1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi

37 644 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu Á: Một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi”
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Tài chính, Kinh tế quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, tác giả đã cố gắng cung cấp các thông tin của quốc gia mà có thể sẽ hữu ích khi đánh giá điểm mạnh điểm yếu của các chế độ TGHĐ khác nhau đã được sử dụng như một phương pháp đối

Trang 1

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 1

Môn : Tài chính quốc tế

GVBM : TS Nguyễn Thị Liên Hoa

Lớp : Ngân hàng Đêm 3 – K21

DANH SÁCH NHÓM 5

01 Diệp Tuyết Phương 06/08/1988

02 Nguyễn Thị Viên Phương 02/10/1988

03 Trần Lê Anh Quang 25/02/1988

04 Nguyễn Hoàng Ái Quyên 26/08/1988

05 Đinh Thị Thúy Thảo 12/07/1988

06 Thân Huỳnh Kim Thủy 11/03/1988

07 Trần Trịnh Mỹ Tiên 24/11/1989

08 Lê Thị Việt Trang 01/01/1988

09 Nguyễn Thị Kim Tuyền 13/01/1988

10 Nguyễn Lê Diễm Phương 18/10/1987

Trang 2

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 2

 Mục lục 

Trang

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 03

1.1 Tên của bài nghiên cứu 03

1.2 Lý do nghiên cứu 03

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 03

1.4 Phạm vi nghiên cứu 03

II CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 04

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 04

3.1 Một số khái niệm, định nghĩa 04

3.2 Quy mô mẫu 07

3.3 Cách chọn mẫu 07

3.4 Nghiên cứu định tính 08

3.4.1 Khái niệm chi phí điều chỉnh 08

3.4.2 Một số yếu tố ước lượng chi phí điều chỉnh 08

3.5 Nghiên cứu định lượng 16

3.5.1 Mức độ biến động đột ngột của tỷ giá hối đoái 16

3.5.2 Rủi ro quốc gia 20

3.5.3 Mức độ thắt chặt của chính sách tiền tệ 27

3.5.4 Sự mất mác sản lượng và tiến trình phục hồi 33

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

V NHẬN XÉT CỦA NHÓM 36

Trang 3

Tiểu luận

SỰ LỰA CHỌN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THẢ NỔI, KIỂM SOÁT VỐN VÀ CHUẨN TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA CHÂU Á

MỘT GÓC NHÌN TỪ “BỘ BA BẤT KHẢ THI”

Trang 4

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 3

SỰ LỰA CHỌN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THẢ NỔI, KIỂM SOÁT

VỐN VÀ CHUẨN TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA CHÂU Á:

MỘT GÓC NHÌN TỪ “BỘ BA BẤT KHẢ THI”

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1 Tên của bài nghiên cứu: Sự lựa chọn tỷ giá hối đoái (TGHĐ) thả nổi, kiểm soát

vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia Châu Á: Một góc nhìn từ “Bộ ba bất khả thi”

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Bài viết tập trung vào giải thích về tiến trình phục hồi và mối quan hệ giữa tiến trình phục hồi và chế độ tiền tệ được áp dụng ở các quốc gia châu Á và một số quốc gia châu Mỹ Latinh ngay khi xảy ra khủng hoảng Do thời gian quan sát dữ liệu ngắn nên thật khó để có thể giải thích một cách toàn diện về mối quan hệ giữa tiến trình phục hồi và chế độ tiền tệ được áp dụng Tuy vậy, tác giả đã cố gắng cung cấp các thông tin của quốc gia mà có thể

sẽ hữu ích khi đánh giá điểm mạnh điểm yếu của các chế độ TGHĐ khác nhau đã được sử dụng như một phương pháp đối phó với khủng hoảng tiền tệ lúc bấy giờ ở các nước

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Bài viết tập trung vào nghiên cứu các trường hợp của các nền kinh tế châu Á, nơi trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và một số nước Mỹ Latinh để so sánh

Trang 5

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 4

II Các cuộc nghiên cứu trước đây về “Bộ ba bất khả thi”

