Du lịch văn hóa gần đây được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế.. Thu hút khách quốc tế đến TTH thông qua loại hình du lịch văn hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI HÌNH
DU LỊCH VĂN HÓA
Họ và tên sinh viên: Hoàng Thanh Uyên Nhã
Mã sinh viên: 0951015831 Lớp: K48E-A15
Khóa: 48 Người hướng dẫn khoa học: ThS Trần Thị Phương Thủy
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP HCM
Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẤN
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA 4
1.1 Tổng quan về du lịch văn hóa 4
1.1.1 Du lịch 4
1.1.2 Văn hóa 5
1.1.3 Du lịch văn hóa 7
1.1.4 Du khách quốc tế 7
1.2 Điều kiện để thu hút du khách quốc tế đến một địa phương thông qua loại hình du lịch văn hóa 8
1.2.1 Điều kiện khách quan 8
1.2.2 Điều kiện chủ quan 9
1.3 Tiềm năng và lợi thế của Thừa Thiên Huế trong việc thu hút du khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa 10
1.3.1 Vị trí địa lý thuận lợi 10
1.3.2 Tài nguyên tự nhiên phong phú 11
1.3.3 Tài nguyên văn hóa đa dạng, lâu đời 12
1.3.4 Nét đẹp con người Huế 13
1.3.5 Sự quan tâm của các cấp chính quyền 14
1.4 Sự cần thiết tăng cường thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa 15
1.4.1 Vai trò, vị trí chiến lược của Thừa Thiên Huế trong tổ chức du lịch quốc tế ở Việt Nam 15
1.4.2 Vai trò của du lịch văn hóa đối với du lịch ở Thừa Thiên Huế 16
1.4.3 Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 17
Trang 41.5 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc thu hút du khách quốc tế thông qua
loại hình du lịch văn hóa và bài học đối với Thừa Thiên Huế 18
1.5.1 Kinh nghiệm của thành phố Hội An 18
1.5.2 Kinh nghiệm của Siem Reap (Campuchia) 19
1.5.3 Kinh nghiệm của Bangkok (Thái Lan) 21
1.5.4 Bài học đối với Thừa Thiên Huế 22
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ CỦA LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA GIAI ĐOẠN 2004-2012 25
2.1 Tổng quan tình hình thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua du lịch văn hóa 25
2.1.1 Số lượt khách du lịch quốc tế 25
2.1.2 Cơ cấu khách quốc tế 28
2.1.3 Thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế 29
2.1.4 Doanh thu 30
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa 32
2.2.1 Sản phẩm du lịch văn hóa ở Huế 32
2.2.2 Du lịch văn hóa Huế gắn với chương trình “Con đường di sản miền Trung”
37
2.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch 39
2.2.4 Quy hoạch đầu tư các địa điểm tham quan, bảo tồn các di sản văn hóa 40
2.2.5 Tình hình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch 42
2.2.6 Nhận thức và đóng góp của cộng đồng về phát triển du lịch văn hóa 42
2.2.7 Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa đến du khách quốc tế 43
2.2.8 Các chính sách phát triển du lịch văn hóa của Chính phủ và chính quyền địa phương 44
2.3 Nhận xét chung về thực trạng thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2004-2012 45
2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 45
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 47
Trang 5Chương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI
HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA GIAI ĐOẠN 2013-2020 55
3.1 Triển vọng thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-2020 55
3.1.1 Cơ hội 55
3.1.2 Thách thức 56
3.2 Mục tiêu và định hướng của tỉnh Thừa Thiên Huế trong tăng cường thu hút du khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa 58
3.2.1 Mục tiêu 58
3.2.2 Định hướng 59
3.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-2020 61
3.3.1 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, chú trọng xây dựng sản phẩm đặc thù và nâng cao chất lượng sản phẩm 61
3.3.2 Đầu tư, phát triển và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, hạ tầng 68
3.3.3 Phát triển nguồn nhân lực 70
3.3.4 Giải pháp về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 74
3.3.5 Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch 76
3.4 Một số kiến nghị đối với Chính phủ và các bên hữu quan 80
3.4.1 Đối với Chính phủ 80
3.4.2 Đối với UBND Thừa Thiên Huế, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế và các sở ban ngành liên quan 82
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế 83 KẾT LUẬN 85
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội ODA Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
đô
UNESCO The United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên hiệp quốc
USD United States dollar Đô-la Mỹ
Trang 7Bảng 2.3: Lượng vé tham quan quần thể di tích Cố đô Huế đã bán cho du khách
quốc tế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Bảng 2.4: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng
đầu năm 2012
Bảng 2.5: Doanh thu từ hoạt động du lịch và doanh thu xã hội từ hoạt động du
lịch ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Bảng 2.6: Tổng cơ sở lưu trú, số phòng, số giường ở Thừa Thiên Huế giai đoạn
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng số lượng du khách quốc tế đến Thừa Thiên
Huế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Biểu đồ 2.2: Thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế đến Thừa
Thiên Huế giai đoạn 2004- 9 tháng đầu năm 2012
25
29
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội Bên cạnh đó, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã xem du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển xã hội
Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đa dạng, TTH thật sự là vùng đất của du lịch Là một ngành kinh tế quan trọng ở TTH, du lịch đã có các bước phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân, đồng thời giới thiệu và quảng bá hình ảnh Huế, con người Huế đến với bạn bè trong và ngoài nước
Du lịch văn hóa gần đây được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế Tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á - Thái Bình Dương năm 2004, với chủ đề “Du lịch văn hóa và giảm đói nghèo”, nhiều nước đã chia sẻ kinh nghiệm, thông tin về phát triển du lịch văn hóa
và những lợi ích của hoạt động này đối với cộng đồng xã hội cũng như dân cư Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước và loại hình này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo của quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam
Tỉnh TTH từ lâu đã được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn hóa quan trọng của nước ta Tài nguyên du lịch của TTH tương đối đa dạng, phong phú, nổi bật và có giá trị hơn cả là các tài nguyên văn hóa đặc sắc, độc đáo; trong
đó, có không ít những di sản văn hóa vật thể tầm cỡ quốc gia và quốc tế có sức thu hút rất lớn đối với khách du lịch Với nguồn tài nguyên du lịch vô giá như vậy, du lịch văn hóa đã trở thành thế mạnh không chỉ của Huế mà còn có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển du lịch Việt Nam
Tuy nhiên, việc phát triển du lịch văn hóa trong thời gian vừa qua dường như vẫn chưa khai thác hết tiềm năng du lịch của tỉnh Vấn đề đặt ra đó chính là sự thiếu
sự đồng bộ trong việc phát triển một sản phẩm văn hóa thành một sản phẩm phục vụ
Trang 9cho du lịch hoàn chỉnh; thiếu sự quảng bá, tuyên truyền đến du khách, đặc biệt là du khách quốc tế Khách quốc tế đã chiếm một phần quan trọng trong tổng lượng khách đến TTH Theo thống kê, tỷ lệ khách quốc tế và khách nội địa đến Huế là tương đương nhau Thu hút khách quốc tế đến TTH thông qua loại hình du lịch văn hóa không chỉ giúp phát triển nền kinh tế tỉnh nhà, mà còn góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Huế
Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Thu hút du khách quốc tế đến
tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình, với hi vọng phân tích được tiềm năng phát triển và cải thiện hơn nữa tình hình hoạt động du lịch văn hóa tại Thừa Thiên Huế đối với thị trường khách quốc tế
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số lý luận cơ bản về du lịch văn hóa và sự cần thiết thu hút
du khách quốc tế đến TTH thông qua du lịch văn hóa
Bên cạnh đó là nghiên cứu thực trạng thu hút du khách quốc tế đến TTH thông qua du lịch văn hóa giai đoạn 2004 – 9 tháng đầu năm 2012, từ đó tìm ra nguyên nhân cho những thành tựu và hạn chế mà du lịch văn hóa ở TTH đang mắc phải
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút du khách quốc tế đến TTH thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: việc thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế
thông qua du lịch văn hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Tác giả vận dụng những phương pháp nghiên cứu như phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp từ các nguồn thông tin thứ cấp thu thập được từ các sở, ban, ngành của tỉnh TTH, từ sách báo, tạp chí, Internet…
Bên cạnh đó, tác giả còn thu thập thông tin sơ cấp bằng phương pháp chuyên gia Tác giả trực tiếp phỏng vấn 4 lãnh đạo ngành du lịch Thừa Thiên Huế: TS Phan Tiến Dũng – Giám đốc Sở VHTT&DL Thừa Thiên Huế, TS Phan Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ông Huỳnh Tiến Đạt – Phó Giám đốc Trung tâm Festival Huế và ông Lê Văn Thuyên – Trưởng phòng Văn hóa Thông tin Thành phố Huế, Tổng biên tập tạp chí Huế xưa và nay; về các vấn đề liên quan đến việc thu hút khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua du lịch văn hóa
5 Kết cấu của đề tài
Bên cạnh lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của khóa luận được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về du lịch văn hóa và sự cần thiết phải thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa
Chương 2: Thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế của loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2004-2012
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp tăng cường thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-
2020
Qua đây, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học Ngoại thương cơ sở II tại TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, và đặc biệt gửi lời cảm ơn đến ThS Trần Thị Phương Thủy đã tận tâm trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này
Do hạn chế về thời gian chuẩn bị, kinh phí thực hiện, tài liệu tham khảo nên bài viết không tránh khỏi một số thiếu sót Kính mong nhận được góp ý của thầy cô
và người đọc để bài viết được hoàn thiện hơn
Tác giả Hoàng Thanh Uyên Nhã
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA
1.1 Tổng quan về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch
Nhìn từ góc độ thay đổi không gian của du khách, du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Nhìn từ góc độ kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác (Trần Đức Thanh, 2008, tr.19)
Từ đó thấy rằng, những góc độ quan sát khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm du lịch khác nhau Dưới đây là một số khái niệm du lịch của một số tổ chức trong nước và quốc tế:
- Theo định nghĩa của khoa Du lịch và Khách sạn trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội (Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hoa, 2008, tr.39), du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu
về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định
- Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
- Định nghĩa của Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc), du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con
Trang 12người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ
- Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi ở thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra rằng du lịch là một hoạt động mà trong đó con người đi tham quan và lưu trú tại một địa điểm không phải nơi cư trú thường xuyên của mình, để thỏa mãn một số nhu cầu như tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, kết hợp công việc…
1.1.2 Văn hóa
Có nhiều khái niệm về văn hóa:
PGS.TS Trần Ngọc Thêm cho rằng: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (PGS.TS Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.17)
Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ nhân học, được xem là tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo đức, luật lệ, phong tục
và bất cứ kĩ năng hay thói quen do con người, với tư cách là động vật xã hội, tạo ra
và lĩnh hội thông qua quá trình học (Edward Burnett Tylor, 1871)
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin (UNESCO, 2002, www.unesco.org)
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như
Trang 13trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Trang 141.1.3 Du lịch văn hóa
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục Gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế
Theo Luật Du lịch (2005), du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với du khách bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội
để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư để tạo ra những địa điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không những tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, mà còn đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội
Trong du lịch văn hóa, người ta chia ra làm nhiều loại: du lịch di tích lịch sử,
du lịch phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch di tích văn hóa… Trong đó còn có du lịch văn hóa đại trà dành cho đa số mọi đối tượng khách du lịch, còn du lịch văn hóa chuyên sâu chỉ dành cho những người muốn nghiên cứu về một vấn đề cụ thể
1.1.4 Du khách quốc tế
Theo Ủy ban thống kê Liên hiệp quốc (1937), du khách quốc tế là những người viếng thăm một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất 24 giờ
Định nghĩa về du khách có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma
do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại
Trang 15tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989, du khách quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình
Từ những định nghĩa trên, tác giải rút ra rằng du khách quốc tế là những người đến một đất nước khác trong khoảng thời gian ít nhất là 24h, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, thăm người thân và bạn bè,… loại trừ mục đích kiếm tiền
1.2 Điều kiện để thu hút du khách quốc tế đến một địa phương thông qua loại hình du lịch văn hóa
1.2.1 Điều kiện khách quan
Nền văn hóa đặc trưng
Nền văn hóa đặc trưng chính là yếu tố quyết định của du lịch văn hóa để thu hút khách du lịch Du khách tới một vùng đất phần lớn là để tìm hiểu một nền văn hóa mới lạ, đặc biệt, chỉ có tại địa phương đó – nơi mang lại cho họ những trải nghiệm, những lối sống ấn tượng Văn hóa được thể hiện qua các phong tục, tập quán, lối sống, các di tích văn hóa – lịch sử, lễ hội… – đây chính là những yếu tố nòng cốt để tạo nên các sản phẩm của du lịch văn hóa
Con người
Chính con người tạo ra, truyền bá và lưu giữ văn hóa Một địa phương sẽ khó lòng thể hiện được hết những nét văn hóa đẹp của mình đến du khách nếu không có những con người am hiểu và mang đậm nét văn hóa địa phương Sự nồng nhiệt, hiếu khách và đặc biệt là lối sống văn hóa của người dân địa phương cũng là một trong những yếu tố làm hài lòng du khách khi đến viếng thăm một vùng đất
