Vì địa hình trải dài thấp dần từ Tây sang Đông nên độcao của Quảng Nam so với mặt nước biển cũng giảm dần trong khoảng từ hơn 2000m tính từnơi cao nhất là núi Ngọc Linh, huyện Nam Trà My
Trang 1_LỜI NÓI ĐẦU_
Đất nước Việt Nam của chúng ta tuy nhỏ bé nhưng tiềm ẩn trong mình một vẻ đẹptuyệt vời đã làm say đắm biết bao trái tim du khách đã từng đặt chân đến nơi đây Tham giavào tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) năm 1981, với tiềm năng đa dạng
và phong phú, Việt Nam đã chứng minh được mình xứng đáng trở thành điểm đến của thếgiới Khắp dọc miền Tổ quốc từ Bắc vào Nam, nơi đâu cũng xuất hiện những danh lam thắngcảnh nức lòng người : Sapa, Hạ Long, Huế, Hội An, Đà Lạt, Nha Trang mỗi nơi với mỗi
vẻ đẹp khác nhau : yên bình, hùng vĩ, cổ kính Đây là những điều kiện, tài nguyên cốt lõi
để du lịch – một ngành kinh tế tổng hợp đóng vai trò quan trọng phát triển Nhắc đến du lịch,nhiều người quan niệm rằng đây là “ngành công nghiệp không khói”, là “con gà đẻ trứngvàng” Thuộc lĩnh vực dịch vụ, du lịch đem lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội và cảmôi trường nếu như biết khai thác hợp lí mọi tiềm năng để phát triển bền vững Còn ngượclại, nếu không biết khai thác, quản lí phát triển đúng hướng sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cựccho tài nguyên và môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh Vậy nên qua bài nghiên cứu này,tôi muốn góp một tiếng nói nhỏ để giúp cho nền du lịch Việt Nam được phát triển đúnghướng, bắt đầu từ một tỉnh thuộc vùng du lịch Duyên Hải Nam Trung Bộ - Quảng Nam
Nhiều nguồn tài liệu lịch sử đã chỉ ra rằng tên gọi Quảng Nam có nghĩa là "mở rộng
về phương Nam" Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành, trải qua quá trình phát triển từthời vua Lê, chúa Nguyễn Được tách ra và nhập vào nhiều lần, qua thời kỳ kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ Do vậy nên Quảng Nam hiện có rất nhiều tài nguyên du lịch manggiá trị tự nhiên và văn hóa Vì vậy, việc nghiên cứu để xác lập mục tiêu quy hoạch phát triển
du lịch cho địa phương này là rất quan trọng và cần thiết cho việc sử dụng nguồn tài nguyên
du lịch dồi dào nơi đây được hiệu quả
Trang 2Phần một: Nghiên Cứu Về Quảng Nam
I Tổng quan về tỉnh Quảng Nam:
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung,được tái lập chính thức vào ngày 1/1//1997 Diện tích tự nhiên 10.406,83 km2
Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miềnnúi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyên Tiếp giáp các hướng:
- Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa thiên Huế
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Trang 3Đây là một vị trí dễ tiếp cận vì tỉnh nằm trên trục giao thông Bắc – Nam của đất nước
và còn có sân bay Chu Lai ở huyện Núi Thành vậy nên sẽ rất thuận lợi cho du lịch khi dukhách có thể đến Quảng Nam theo đường bộ hoặc đường hàng không Hơn nữa xét về tiếpgiáp các phía, phía Bắc tỉnh giáp thành phố Đà Nẵng nên có thể tiếp nhận được lượng khách
du lịch từ Đà Nẵng vào Quảng Nam Phía Đông giáp với biển Đông nên có đường bờ biểndài, thuận lợi cho phát triển du lịch
Đơn vị hành chính:
Tỉnh Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính bao gồm 16 huyện và 2 thành phố Trong đó:
- 09 huyện miền núi : Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nam Trà My, Nông Sơn và Bắc Trà My
- 07 huyện đồng bằng : Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn, Núi Thành vàPhú Ninh
- 02 Thành phố: Tam Kỳ và Hội An
Dân cư:
