Thứ hai, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ: nhóm quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức, c
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 4
1.1.1 Vai trò của khoáng sản và khai thác khoáng sản đối với việc phát triển kinh tế xã hội quốc gia 4
1.1.1.1 Khái quát về khoáng sản và khai thác khoáng sản 4
1.1.1.2 Vai trò của khai thác khoáng sản đối với việc phát triển kinh tế xã hội 6
1.1.2 Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 9
1.1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 9
1.1.2.2 Đặc điểm của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 12
1.1.2.3 Vai trò của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 16
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 20
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, những chế định cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 20
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 20
1.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 22
1.2.1.3 Những chế định cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 24
1.2.2 Những biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 31
1.2.3 Những yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 41
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam 41
Trang 22.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 48 2.2.1 Những kết quả đạt được 48 2.2.1.1 Xây dựng và từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 48 2.2.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã được quan tâm thực hiện 52 2.2.2.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện tương đối hiệu quả 52 2.2.2.4 Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 54 2.2.2.5 Nhiều tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đã thực hiện nghiêm túc các nghĩa
vụ về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 57 2.2.2.6 Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã dần được đảm bảo 58 2.2.2.7 Công tác thanh tra, kiểm tra, và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng được chú trọng thực hiện 59 2.2.2.8 Đã có sự tham gia công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 60 2.2.2 Những tồn tại, hạn chế của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 61 2.2.2.1 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã được quan tâm xây dựng tuy nhiên vẫn còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế 61 2.2.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý về môi trường vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về trình
độ chuyên môn 67 2.2.2.3 Công tác lập quy hoạch khoáng sản vẫn còn nhiều bất cập 68 2.2.2.4 Công tác cấp phép khai thác khoáng sản ở các địa phương còn có nhiều bất cập .70 2.2.2.5 Công công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế Cụ thể: 71 2.2.2.6 Việc ký quỹ, quản lý tiền ký quỹ, thực hiện cải tạo phục hồi môi trường còn chậm 73
Trang 32.2.2.7 Thiết bị, công nghệ khai thác khoáng sản còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu
cầu bảo vệ môi trường .73
2.2.2.8 Tình trạng ô nhiễm môi trường và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra một cách đáng lo ngại 74
2.2.2.9 Việc quản lý nguồn thu phục vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 76
2.2.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 76
2.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam 77
2.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 77
2.3.2 Các giải pháp cụ thể 78
2.3.2.1 Giải pháp pháp lý 78
2.3.2.2 Các giải pháp khác 81
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.1 Vai trò của khoáng sản và khai thác khoáng sản đối với việc phát triển kinh tế xã hội quốc gia
1.1.1.1 Khái quát về khoáng sản và khai thác khoáng sản
Cuộc sống của con người rất gần gũi với những vật chất như sắt, nhôm, đồng, kẽm, than đá, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, đá, cát, vàng,… Những vật chất đó có tên gọi chung là khoáng sản Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, khái niệm khoáng sản cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì: “Khoáng sản là những thành tạo khoáng vật trong vỏ trái đất có thể sử dụng trong nền kinh tế quốc dân Dựa trên trạng thái vật lý phân ra: khoáng sản rắn, lỏng (dầu mỏ, nước khoáng) và khí (khí đốt, khí trơ) Dựa vào thành phần hóa học và công dụng phân ra: khoáng sản kim loại, phi kim (không kim loại) và nhiên liệu.” (Từ điển Bách khoa Việt Nam 2, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà
Nội, 2002, tr 516)
Giáo trình Khoa học môi trường đại cương viết: “Khoáng sản là nguyên liệu tự nhiên có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ, chứa trong lớp vỏ trái đất, trên mặt đất, dưới đáy biển hoặc hòa tan trong nước đại dương” Dưới góc độ khoa học pháp lý, Khoản 1, Điều 2, Luật Khoáng sản Việt Nam năm 2010 quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”
Trang 5Từ những khái niệm đã nêu ở trên, có thể hiểu một cách cụ thể về khoáng sản như sau:
i) Khoáng sản là những vật chất tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng hoặc thể khí
ii) Khoáng sản có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ, tồn tại ở trên mặt đất, trong lòng đất
iii) Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên có ích và có hạn Khoáng sản có thể được khai thác ở hiện tại hoặc tương lai và khoáng sản là tài nguyên không thể tái tạo
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại khoáng sản Theo trạng thái vật lý, khoáng sản gồm: khoáng sản rắn, lỏng (dầu mỏ, nước khoáng) và khí (khí đốt, khí trơ) Theo địa điểm phân bố thì khoáng sản gồm: khoáng sản trên mặt đất, khoáng sản trong lòng đất Theo tính chất của công dụng, khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước
- Khoáng sản kim loại là những quặng, qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại hoặc hợp chất của chúng, thuộc nhóm này gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, Mangan, Crôm…); Nhóm kim lại cơ bản (Thiếc, Đồng, Chì, Kẽm…); Nhóm kim loại nhẹ (Nhôm, Titan, Magiê…); Nhóm kim loại phóng xạ (Uran, thori, rađi) và nhóm kim loại hiếm và đất hiếm
- Khoáng sản phi kim là những quặng được sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại: nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón (lưu huỳnh, apatit, phôtphorit…); Nhóm nguyên liệu gốm sứ - chịu lửa (sét, kaolin…) và nhóm nguyên liệu kiến trúc xây dựng (cát, đá vôi, đá hoa…)
- Khoáng sản nhiên liệu gồm các đá có nguồn gốc sinh vật (than bùn, than đá, dầu…) Loại khoáng sản này ngoài việc làm chất đốt, khoáng sản nhiên liệu còn để sản xuất ra hóa phẩm, dược phẩm và các thành phần khác (sợi nhân tạo, vật liệu khuôn đúc.v.v…)
Trang 6- Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt.
