến quan trọng nâng tầm vị thế Việt Nam.

1 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - Hành chính, môn Những vấn đề cơ bản về đảng cộng sản và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận Chính trị, H.2017.

2 Học viện Chính trị Khu vực II: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị - Hành chính, môn Xây dựng Đảng, Nxb Lý luận Chính trị, H.2017.

3 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

4 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

5 Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch lên chuyên viên chính khối Đảng, đoàn thể năm 2016 do Hội đồng thi nâng ngạch Ban Tổ chức Trung ương phát hành

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.

8 Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê (Chủ biên) (2018), “Một số vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Lao Động, Hà Nội.

9 Dương Phú Hiệp (Chủ biên) (2016), “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10.Dương Phú Hiệp (2018), “Triết học và đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

12.Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư

Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội.

13.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết số 06-NQ/TW của BanChấp hành Trung ương Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế

Ngày đăng: 23/03/2023, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê (Chủ biên) (2018), “Một số vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2018
9. Dương Phú Hiệp (Chủ biên) (2016), “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
10.Dương Phú Hiệp (2018), “Triết học và đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và đổi mới
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốcgia
Năm: 2018
1. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - Hành chính, môn Những vấn đề cơ bản về đảng cộng sản và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận Chính trị, H.2017 Khác
2. Học viện Chính trị Khu vực II: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị - Hành chính, môn Xây dựng Đảng, Nxb Lý luận Chính trị, H.2017 Khác
5. Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch lên chuyên viên chính khối Đảng, đoàn thể năm 2016 do Hội đồng thi nâng ngạch Ban Tổ chức Trung ương phát hành Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017 Khác
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12.Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội Khác
13.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế Khác
14.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 40, 185, 38 Khác
15.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 191 Khác
16.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 227, 220 - 221, 217, 253 Khác
17.Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
18.Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội Khác
19.Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị Về hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội Khác
20.Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị Về hội nhập quốc tế, Hà Nội Khác
22.Đặng Quang Định (2010), Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w