Trang 16hút du khách quốc tế đến đấy Ngoài ra, một địa phương có vị trí thuận lợi, sẽ có cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề để phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch
1.2.2 Điều kiện chủ quan
Cơ sở hạ tầng
Là một trong các yếu tố quan trọng để thu hút khách quốc tế đến tham quan cũng như tăng thời gian lưu trú của khách Cơ sở hạ tầng ở địa phương, các điểm du lịch phải đáp ứng được nhu cầu khách du lịch quốc tế: hệ thống giao thông thuận lợi; cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ, nhà dân cần đáp ứng những tiêu chuẩn
về lưu trú; hệ thống các cơ sở kinh doanh, dịch vụ cần thiết phải được thiết lập tại các điểm du lịch đáp ứng nhu cầu chi tiêu, mua sắm của khách du lịch
Nguồn nhân lực
Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì một trong những yêu cầu để thu hút du khách quốc tế là phải có được một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng được những yêu cầu trình độ phát triển du lịch của khu vực, của thế giới, của thời đại… Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc… tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
du lịch văn hóa, cần có nguồn nhân lực phục vụ riêng, bao gồm: đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, phục vụ có trình độ văn hóa, có kiến thức, am hiểu về văn hóa, phong tục địa phương; cán bộ tổ chức các chương trình văn hóa, nghệ thuật; kỹ thuật viên bảo tồn, trùng tu các di sản văn hóa, lịch sử,…
Chính sách, sự quản lý của Nhà nước
Sự quản lý của Nhà nước về du lịch có thể là chìa khóa dẫn đến thành công cũng có thể kìm hãm nếu Nhà nước có những đường lối không phù hợp với thực tế Nhà nước trên cương vị của mình sẽ quản lý các hoạt động du lịch đồng thời ban hành các chính sách để thúc đẩy du lịch phát triển Chính quyền cần có các chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương để các giá trị này được lưu giữ trong
Trang 17cộng đồng, có thể được vận dụng vào việc xây dựng các sản phẩm du lịch để thu hút
du khách quốc tế Để làm được điều này cần có nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo tồn, phục dựng các giá trị văn hóa và nâng cao nhận thức của người dân địa phương
Chất lượng sản phẩm
Du khách đến thăm quan một địa danh, không chỉ để ngắm nó mà còn để sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ở đó Sản phẩm càng đa dạng, càng độc đáo thì càng để lại ấn tượng mạnh trong lòng du khách Các sản phẩm du lịch văn hóa cần mang được đặc trưng của địa phương, tạo được sự khác biệt so với các vùng miền khác, đồng thời cũng phải thường xuyên được đổi mới và nâng cao về chất lượng Chính quyền địa phương cần hỗ trợ ngành du lịch về kinh phí, nhân lực, chính sách, môi trường… tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu, khảo sát, đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương
Tuyên truyền, quảng bá
Một quốc gia muốn thu hút du khách trước hết cần phải quảng bá hình ảnh đất nước của mình đến khách du lịch, công tác xúc tiến quảng bá du lịch càng mạnh
mẽ thì ngành du lịch càng phát triển Nhìn chung, vai trò công tác xúc tiến quảng bá
du lịch có thể gói gọn như sau: Quảng bá thương hiệu hình ảnh của đất nước mình đến du khách khắp năm châu, làm cầu nối giữa khách du lịch với nhà tổ chức du lịch, giữa du khách với nhà cung ứng dịch vụ du lịch, giới thiệu sản phẩm du lịch tới khách du lịch và cái chính là tăng cường lượng du khách và tăng doanh số bán sản phẩm du lịch (Chrystel Monthean, 2009)
Đặc biệt đối với du lịch văn hóa, cái mà khách quốc tế nhắm đến chính là các đặc trưng văn hóa ở địa phương Mà những đặc trưng này, nếu không được quảng
bá, giới thiệu thì không thể nào đến được với du khách và khơi gợi ý muốn được khám phá của họ Chính hoạt động tuyên truyền đã làm cầu nối, đưa du khách quốc
tế đến những vùng đất xa xôi để khám phá những giá trị văn hóa đặc trưng ở đó
1.3 Tiềm năng và lợi thế của Thừa Thiên Huế trong việc thu hút du khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa
1.3.1 Vị trí địa lý thuận lợi
Trang 18TTH có chung ranh giới đất liền với tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, thành phố
Đà Nẵng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và giáp biển Đông
TTH nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trục hành lang Đông – Tây nối Thái Lan – Lào – Việt Nam theo đường 9 Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa điều kiện
tự nhiên – kinh tế – xã hội của cả hai miền Nam – Bắc TTH là một trong những trung tâm văn hoá, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước và là cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 – 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng không quốc tế Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có 81 km biên giới với Lào
Nằm trên “Con đường di sản miền Trung”, TTH vừa là nơi giàu thắng cảnh, vừa là địa bàn đa văn hóa, quy tụ nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, công trình kiến trúc độc đáo và bảo tồn không ít giá trị văn hóa phi vật thể khác nhau TTH là địa phương đầu tiên trong cả nước có hai di sản văn hóa thế giới
Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho TTH mở rộng giao lưu kinh tế – xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế và cũng là lợi thế để thu hút khách du lịch quốc tế đến địa phương (Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế, 2010)
1.3.2 Tài nguyên tự nhiên phong phú
Tạo hóa ban tặng cho TTH một địa hình độc đáo – về tổng thể toàn tỉnh có kiến trúc giống như một công viên, với khung cảnh thiên nhiên đa dạng Đây là nơi hội tụ của núi đồi và đồng bằng, là chỗ gặp nhau của sông, đầm phá và biển Từ hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến sông Hương, núi Ngự, Vườn Quốc gia Bạch Mã, Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tất cả đều cho thấy đây là một vùng đất của sự cộng sinh và hội tụ của vũ trụ
Khái niệm “Nơi trời và đất giao hòa” hàm chứa một cảm giác về thiên nhiên hữu tình của Huế, chốn bồng lai mà ngay từ đầu đã làm say đắm và mê hoặc sự lựa chọn của các chúa Nguyễn khi chọn Huế là thủ phủ của triều đại mình Khái niệm
Trang 19này còn phản ánh hệ sinh thái đa dạng và mối quan hệ của con người với môi trường tự nhiên nơi đây, một mối quan hệ thấm nhuần các giá trị văn hóa và tinh thần của đa dạng sinh học
Không phải tự nhiên mà người ta thường dùng thuật ngữ “tinh hoa của cấu trúc địa hình tự nhiên”, “sự kết hợp kì diệu của tạo hóa” để chỉ sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên của xứ Huế: 70% diện tích tự nhiên là đồi núi, 20% diện tích là sông, suối, đầm phá và chỉ 10% là diện tích đất trồng trọt Trong vòng bán kính 50km, một khung cảnh đa dạng, độc đáo được thiên nhiên dành tặng cho con người, trong đó, sự kết hợp độc đáo nhất của thiên nhiên có lẽ chính là việc tạo nên một trong những hệ thống đầm phá rộng nhất và đẹp nhất trên thế giới, mà ở Việt Nam – Huế là duy nhất (Thái Quang Trung, Hà Bích Liên, Tay Kheng Soon, Hans Hoefer,
2012, tr.17-21)
1.3.3 Tài nguyên văn hóa đa dạng, lâu đời
Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306) Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt - Chăm Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây
Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng
xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống (Wikipedia, 2012, www.vi.wikipedia.org)
Cố đô Huế đã hai lần vinh dự được UNESCO công nhận các giá trị tiêu biểu toàn cầu, văn hóa vật thể - quần thể di tích Huế (1993) và văn hóa phi vật thể - Nhã nhạc cung đình Huế (2003) Di sản Huế là một hệ phức hợp bao gồm cả quần thể di