Khoáng sản được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống con người: từ nhiên liệu cho đến trồng trọt, xây dựng, chế tạo các sản phẩm phục vụ cuộc sống… Muốn sử dụng khoáng sản thì cần phải khai thác chúng
Hiểu một cách đơn giản, khai thác khoáng sản là hoạt động lấy khoáng sản từ trong lòng đất, trên mặt đất
Dưới góc độ pháp lý, khai thác khoáng sản là: “hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan” (Khoản 7, Điều 2, Luật Khoáng sản Việt Nam năm 2010)
1.1.1.2 Vai trò của khai thác khoáng sản đối với việc phát triển kinh
tế xã hội
Khai thác khoáng sản đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia Vai trò của khai thác khoáng sản đối với việc phát triển kinh tế xã hội thể hiện qua các khía cạnh:
•Khai thác khoáng sản đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng
Con người sử dụng khoáng sản để đáp ứng rất nhiều nhu cầu trong cuộc sống: nhiên liệu, xây dựng, phân bón, kim loại, trang sức, Đồng thời, khoáng sản lại là nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất khác như: điện, hóa chất, xi măng, hóa dầu, chế tạo, gia công sản phẩm từ kim loại…Các quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản thì khả năng đáp ứng nhu cầu trên càng cao
Đến nay, nước ta đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau Trong đó:
- Các loại khoáng sản có triển vọng gồm dầu khí, than (antraxit Quảng ninh), chì, kẽm, thiếc, sắt, vonfram, đồng, antimon, bauxit, đất hiếm, đá vôi, cát thuỷ tinh, đá xây dựng;
Trang 7- Các loại khoáng sản có triển vọng khá gồm titan, crom, mangan, felspat, kaolin, talc, fluorit, barit, graphit, dolomit, photsphorit, bentonit, diatomit, đá ốp lát các loại, than lignit (đồng bằng Sông Hồng
có khả năng đáp ứng được nhiều nhu cầu sản xuất, sử dụng khoáng sản
•Chủ thể tiến hành đầu tư khai thác khoáng sản thu được lợi nhuận từ hoạt động khai thác khoáng sản
Khoáng sản là những tài nguyên thiên nhiên có giá trị Trong đầu tư khai thác khoáng sản, chi phí đầu vào thấp (do khoáng sản là tài nguyên sẵn có) nhưng lại cho chi phí đầu ra cao (khi thu hồi được khoáng sản, đặc biệt là sau khi làm giàu và chế biến) Do đó, hoạt động khai thác khoáng sản mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ thể tiến hành đầu tư khai thác
Quá trình phát triển của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản cùng với sự gia tăng số lượng chủ thể và sự đa dạng trong hình thức, quy
mô khai thác khoáng sản đã chứng minh điều đó
Ở Việt Nam, số doanh nghiệp tham gia hoạt động khai thác khoáng sản tăng nhanh từ 427 doanh nghiệp năm 2000, đến nay đã lên gần 2000 doanh nghiệp
khoang-san-gan-voi-moi-truong-395.thl)
(http://halongcoal.com.vn/news/Tin-tap-doan/Quan-ly-va-khai-thac-•Khai thác khoáng sản tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 8Khoáng sản là tài nguyên quan trọng và có hạn của mỗi quốc gia, vì vậy, các quốc gia đều cố gắng tạo ra nguồn thu để bồi hoàn cho quốc gia những giá trị bị mất đi vĩnh viễn do quá trình khai thác khoáng sản Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều quy định các nghĩa vụ tài chính đối với các chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản dưới nhiều hình thức như: thuế tài nguyên, thuế thu nhập doạnh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu khoáng sản, phí bảo vệ môi trường, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, …
Nếu quản lý hiệu quả, các dự án khai thác khoáng sản có thể mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước
Nhiều nước trên thế giới có nguồn thu chủ yếu từ khai khoáng như: Bruei, Cooet, Veneduela…
Ở Việt Nam, theo thống kê, từ năm 2000 đến nay, mỗi năm ngành khai khoáng đóng gần 25% thu ngân sách hàng năm của nhà nước
(san-Kho-chap-nhan-yeu-kem/45/12153880.epi)
http://www.baomoi.com/Giam-sat-khai-thac-tai-nguyen-khoang-•Khai thác khoáng sản tạo cơ hội việc làm
Để tiến hành khai thác khoáng sản, cần phải có nguồn nhân lực Nhu cầu này tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động
Theo số liệu thống kê thì tại Việt Nam, từ năm 2000 cho đến nay, ngành khai khoáng cũng đã tạo được nhiều công ăn việc làm với hơn 430.000 lao động hiện đang làm việc
Trang 9mỏ đồng, với mục tiêu là cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động
hạ nguồn trong nước, nhiều công ty đã đầu tư khai thác khoáng sản ở nước ngoài Đơn cử như công ty dầu khí đa quốc gia Hà Lan- Anh: Royal Dutch/Shell, Công ty dầu khí Anh Quốc British Petroleum (BP)
(http://www.dankinhte.vn/dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-fdi-theo-chieu-doc/) Trong quá trình phát triển đầu tư khai thác khoáng sản, tất yếu các chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản sẽ tiến hành đầu tư máy móc, công nghệ, thiết bị hiện đại cũng như tăng cường công tác quản lý Nhờ đó, trình
