1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trình bày lý luận của c mác về hàng hóa sức lao động ở việt nam hiện nay có tồn tại thị trường hàng hóa sức lao động không vì sao

14 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình bày lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay có tồn tại thị trường hàng hóa sức lao động không vì sao
Tác giả Vũ Thu Hằng
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hào
Trường học Học viện Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 538,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Giáo dục và Đào tạo TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN    TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Đề số 3 “Trình bày lý luận của C Mác về hàng hóa sức lao động? Ở Việt Nam hiện nay có tồn tại thị trường hà[.]

Trang 1

Bộ Giáo dục và Đào tạo TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

 - -

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề số 3:

“Trình bày lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động? Ở Việt Nam hiện nay có tồn tại thị trường hàng hóa sức lao động không? Vì sao? Nếu có hãy trình bày ngắn gọn những hiểu biết của em về thị trường này

ở Việt Nam hiện nay?”

Mã sinh viên 11216746

Trang 2

MỤC LỤC

1-Cơ sở lý luận sức về hàng hóa sức lao động của C.Mác 4

1.1.Khái niệm về sức lao động 4

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 4

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 4

1.3.1 Giá trị hàng hóa sức lao động 4

1.3.2.Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 5

2 Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác với thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay 6

2.1.Thị trường sức lao động 6

2.2.Thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay 7

2.2.1 Lực lượng lao động và trình độ nguồn lao động 7

2.2.2 Quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay 8

2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cung-cầu lao động 9

3 Vận dụng lí luận để phát triển thị trường lao động Việt Nam hiện nay. 11 3.1.Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề cho người lao động 11

3.2 Nguồn thông tin mở, kết nối lao động với thị trường 11

3.3 Liên hệ bản thân 11

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác, xuất phát điểm đầu tiên đó là từ học thuyết giá trị Trên nền tảng học thuyết này, C.Mác đã xây dựng nên học thuyết

về giá trị thặng dư với một vị trí “hòn đá tảng” trong lí luận Ở đây, ông đã nhìn nhận ra rằng, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để có được giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm ra một loại hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Sức lao động của con người chính là hàng hóa mà nhà

tư bản đã tìm ra Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý không những là một nhu cầu cấp thiết đối với các nước trên thế giới mà còn là đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi đang trên con đường hội nhập, chuyển sang nền kinh tế thị trường Nghiên cứu về hàng hóa sức lao động là một việc làm có ý nghĩa trong việc xây dựng thị trường lao động tại Việt Nam Xuất phát từ vấn đề trên, em xin chọn đề tài tìm hiểu về “ tình hình thực tiễn của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam dựa trên cơ sở lí luận của C.Mác”, từ đó tạo lý luận tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường của loại hàng hóa đặc biệt này Trong bài viết, do lượng kiến thức có hạn, em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

1-Cơ sở lý luận sức về hàng hóa sức lao động của C.Mác

1.1.Khái niệm về sức lao động

Theo C Mác, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể, trong nhân cách một con người, thể lực và trí lực mà con người đem ra vận dụng để sản xuất ra những sản phẩm có giá trị sử dụng

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Hàng hóa sức lao động không phải xuất hiện ngay khi có sản xuất hàng hóa Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa và là đối tượng trao đổi, mua bán trên thị trường khi sản xuất hàng hóa phát triển đến trình độ nhất định làm xuất hiện những điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa Trong lịch sử, sức lao động trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện gồm:

Thứ nhất, người lao động được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thành hàng hóa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến

Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, hoặc có nhưng không đầy đủ; họ buộc phải bán sức lao động để sống, để tồn tại

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

1.3.1 Giá trị hàng hóa sức lao động

Giá trị hàng hóa sức lao động được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết

để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động, người lao động phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Vì vậy, giá trị hàng hóa sức lao động được đo bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt cần

Trang 5

thiết để duy trì cuộc sống của người lao động ở trạng thái bình thường Giá trị hàng hóa sức lao động được hợp thành từ các bộ phận sau:

• Một là giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người lao động

• Hai là phí tổn đào tạo người lao động để có được trình độ lành nghề nhất định

• Ba là giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho gia đình người công nhân