Trang 20tích cố đô đồ sộ với thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, đài tạ, chùa quán, cầu cống, phủ đệ; hệ thống kiến trúc cộng đồng, tôn giáo và kiến trúc dân gian; các văn hóa phi vật thể phong phú; các giá trị cảnh quan môi trường độc đáo
Theo thống kê chưa đầy đủ, Huế có tới 500 lễ hội và ngày nay phổ biến hơn
100 lễ hội, chủ yếu là lễ hội dân gian và lễ hội liên quan đến tín ngưỡng tâm linh của nhiều cộng đồng dân cư trong lịch sử Những ngày sau Tết Nguyên Đán là những ngày tưng bừng lễ hội dân gian: Hội vật làng Sình, làng Thủ Lễ; Hội Cầu Ngư; Hội đu tiên, Điền Hòa, Phong Điền; Hội đua thuyền, Lăng Cô, sông Vực,… Phản ánh những ước vọng thiêng liêng của con người trong sự kết nối với trời, đất, sông núi, tổ tiên, và gửi gắm niềm tin vào khát vọng hòa bình của Phật giáo, là những nét đặc trưng nổi bật trong văn hóa lễ hội của Huế Nhiều lễ hội vẫn được duy trì trong đời sống cộng đồng từ đời này sang đời khác, nhiều lễ hội mới được khôi phục lại, nhưng được cộng đồng dân cư Huế và nhiều địa phương trong cả nước đổ về tham dự vì tính lịch sử và “thực” của nó Có lẽ vì vậy, ở Huế, không cần phải có sân khấu hóa lễ hội hay biểu diễn lễ hội Khách đến Huế, vào bất cứ mùa nào trong năm cũng có thể bắt gặp lễ hội Du khách có thể hòa mình vào lễ hội, là một phần của lễ hội, để có những khoảng khắc phương Đông trong chuyến hành trình tới Huế (Thái Quang Trung, Hà Bích Liên, Tay Kheng Soon, Hans Hoefer,
2012, tr.140)
Với nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng và lâu đời như vậy, đây chính là nền tảng, nhân tố chính trong việc phát triển du lịch văn hóa ở Huế
1.3.4 Nét đẹp con người Huế
Dấu ấn của một vùng đất hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau qua các thời kì của nhiều lớp dân cư, dấu ấn của một thời kì lịch sử dài là chốn kinh kì, đã tạo nên những nét riêng biệt trong tính cách Huế Ngay khi bắt đầu đặt chân đến Huế, du khách có thể dễ dàng nhận thấy sự tinh tế, trọng thị và cầu kì của người Huế trong ứng xử Thêm vài tiếng đồng hồ nữa, khi bạn cần hỏi đường, đề nghị món ăn hay một yêu cầu nào đó, bạn sẽ ngẩn người và bị quyến rũ bởi nét duyên dáng, dịu dàng của cô gái Huế Họ tận tình hướng dẫn một cách cầu kì, lịch lãm, đem lại cho du khách cảm xúc thật bình an Người Huế nuôi dưỡng một nền văn hóa hiếu khách truyền thống, được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó được
Trang 21biểu hiện không chỉ đơn giản và dễ nhận biết qua ngôn ngữ và phong cách ứng xử,
mà còn trong nhiều thành tố văn hóa khác của Huế
Nét quyến rũ riêng biệt của người dân xứ Huế thể hiện qua bốn đặc điểm
chính: cầu kì, lãng mạn, thận trọng và đam mê Những yếu tố này kết hợp với nhau
để tạo nên tính cách độc đáo của con người xứ Huế: phong cách ăn mặc, dáng điệu
đi đứng, cách ứng xử và thưởng thức ẩm thực khá kiểu cách, tinh tế, không lòe loẹt; khi nào cũng kín đáo, có một chút gì đó sang trọng và cổ điển nhưng vẫn ẩn chứa trong đó niềm đam mê đến say đắm (Thái Quang Trung, Hà Bích Liên, Tay Kheng Soon, Hans Hoefer, 2012, tr.173-177)
Phong tục tập quán và truyền thống hiếu khách của Huế vẫn được bảo tồn rất tốt trước những xu hướng dị biệt hay đồng hóa của các nền văn hóa Có lẽ chính điều này đã tạo nên một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của mảnh đất và con người nơi đây
1.3.5 Sự quan tâm của các cấp chính quyền
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thu hút du khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa chính và việc bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, từ Trung ương đến địa phương tỉnh Huế đều đầu tư nhiều nguồn lực để tôn tạo, trùng tu các di sản văn hóa vật thể và bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa phi vật thể
Với sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các tổ chức quốc tế, ngày 11/12/1993, quần thể di tích cố đô Huế đã
được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản văn hóa thế giới Tiếp đó Dự án Quy
hoạch Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, giai đoạn 1996-2010 đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 105/TTg ngày 12/02/1996, tạo cơ
sở vững chắc cho chiến lược bền vững cho công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Ngày 07/06/2010, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định
818/QĐ-TTg, phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy di tích
Cố đô Huế, giai đoạn 2010-2020 Đó là một trong những cơ sở pháp lý quan vô
cùng quan trọng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế
Việc thành lập các trung tâm chuyên phục trách việc bảo tồn di tích hay tổ chức các lễ hội du lịch, như TTBTDTCĐ Huế (tiền thân là Công ty Quản lý Di tích
Trang 22Lịch sử và Văn hóa Huế, 1982), Trung Tâm Festival Huế,… là một trong các hành động của tỉnh nhằm phát triển tối ưu loại du lịch văn hóa ở Huế
1.4 Sự cần thiết tăng cường thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa
1.4.1 Vai trò, vị trí chiến lược của Thừa Thiên Huế trong tổ chức du lịch quốc
tế ở Việt Nam
Bảng 1.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam và đến Thừa Thiên Huế
giai đoạn 2004 – 9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: Nghìn lượt người Năm Lượng khách quốc tế
Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Du lịch và báo cáo hoạt động hằng năm của Sở
VHTT&DL Thừa Thiên Huế, từ năm 2004 – 9 tháng đầu năm 2012
Tỉnh TTH từ lâu đã được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn hóa quan trọng của nước ta Việt Nam có 63 tỉnh thành, nhưng riêng lượng khách quốc tế đến Huế luôn chiếm một lớn trong tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong thời gian gần đây và ngày càng tăng lên Từ việc Huế chỉ thu hút 8,7% lượng khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 2004 thì trong các năm tiếp theo, con số này tăng khá nhanh, và đạt mức lớn nhất vào năm 2008 (18,7%) Ở những năm tiếp theo, dù có sự sụt giảm về tỷ trọng khách quốc tế đến Huế so với cả nước thì con số
Trang 23này vẫn luôn trên 10% Đây thật sự là một con số không nhỏ mà các tỉnh làm du lịch đều mơ ước
Theo một khảo sát mới đây của Tổng Cục Du Lịch, hơn 70% khách quốc tế đến Việt Nam với lý do để khám phá những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam thông qua những chuyến tham quan thực tế tại các di sản, đặc biệt là các di sản thế giới Tại Việt Nam hiện nay có 2 di sản thiên nhiên thế giới, 5 di sản văn hóa vật thể và 4 di sản văn hóa phi vật thể thế giới Trong đó, Huế có 1 di sản văn hóa vật thể và 1 di sản văn hóa phi vật thể, điều này là một lợi thế lớn trong việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam nói chung và đến TTH nói riêng
Qua 4 lần tổ chức Festival Huế và 2 lần tổ chức Festival Huế chuyên đề, cùng nhiều hoạt động du lịch thành công khác, năm 2008, Thủ tướng Chính phủ
chính thức phê duyệt Đề án Xây dựng Thành phố Huế thành Thành phố Festival
của Việt Nam - thành phố du lịch trong mối gắn kết hài hòa một thành phố Festival
Có thể nói, đây là một trong những minh chứng quan trọng cho vị trí chiến lược của TTH trong tổ chức du lịch quốc tế tại Việt Nam
1.4.2 Vai trò của du lịch văn hóa đối với du lịch ở Thừa Thiên Huế
Với sự ưu đãi của tạo hóa mà Huế có một nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng,… Nhưng loại hình
du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ đạo trong hệ thống các loại hình du lịch ở Huế Theo thống kê, số lượt khách đến Huế với mục đích tham quan, tìm hiểu lịch
sử văn hóa, hay đơn giản là chỉ đến để tận mắt chiêm ngưỡng một di sản thế giới chiếm tới gần 80% tổng lượt khách du lịch Điều này chứng minh được giá trị và sức hấp dẫn của di sản Huế, văn hóa Huế, đồng thời đây cũng là thước đo và căn cứ