độ khoa học công nghệ, năng lực quản trị của quốc gia, địa phương nơi tiến hành khai thác khoáng sản sẽ được nâng lên
•Thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ cận
Đầu ra của ngành khoáng sản là nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu cho các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng Do đó, khai thác khoáng sản thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ cận khác cùng phát triển
•Khai thác khoáng sản giúp phát triển cơ sở hạ tầng, giảm cách biệt giàu nghèo
Trong quá trình tiến hành khai thác khoáng sản, các chủ thể phải đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho hoạt động của mình (đường sá để vận chuyển, hệ thống nhà máy, …) Đồng thời, các chủ thể này còn có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm xã hội đối với địa phương nơi khai thác khoáng sản như xây dựng trường học, cơ sở y tế,… Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn như vùng núi, biên giới Giúp cho các địa phương này có điều kiện để phát triển, góp phần xóa đói giảm nghèo từ đó giúp rút ngắn sự cách biệt giàu nghèo với các vùng có điều kiện kinh tế phát triển
1.1.2 Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Theo từ điển tiếng Việt thì: “bảo vệ là chống lại mọi sự xâm phạm để
Trang 10giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn Bảo vệ đê điều, bảo vệ đất nước, bảo
vệ chân lý,…” (Từ điển tiếng Việt, NxB Đà Nẵng, 2004, tr.40)
Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, ngữ cảnh khác nhau Theo định nghĩa thông thường thì môi trường là: “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy’’ (Từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng 1997, tr.618)Báo cáo toàn cầu năm 2000 đưa ra định nghĩa về môi trường như sau:
“Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh loài người Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trường xung quanh để sống … mối quan hệ giữa loài người và môi trường chặt chẽ đến mức mà
sự phân biệt giữa cá thể con người và môi trường bị xóa nhòa đi”
Dưới góc độ khoa học pháp lý, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005,
có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 quy định tại Khoản 1, Điều 3 như sau: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” Theo định nghĩa này, môi trường được tạo thành bởi các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo Trong đó yếu tố tự nhiên (đất, nước, không khí, ánh sáng, khoáng sản, sinh vật,… ) đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự xuất hiện, tồn tại của con người Những yếu tố này phát triển theo quy luật của tự nhiên nhưng cũng có thể chịu sự tác động nhất định của con người Các yếu tố vật chất nhân tạo được hình thành trong quá trình con người khai thác, sử dụng các yếu tố tự nhiên để thỏa mãn các nhu cầu của mình Đây là quá trình con người biến đổi, cải biến tự nhiên để tạo ra hoàn cảnh, điều kiện sống mới Như vậy, con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với nhau tạo thành trung tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác của môi trường
Trang 11Con người đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài về mặt nhận thức và hành động cụ thể nhằm bảo vệ môi trường Từ xa xưa, con người
đã coi mối quan hệ giữa môi trường và con người là thống nhất thông qua quan điểm mang màu sắc tôn giáo: “Thiên, địa, nhân hợp nhất” Từ đó, đã hình thành những khu vực được coi là “linh thiêng’’ (con người không được có bất cứ hoạt động nào tác động vào khu vực này) Cùng với thời gian, con người đã nhận thức thức được tầm quan trọng của môi trường và
có những hành động tự giác nhằm bảo vệ môi trường:
•Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1960 là giai đoạn thu thập thông tin
về môi trường: các quốc gia phát triển hơn đã tiến hành thu thập thông tin
về số lượng, chất lượng từng nguồn tài nguyên thiên nhiên
•Cuối những năm 60 của thế kỷ XX là giai đoạn báo động về tình trạng môi trường: các quốc gia cũng như toàn cầu đã thực hiện những cảnh báo giữa các quốc gia về hiện trạng môi trường quốc gia Các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã lập các chương trình và chiến lược bảo vệ môi trường
•Đầu những năm 70 của thế kỷ XX cho tới nay, các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã và đang xây dựng và thực hiện những chương trình bảo vệ môi trường
Từ điển bách khoa Việt Nam tập 1, Hà Nội, 1995 định nghĩa bảo vệ môi trường như sau: “Bảo vệ môi trường là tập hợp các biện pháp giữ gìn,
sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật và môi sinh, đất, nước, không khí, lòng đất) nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu…nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống con người Ngoài ra, bảo vệ môi trường còn tạo ra điều kiện tinh thần, văn hóa khiến cho đời sống con người được thoải mái”
Khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường định nghĩa: “Hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng
Trang 12ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,
sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” Định nghĩa này đã liệt kê đầy đủ các hình thức bảo vệ môi trường với các cấp độ khác nhau
Khoáng sản là một loại tài nguyên, là một bộ phận của môi trường Con người tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản (nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan) để thỏa mãn những nhu cầu của mình đồng thời cũng gây ra những tác động đến môi trường Vì vậy, cần thiết phải bảo
vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trên thực tế hiện nay, khái niệm “Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản” vẫn chưa được định nghĩa khái quát trong một văn bản cụ thể nào Vậy chúng ta có thể rút ra khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản dựa trên khái niệm ở trên như sau:
“Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp, công cụ phòng chống và khắc phục ô nhiễm, phục hồi
và cải thiện môi trường; khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản” 1.1.2.2 Đặc điểm của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia Khoáng sản là một thành phần của môi trường
vì vậy bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng là một phần trong tổng thể các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
nhằm mục đích:
•Phòng chống, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
•Phục hồi và cải thiện môi trường trong hoạt hoạt động khai thác
Trang 13khoáng sản
•Góp phần khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản
Thứ hai, cũng như hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ
môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cần được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau:
•Cấp độ cá nhân: để phục vụ nhu cầu trong cuộc sống của mình, con người đã và đang khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Bên cạnh những lợi ích, hoạt động khai thác khoáng sản còn có những tác động tiêu cực đến môi trường, mà trong đó, con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân Vì vậy, con người cần ý thức được tính hai mặt của hoạt động khai thác khoáng sản, từ đó biết cách sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; lựa chọn sử dụng những nguồn năng lượng, tài nguyên được coi là vô tận để thay thế cho tài nguyên khoáng sản và có ý thức bảo vệ tài nguyên khoáng sản nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung
•Cấp độ cộng đồng: Cộng đồng là tập thể người có gắn kết với nhau bằng những yếu tố kinh tế, xã hội hoặc tổ chức, chính trị Dù tồn tại dưới hình thức nào, gắn kết với nhau bằng yếu tố nào, các cộng đồng đều phải bảo vệ môi trường vì lợi ích của chính mình Để bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, ở cấp độ này, các biện pháp giáo dục, các hành động tập thể như các quy tắc, chương trình và biện pháp tập thể cần được chú trọng Theo nghiên cứu của Paul Collier trong cuốn The Bottom Billion, trong chuỗi giá trị ngành công nghiệp khai thác thì cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn tham vấn (FPIC) trước khi quyết định khai thác để xác định rõ các khu vực môi tường hoặc văn hóa quan trọng cần hạn chế hoạt động thăm dò và khai thác, thậm chí cả những khu vực cần được giữ lại để áp dụng các phương pháp khai thác cụ thể
(http://www.nature.org.vn/vn/tai_lieu/EITI_Basics_The
%20Value_Chain_Vietnamese.pdf)
•Cấp độ địa phương, vùng: môi trường của cộng đồng không tách rời khỏi môi trường chung nên việc bảo vệ môi trường sẽ đạt hiệu quả cao hơn
Trang 14nếu được tổ chức, thực hiện với sự tham gia của nhiều cộng đồng- với cấp
độ địa phương, vùng (thường theo địa giới hành chính cấp địa phương do
cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương tổ chức thực hiện) Cũng theo nghiên cứu của Paul Collier trong cuốn The Bottom Billion, trong chuỗi giá trị ngành công nghiệp khai thác thì chính quyền địa phương tham gia vào nhiều giai đoạn: giai đoạn quyết định khai thác(thông qua tham vấn với cộng đồng để quyết định khai thác); giai đoạn ký kết hợp đồng (cấp phép thăm dò, khai thác); giai đoạn quản lý và phân bổ nguồn thu từ hoạt động khai thác ( quản lý nguồn thu minh bạch và có kế hoạch phân bổ nguồn thu
để phục vụ mục đích bảo vệ môi trường như quỹ tài nguyên, đầu tư phục hồi và cải tạo môi trường sau khai thác khoáng sản)