Tính đến hết năm 2010, dân số ở đây đạt xấp xỉ 1.5 triệu người Trong số lượng đó, ngườiViệt (Kinh) chiếm 93,8% Phân bố ở đồng bằng phía đông Các tộc người thiểu số chiếm6,2% phân bố ở vùng đồi núi phía tây của tỉnh Nhiều nhất là tộc người K’Tu (chiếm 2.31%)
và tộc người Xơ Đăng (Chiếm 2,1%)
II Tài nguyên du lịch:
1 Tài nguyên tự nhiên:
1.1 Địa hình:
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây sang Đông hình thành 3kiểu hình thái địa hình rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằngven biển Địa hình chủ yếu là đồi núi Vì địa hình trải dài thấp dần từ Tây sang Đông nên độcao của Quảng Nam so với mặt nước biển cũng giảm dần trong khoảng từ hơn 2000m (tính từnơi cao nhất là núi Ngọc Linh, huyện Nam Trà My) đến 0m (các đơn vị ven biển Tam Kỳ,Hội An) Độ cao trung bình toàn tỉnh là 50m
Trang 4Dạng địa hình Phân tích
1 Núi cao phía Tây
- Diện tích vùng núi là 8.743,57 km2, chiếm 84,01% diện tích tự nhiêntoàn tỉnh (9 huyện miền núi)
- Độ cao trung bình khá cao so với địa hình núi, nơi cao nhất là 2598m(đỉnh núi Ngọc Linh)
- Giá trị của địa hình với du lịch: là vùng núi cao, đầu nguồn các lưuvực sông, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người Nhân dân sốngchủ yếu bằng sản xuất nông lâm nghiệp với phương thức canh tác thủcông Nơi đây sẽ tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ cộng vớinếp sinh hoạt độc đáo của đồng bào tộc người thiểu số sẽ thích hợp đểphát triển du lịch sinh thái và văn hóa thu hút du khách Ngoài ra nơiđây nhờ núi rừng Trường Sơn hiểm trở nên đã trở thành nơi hoạt độngcủa đồng bào dân tộc giúp bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ; nhữngdấu tích còn lại giờ được sử dụng như những tài nguyên du lịch nhânvăn về lịch sử
- Các núi có ý nghĩa với du lịch:
+ Dãy Trường Sơn, khu vực huyện Tây Giang
+ Núi Chúa- Bà Nà (Đông Giang) + Núi Ngọc Linh (Nam Trà My)
2 Trung du
- Diện tích vùng trung du là 294,08 km2, chiếm 2,83% diện tích tựnhiên toàn tỉnh (gồm các xã phía Tây huyện Thăng Bình, Duy Xuyên,Đại Lộc, Quế Sơn)
- Độ cao so với mực nước biển thuộc mức trung bình: 50-200m
- Giá trị của địa hình với du lịch: đây còn là vùng có sự đa dạng vềkhoáng sản như: vàng và vàng sa khoáng Ở đây còn có nhóm đất đỏvàng thích hợp với cây rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, câydược liệu Vậy nên không có nhiều cảnh quan dành cho du lịch, ngườidân khai thác và sử dụng nguồn đất này để trồng trọt và canh tác chứkhông chú trọng để phát triển du lịch
Trang 53 Đồng bằng
- Diện tích vùng đồng bằng là 1.369,82 km2, chiếm 13,16% diện tích tựnhiên toàn tỉnh (phần diện tích còn lại)
- Độ cao so với mực nước biển khá thấp vì là vùng ven biển: 0-30m
- Giá trị của địa hình với du lịch: vùng đồng bằng nhỏ, hẹp thuộc hạ lưucác sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, được phù sa bồi đắp hàng năm,nhân dân có truyền thống thâm canh lúa nước và cây công nghiệp ngắnngày, cây thực phẩm Vì gần hạ lưu các sông nên có rất nhiều khu dân
cư sinh sống với nhiều tập quán văn hóa sinh hoạt lâu đời, tạo nên tàinguyên di sản văn hóa cho du lịch
- Địa điểm có ý nghĩa với du lịch:
+ Đô thị cổ Hội An (thành phố Hội An)
+ Các làng nghề truyền thống trong vùng
+ Thành phố Tam Kỳ
+ Mũi Bàn Than (huyện Núi Thành)
Ngoài 3 dạng địa hình đã phân tích trên, tỉnh Quảng Nam còn có một dạng địa hìnhđặc biệt khác mang giá trị vô cùng lớn cho du lịch, đó chính là dạng địa hình ven biển
- Chiều dài đường bờ biển: Quảng Nam có trên 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm sạch
Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi Đây là một trong những tiềm năng lớn đểphát triển du lịch QuảngNam
- Chiều rộng của bãi biển ở đây được tính trung bình từ 20- 30m tùy theo vị trí bãi biển.