để ngành Du lịch có kế hoạch lâu dài trong phát triển sản phẩm quảng bá và phát triển văn hóa của Huế đến với bạn bè thế giới (Trần Viết Lực, 2010)
Du lịch văn hóa cũng tạo nguồn thu lớn cho ngành du lịch Huế, thông qua các hoạt động bán vé tham quan, lễ hội, ẩm thực, dịch vụ trong khu di tích, hàng lưu niệm… Ngoài ra, loại hình du lịch văn hóa phát triển, cũng kéo theo sự phát triển của các loại hình du lịch khác, nhằm tận dụng nguồn khách do du lịch văn hóa đem lại, khai thác tối đa tiềm năng phát triển du lịch của Huế
Trang 241.4.3 Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Di sản văn hóa Huế là một kho báu, một bộ phận cấu thành sinh thái văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đó cũng là mấu chốt mở rộng phát triển du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động du lịch văn hóa đã góp phần tạo sự thay đổi tích cực trên nhiều lĩnh vực của kinh tế - xã hội ở tỉnh TTH:
Tăng nguồn thu ngân sách, nguồn thu ngoại tệ và đầu tư từ nước ngoài
Với lượng khách quốc tế hàng năm đến Huế trên 600.000 người, và ngày càng tăng, khách quốc tế thường có mức chi tiêu cao, và chi trả bằng ngoại tệ, hoạt động du lịch đã giúp tỉnh tăng được nguồn thu ngân sách và nguồn thu ngoại tệ Số tiền này, là một khoản quan trọng để tái đầu tư vào việc bảo tồn, trùng tu các di sản văn hóa, nâng cao chất lượng đường xá, dịch vụ công cộng của tỉnh Bên cạnh đó, hoạt động du lịch văn hóa còn thu hút các dự án đầu tư của Trung ương, tư nhân và nước ngoài Đến năm 2011, TTH đã thu hút được 40 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 25 ngàn tỷ đồng (Nguyễn Văn Cao, 05/2011)
Thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề có liên quan
Đặc điểm của du lịch là một ngành kinh tế liên quan, với sự kết hợp giữa nhiều ngành sản phẩm dịch vụ của nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội Hoạt động du lịch văn hóa đã góp phần tạo sự tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, thương mại, công nghệ thông tin và ngành nông lâm thủy sản,… Ngoài ra, nhờ du lịch văn hóa mà mỗi năm, hàng chục lễ hội truyền thống được khôi phục, tổ chức, dần đi vào nếp sống người dân, phát huy được thuần phong mỹ tục Nhiều làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục
và phát triển, tạp thêm các điểm tham quan du lịch, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm bán cho khách du lịch
Tạo thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho người dân
Hoạt động du lịch văn hóa đã tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động xã hội, đồng thời, tạo điều kiện phát huy tài năng sáng tạo của các nghệ nhân, nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu khoa học Từ chỗ toàn ngành có 2.115 lao động năm 1998, đến nay ngành du lịch đã tạo việc làm cho trên 8.100 lao động trực tiếp và trên 180.000 lao động gián tiếp, góp phần giảm nghèo trên địa bàn (Thùy Hương, 12/11/2010)
Trang 25Thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh
“Cách đây khoảng 10 năm thì tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trong GDP của tỉnh thì chiếm từ 34-35%, trong năm 2010 vừa rồi, thì con số này là 43,8%, đến 2015 thì tỉnh phấn đấu đưa tỷ trọng của du lịch và dịch vụ lên đến 49-50% GDP” (TS Phan Tiến Dũng, 2012) Hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đã giúp TTH từ một tỉnh lấy nông nghiệp là chính, giờ đây trở thành một tỉnh lấy ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
Quảng bá thương hiệu du lịch Huế
Du lịch là hình thức trực tiếp nhất thể hiện nét văn hóa và nếp sống văn mình của một đất nước khi mà du khách sẽ là người được trực tiếp trải nghiệm những nét độc đáo ấy Du lịch phát triển, đặc biệt là du lịch văn hóa, sẽ giúp nâng cao hơn nữa hình ảnh, thương hiệu của Huế, của Việt Nam tới bạn bè thế giới, đem được hình ảnh một cùng đất thanh bình, đậm đà bản sắc văn hóa và giàu tiềm năng du lịch đến
1.5.1 Kinh nghiệm của thành phố Hội An
Hội An là một thành phố cổ giàu truyền thống văn hóa và cũng là một trong những địa điểm thu hút nhiều du khách quốc tế nhất Việt Nam Phố cổ Hội An đã được UNSECO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999 Theo thống kê của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An thì Hội An hiện nay có 1360 di tích danh thắng với 1273 di tích kiến trúc nghệ thuật Bên cạnh quần thể kiến trúc đa dạng, người dân Hội An còn lưu giữ những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa các làng nghề truyền thống, các món ăn
Trang 26đặc sản… làm cho Hội An ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của khách thập phương
Để tránh "cơn lốc" đô thị hóa nhấn chìm các di tích nên 10 năm qua, tỉnh Quảng Nam luôn coi việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích là một trong những mục tiêu cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và khuyến khích các địa phương có di sản đưa ra phương án quản lý sao cho vừa bảo tồn, phát huy được giá trị di tích theo Luật Di sản, vừa mang lại lợi ích cho người dân Hội An luôn khuyến khích tư nhân tự động bảo vệ di tích và các di sản văn hóa Trung bình mỗi năm Hội
An có hơn 200 chủ di tích tự đầu tư kinh phí hàng tỷ đồng để tu bổ di tích Hội An không có quảng cáo trên hè phố cổ, trước nhà cổ; không đi xe máy trong một số tuyến phố; tắt đèn điện vào đêm 14 và 15 âm lịch hằng tháng để tổ chức đêm hội phố cổ… Có lẽ các yếu tố đó đã làm lượng khách đến đây năm sau luôn cao hơn năm trước, mang lại 25-30 tỷ đồng/năm (Minh Ngọc, 2009)
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương Hội An luôn tạo điều kiện tốt nhất để hài lòng du khách đến thánh phố này Đầu năm 2012, Hội An là thành phố đầu tiên được đầu tư lên đến gần 23 tỉ đồng để phủ sóng Wifi miễn phí phục vụ người dân
và khách du lịch Việc kết nối Wifi miễn phí trên toàn phố cổ góp phần quảng bá hình ảnh cho du lịch Hội An nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung (Hoian.vn,
2012, www.hoian.vn)
Chính nhờ những nỗ lực này, mà tạp chí du lịch nổi tiếng Conde Nast Traveler (Mỹ) vừa công bố phố cổ Hội An là một trong 10 thành phố du lịch tốt nhất châu Á năm 2012 (Hoa Quỳnh, 23/10/2012)
1.5.2 Kinh nghiệm của Siem Reap (Campuchia)
Cũng giống như Huế, Siem Reap là cố đô của đất nước Campuchia, và cũng
là thành phố du lịch lớn nhất Campuchia với nhiều địa danh nổi tiếng và một quần thể Angkor (còn gọi là Công viên khảo cổ Angkor) hùng vĩ, được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1992
Điều đáng học tập ở đây là công tác bảo tồn, quản lý Angkor được thực hiện một cách chuyên nghiệp và có tính bền vững cao Từ khi Angkor được công nhận là
Di sản thế giới, lượng khách du lịch đổ về tăng mạnh mỗi năm Có thời điểm khách đến Angkor chiếm 40% tổng lượng khách quốc tế đến Campuchia Tuy nhiên, ngay
Trang 27khi có cảnh báo của UNESCO về đe doạ xuống cấp Angkor vì khách tham quan quá đông, ngành du lịch Campuchia ngay lập tức nghiên cứu và thực hiện biện pháp kiểm soát và hạn chế khách du lịch Năm 2003, khách vào đền Angkor Wat chỉ được tối đa 300 khách mỗi lượt và thời gian tham quan chỉ kéo dài tối đa 2 giờ đồng
hồ Đến nay, các biện pháp hạn chế khách vẫn tiếp tục được nghiên cứu và đề xuất
để đối phó với nhu cầu tham quan không ngừng tăng lên hằng năm Việc phát triển các khu du lịch biển tại các hòn đảo và thị trấn Kép thuộc Sihanoukville ngoài mục đích khai thác tài nguyên du lịch biển còn nằm trong chủ trương giãn khách khỏi Angkor, hướng khách du lịch những sản phẩm du lịch khác để giảm sức ép cho di sản