•Cấp độ quốc gia: ngày nay, Nhà nước trung ương của tất cả các quốc gia đều xem bảo vệ môi trường như một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Trong hoạt động khai thác khoáng sản, các quốc gia đều chú trọng xây dựng các đơn vị chuyên trách, ban hành và thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch và pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm thực hiện thống nhất các hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô cũng như xác lập quan hệ quốc tế về môi trường
• Cấp độ quốc tế: bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng đang thu hút được sự quan tâm và hợp tác của toàn thế giới Hiện nay, có nhiều tổ chức quốc tế (phi Chính phủ và liên Chính phủ), các diễn đàn quốc tế, khu vực liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng Điển hình như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO),…
Thứ ba, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
được tiến hành bằng cách sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp Bao gồm:
•Biện pháp tổ chức - chính trị:
Chính trị được coi là một trong những biện pháp quan trọng của bảo
Trang 15vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng Ở những quốc gia mà ý thức về môi trường và bảo vệ môi trường của người dân cao và với thể chế đa đảng thì vấn đề môi trường được các đảng phái chính trị sử dụng nhằm thu hút sự ủng hộ chính trị của nhân dân và các tổ chức xã hội (nhất là trong những kỳ bầu cử cơ quan quyền lực các cấp) Ở Việt Nam, đường lối chính sách bảo vệ môi trường của Đảng Cộng sản Việt Nam được đưa ra không nhằm mục đích thu hút lá phiếu của cử tri hay giành giật quyền lực chính trị mà nhằm vạch ra đường lối đúng đắn phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với quan điểm phát triển bền vững Đảng ta đã ban hành nhiều văn kiện có nội dung liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường (nói chung và từng bộ phận môi trường cụ thể) Ngày 25 tháng 4 năm 2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã ban hành Nghị Quyết số 02-NQ/TW về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó,
mục tiêu của Nghị quyết là: “Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 và các diện tích biển ven bờ sâu đến 30m nước Xây dựng chuyên ngành điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản ở mức hiện đại,…; Nâng tỷ trọng ngành công nghiệp khai khoáng trong GDP từ khoảng 10% hiện nay lên 15-20% vào năm 2020 ….; Tăng dự trữ một số khoáng sản chiến lược vì lợi ích lâu dài của quốc gia”.
•Biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức môi trường
Ý thức của người dân có vai trò quan trọng đến công cuộc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng, do đó, cần thiết phải tuyên truyền, giáo dục ý thức môi trường cho người dân thông qua nhiều hình thức khác nhau như: đưa vào chương trình giáo dục, tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng,
tổ chức các hoạt động cụ thể
Trang 16•Biện pháp khoa học công nghệ
Trong quá trình khai thác khoáng sản, chất lượng máy móc, thiết bị được sử dụng cũng gây tác động không nhỏ đến môi trường Do đó, cần thiết phải áp dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ sao cho quá trình khai thác khoáng sản tạo ra ít hoặc không thải nhiều chất thải, sử dụng năng lượng và tài nguyên ít nhất Muốn làm được điều này, cần có trình độ khoa học công nghệ và nguồn tài chính nhất định
•Biện pháp pháp lý
Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước Trong công tác quản lý nhà nước về môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng, pháp luật chính là một công cụ hữu hiệu Thông qua hệ thống quy định, chế tài, pháp luật đã tạo dựng một khuôn khổ chung cho mọi người tuân thủ để bảo vệ môi trường
1.1.2.3 Vai trò của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Bên cạnh mang lại lợi ích về kinh tế, xã hội, hoạt động khai thác khoáng sản còn gây ra những tác động đến môi trường
Trước hết, khai thác khoáng sản làm cạn kiệt chính loại khoáng sản
đó Vì khoáng sản là tài nguyên có hạn và không tái tạo nên khai thác khoáng sản cũng có nghĩa là đang làm vơi đi một lượng tài nguyên của môi trường, ảnh hưởng đến sự cân bằng của các thành phần môi trường Nếu
Trang 17khai thác ồ ạt, không có kế hoạch thì tất yếu sẽ có những loại khoáng sản bị triệt tiêu Một nghiên cứu của Công ty dầu khí Anh Quốc British Petroleum (BP) chỉ ra rằng nếu con người vẫn sử dụng khoáng sản với tốc độ như hiện nay thì tính từ tháng 6 năm 2011: trữ lượng dầu mỏ trên thế giới chỉ còn đủ dùng trong vòng 46 năm nữa; khí gas trong tự nhiên cũng chỉ còn đủ dùng khoảng 58.6 năm; thiếu photpho thì cây cối không phát triển được, nhưng theo ước tính, từ 50-100 năm nữa, thế giới sẽ hết photpho, khoảng 188 năm nữa, thế giới sẽ không còn than để sử dụng
(http://facts.baomoi.com/2011/11/08/6-ngu%E1%BB%93n-tai-ki%E1%BB%87t-b%E1%BB%9Fi-7-t%E1%BB%B7-ng