- Độ mặn, độ trong của nước biển: vì không thể tìm được một báo cáo cụ thể, chính xác về
nước biển tại Quảng Nam nên có thể suy ra được độ mặn và độ trong của nước biển tại địaphương này nhờ vào báo cáo của vùng Quảng Ngãi và biển Đông (vì Quảng Nam thuộc biểnĐông và tiếp giáp khu vực Quảng Ngãi) Nước biển Quảng Ngãi mang đặc trưng của vùngnước biển sâu, màu mặt nước xanh thẳm, độ trong suốt lớn, biển thoáng Độ mặn nước biểnkhá cao, có sự thay đổi theo mùa, nhưng biên độ dao động độ mặn giữa mùa khô và mùa mưakhông lớn và độ mặn đều lớn hơn 32‰ Mùa gió Tây Nam, độ mặn tầng mặt ven bờ trungbình 32 - 33‰, mùa gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao khoảng 33,8 - 34‰ Độ mặntrung bình quanh năm của nước biển Đông là 33‰ Từ đó có thể kết luận độ mặn của nướcbiển khu vực tỉnh Quảng Nam vào khoảng 32-33‰ và có độ trong suốt lớn.
Trang 6- Thời gian khai thác: cũng nhờ vào báo cáo nước biển của vùng Quảng Ngãi, ta có thể suy ra
sự tương đồng với nước biển tỉnh Quảng Nam Nhiệt độ tầng nước mặt đạt giá trị cao nhấtvào tháng 5, trung bình 28oC - 29,8oC Thấp nhất vào tháng 1, trung bình 22oC - 24,7oC Vớinhiệt độ nước như vậy cộng với nhiệt độ trung bình năm tại Quảng Nam là 25,4oC, ta thấyrằng nhiệt độ này thích hợp cho hoạt động vui chơi trên biển của con người quanh năm Tuynhiên mùa mưa tại Quảng Nam lại rơi vào khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau,
từ đó có thể kết luận rằng các bãi tắm ở Quảng Nam thích hợp để khai thác trong thời gian từtháng 2 đến tháng 8
- Các bãi biển, đảo đẹp có giá trị du lịch:
+ Bãi Bình Minh (huyện Thăng Bình)
+ Bãi Tam Thanh (thành phố Tam Kỳ)
+ Bãi Rạng (huyện Núi Thành)
+ Bãi Hà My (huyện Điện Bàn)
+ Quần đảo Cù Lao Chàm và các bãi biển thuộc các hòn đảo nhỏ
+ Bãi Cửa Đại (thành phố Hội An)
1.2 Khí hậu:
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa
khô, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc
- Mùa khô từ tháng II đến tháng VIII và là mùa thịnh hành của gió tây khô nóng
- Mùa mưa từ tháng IX đến tháng I năm sau và là mùa thịnh hành của mùa gió đông bắcmang theo mưa, lượng mưa khoảng 2000-2500 mm, chiếm 70-80% lượng mưa cả năm
- Lượng mưa trung bình năm 2000-2500mm
- Nhiệt độ trung bình năm 25,4 oC (cao nhất 38 oC, thấp nhất 13 oC)
- Độ ẩm tuơng đối trung bình là 80-84%
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Từ tháng 5 đến tháng 9, gió Tây Nam Ðông Bắc(gió Nồm) mang hơi nước từ vịnh Thái Lan vào, nhưng bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nênkhông mưa (chỉ mưa ở miền Nam, vùng Ðồng bằng sông Cửu Long) và ngược lại, mang hơinóng của vùng núi Vôi Ðồng Chum của Lào qua, nên rất oi bức (Gió Lào) Từ tháng 10 đếntháng 3; gió Ðông Bắc Tây Nam (Gió Bấc) mang gió buốt từ phương Bắc, cộng thêm hơinước biển Nam Hải xuống, bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nên mưa nhiều, giá lạnh và lụt lộiliên miên Mưa đặc biệt lớn vào tháng 11, vùng cao lượng mưa trung bình là 4000mm Tầnsuất lũ lụt, lũ quét 3 lần/ năm; các hiện tượng gió lốc 3-4 lần/ năm, mưa đá 1-2 lần/năm Hàng