Ngoài ra, có thể kể đến những tiêu chí bắt buộc với một hướng dẫn viên du lịch tại Angkor Những hướng dẫn viên được hành nghề ở đây đều phải trải qua những khoá đào tạo bài bản từ chính UNESCO hoặc những địa chỉ dạy nghề có uy tín đã được Nhà nước thừa nhận Và dĩ nhiên, giá thuê hướng dẫn viên không thể rẻ, tối thiểu là 30USD/ngày Chính vì quy định khắt khe này mà hiện nay Angkor thiếu rất nhiều hướng dẫn viên song không vì thế mà cơ quan quản lý di tích này nới lỏng điều kiện trình độ
Vé tham quan Angkor cũng là một điều thú vị Vé chỉ bán cho khách quốc tế còn khách nội địa được miễn phí Họ quan niệm rằng, di sản là của cha ông để lại
và con cháu được quyền thụ hưởng bình đẳng và quyền được biểu biết về những gì cha ông đã làm nên Với khách quốc tế, giá vé được phân định theo thời gian tham quan: 1 ngày là 20USD, 2 ngày là 40USD, 3 ngày là 60USD và 60USD cũng là mức giá tối đa áp dụng cho cả tuần hay cả tháng Mức giá này thể hiện quan niệm: nếu bạn yêu Angkor đến mức thăm nó tới 3 ngày liền chưa chán thì bạn được miễn phí cho tất cả những ngày tham quan còn lại tại đây Cách làm này không chỉ tạo tâm lý được tiếp đón của du khách mà còn kích thích du khách ham muốn khám phá, tìm hiểu sâu kỹ về quần thể di tích vĩ đại này Khách càng tìm hiểu sâu, nền văn hoá - lịch sử Campuchia càng được quảng bá rộng và đó là cách quảng bá, xúc tiến tại chỗ tốt đến không thể tốt hơn (Loan Nguyễn, 2011) Ngoài sự quản lý của chính quyền địa phương, ở Siem Riep còn có sự đầu tư cho du lịch từ các doanh nghiệp Với diện tích gần 200km2, thật khó lòng để du khách đi hết quần thể
Trang 28Angkor bằng đôi chân của mình Phương tiện tuyệt vời nhất để thăm thú Angkor là
xe đạp điện Đường đến Angkor có bảng chỉ dẫn rất rõ ràng Xe đạp điện do một công ty bao thầu cho thuê, nên trước các khu đền ở Angkor đều có chỗ giữ xe và thay pin (miễn phí); những địa điểm này đều được đánh dấu cụ thể trong bản đồ Angkor, du khách có thể lấy bản đồ ngay khi thuê xe (cũng miễn phí) Đi xe đạp điện vừa tiết kiệm sức, vừa chủ động, thậm chí có thể thong dong chạy xe vào ngay giữa các khu thành quách (Du lịch Việt Nam, 2011, www.didulich.com)
1.5.3 Kinh nghiệm của Bangkok (Thái Lan)
Đất nước Thái Lan hiền hòa, đất nước của xứ sở Phật giáo được coi như là một thiên đường du lịch của khu vực Đông Nam Á, “xứ sở của những nụ cười thân thiện” Năm 2010, Bangkok được tạp chí Travel&Leisure của Mỹ bình chọn là
Thành phố du lịch tốt nhất Với lợi thế là thủ đô, Bangkok có hệ thống cơ sở hạ
tầng rất hiện đại và hàng loạt di tích văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng như hoàng cung Thái Lan, tượng Phật vàng,… Du lịch văn hóa là một trong những thế mạnh của ngành du lịch Thái Lan Sản phẩm du lịch đa dạng và đậm nét văn hóa Thái Lan như lễ hội té nước, lễ hội đèn, boxing Thái, múa sạp Thái, kịch, ẩm thực Thái, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Hàng năm tại Bangkok đều diễn ra các chương trình ca múa tạp kỹ hoành tráng, đậm nét văn hóa nghệ thuật Thái như chương trình nghệ thuật Siam Niramit vào năm 2009 Bên cạnh các sản phẩm du lịch văn hóa, Bangkok còn đầu tư, phát triển các loại hình sản phẩm khác, để đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch, như: mua sắm, massage, nghỉ dưỡng,… Điểm đặc biệt là các sản phẩm du lịch đều thường xuyên được đổi mới, vì thế hàng năm
có rất nhiều du khách quay trở lại Thái Lan và Bangkok
Không phải ngẫu nhiên mà Thái Lan được mệnh danh là “ xứ sở của những
nụ cười rất thân thiện” Người Thái Lan rất hiếu khách và có ý thức cao về du lịch
Đi đến đâu du khách cũng bắt gặp những nụ cười cởi mở, nồng nhiệt Người Thái Lan biết cách chiều khách: Khách nhiều tiền có cửa hiệu đồ đắt tiền phục vụ, khách
ít tiền cũng có nơi thoải mái mua hàng Đi tham quan ở Bankok hay bất kì nơi nào trên Thái Lan cũng khá thư thái vì hiện tượng ăn cắp, cướp giật, rạch túi rất hạn hữu, cái chính là sợ đám du khách tứ phương chứ người Thái ít làm chuyện đó
Trang 29Lợi dụng thế mạnh là các cung điện, chùa chiền, Bangkok biết cách quảng bá
để du khách đến đây không ai cảm thấy tiếc tiền khi được chiêm ngưỡng những cung điện nguy nga, tráng lệ ở một đất nước mà chế độ quân chủ vẫn đang hiện hữu, được tôn sùng Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, các di tích được bảo vệ tốt, đội ngũ nhân viên du lịch có trình độ và thân thiện, cách thức tổ chức chuyên nghiệp là điểm mạnh của du lịch Bangkok nói riêng và du lịch Thái Lan nói chung (Linh Tâm, 10/02/2011)
1.5.4 Bài học đối với Thừa Thiên Huế
Từ thành công và kinh nghiệm của Hội An, Siem Reap và Bangkok, tác giả
đã rút ra một số bài học dành cho TTH trong việc thu hút du khách quốc tế đến TTH thông qua loại hình du lịch văn hóa Cụ thể là:
Thứ nhất, cần có sự phối hợp giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp
trong công tác phục hồi, bảo tồn các di sản văn hóa, thuần phong mỹ tục, tập quán
và xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa của địa phương Với nguồn ngân sách hạn hẹp thì việc huy động người dân cùng tham gia vào công tác trùng tu, bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử sẽ giúp chính quyền đỡ một phần gánh nặng, cũng như dành nguồn ngân quỹ cho các hoạt động khác có ích hơn Huy động được sự tham gia của nhân dân – cũng chính là người gìn giữ và phát huy văn hóa – sẽ thực sự giúp những phong tục, tập quán và nét đẹp văn hóa của Huế được phát huy hết mọi tinh hoa và ghi dấu trong lòng du khách Sự tham gia của doanh nghiệp sẽ hỗ trợ thêm các cơ sở vật chất, kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao trong hoạt động du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung
Thứ hai, cần có sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu
khách du lịch quốc tế Khách du lịch đến với du lịch văn hóa không chỉ để tham quan mà còn để nghỉ ngơi, tận hưởng các gói dịch vụ chất lượng cao TTH cần đầu
tư, cải thiện hệ thống đường xá, nhà hàng, khách sạn, khu mua sắm, dịch vụ công cộng và dịch vụ chất lượng cao
Thứ ba, công tác bảo tồn cần được chú trọng, điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng
để đưa ra các biện pháp tốt nhất, vừa đảm bảo gìn giữ các di sản văn hóa và vừa khai thác hiệu quả du lịch tối ưu Không nên vì cái lợi trước mắt, mà làm ảnh hưởng
Trang 30đến nguồn di sản lâu dài Phải có các kế hoạch rõ ràng, biện pháp cưỡng chế mạnh
mẽ đối với các hành động gây tổn hại đến di sản văn hóa
Thứ tư, phải đào tạo và có yêu cầu cụ thể đối với nguồn nhân lực phục vụ
cho hoạt động du lịch văn hóa nói riêng và hoạt động du lịch nói chung Con người
là người truyền tải văn hóa đến du khách, nên không thể để một bộ phận không am hiểu về văn hóa, di sản, cũng như không có đủ tay nghề phục vụ cho du khách, làm xấu đi hình ảnh của du lịch Huế và các giá trị văn hóa Huế
Thứ năm, thúc đẩy sự phát triển văn hóa và lòng hiếu khách của người dân
địa phương Chính quyền cần có các chính sách để người dân được tiếp cận, hưởng
thụ với những di sản văn hóa, những hiểu biết mà cha ông đã để lại Sẽ thật hữu ích nếu mọi người dân xứ Huế đều được tạo những ưu đãi lớn nhất khi tìm hiểu về văn hóa, di sản ở đây, và khi con người ta đã am hiểu, đã yêu thương và gắn kết với nó, thì người ta sẽ đem những luồng văn hóa ấy đi, giới thiệu với bạn bè trong nước và quốc tế Con người Huế, bản chất cũng đã có một lòng hiếu khách nồng nhiệt, nhưng chính quyền địa phương cũng nên cho người dân hiểu được tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, để khơi gợi lòng hiếu khách của người Huế một cách nồng nhiệt nhất
Thứ sáu, gắn kết chặt chẽ văn hóa vào sản phẩm du lịch Sản phẩm văn hóa