- Feffrey Frankel (1999) cũng đã đặt vấn đề về tính liên quan của “Bộ ba bất khả thi” cho rằng ngay cả khi tự do hóa hoàn toàn tài khoản vốn, không có gì ngăn cản một quốc gia chọn một giải pháp trung hòa giữa sự thả nổi và liên minh tiền tệ

- Vijay Joshi có cuộc nghiên cứu về Ấn Độ và bộ ba bất khả thi và cho rằng Ấn Độ nên tự do hóa dòng vốn một cách đáng kể , đồng thời nên tiến tới tỷ giá thả nổi có quản lý vào thời điểm thích hợp để tránh nguy cơ khủng hoảng kinh tế vĩ mô

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Một số khái niệm, định nghĩa

- TGHĐ danh nghĩa: theo IFS (International Financial Statistics 2000) TGHĐ danh

nghĩa là tỷ giá trung bình kỳ hạn của tỷ giá thị trường hoặc tỷ giá chính thức do NHTW quy định

- TGHĐ thực (trong bài nghiên cứu): TGHĐ được xuất phát từ tỷ giá hối đoái danh

nghĩa, hiệu chỉnh bởi sự thay đổi trong giá tiêu dùng giữa giá trong nước và USA

- Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh tế, về

chính sách quản lý ngoại hối, ngoại thương của một quốc gia, khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng, nhà nhập khẩu không nhận được hàng hoá Rủi ro quốc gia (trong bài nghiên cứu) đề cập đến nguy cơ đầu tư vào một quốc gia, phụ thuộc vào những thay đổi trong môi trường kinh doanh bất lợi có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận điều hành hoặc giá trị tài sản trong một quốc gia cụ thể Ví dụ, các yếu tố tài chính như kiểm soát tiền

tệ, giảm giá hoặc thay đổi quy định, hoặc các yếu tố ổn định như hàng loạt cuộc bạo loạn, nội chiến và sự kiện tiềm năng khác đóng góp vào rủi ro hoạt động của công ty Thuật ngữ này đôi khi cũng được gọi là rủi ro chính trị Tuy nhiên, rủi ro quốc gia là một thuật ngữ tổng quát hơn mà thường chỉ đề cập đến các rủi ro ảnh hưởng đến tất cả các công ty hoạt động trong phạm vi một quốc gia cụ thể

Trang 6

- Hệ thống dãi băng tỷ giá: là một trong những sắp xếp TGHĐ cố định nổi tiếng

được Công Đồng Kinh Tế Châu Âu (ECC) lập tháng 4 năm 1972, khi các nước thành viên cộng đồng ấn định rằng các đồng tiền của họ sẽ được duy trì trong vòng các giới hạn được

thiết lập đối với nhau Sắp sếp này được gọi là dãi băng tỷ giá

- Hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ: Hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ còn được gọi là neo

tỷ giá có điều chỉnh hay là các ngang giá trượt

- Hệ thống thả nổi có quản lý: Nó giống hệ thống thả nổi tự do ở điểm các tỷ giá được cho phép dao động hàng ngày và không có các biên độ chính thức Nó giống hệ thống

cố định ở điểm các Chính phủ có thể và đôi khi đã can thiệp để tránh đồng tiền nước họ

không đi quá xa theo một hướng nào đó

- Chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ: là 1 hệ thống bao gồm các quy định pháp lý dưới dạng

luật nghiêm cấm không cho phép Chính phủ phát hành các khoản nợ – tiền có quyền lực cao, nếu như việc phát hành này không được đảm bảo hỗ trợ 100% bằng một lượng dự trữ quốc tế tương đương Trong chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ, Chính phủ hoặc Ngân hàng trung ương ấn định một tỷ giá cố định giữa đồng nội tệ và ngoại tệ, thường là một đồng tiền mạnh

và sẵn sàng chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ vào bất cứ lúc nào khi công chúng yêu cầu

- Thuế Tobin: Thuế đánh vào các dịch vụ tài chính – ngân hàng

 Tobin thuế là thuế đề xuất trên tất cả các thương mại của các loại tiền tệ qua biên giới Đặt theo tên của nhà kinh tế James Tobin, thuế là nhằm đặt một hình phạt

về đầu cơ ngắn hạn bằng ngoại tệ Mức thuế suất ban đầu ông đã đề xuất được 1%, sau đó đã được hạ xuống giữa 0,1% và 0,25%