Trang 7năm có 4 tháng ở nhiệt độ trung bình, tháng lạnh nhất là tháng 12; Tần suất sương muốikhông xảy ra
Từ những căn cứ trên, ta nhận định được rằng ở Quảng Nam thời gian hợp lí nhât đểkhai thác du lịch là từ tháng 2 đến tháng 8 vì vào thời điểm này thời tiết tại Quang Nam ấm áp
và khô ráo Tuy vào tháng 7, nhiệt độ có đạt giá trị cao nhưng vì địa phương ở ven biển nênhơi nước từ biển thổi vào cũng làm nhiệt độ được giảm bớt, vẫn phù hợp cho việc tham quan
du lịch của du khách Ngoài ra những tháng này thuộc thời điểm sau mùa mưa nên các nguồnthủy văn của địa phương cũng sẽ dồi dào, làm cho nhiều cảnh quan thiên nhiên như suối, hồthêm đẹp, hùng vĩ
1.3Nguồn nước:
Vì thuộc khu vực có lượng mưa tương đối lớn nên hệ thống sông hồ tại đây khá phongphú Tạo điều kiện thuận lợi về cung cấp nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cácngành kinh tế khác cũng như dân sinh
1 Sông
- Hệ thống sông: Hệ thống sông ngòi nằm trên địa phận tỉnh Quảng Namđược phân bố đều ở các huyện, thị xã Gồm hai hệ thống sông chính làSông Thu Bồn và Sông Tam Kỳ
- Tổng chiều dài các sông khoảng 900 km
- Mật độ sông ngòi: 0,5-1,0km/km2 (lấy theo khu vực Bắc Trung Bộ)
- Tính chất sông: Sông ngòi ở đây đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn có độdốc lớn, mùa mưa thường gây lũ lụt, mùa khô thì hay bị cạn (không đángkể) Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn (do địa hình nghiêng và thấpdần từ Tây sang Đông), đầy nước quanh năm Những sông này phânnhánh chảy ra nhiều phía tạo nên các cảnh quan đẹp như suối, thác, hồphục vụ cho du lịch
- Một số sông, suối, thác có giá trị cho du lịch:
+ Thác Grăng (huyện Nam Giang)
+ Suối nước nóng ở Đắc Pring (huyện Nam Giang)
+ Sông Thu Bồn
+ Thác Ba Tầng (huyện Nam Trà My)
+ Suối Mơ (huyện Đại Lộc)
Trang 82 Hồ
- Mạng lưới hồ tại đây bao gồm 10 hồ nước lớn nhỏ khác nhau với 6000
ha mặt nước Tất cả đều là hồ tự nhiên với cảnh quan thiên nhiên đẹp
- Một số hồ có giá trị về du lịch:
+ Hồ Phú Ninh (huyện Núi Thành)
+ Hồ Khe Tân (huyện Đại Lộc) + Hồ Giang Thơm (huyện Núi Thành)
3 Nước khoáng
- Tại Quảng Nam hiện có 3 mỏ nước khoáng Trong đó một mỏ đượcphục vụ cho công nghiệp là mỏ Phú Ninh Hai mỏ phục vụ cho du lịch làBàn Thạch và Kỳ Quế
- Thành phần của những mỏ nước khoáng này không được đề cập nênkhông thể nói chính xác được về công dụng của chúng
1.4 Sinh vật:
Do có địa hình theo cả ba dạng núi cao, trung và đồng bằng ven biển nên Quảng Nam
có sự đa dạng về sinh học Tình hình thổ nhưỡng tại địa phương gồm 9 loại đất khác nhau :cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạcmàu xói mòn trơ sỏi đá, vì vậy nên ở đây trồng được nhiều loại cây khác nhau như lươngthực, hoa màu, dược liệu, cây gỗ quý Bên cạnh sự đa dạng của các hệ sinh thái trên cạn, hệsinh thái biển của tỉnh cũng hết sức phong phú Có thể chia tài nguyên sinh vật thành 2 nguồn:tài nguyên sinh vật rừng và tài nguyên sinh vật biển