chính là cái tạo ra khác biệt giữa mỗi vùng miền trong du lịch văn hóa TTH cần có những biện pháp để đưa được những nét đặc trưng của văn hóa Huế vào mọi sản phẩm du lịch ở đây, như: các lễ hội, phong tục, hàng lưu niệm, ẩm thực, kiến trúc,…
Và cuối cùng là quảng bá hình ảnh, văn hóa Huế đến bạn bè trong nước và
thế giới Huế có một nguồn tài nguyên văn hóa và nhân văn phong phú, nhưng không phải ai cũng biết và hiểu rõ giá trị của chúng TTH cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giới thiệu các giá trị này, để không những làm du khách tò mò, muốn khám phá, mà sau khi du khách tham quan xong, sẽ nhận ra được những cái đẹp, giá trị của chúng, và để họ không phải hối tiếc vì đã đến Huế
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu về tổng quan du lịch văn hóa và sự cần thiết phải thu hút du khách quốc tế đến tỉnh TTH thông qua loại hình du lịch
Trang 31văn hóa Theo đó, tác giả tập trung nghiên cứu các khái niệm về du lịch văn hóa và
du khách quốc tế Bên cạnh đó tác giả còn nghiên cứu các điều kiện để thu hút khách quốc tế đến TTH thông qua du lịch văn hóa, bao gồm: nền văn hóa đặc trưng, con người, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, chính sách, sự quản lý của Nhà nước, chất lượng sản phẩm và tuyên truyền, quảng bá Đồng thời, qua chương này, chúng ta có thể nhận thấy được tiềm năng và lợi thế của TTH trong việc thu hút du khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa Cuối chương là những kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc thu hút du khách quốc tế thông qua du lịch văn hóa và bài học đối với TTH Những cơ sở này sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu và phân tích thực trạng thu hút du khách quốc tế đến TTH thông qua du lịch
Trang 32Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ CỦA LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA GIAI ĐOẠN 2004-2012
2.1 Tổng quan tình hình thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua du lịch văn hóa
2.1.1 Số lượt khách du lịch quốc tế
Bảng 2.1: Số lượng du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004 -
9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: lượt khách Năm Tổng lượt khách đến
Thừa Thiên Huế
do tốc độ của khách nội địa đến Huế tăng nhanh hơn Vì tình hình kinh tế Việt Nam
Trang 33vẫn khá lạc quan so với sự suy thoái của nền kinh tế thế giới Đến 09/2012, lượng khách quốc tế đến Huế chỉ mới chiếm 33,5%, vì những tháng cuối năm thường thu hút rất nhiều du khách quốc tế đến Huế để tận hưởng kì nghỉ đông, nghỉ Giáng sinh hay tham dự các liên hoan quốc tế
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng số lượng du khách quốc tế đến Thừa Thiên
Huế giai đoạn 2004 - 9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị:%
Nguồn: Tổng hợp báo cáo hoạt động hằng năm của Sở VHTT&DL tỉnh TTH
(2004 – 9 tháng đầu năm 2012)
Tốc độ tăng của khách quốc tế đến TTH không đều qua các năm Từ năm
2004 đến năm 2008, con số này luôn trên 18%, và đạt mốc lớn nhất là 52,89% vào năm 2007 Tuy nhiên, đến năm 2009 lượng khách quốc tế đến Huế giảm 23,98% so với năm 2008, và những năm sau đó thì tốc độ tăng của khách quốc tế chỉ còn khoảng 5-6% Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế kéo dài từ cuối năm 2008 đến nay, đại dịch cúm A/H1N1 trên thế giới vào năm 2009, khủng hoảng nợ công Châu Âu
2011 hay thảm họa động đất – sóng thần ở Nhật Bản 2011 chính là những rào cản của ngành du lịch thế giới nói chung và du lịch ở TTH nói riêng
Festival Huế, được tổ chức 2 năm một lần, là một trong những đối tượng chính của du lịch văn hóa và cũng là hoạt động thu hút nhiều khách quốc tế đến Huế nhất Sau đây là bảng thống kê số lượt khách quốc tế đến TTH để tham dự các kỳ Festival Huế từ năm 2004-2012
Trang 34Bảng 2.2: Số lượt khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế trong các kỳ Festival
Huế giai đoạn 2004 - 2012
Nguồn: Tổng hợp Báo cáo hoạt động các kỳ Festival Huế của Trung tâm
Festival Huế, từ năm 2004-2012
Từ năm 2004, mỗi kỳ Festival Huế chỉ kéo dài 9 ngày, nhưng lượng khách quốc tế đến tham dự chiếm một tỷ trọng rất lớn so với tổng lượng khách quốc tế cả năm và ngày càng tăng Đến kỳ Festival 2012 vừa rồi, lượng khách quốc tế đến tham dự là 90.793 người, tăng gấp 3 so với kỳ Festival trước (30.595 lượt khách) và
đã chiếm đến 13,11% lượng khách quốc tế đến TTH trong 9 tháng đầu năm 2012 Bên cạnh quy mô và sức hấp dẫn ngày càng lớn, một trong những nguyên nhân của
sự tăng số du khách tham dự Festival Huế là sự thay đổi thời gian tổ chức Festival Huế Trước năm 2012, các kỳ Festival Huế thường được tổ chức vào đầu tháng 6 – vào mùa này ở TTH thường xảy ra các cơn mưa dông, kèm theo thời tiết nóng bức, khó chịu Năm 2012, Festival Huế được tổ chức vào đầu tháng 4, khi này thời tiết khá mát mẻ nên thu hút được nhiều du khách đến tham dự, đặc biệt là các hoạt động ngoài trời
Qua đây, có thể thấy được vai trò quan trọng trong việc thu hút khách quốc
tế đến TTH của Festival Huế nói riêng và du lịch văn hóa nói chung
Một đối tượng nữa của du lịch văn hóa ở TTH chính là quần thể di tích Cố
đô Huế Với thế mạnh là một di sản văn hóa thế giới, quần thể di tích Cố đô Huế là một trong những điểm đến yêu thích của du khách quốc tế khi đến Việt Nam.
1
Lượng khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế trong 9 tháng đầu năm 2012
Trang 35Bảng 2.3: Lượng vé tham quan quần thể di tích Cố đô Huế đã bán cho du
khách quốc tế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: vé Năm Tổng số vé bán Vé bán cho khách quốc tế Tỷ trọng (%)
Nguồn: Báo cáo doanh thu vé tham quan quần thể di tích Cố đô giai đoạn
1996-2010 và 2011-9/2012 của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Theo TS Phan Thanh Hải, “mỗi năm có 1,8-1,9 triệu lượt khách đến tất cả các điểm ở quần thể di tích Huế – tuy nhiên con số này là chưa chính xác, vì có thể một khách đi đến 2-3 điểm tham quan, nhưng có khách chỉ đi đến 1 điểm” Tuy nhiên, nhìn vào tỷ trọng của lượng vé bán cho khách quốc tế so với tổng lượng vé bán ra trong những năm gần đây (43-50%), và so sánh với tỷ trọng khách quốc tế đến Huế (35-42%), rõ ràng quần thể di tích Cố đô Huế đã thu hút rất nhiều mối quan tâm của khách quốc tế khi đến du lịch tại Huế
2.1.2 Cơ cấu khách quốc tế
“Thị trường truyền thống của Huế là Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Úc và những năm gần đây là khách từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan Trong số này, chi tiêu cao nhất là khách Tây Âu, Bắc Âu, nên mục tiêu của tỉnh vẫn là tập trung khai thác thị trường truyền thống này Trong những năm gần đây, thì lượng khách Thái Lan tăng nhanh nhất - thông qua con đường xuyên Á, thì từ Thái Lan chạy qua đây chỉ mất 4 giờ đồng hồ thôi So với các lượng khách khác tăng từ 9-10% thì lượng khách Thái Lan tăng đến 25% Lượng khách thứ ba tăng nhanh nữa là lượng khách Trung Quốc
Trang 36và một số nước Đông Nam Á, họ đến đây thông qua đường biển và đường hàng không Đặc biệt lượng khách đến bằng tàu biển tăng khá nhanh, riêng năm 2012, thì
lượng khách này tăng gấp 4 lần so với năm 2011” (TS Phan Tiến Dũng, 2012) Bảng 2.4: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng
đầu năm 2012
Đơn vị: % Quốc
tịch
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 9
tháng
2012 Anh 7,03 6,94 6,11 4,75 3,67 6,90 6,50 6,67 6,19 Đức 7,49 8,26 8,50 7,41 7,58 8,70 7,70 7,04 6,76
Mỹ 7,00 6,83 5,84 5,46 6,17 8,50 7,20 6,80 6,22 Nhật 7,03 5,60 4,90 3,36 3,36 4,90 4,40 4,16 4,87 Pháp 19,06 19,56 17,29 16,05 15,50 17,60 16,70 15,64 15,04 Thái
Lan