Trang 7

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 6

 Ngày 15 tháng 8, 1971, Richard Nixon đã thông báo rằng đồng Đôla Mỹ sẽ không còn chuyển sang vàng, có hiệu quả kết thúc của hệ thống Bretton Woods Tobin đề xuất một hệ thống mới cho sự ổn định tiền tệ quốc tế, và đề xuất rằng

đó là một hệ thống bao gồm một khoản phí quốc tế về giao dịch ngoại hối

 Ý tưởng nằm im trong hơn 20 năm và đã được hồi sinh bởi sự ra đời của Đông Nam khủng hoảng kinh tế Châu Á ở cuối thập niên 1990 Năm 1997, Ignacio Ramonet, biên tập viên của Le Monde Diplomatique, gia hạn các cuộc tranh luận quanh thuế Tobin với một biên tập có tiêu đề “giải pháp các thị trường Ramonet

đề xuất tạo ra một hiệp hội để giới thiệu về thuế này, được đặt tên làATTAC (Hiệp hội cho Thuế giao dịch tài chính cho viện trợ của các công dân).Thuế sau

đó đã trở thành một vấn đề của phong trào công lý toàn cầu hoặc thay đổi, phong trào toàn cầu hóa và các vấn đề một cuộc thảo luận không chỉ ở các tổ chức học tập, nhưng ngay cả trong các đường phố và trong nghị viện ở Anh, Pháp, và trên thế giới

- Mô hình giá cứng trong ngắn hạn của Dornbusch:

 Giả sử ngân hàng trung ương nước ngoài thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Lãi suất nước ngoài vì thế trở nên cao hơn lãi suất trong nước Khi các nhà đầu

tư quan sát thấy kết quả này, họ liền dự tính rằng đồng tiền trong nước lên giá, liền bán ngoại tệ và mua tiền trong nước vào Hậu quả là TGHĐ định danh bằng ngoại tệ tăng vọt quá mức cân bằng dài hạn.Về lâu dài TGHĐ mới giảm xuống điểm cân bằng dài hạn

 Mô hình này chỉ ra rằng một phản ứng ngắn hạn trên thị trường ngoại hối có thể biến thành một phản ứng dài hạn như thế nào, và sự kinh doanh chênh lệch tỷ giá trên thị trường tài chính là nhân tố chính để xác định tỷ giá Đồng thời, nó còn giúp người ta hiểu được tại sao TGHĐ lại biến động mạnh hằng ngày

 Mô hình này dựa trên một số giả thuyết quan trọng của trường phái kinh tế học Keynes, đó là những thay đổi về tiền tệ không ảnh hưởng đến khu vực tài sản

Trang 8

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 7

thực trong dài hạn và gía cả cứng nhắc trong ngắn hạn Mô hình giả thiết rằng ban đầu, nhà đầu tư không hề dự tính đến việc tăng tỷ giá Giá cả là cứng nhắc trong ngắn hạn và chỉ điều chỉnh chậm chạp hướng về điểm cân bằng dài hạn khi thị trường có một cú sốc tiền tệ, sự chu chuyển vốn là hoàn hảo

3.2 Quy mô mẫu

Năm nền kinh tế Châu Á được sử dụng làm mẫu quan sát là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Hồng Kông

Cùng với sự tham khảo và đối chiếu từ bốn nền kinh tế Mỹ Latinh là Mexico, Chile, Argentina và Brazil

3.3 Cách chọn mẫu:

Để mẫu được chọn có hiệu quả trong việc so sánh các cách thức áp dụng TGHĐ khác nhau trong khủng hoảng, tác giả đã chọn mẫu đại diện cho ba chế độ TGHĐ khác nhau bao gồm chế độ tỷ giá thả nổi, chuẩn tiền tệ và chế độ kiểm soát vốn, cụ thể được trình bày trong Bảng 1

BẢNG 1 CÁC CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI SỬ DỤNG TRONG THỜI GIAN KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ Chế độ tỷ giá Đông Á Mỹ Latinh