Do sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người nên giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Tức là số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động phải bao gồm cả tư liệu sinh hoạt vật chất ( lương thực, thực phẩm, quần áo…) và tư liệu sinh hoạt tinh thần ( sách báo, giải trí, học tập…) Mặt khác cả về số lượng và cơ cấu các tư liệu sinh hoạt không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau, mà tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ; tùy thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được và cả tập quán, điều kiện địa lý, điều kiện hình thành giai cấp công nhân… Giá trị hàng hóa sức lao động ở các nước khác nhau sẽ có sự khác nhau

1.3.2.Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác là giá trị sử dụng cho người mua, chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức quá trình người lao động tiến hành sản xuất Tuy nhiên tính đặc biệt về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với giá trị sử dụng hàng hóa khác thể hiện ở chỗ, tiêu dùng sức lao động chính là quá trình lao động, do đó khi tiêu dùng sức lao động sẽ tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động Nói cách khác, hàng hóa sức lao động có khả năng tạo ra giá trị, là nguồn gốc của giá trị Đây là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng hàng hóa

Trang 6

sức lao động khác biệt so với hàng hóa khác, là khả năng tạo nên giá trị thặng

Con người là chủ thể của hàng hóa sức lao động Vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng tới quyết định cung

2 Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác với thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1.Thị trường sức lao động

Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũng như mức tiền công và tiền lương Thị trường lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động có những đặc điểm hết sức riêng biệt Thị trường lao động cũng như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy luật của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh Điểm khác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động ( như đã trình bày

ở trên)

Theo Luật Lao động, nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lý hành chính về lao động sang cơ chế thị trường Việc triển khai bộ luật này đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước và ổn định xã hội trong thời gian qua Nhà nước cũng đã từng bước hoàn thành hệ thống pháp luật: Luật đầu tư nước ngoài, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước…, nên đã thúc đẩy các yếu tố của các thị trường, trong đó thị trường sức lao động hình thành, mở ra tiềm năng mới giải phóng các tiềm năng lao động và tạo mở việc làm Đồng thời với các cải tiến trong quản lý hành chính, hộ khẩu, hoàn

Trang 7

thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tệ hóa tiền lương, tách chính tiền lương, thu nhập khỏi chính sách xã hội đã góp phần làm tăng tính cơ động của thị trường lao động

2.2.Thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Lực lượng lao động và trình độ nguồn lao động

Ở nước ta, lực lượng lao động rất dồi dào Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,

tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I năm 2022 là 68,1%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ

lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,1%, thấp hơn 12,4 điểm phần trăm so với nam (74,5%) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 65,9%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 69,5% Xem xét theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn ở các nhóm tuổi trẻ và nhóm tuổi già, trong đó chênh lệch nhiều nhất được ghi nhận ở nhóm 55 tuổi trở lên (thành thị: 33,5%; nông thôn: 47,2%) và nhóm từ 15-24 tuổi (thành thị: 36,6%; nông thôn: 45,2%) Điều này cho thấy, người dân tại khu vực nông thôn gia nhập thị trường lao động sớm hơn và rời bỏ thị trường muộn hơn khá nhiều so với khu vực thành thị

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I năm 2022 là 26,1%, không thay đổi so với quý trước và cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Do chuyển dịch cơ cấu lao động trên thị trường còn chậm về ngành nghề

và địa bàn, không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cả nước mới có 66% lao động qua đào tạo

Trang 8

2.2.2 Quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, nguồn cung lao động chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế, đặc biệt đối với lao động có trình

độ chuyên môn cao Một số địa phương, khu vực, ngành nghề vẫn đang xảy ra tình trạng mất cân đối cung cầu, thiếu hụt nguồn cung cục bộ, riêng trong quý 1/2022 có xảy ra sự thiếu hụt lao động cục bộ khoảng 120.000 lao động (gần 10% so với nhu cầu tuyển dụng), cao hơn những năm trước khoảng 2-3% Trong khi đó, nguồn lao động có nhu cầu việc làm nhưng khó tìm được công việc ưng ý; doanh nghiệp thì "khát" lao động song tuyển dụng vẫn không đủ chỉ tiêu Để cung - cầu lao động tiệm cận nhau, việc dự báo thị trường lao động cần đẩy mạnh hơn nữa, đáp ứng yêu cầu của nguồn lao động và doanh nghiệp.Tình hình thiếu việc làm với thực trạng thường được quan sát ở nước ta, xu hướng tỷ

lệ này ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị, sau khi chứng kiến 3 quý liên tiếp từ quý II đến quý IV năm 2021 với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đã đẩy tỷ lệ thiếu việc làm ở thành thị cao hơn khu vực nông thôn