nguyen-thien-nhien-s%E1%BA%AFp-b%E1%BB%8B-c%E1%BA%A1n-%C6%B0%E1%BB%9Di-tren-trai-d%E1%BA%A5t/ )
Tác động đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản không chỉ dừng lại ở việc làm cạn kiệt chính loại khoáng sản được khai thác, mà nguy hiểm hơn là sự tác động đến các thành phần môi trường khác Đây là vấn đề cấp bách, thu hút sự quan tâm của cộng đồng
Đối với đất đai, hoạt động khai thác khoáng sản có thể gây xói mòn, sụt đất, mất đất, ô nhiễm đất Trong khai thác quặng, nếu bóc lớp đất đá nằm phía trên quặng không hợp lý sẽ chôn vùi và mất đất mặt, đá mẹ lộ ra tạo ra một vùng đất kiệt vô dụng rộng lớn Sau quá trình khai thác mỏ thường để lại các dạng địa hình có tiềm năng gây sạt lở cao, làm ô nhiễm môi trường, gây nguy hiểm cho con người, súc vật, động vật hoang dã trong khu vực sau khai thác (Lê Diên Dực, Tác động môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường).
(http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/nctd42009/Pages/T
%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB
khai-th%C3%A1c-kho%C3%A1ng-s%E1%BA%A3n.aspx)
Trang 18%9Dng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-Bên cạnh đó, hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên, là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu
cơ, các nguyên tố phóng xạ cao hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng (Giáo trình khoa học môi trường đại cương) Theo Báo cáo
mang tên “Troubled Waters” (Tạm dịch: Nguồn nước đang lâm nguy) do tổ
chức bảo vệ môi trường Earthworks và cơ quan chuyên thanh tra mỏ Mining Watch Canada công bố cho thấy: một số hệ thống nước trên thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi chất thải từ các khu khai mỏ Hàng năm, lượng chất thải do hoạt động khai khoáng thải vào nguồn nước lên đến trên 180 triệu tấn và có tới 9 trong số những công ty khai mỏ hàng đầu thế giới chọn cách đổ trực tiếp chất thải ra môi trường thay vì tìm hướng xử
lý hiệu quả để giảm bớt tác động của các loại rác thải độc hại
(http://www.thiennhien.net/2013/04/30/con-sot-vang-va-he-luy-de-lai/)Bụi, khí độc, khí nổ, tiếng ồn trong khai thác khoáng sản cũng làm cho môi trường không khí bị ảnh hưởng Trong khai thác mỏ, ở tất cả các công đoạn đều sinh ra bụi Tại các mỏ lộ thiên, các máy khoan, bãi nổ mìn,
xe vận tải cỡ lớn, các băng tải, búa hơi, máy gò là nguồn gây ra tiếng ồn chủ yếu Trong hầm lò, độ ồn còn cao hơn do âm thanh từ tiếng xe goòng, máy khoan Ra khỏi các khu khai thác, các xe tải vận chuyển khoáng sản
Trang 19qua các trục đường cũng khiến người dân phải chịu ô nhiễm hàng ngày Ngoài ra, hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm cho các loại thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng
do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi
Ở nước ta, thời gian qua hoạt động khai thác khoáng sản đã gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường trên tất cả các địa phương Điển hình như: ô nhiễm môi trường ở các bãi than, các mỏ than ở Quảng Ninh; tình trạng tàn phá rừng phòng hộ đầu nguồn để đào vàng ở Bình Định chỉ vì tin đồn ở rừng đó có vàng; và mới đây, vẫn còn gây nhức nhối là vụ vỡ hồ chứa bùn titan vào ngày 18/11/2013 của công ty cổ phần Đầu tư khoáng sản và thương mại Bình Thuận (xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận) Lũ bùn đỏ cuốn trôi 3 xe máy, gây ngập úng cả khu vực rộng lớn tại khu vực giáp ranh huyện Hàm Thuận Nam và TP Phan Thiết Những phân tích trên cho thấy rằng, bên cạnh thỏa mãn những nhu cầu của con người, hoạt động khai thác khoáng sản còn mang đến cho môi trường những tác động tiêu cực Vì vậy, cần thiết phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế với những vấn nạn môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản mang lại Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những hoạt động nhằm đạt được sự cân bằng đó Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản có vai trò:
Thứ nhất, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
giúp tiết kiệm, bảo vệ tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản là có hạn và không tái tạo Do đó, đòi hỏi phải
có kế hoạch, biện pháp khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả Trong hoạt động khai thác khoáng sản, nếu Nhà nước quan tâm chỉ đạo, điều hành, khoanh vùng khoáng sản và tổ chức, cá nhân tuân thủ quy định của Nhà nước đồng thời áp dụng các biện pháp về khoa học, công nghệ để thu hồi khoáng sản hiệu quả, không để thất thoát trong quá trình phân loại, làm giàu, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác thì tài nguyên khoáng sản sẽ
Trang 20được tiết kiệm và sẽ có khả năng phục vụ lâu dài cho nhu cầu trong cuộc sống của con người.