- Tài nguyên rừng: Hiện nay đất đai diện tích rừng tự nhiện tại tỉnh Quảng Nam còn
khoảng 388,8 nghìn ha với trữ lượng gỗ khoảng 30 triệu m3 Về thực vât, ngoài gỗ khaithác còn có các loại lâm sản quí như trầm, quế, sâm, trẩu, song mây Về động vật, tại đâycũng có nhiều loại thú sinh sống như voi, chim, hổ, bò rừng không có loài đặc hữu tạikhu vực này
- Tài nguyên biển: Về thực vật, ở các vùng bãi triều có hệ sinh thái rừng ngập mặn Nguồn
lợi động vật biển Quảng Nam phong phú với hai ngư trường chính là Núi Thành và Hội
An Hai ngư trường này có diện tích rộng 4vạn km2, trữ lượng hải sản gần 9 vạn tấn Có
nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá ngừ, cá chuồn, tôm hùm, bào ngư,vẹm xanh… Đặc biệt ở Cù Lao Chàm còn có ốc vú nàng, cua đá, yến sào là đặc sản.Ngoài ra còn có các rạn san hô đẹp ở đây
Trang 9Nổi bật hơn cả ở Quảng Nam còn có Cù Lao Chàm là Khu dự trữ sinh quyển thế giớiđược UNESCO công nhận Cù Lao Chàm là một xã đảo có tên hành chính là xã Tân Hiệp,cách thành phố Hội An 18 Km về phía biển Đông Xã bao gồm 8 đảo với tổng diện tích là 15
km2, đảo lớn nhất là Hòn Lao Năm 2006, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm chính thức đượcthành lập, đến năm 2009 chính thức được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Nơiđây có nhiều hệ sinh thái quan trọng như: rạn san hô, thảm cỏ biển, thảm rong biển với nhiềugiá trị nổi bật về đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có diện tích 5.175 ha mặtnước, với khoảng 311 ha rạn san hô, 500 ha thảm cỏ biển với nhiều loài hải sản có giá trị.Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất, các nhà khoa học đã xác định được ở Cù Lao Chàm cókhoảng 277 loài san hô tạo rạn thuộc 40 giống và 17 họ; 270 loài cá thuộc 105 giống, 40 họ; 5loài tôm hùm; 97 loài nhuyễn thể và rất nhiều loài có giá trị về mặt sinh thái, giá trị kinh tế vàcảnh quan (số liệu năm 2008)
Ngoài ra Quảng Nam còn có nhiều điểm tham quan sinh vật như:
+ Khu bảo tồn thiên nhiên sông Gianh (huyện Nam Giang và Phước Sơn)
+ Các cánh rừng miền núi phía Tây Quảng Nam (huyện Tây Giang)
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Sao La (mới thành lập năm 2011)
2 Tài nguyên nhân văn:
1.1 Di tích văn hóa-lịch sử:
Có thể nói, Quảng Nam thực sự là vùng văn hóa giàu bản sắc trong tổng thể các vùngvăn hóa của Việt Nam Do trải qua sự hình thành lâu đời và xảy ra nhiều biến động lịch sửnên Quảng Nam có nhiều di tích văn hóa lịch sử có sức hấp dẫn cao đối với du khách Saubao thăng trầm biến cố, Quảng Nam vẫn lưu giữ được những tài nguyên văn hóa vô cùng độcđáo, có giá trị nhân văn sâu sắc của mình như: kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương
Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa SaHuỳnh, Champa, Đại Việt Nổi bật nhất là hai địa điểm cùng được UNESCO công nhận là Disản văn hóa thế giới năm 1999: Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn
Đô thị cổ Hội An - Vị trí: thuộc thành phố Hội An nằm ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn,
thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam Cách thành phố ĐàNẵng 30km về phía Nam
- Đặc trưng: Đô thị cổ Hội An có hơn 1100 di tích, danh thắng đượcphân thành 11 loại hình gồm: nhà cổ, mộ cổ, miếu thờ, giếng nước…
Trang 10Nơi đây từng là thương cảng quốc tế trong thời gian từ thể kỉ 17 – 19 do
ở vào vị trí trung tâm của Đông Dương thời bấy giờ nên có sự giao thoavăn hóa từ rất sớm với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản Trải quanhiều quá trình phát triển, đô thị có nhiều bản sắc văn hóa độc đáo, nơiđây vẫn được bảo tồn gần như nguyên trạng; một quần thể di tích kiếntrúc cổ gồm nhiều công trình khác nhau và những con đường phố chạyhẹp ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ.Ngoài giá trị văn hóavật thể đồ sộ to lớn, Hội An còn lưu giữ một di sản phi vật thể phongphú và cực kỳ đa dạng, biểu hiện qua các lễ hội, hoạt động văn hóa,nghệ thuật dân gian cùng với các làng nghề truyền thống khác
- Một số điểm tham quan độc đáo trong khu phố cổ:
+ Chùa Cầu
+ Các ngôi nhà cổ (Tấn Ký - 10 đường Nguyễn Thái Học, Quân
Thắng-77 đường Trần Phú, Phùng Hưng - số 4 đường Nguyễn Thị Minh Khai + Chùa Ông (24 đường Trần Phú, Hội An)
+ Quan âm Phật tự Minh Hương (số 7 đường Nguyễn Huệ, Hội An) + Các hội quán của người Hoa (Phúc Kiến, Triều Châu, QuảngĐông…)
+ Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh (149 đường Trần Phú, Hội An)
Khu đền tháp Mỹ
Sơn
- Vị trí: thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, nằm cách thành phố Hội
An 45km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam
- Đặc trưng: đây là khu di tích tôn giáo kỳ vĩ nhất, đặc trưng nhất củangười Chămpa, xây dựng liên tục trong suốt hơn 1000 năm Được khởicông từ thế kỷ IV và kết thúc vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV MỹSơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cáchkiến trúc, điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương quốcChămpa Hầu hết các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tại MỹSơn đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo Đặc biệt, cho đến nay kỹ thuậtkết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở MỹSơn vẫn là một bí ẩn Do thiên tai, địch họa và sự tàn phá của bom đạnchiến tranh, đến nay Mỹ Sơn chỉ giữ lại được khoảng gần 20 tháp
Trang 11Ngoài ra, trong các cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, với địa hình núi cao phíaTây hiểm trở của mình, Quảng Nam trở thành nơi hoạt động bí mật thuận lợi cho các chiến sĩ.Vậy nên có thể coi đây là một trong những cái nôi của phong trào cách mạng và là vùng chiếntrường vô cùng ác liệt; được biết đến là địa phương đi đầu trong kháng chiến chống giặcngoại xâm Những điểm tham quan như: địa đạo A Sò, khu di tích Nước Oa, Chợ Được, ChuLai, căn cứ Hòn Tàu, địa đạo Kỳ Anh, đường mòn Hồ Chí Minh, rừng dừa Bảy Mẫu, tượngđài chiến thắng Cấm Dơi, cứ điểm NGOK-TA-VAK đã đi vào lịch sử dân tộc, ngày nay trởthành điểm dừng chân của bao du khách.