1,04 4,68 13,01 24,79 20,10 14,80 18,60 18,74 15,52
Úc 9,51 9,57 1,73 8,4 4,38 9,30 9,60 9,84 8,97 Khác 41,84 38,56 42,62 29,78 39,24 37,80 29,30 31,11 36,43
Nguồn: Thống kê lượng khách quốc tế đến TTH của Sở VHTT&DL tỉnh TTH (
2004-9 tháng đầu năm 2012)
Qua bảng số liệu trên, lượng khách Pháp luôn giữ mức ổn định trên 15% - đây cũng là vị khách chính từ trước đến nay của Huế Lượng khách Anh, Đức, Mỹ thì luôn duy trì ở mức 6-8%, khách Úc thì chiếm khoảng 9% lượng khách quốc tế đến Huế Và đặc biệt, lượng khách Thái Lan, từ 1,04% vào năm 2004 thì đến nay đã chiếm đến 15-25% lượng khách quốc tế đến Huế Giờ đây, khách Thái Lan đã trở thành một trong những lượng khách đông đảo đến du lịch tại TTH
2.1.3 Thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế
Theo TS Phan Tiến Dũng, “Về hành trình, thường thì khách du lịch đến Việt Nam có một chuyến đi dài 7 ngày, và người ta sẽ dành cho Hà Nội – Hạ Long 2-3 ngày, Huế- Đà Nẵng 2-3 ngày và Thành phố Hồ Chí Minh 2 ngày Ở Huế, đối với
Trang 37khách đi lần đầu, người ta sẽ ngày khoảng 2 ngày, nhưng nếu lần thứ hai, thì thường người ta sẽ dành thời gian nhiều hơn ở Đà Nẵng”
Biểu đồ 2.2: Thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế đến Thừa Thiên
Huế giai đoạn 2004- 9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: ngày
Nguồn: Tác giả tự tính từ Báo cáo số ngày lưu trú của khách quốc tế đến TTH của
Sở VHTT&DL tỉnh TTH, (2004-9 tháng đầu năm 2012)
Cũng như số liệu về lượng khách quốc tế đến TTH giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012, thì thời gian lưu trú của khách quốc tế đến Huế cũng tăng đều từ 2004-2008, và đạt mức cực đại ở năm 2008 (2,14), sau đó lại sụt giảm khá nghiêm trọng vào năm 2009 (6%), phục hồi dần dần ở những năm sau đó Tuy nhiên, đến bây giờ con số này vẫn không thể chạm mốc ở năm 2008 Nguyên nhân không chỉ
vì tình hình kinh tế - xã hội thế giới, mà còn do những nguyên nhân chủ quan từ các dịch vụ, sản phẩm du lịch ở Huế Một hiện tượng rất phổ biến hiện nay là du khách đến tham quan ở Huế nhưng lại quay vào Đà Nẵng để nghỉ ngơi, giải trí Điều này
là do chất lượng sản phẩm, dịch vụ giải trí của Huế vẫn còn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu khách quốc tế
2.1.4 Doanh thu
Sự phát triển của du lịch đã kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề liên quan Chính vì vậy hoạt động du lịch không chỉ mang lại nguồn thu trực tiếp cho ngành du lịch mà còn mang lại nguồn doanh thu rất lớn cho xã hội thông qua các
Trang 38hoạt động khác như ngân hàng, giao thông vận tải, hàng thủ công mỹ nghệ, dịch vụ bưu chính, thương mại, hàng tiêu dùng…
Bảng 2.5: Doanh thu từ hoạt động du lịch và doanh thu xã hội từ hoạt động du
lịch ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: tỷ đồng Năm Doanh thu
du lịch
Tỷ lệ doanh thu quốc tế (%)
Doanh thu xã hội từ du lịch
2
Tổng doanh thu bán vé tham quan ở tất cả các điểm trong quần thể di tích Cố đô Huế
Trang 39Với nguồn thu lớn từ hoạt động du lịch, cơ cấu kinh tế của Huế đã có sự thay đổi rõ rệt Cách đây 10 năm thì cơ cấu đóng góp của du lịch vào GDP của tỉnh TTH
là 34-35%, nhưng đến năm 2011, ngành du lịch đã đóp đóng 43% GDP toàn tỉnh, và
dự kiến cuối năm 2012, con số này sẽ là 45% TTH đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp sang dịch vụ; đến bây giờ dịch vụ du lịch đã lên hàng đầu
Như vậy hoạt động du lịch văn hóa ở TTH đã có những đóng góp khá lớn trong việc thu hút khách quốc tế đến đây, thể hiện thông qua các tiêu chí có thể nhận thấy rõ như lượng khách quốc tế đến tham quan quần thể di tích Cố đô, tham
dự Festival Huế, doanh thu du lịch từ quốc tế,…
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa
2.2.1 Sản phẩm du lịch văn hóa ở Huế
Các di sản văn hóa Huế vừa hội tụ những đặc trưng, những tinh hoa của văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những nét riêng có của một vùng văn hóa truyền thống; được đánh giá là “đỉnh cao của sức sáng tạo Việt Nam” Không những mang ý nghĩa về mặt lịch sử văn hóa, mà nhiều di tích ở Huế còn là những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật vô giá, có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà nghiên cứu; du khách tham quan trong và ngoài nước
Huế cũng là nơi duy nhất ở nước ta hiện còn lưu giữ được những di sản văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, độc đáo như các loại hình nghệ thuật, âm nhạc,
ca múa cung đình Huế; ẩm thực, các hoạt động lễ hội và hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, phong tục tập quán đặc sắc mà trong mỗi loại hình đều có sự gắn
bó, hòa nhập giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian
Tất cả yếu tố đó là nguồn tài nguyên du lịch vô giá, tạo nên những sản phẩm
du lịch văn hóa độc đáo - thế mạnh không chỉ của riêng Thừa Thiên Huế mà còn có
ý nghĩa đối với sự phát triển của Du lịch Việt Nam Du lịch văn hóa ở TTH gồm các đối tượng chính là: 2 di sản văn hóa thế giới – quần thể di tích Cố đô và Nhã nhạc cung đình Huế, Festival Huế và Festival làng nghề, những lễ hội dân gian ở Huế, nhà vườn Huế và ẩm thực Huế Mỗi loại hình lại tạo ra cho mình những sản phẩm
du lịch riêng, để đáp ứng nhu cầu của du khách trong nước và quốc tế
Trang 40Quần thể di tích Cố đô Huế
Được coi là quần thể di sản có cấu trúc toàn diện nhất trong tất cả những di sản thiên nhiên và di sản văn hóa khác nhau của Việt Nam được công nhận bởi UNESCO, phức hợp các công trình kiến trúc Cố đô Huế là một ví dụ tiêu biểu cho một thủ phủ phong kiến phương Đông về cả việc quy hoạch cũng như xây dựng Trong đó, mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, tinh tế, chuyển tải một nền văn hóa minh triết, uyên thâm với những giá trị thẩm mỹ riêng biệt Quần thể di tích Cố đô hiện còn 18 cụm di tích còn nguyên vẹn, với tổng số
1500 công trình, bao gồm kinh thành Huế, khu lăng mộ Hoàng gia và các di tích khác ngoài kinh thành, tuy nhiên số công trình bị hư hỏng chiếm tới 2/3 Vẻ đẹp kiến trúc, sự kết hợp hài hòa với phong thủy, thiên nhiên, đã tạo ra sức cuốn hút đặc biệt đối với du khách khi đến tham quan quần thể di tích Cố đô Huế
Bên cạnh những di tích sẵn có, TTH cũng đã phát triển, khai thác thêm các dịch vụ mới như là sản phẩm bổ sung cho hoạt động tham quan của du khách Một
số dịch vụ đã được triển khai như dịch vụ xe điện, voi, thuyền cung đình, bán hàng lưu niệm, băng đĩa, tranh ảnh, giải khát, cho thuê trang phục chụp ảnh ở nội thất cung điện, ngai vua… Các dịch vụ trên đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của du khách và tạo thêm nguồn thu cho cơ quan quản lý, đồng thời xem đây là một nguồn thu quan trọng để bổ trợ cho nguồn vốn trùng tu di tích và cải thiện đời sống cán bộ, công nhân viên chức và người lao động Theo thống kê của TTBTDTCĐ Huế - đơn
vị chủ quản các hoạt động dịch vụ ở đây – trong 15 năm qua, nếu tổng doanh thu từ nguồn bán vé đạt đến 612,11 tỷ đồng, thì doanh thu từ dịch vụ chỉ đạt 32,38 tỷ đồng (trước năm 2003 chưa có doanh thu về dịch vụ), tức là doanh thu dịch vụ chỉ đạt 5,28% so với nguồn thu vé tham quan Đây là một tỷ lệ rất thấp so với tiềm năng, lợi thế của khu di sản văn hóa Cố đô Huế (TS Phan Thanh Hải, 2011)
Nhã nhạc cung đình Huế và ca Huế
Nhã nhạc cung đình “một kiệt tác phi vật thể truyền khẩu đại diện của nhân loại” được UNESCO công nhận Nhã nhạc có âm điệu tao nhã quý tộc vì dựa trên thang ngũ âm Giá trị của Nhã nhạc bao gồm sự trình diễn thực tế, sự đa dạng của các loại nhạc cụ với một số lượng lớn các nhạc công phải tập trung cao độ khi biểu diễn để theo được mạch tất cả giai đoạn lễ nghi kéo dài Nhã nhạc được trình diễn