Thứ hai, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
giúp phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường
Trong quá trình khai thác khoáng sản, tất yếu phải có những tác động tới môi trường Thực hiện bảo vệ môi trường sẽ giúp hạn chế, giảm thiểu những tác động xấu tới môi trường, ứng phó và giải quyết được với những
sự cố môi trường xảy ra
Thứ ba, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản giúp
khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường
Thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản giúp giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường
đã xảy ra do hoạt động khai thác khoáng sản, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường sau khi khai thác khoáng sản, đưa cảnh quan, môi trường trở về trạng thái trong lành
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, những chế định cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Hiện nay, trong số các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường nói chung
và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng thì biện pháp pháp lý được sử dụng phổ biến nhất Theo đó:
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
là một bộ phận của pháp luật môi trường Bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức, cá nhân và giữa các chủ thể tiến hành các
Trang 21hoạt động liên quan đến khai thác khoáng sản với nhau nhằm phòng chống
và khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản.
Từ khái niệm trên, có thể hiểu về pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản như sau:
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản là một bộ phận của pháp luật môi trường Pháp luật về môi trường bao gồm nhiều bộ phận, như: pháp luật về kiểm soát ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học; pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm không khí; pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước; pháp luật về quản lý chất thải; pháp luật về đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược; pháp luật về kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động có ảnh hưởng đặc biệt đến môi trường, Trong những hoạt động
có ảnh hưởng đến môi trường mà pháp luật điều chỉnh, có hoạt động khai thác khoáng sản Vì vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là một bộ phận của pháp luật môi trường
Thứ hai, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ: nhóm quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức, cá nhân và nhóm quan hệ giữa các chủ thể tiến hành các hoạt động liên quan đến khai thác khoáng sản với nhau Nhóm quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với các tổ chức, cá nhân gồm những quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về khoáng sản như: đánh giá thực trạng khoáng sản, hiện trạng môi trường trong khai thác khoáng sản quốc gia; xây dựng và thực hiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động khoáng sản, chiến lược, chính sách, kế hoạch về khai thác và sử dụng, bảo vệ khoáng sản; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản; thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; kiểm tra, thanh tra việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Trang 22trong hoạt động khai thác khoáng sản; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; Nhóm quan hệ giữa các chủ thể tiến hành các hoạt động liên quan đến khai thác khoáng sản với nhau gồm những quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động: xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan nhằm thu hồi khoáng sản như: phòng chống sự cố môi trường trong hoạt động khoáng sản; bồi thường thiệt hại
do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra,
Thứ ba, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản nhằm mục đích: phòng chống và khắc phục ô nhiễm; phục hồi
và cải thiện môi trường; khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản thông qua tạo dựng khung pháp lý quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
là một công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khait thác khoáng sản có những đặc điểm sau:
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là một bộ phận của pháp luật môi trường Các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là thành phần cấu thành ngành luật bảo vệ môi trường trong hệ thống pháp luật của các quốc gia
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt
Trang 23động khai thác khoáng sản và có ảnh hưởng đến môi trường Nghĩa là trong hoạt động khai thác khoáng sản có nhiều quan hệ, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản điều chỉnh những quan hệ có ảnh hưởng đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản chứ không phải điều chỉnh tất cả các quan hệ trong hoạt động khai thác khoáng sản Chẳng hạn như trong quá trình khai thác cát, do người đã thuê không
đi làm, chủ thể khai thác thuê thêm người lao động khác Đây là quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác khoáng sản, nhưng lại không chịu sự điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động Căn cứ vào địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, có thể phân chia đối tượng điều chỉnh của pháp luật