Tỷ giá thả nổi Indonesia (Rupiah, 8.1997)

Hàn Quốc (Won, 11.1997) Thái Lan (Baht, 7.1997)

Brazil (Real, 12.1994) Mexico (Peso, 12.1994)

Chuẩn tiền tệ Hồng Kông (Đôla, 10.1997) Argentina (Peso, 12.1994)

Kiểm soát vốn Malaysia (Ringgit, 8.1997) Chile (Peso)

Đối với các nước Châu Á: Mẫu thời gian được chọn là 3 năm, bắt đầu từ đầu năm 1997

và kéo dài đến năm 1999 Lý do chọn mốc thời gian trên bởi vì cuộc khủng hoảng Châu Á

Trang 9

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 8

bắt đầu vào tháng 7/1997, khi Thái Lan yêu cầu sự giúp đỡ của IMF Từ Thái Lan, cuộc khủng hoảng lan sang Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Hồng Kông

Đối với các nước Mỹ Latinh: Mẫu thời gian được chọn là 3 năm, bắt đầu từ đầu năm

1994 và kéo dài đến năm 1996 Nhằm mục đích để so sánh với các nước Châu Á trong khủng hoảng, mẫu được xem xét trong khoảng thời gian trên vì khủng hoảng kinh tế Mexico năm 1994 (còn được gọi bằng tên khác là khủng hoảng Peso Mexico, là một cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát bằng sự mất giá nhanh chóng của Peso Mexico vào tháng

12 năm 1994 và sau đó lan ra các nền kinh tế của các nước khác Cuộc khủng hoảng này không chỉ làm cho kinh tế Mexico chao đảo, mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế các nước Mỹ Latinh khác Ảnh hưởng ra nước ngoài của nó được gọi là hiệu ứng Tequila

3.4 Nghiên cứu định tính:

3.4.1 Khái niệm chi phí điều chỉnh:

Trong phạm vi bài viết, thuật ngữ “chi phí điều chỉnh” được xem xét như là những mất mát gây ra bởi cuộc khủng hoảng và những chi phí mà nền kinh tế phải gánh chịu trong quá trình đưa ra và thực hiện các chính sách nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng

3.4.2 Một số yếu tố ước lượng chi phí điều chỉnh

Từ những nền kinh tế được xem xét trong mẫu được chọn, việc ước lượng những chi phí cho việc điều chỉnh ứng với mỗi chế độ TGHĐ dựa trên bốn tiêu chuẩn:

+ Tiêu chuẩn thứ nhất là mức độ tăng vọt của TGHĐ danh nghĩa và TGHĐ thực + Tiêu chuẩn thứ hai là những thay đổi trong rủi ro quốc gia, được đo lường bởi phần

bù rủi ro có được do quan sát độ lệch trong điều kiện ngang giá lãi suất một cách chắc chắn

+ Tiêu chuẩn thứ ba là điểm mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ mà cần phải có trong thời kỳ khủng hoảng Chi phí này luôn xảy ra dưới bất kỳ chế độ nào

+ Tiêu chuẩn thứ tư là mức độ khốc liệt cũng như quãng thời gian của quá trình khôi phục sau khủng hoảng tiền tệ

Trang 11

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 10

Điều này thể hiện sự cân bằng danh mục đầu tư sẽ được xem xét khi sử dụng TGHĐ danh nghĩa e, và sự cân bằng tài khoản vãng lai sẽ được xem xét khi sử dụng TGHĐ thực

tế, bởi vì tài khoản vãng lai được xem là phản ứng với TGHĐ thực tế

Trong hình 1, phương trình (1) và (3) được biểu thị bằng đường CC và PP Đường CC biểu thị các kết hợp của e và Z nhằm giữ tài khoản vãng lai của Indonesia cân bằng, hoặc duy trì giá trị tài sản của Indonesia được nắm giữ bởi phần còn lại của thế giới là không đổi Đây thực chất là một mối quan hệ ổn định, và giá trị của Z tăng lên phí bên trái đường CC

và giảm đi phía bên phải đường CC Đường PP biểu thị các kết hợp của e và Z nhằm duy trì

sự cân bằng trong danh mục đầu tư của phần còn lại thế giới Về bản chất, đây là một quan

hệ không ổn định, và e tăng lên phía trên đường PP, giảm đi phía dưới đường PP Việc kết hợp của hai sự cân bằng trên đã tạo ra điểm A, điểm giao nhau của CC và PP – một dạng điểm cân bằng quen thuộc trong kinh tế học Khi có các thay đổi trong các biến ngoại sinh, TGHĐ e dao động xung quanh điểm cân bằng và cán cân thanh toán được điều chỉnh từng bước tới trạng thái cân bằng mới