1.2 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Quảng Nam có địa hình núi cao, là nơi cư trú của khá nhiều tộc người như K’Tu, XơÐăng, Mnông, Giẻ Triêng, Hoa… Chính họ cùng với những tập quán, nếp sinh hoạt và canhtác hàng ngày tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho tài nguyên du lịch nhân văn của QuảngNam
Trải qua bao biến động của lịch sử, đồng bào các dân tộc vẫn bảo lưu nhiều tài sản vănhóa vật thể và phi vật thể quý báu Nổi trội nhất trong những di sản ấy là nghệ thuật tạo hình,kiến trúc, âm nhạc, lễ hội, ẩm thực dân gian, trang phục truyền thống cũng như nhiều tri thứcbản địa khác, góp phần làm giàu cho kho tàng di sản các tộc người đang sinh sống ở miền núinơi đây Những giá trị văn hóa tiêu biểu nhất của các dân tộc K’Tu, Giẻ - Triêng, Xơ Đăngnhư kiến trúc nhà làng truyền thống (gươl, rông, ưng), điêu khắc gỗ, lễ hội dân gian, văn họcdân gian, âm nhạc dân gian, luật tục đã làm nên diện mạo độc đáo của văn hóa dân tộc vàtiếp tục phát huy, phát triển với một sức sống mạnh mẽ trong cộng đồng
Thời gian gần đây, bộ máy quản lý tỉnh Quảng Nam cũng đã rất quan tâm đến việc gìngiữ và phát triển tài nguyên du lịch nhân văn này của tỉnh Thể hiện bằng những việc làm pháttriển nhà làng truyền thống, thiết chế văn hóa làng bản Ngoài ra còn tổ chức Lễ hội Văn hóaThể thao - một lễ hội chung của cộng đồng các tộc người miền núi Quảng Nam đã được địnhhình và trở thành một trong những hoạt động trọng yếu nhằm bảo tồn, phát huy và phát triểnvốn văn hóa, nghệ thuật cổ truyền của họ
1.3 Làng nghề thủ công truyền thống:
So với các tỉnh miền Trung, Quảng Nam là nơi tập trung khá nhiều làng nghề có tuổiđời hàng trăm năm như nghề mộc, nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề dệt chiếu, nghề làm lồngđèn Sản phẩm của các làng nghề đạt đến độ tinh xảo, điêu luyện; từ xưa không chỉ được thịtrường trong nước ưa chuộng mà các thương nhân Trung Quốc, Nhật, Bồ Ðào Nha đặt mua
Trang 12rất nhiều Các làng nghề này theo chân những người dân vùng Bắc Bộ mở đất về phươngNam từ những năm đầu của thế kỷ XV –XVI mà phát triển thăng trầm theo thời gian đến
ngày hôm nay
Tại Quảng Nam hiện nay thống kê còn lại 20 làng nghề, rải rác ở nhiều nơi trên địabàn toàn tỉnh: làng đúc cồng chiêng Phước Kiều (huyện Điện Bàn), làng gốm Thanh Hà, làngrau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng (thành phố Hội An), làng chài Bãi Hương (Cù Lao Chàm),làng dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (huyện Duy Xuyên)… bên cạnh đó, nghề dệtthổ cẩm độc đáo của tộc người K’Tu cũng đang dần hình thành, phát triển như một làng nghề.Rất nhiều du khách cho rằng làng nghề truyền thống ở đây có sức hấp dẫn rất lớn, bởi mỗilàng nghề không chỉ đơn thuần là nơi sản xuất hàng hóa mà còn là nơi ẩn chứa cả tính cách,tâm lý, nét văn hóa của người dân nơi đây Hiện nay những làng nghề này ngoài việc sản xuất
ra các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, một số nơi còn nghiên cứu chuyển sang làm sản phẩmquà lưu niệm bán cho khách du lịch Đặc biệt trong dịp lễ hội Quảng Nam 2003 - Hành trình
di sản, tỉnh Quảng Nam đã chính thức đưa 5 làng nghề truyền thống vào khai thác phục vụ dulịch, gồm làng mộc Kim Bồng, làng đúc Phước Kiều, làng dệt Mã Châu, làng rau Trà Quế vàlàng chài Bãi Hương
1.4 Lễ hội:
Tại những nơi có truyền thống sản xuất lao động lâu đời, lễ hội là một phần đời sốngvăn hóa tâm linh không thể thiếu và Quảng Nam cũng không nằm ngoài quy luât đó Theothống kê vào năm 2000, tỉnh Quảng Nam có gần 200 lễ hội lớn nhỏ, phần lớn là lễ hội truyềnthống