Trang 9

2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cung-cầu lao động

• Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm: Mặc dù trong những năm qua đã giảm được tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và thương mại nhưng tốc độ chuyển dịch còn chậm, chưa tương xứng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

• Cung-cầu thừa mà thiếu: thiếu những ứng viên thích hợp cho những vị trí quan trọng dù nguồn nhân lực có nhu cầu tìm việc lúc nào cũng thừa, còn nhiều người phải thất nghiệp luôn tìm kiếm việc làm hoặc mất việc làm do ngành nghề thu hẹp, doanh nghiệp giải thể, chuyển sang hoạt động sản xuất-kinh doanh khác

• Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp

• Áp dụng chính sách tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp cứng nhắc

và chưa ánh thực tế thị trường lao động Việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2026, các cơ quan Trung ương thống nhất nhận định, sau hơn 20 năm, tính từ 1993, qua 2 lần cải cách tiền lương (năm 1993 và năm 2004), dù tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh song đời

Trang 10

trả được 50% mức sống tối thiểu, trong khi giá cả sinh hoạt ngày càng leo thang Con số này ở khu vực sản xuất dù có cao hơn nhưng cũng mới chỉ đạt 80% (tính đến 2020) Chính sách tiền lương dù đã “cải cách” vẫn chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng lương phát huy tài năng và cống hiến Tiền lương thấp không kích thích được các bộ công chức, viên chức gắn bó với nhà nước, không thu hút được nhân tài; ngược lại, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước, nơi có tiền lương và thu nhập cao, có xu hướng tăng Mặt khác, mức lương tối thiểu vùng thấp và khả năng đàm phán hạn chế của người lao động trong điều kiện cơ chế thỏa thuận còn khiến nhiều doanh nghiệp bám vào để trả lương và ép tiền công của người lao động

Trang 11

3 Vận dụng lí luận để phát triển thị trường lao động Việt Nam hiện nay

Nhìn nhận về lý luận sức lao động của C Mác, vận dụng vào thị trường sức lao động Việt Nam là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay Từ đó, đưa ra một số giải pháp cho thị trường lao động trong nước

3.1.Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề cho người lao động

Hiện tại, các chương trình đào tạo, học nghề của nước ta đa phần vẫn đang tập trung nhiều vào các ngành, nghề cũ Với các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ hiện đại vẫn có nhưng chưa nhiều Giữa các bộ,ngành như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nên có sự phối hợp chặt trẽ, trao đổi thông tin dưới sự chỉ đạo xuyên suốt của Chính phủ.Trong quá trình đào tạo, cần hướng nhân lực gần hơn với các tiến bộ về khoa học kĩ thuật, học tập những cái mới giúp nâng cao năng suất lao động

3.2 Nguồn thông tin mở, kết nối lao động với thị trường

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Việc làm với nhiều nỗ lực nghiên cứu, báo cáo thông tin thị trường, cập nhật vào các quý Tuy nhiên, những số liệu liên quan đến cung – cầu trong thị trường lao động các ngành, nghề vẫn còn nhiều thiếu sót, chỉ là những số liệu cơ bản.Với các ngành nghề phi nông nghiệp, cần tập trung đào tạo nhân lực theo từng vị trí Các trường, trung tâm dạy, đào tạo nghề nên liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo mối liên hệ cung – cầu chặt chẽ, gắn tuyển sinh với tuyển dụng

3.3 Liên hệ bản thân

Bản thân em đang là một sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường, em hiểu được rằng trong thực tế vẫn còn rất nhiều những anh chị sinh viên sau khi tốt nghiệp rơi vào tình trạng thất nghiệp Nguyên nhân chủ yếu là ở chính bản thân người

Trang 12

thêm khi còn đang trong quá trình thực tập,… Từ những điều trên, em hiểu rằng bản thân phải có trách nhiệm với chính mình, cố gắng học tập, trang bị thêm những kĩ năng mềm, tiếp thu thêm những điều mà trường không dạy từ môi trường thực tế để có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng cần, chủ động tìm kiếm cơ hội để tránh tình trạng thất nghiệp làm gánh nặng cho gia đình, sớm được cống hiến cho xã hội và đất nước ngày càng phát triển

Ngày đăng: 22/03/2023, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w