HÌNH 1 Phương pháp danh mục đầu tư tiếp cận TGHĐ Trước khủng hoảng, tương lai của nền kinh tế Indonesia được kỳ vọng là tốt đẹp Vì vậy, phần còn lại của thế giới cũng chấp nhận nắm giữ một lượng lớn nợ của Indonesia Đường cân bằng danh mục đầu tư PP đã được đặt ở phía bên phải của hình Trạng thái cân bằng là điểm A, tại đó nợ của Indonesia lớn và giá trị của đồng Rupiah là cao Sau đó, nhu cầu nắm giữ tài sản của định danh bằng đồng Rupiah giảm mạnh đột ngột, và trạng thái cân

Trang 12

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 11

bằng mới chuyển đến điểm B Vì chỉ có Z thay đổi chậm và e thay đổi nhanh, hướng đi của các biến được thể hiện trong quỹ đạo từ A sang B’ đến B Như đồ thị (2A và 2B) đã thể hiện, một tình huống tương tự đã xảy ra tại nhiều quốc gia, bao gồm cả Thái Lan và Hàn Quốc

Hình 2A Mỹ Latinh Hình 2A và 2B cho thấy những thay đổi trong TGHĐ sau sự biến động của nhu cầu tiền

và sự điều chỉnh chậm chạp của tài khoản vãng lai Hầu hết các quốc gia đang xét (ngoại trừ Brazil và Chile) đã cho tác giả thấy sự nhảy vọt của TGHĐ và sự đảo chiều tài khoản vãng lai từ thâm hụt đến thặng dư Lý do dẫn đến sự biến động trên là khi mà những người tham gia thị trường bất ngờ nhận ra rằng họ đã quá lạc quan về thu nhập của một quốc gia ở tương lai, đường CC (thể hiện bởi phương trình 1) dịch chuyển sang bên trái vì người ta không nghĩ là mình sẽ nhận được một mức lợi tức trong lương tai từ việc đầu tư của họ Hơn nữa, đường PP (thể hiện bởi phương trình 3) di chuyển xuống nhiều hơn, cho thấy sự sụt giảm nhanh chóng của TGHĐ

Trang 13

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 12

Hình 2A (tiếp theo)

Trang 14

sẽ làm tăng tính biến động của TGHĐ hơn là giảm chúng Mặc khác, nếu việc kiểm soát dòng vốn ra được áp dụng, điển hình như ở Malaysia, làm cho đường PP di chuyển sang phải và tại điểm cân bằng mới TGHĐ sẽ bước đầu tăng lên Tỷ giá tăng lên này liệu có được bù đắp bởi sự miễn cưỡng đầu tư của các nhà đầu tư tương lai hay không?

Trang 15

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 14

HÌNH 2B Đông Á Trong trường hợp kiểm soát dòng vốn vào của Chile, điều này gây ra sự hạn chế trong việc duy trì dòng vốn vào Hơn nữa, việc kiểm soát vốn có khuynh hướng làm giảm giá đồng nội tệ

TGHĐ cố định, bao gồm cả chế độ chuẩn tiền tệ, làm cho TGHĐ trở thành biến chính sách Đường CC và đường PP sẽ được cố định tại tỷ giá mà các nhà điều hành quyết định

Trang 16

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 15

Cho nên, tổn thất chính của một quốc gia sử dụng chuẩn tiền tệ chính là mức lãi suất cao xuất phát từ các cuộc tấn công tiền tệ Một cuộc tấn công hoàn toàn có khả năng xảy ra miễn là khả năng duy trì TGHĐ cố định của chính phủ không được tin tưởng một cách tuyệt đối Các cuộc tấn công tiền tệ này sẽ hút cạn ngoại tệ dự trữ từ hệ thống ngân hàng trung ương một cách nhanh chóng đủ để làm cho lãi suất đồng nội tệ trở nên cực kì cao Do