Hầu như vùng nào cũng có lễ hội dân gian, từ miền núi, trung du đến đồng bằng, venbiển Đó là lễ hội đâm trâu của các tộc người K’ Tu, Co, Xơ Đăng, Giẻ Triêng ở miền núi,đây là lễ thức nông nghiệp của cộng đồng cư dân canh tác nương rẫy thường gọi tên theo từngnghi lễ tín ngưỡng Ở vùng trung du có nhiều lễ hội gắn với hoạt động sản xuất đặc thù khaithác lâm sản như Lễ hội khai sơn ở Quế Sơn, Lễ hội vây cọp ở Tiên Phước Vùng đồng bằng
là nơi tập trung rất nhiều lễ hội của cư dân nông nghiệp lúa nước như Lễ hội mục đồng ở DuyXuyên và các lễ hội nghề nghiệp như Lễ hội tổ nghề đúc đồng Phước Kiều, Điện Bàn; tổ nghềmộc Kim Bồng, tổ nghề gốm Nam Diêu, Thanh Hà, tổ nghề yến Thanh Châu ở Hội An Bêncạnh đó còn hằng trăm lễ hội của các đình làng, lễ hội tín ngưỡng thờ mẫu như Lễ hội BàChiêm Sơn, Lễ hội Bà Thu Bồn, Duy Xuyên; Lễ hội Bà Phường Chào, Đại Lộc; Lễ hội Rước
cộ Bà Chợ Được, Thăng Bình… hay Lễ hội Cầu ngư, Nghinh Ông theo tục thờ cá Voi, cá
Trang 13Ông của cư dân miền biển, có sự lan tỏa nhất định trong khu vực và trở thành lễ hội quy môlớn từng nổi tiếng hàng trăm năm trước.
Những năm gần đây, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức thêm một số lễ hội để phục vụ chongành du lịch đang trên đà phát triển của mình như:
- Lễ hội "Quảng Nam - Hành trình Di sản", được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003, từ đóđược tiếp nối định kỳ 2 năm một lần
- Lễ hội đêm Rằm phố cổ Hội An, được tổ chức vào những đêm 14 Âm lịch hằng thángtrên khắp Hội An kể từ khi Quảng Nam được công nhận là di sản năm 1999
- Carneval Hội An là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Hội An vàoGiao thừa năm 2009 (dương lịch) Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội Carneval đường phốvốn rất nổi tiếng tại các nước Châu Âu và Mỹ Latinh
1.5 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác:
Bên cạnh các tài nguyên du lịch nhân văn kể trên, Quảng Nam còn có nhiều tàinguyên khác có giá trị cho du lịch như các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian, ẩm thực Vìđây là vùng đất có sự giao lưu với nhiều luồng văn hóa khác nhau nên đã để lại những dấu ấnđậm nhạt khác nhau trên mọi mặt sinh hoạt xã hội, thể hiện trong các hình thái văn hóa dângian
Các hoạt động văn nghệ dân gian ở Quảng Nam mang những sắc thái riêng, không quásôi động rộn rạng như của miền Nam Bộ, cũng không quá trầm lắng nhẹ nhàng như của Huế.Văn nghệ của xứ Quảng trung hòa, thể hiện sự giao lưu giữa văn hóa Bắc và Nam, giữa vănhóa Việt Nam và Chămpa Đặc biệt, nổi bât ở đây là hai loại hình diễn xướng bài chòi và hòkhoan đối đáp Bài chòi hay còn được biết đến với tên gọi Hội bài chòi; trước đây chỉ được tổchức vào dịp Tết Nguyên Đán, nó hiếm hoi như vậy là vì mỗi lần tổ chức khá tốn kém, việcchuẩn bị dụng cụ cũng phải tỉ mẩn Từ khi Đô thị cổ Hội An được chính thức công nhận là disản, loại hình này được tổ chức thường xuyên ở các nhà sinh hoạt trong phố cổ để phục vụcho khách du lịch Còn Hội hò khoan thì khác, hò khoan là một loại hình dân ca sinh hoạt dângian miền sông nước, là "lời ăn tiếng nói" của quần chúng lao động được trải nghiệm, thunhận qua vốn sống hàng ngày mà biểu lộ ra, qua tài năng của các nghệ nhân được cải biến đi,nâng tầm lên thành vần điệu cho nghệ thuật hơn, làm phương tiện để trao đổi, bày tỏ, chuyểntải tâm tình giữa những cá thể, những tập thể với nhau trong cộng đồng