đó, chi phí của việc cố định TGHĐ bằng chế độ chuẩn tiền tệ chính là gánh nặng lãi suất cao cho quốc gia

Hình 2B (tiếp theo)

Vì vậy, sự khác nhau trong cơ chế điều chỉnh phụ thuộc vào mỗi chế độ TGHĐ Chi phí điều chỉnh cho mỗi quốc gia khác nhau trong các cuộc khủng hoảng là khác nhau Nói một cách khác, chi phí điều chỉnh đối với công ăn việc làm, ổn định giá cả và phân phối thu nhập được ẩn bên dưới hai phương trình (1) và (2) Một khi đã xảy ra biến động trong nhu cầu tài sản đầu tư, một số chi phí điều chỉnh thường là không thể tránh khỏi Tác giả cần phải có một cách nhìn bao quát đối với mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí trong mỗi cơ chế điều chỉnh khác nhau Vì vậy, việc xem xét và so sánh những lựa chọn khả thi, ví dụ như hệ thống chuẩn tiền tệ, TGHĐ thả nổi hay kiểm soát vốn của các nước Chile hay Malaysia, sự

Trang 17

3.5 Nghiên cứu định lượng

3.5.1 Mức độ biến động đột ngột của TGHĐ

TGHĐ danh nghĩa: TGHĐ danh nghĩa là một yếu tố quyết định của phương trình cân

bằng danh mục đầu tư 1 theo hướng tiếp cận danh mục đầu tư của tác giả

Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, cả hai loại tỷ giá đều có sự biến động dữ dội Điều này được biểu thị trong quỹ đạo đầy biến động của TGHĐ đi theo sau sự dịch chuyển

xuống của đường PP trong hình 1 Về lý thuyết, sự biến động này sẽ mạnh mẽ hơn dưới chế

độ TGHĐ thả nổi, vì thế sẽ hơi vô lý khi so sánh mức độ biến động TGHĐ trong hệ thống

tỷ giá thả nổi với mức độ biến động TGHĐ trong các chế độ khác Tuy nhiên chúng tôi vẫn xem xét sự biến động của cả TGHĐ danh nghĩa và thực hiện dưới chế độ TGHĐ thả nổi để

đo lường những chấn động đầu tiên

1

Phương trình cân bằng danh mục đầu tư: mô hình này dựa trên một số giả thuyết quan trọng của trường phái kinh tế học Keynes, đó là những thay đổi tiền tệ không ảnh hưởng đến khu vực tài sản thực trong dài hạn và giá cả cứng nhắc trong ngắn hạn Theo mô hình này, tồn tại một sự tương quan lãi suất giữa lãi suất trong nước và quốc tế:

i = i* + E t (e t+1 – e t )

Trong đó: i - lãi suất trong nước

i* - lãi suất nước ngoài

e – logarit của tỷ giá (nội tệ/ ngoại tệ)

E t – kỳ vong của thị trường vào thời điểm t

Mô hình này chỉ ra rằng một phản ứng ngắn hạn trên thị trường ngoại hối có thể biến thành một phản ứng dài hạn như thế nào, và kinh doanh chênh lệch tỷ giá trên thị trường tài chính là nhân tố xác định tỷ giá Đồng thời, nó còn giải thích tại sao tỷ giá hối đoái lại biến động mạnh từng ngày.

Trang 18

Nhóm 5 – NH Đêm 3 Trang 17

Để tiêu chuẩn hóa TGHĐ hàng tháng, chúng tôi chia TGHĐ ra thành từng cấp độ với

TGHĐ gốc là vào tháng 01/1994 ở Mỹ Latinh (hình 3 và hình 5), và vào tháng 01/1997 ở Đông Á (hình 4 và 6)

Hình 3 cho thấy TGHĐ danh nghĩa đồng Real của Brazil giảm sút nhanh chóng như thế nào trước khi khủng hoảng Mexico xảy ra – hơn 6 lần trong vòng 6 tháng Tuy nhiên, vào thời điểm khủng hoảng Mexico thực sự xảy ra, đồng Real lại không tiếp tục giảm giá nhanh như trước nữa Mặc dù sự sụt giảm giá trị của đồng Peso Mexico được xem là ít nghiêm trọng hơn so với đồng Real, nhưng thực sự nó cũng đã giảm giá trị một nửa (so với đồng USD) chỉ trong vòng một quý sau tháng 12/1994 Trái lại, TGHĐ của đồng Peso ở cả Argentina và Chile so với đồng USD vẫn giữ ổn định

Hình 3 TGHĐ danh nghĩa ở Mỹ Latinh, 1994 – 1996 Tương tự như vậy, trong hình 4, tác giả có thể thấy sự giảm sút mạnh trong TGHĐ danh nghĩa của đồng Rupiah (Indonesia) sau tháng 11/1997 Sự giảm sút này của đồng Rupiah mạnh hơn nhiều so vơi các loại tiền tệ khác trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á

Khi so sánh ta thấy đồng Bath Thái và Won Hàn về cơ bản bị sụt giảm chỉ còn chứ

Ngày đăng: 11/04/2014, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2A. Mỹ Latinh - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 2 A. Mỹ Latinh (Trang 12)
Hình 2A. (tiếp theo) - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 2 A. (tiếp theo) (Trang 13)
HÌNH 2A. (tiếp theo) - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 2 A. (tiếp theo) (Trang 14)
HÌNH 2B. Đông Á - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 2 B. Đông Á (Trang 15)
Hình 2B (tiếp theo) - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 2 B (tiếp theo) (Trang 16)
Hình 4. TGHĐ danh nghĩa ở Đông Á, 1997 – 1999 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 4. TGHĐ danh nghĩa ở Đông Á, 1997 – 1999 (Trang 19)
Hình 5. TGHĐ thực ở Mỹ Latinh, 1994 – 1996 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 5. TGHĐ thực ở Mỹ Latinh, 1994 – 1996 (Trang 20)
Hình 6. TGHĐ thực ở Đông Á, 1997 – 1999 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 6. TGHĐ thực ở Đông Á, 1997 – 1999 (Trang 21)
HÌNH 7. Sự giảm giá – Phần bù rủi ro điều chỉnh, Mỹ Latinh, 1994 - 1996 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 7. Sự giảm giá – Phần bù rủi ro điều chỉnh, Mỹ Latinh, 1994 - 1996 (Trang 25)
HÌNH 8. Sự giảm giá – Phần bù rủi ro điều chỉnh, Đông Á, 1997 - 1999 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 8. Sự giảm giá – Phần bù rủi ro điều chỉnh, Đông Á, 1997 - 1999 (Trang 26)
HÌNH 9. Chênh lệch lãi suất, Mỹ Latinh, 1994 – 1996 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 9. Chênh lệch lãi suất, Mỹ Latinh, 1994 – 1996 (Trang 27)
HÌNH 10. Chênh lệch lãi suất, Đông Á, 1997 – 1999 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
HÌNH 10. Chênh lệch lãi suất, Đông Á, 1997 – 1999 (Trang 28)
Hình số 12 cho thấy rằng các nước Đông Á cũng gặp rắc rối với chính sách tiền tệ trong  thời kỳ khủng hoảng của họ - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình s ố 12 cho thấy rằng các nước Đông Á cũng gặp rắc rối với chính sách tiền tệ trong thời kỳ khủng hoảng của họ (Trang 30)
Hình 13. Sản lượng thực tế, Mỹ Latinh, 1994 – 1996 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 13. Sản lượng thực tế, Mỹ Latinh, 1994 – 1996 (Trang 34)
Hình 14. Sản lượng thực tế, Đông Á, 1997 – 1999 - tiểu luận sự lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi, kiểm soát vốn và chuẩn tiền tệ tại những quốc gia châu á một góc nhìn từ “bộ ba bất khả thi
Hình 14. Sản lượng thực tế, Đông Á, 1997 – 1999 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w