về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thành hai nhóm chính: Nhóm quan hệ có một bên tham gia là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và nhóm quan hệ mà các bên tham gia không mang quyền lực nhà nước
Về cơ bản, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản sử dụng kết hợp phương pháp điều chỉnh mệnh lệnh, quyền uy
và phương pháp bình đẳng Tùy thuộc địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản mà pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản sử dụng phương pháp mệnh lệnh, quyền uy (khi có cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia quan hệ) hay phương pháp bình đẳng (khi các chủ thể tham gia quan hệ không mang quyền lực nhà nước) Phương pháp mệnh lệnh, quyền uy được sử dụng trong những trường hợp như Quyết định cấp hoặc thu hồi hoặc cho phép chuyển nhượng giấy phép khai thác khoáng sản; Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; Phương pháp bình đẳng được sử dụng trong những trường hợp như
Trang 24thỏa thuận trong quá trình chuyển nhượng giấy phép khoáng sản; trong trường hợp giải quyết tranh chấp môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; Ngoài ra hiện nay, ở một số nước phát triển, nhà nước đang tăng cường sử dụng phương pháp kích thích lợi ích (còn gọi là phương pháp kinh tế hay phương pháp lợi ích vật chất) Theo đó, nhà nước áp dụng công cụ kinh tế như thuế môi trường, phí môi trường, hệ thống đặt cọc, ký quỹ đối với chủ thể tiến hành các hoạt động có ảnh hưởng đến môi trường Qua phương pháp này, nhà nước chuyển hóa chi phí cho môi trường vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp
Mục đích của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là nhằm phòng chống và khắc phục ô nhiễm; phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên
1.2.1.3 Những chế định cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm nhiều quy phạm pháp luật Nghiên cứu một cách có hệ thống, thấy rằng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản gồm những chế định cơ bản sau:
i) Chế định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản với tư cách
là một bên chủ thể có đặc trưng: mang quyền lực nhà nước và thực hiện chức năng quản lý Do đó, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản có những quy định về trách nhiệm của chủ thể này Bao gồm:
•Trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trang 25Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoáng sản
và môi trường, các cơ quan có thẩm quyền phải xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách, kế hoạch về khai thác, sử dụng và bảo vệ khoáng sản, bảo vệ môi trường Hoạt động này nhằm xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn về bảo vệ khoáng sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản ở từng thời kỳ nhất định, với sự tính toán, phân bổ cụ thể về quy mô, thời gian, cách thức tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản ở những khu vực, thời điểm nhất định
Để tạo điều kiện cho hoạt động trên được tiến hành một cách thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đưa ra quy định về thẩm quyền, căn cứ, nội dung, thủ tục xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch về khai thác, sử dụng, bảo vệ khoáng sản và môi trường
•Trách nhiệm xây dựng các chỉ tiêu, định mức về kỹ thuật trong khai thác khoáng sản và môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Hoạt động khai thác khoáng sản phải sử dụng các loại máy móc, dây chuyền công nghệ đặc thù như: thiết bị khoan thăm dò, thiết bị bảo quản khoáng sản,…mặt khác có ảnh hưởng đến chất lượng đất đai, nguồn nước, không khí, rừng,… Do đó, cần thiết phải xây dựng các chỉ tiêu, định mức, giới hạn về kỹ thuật trong khai thác và môi trường trong khai thác khoáng sản Những chỉ tiêu, định mức, giới hạn về kỹ thuật và môi trường này là căn cứ khoa học, pháp lý, công cụ kiểm soát không thể thiếu trong quá trình bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trên thế giới, quản lý môi trường đang có xu hướng kết hợp quản lý môi trường của nhà nước với tăng cường tự quản lý môi trường của doanh nghiệp thông qua triển khai áp dụng ISO 14.000- hệ thống tiêu chuẩn quốc
tế về quản lý môi trường - áp dụng trên tinh thần tự nguyện - do tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn xây dựng Ở nước ta, pháp luật bảo vệ môi trường đã quy định về thẩm quyền, trình tự, hiệu lực…của quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ
Trang 26thuật Đồng thời đã ban hành một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng trong bảo vệ môi trường và khai thác khoáng sản
•Trách nhiệm đánh giá hiện trạng môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trong quá trình quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành điều tra cơ bản, đánh giá thực trạng khoáng sản, hiện trạng môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Hoạt động này được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đánh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản, thực trạng về trữ lượng, chất lượng khoáng sản cũng như sự phân bố các loại khoáng sản đồng thời đánh giá tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới các thành phần môi trường ở những khu vực, thời điểm cụ thể, xác định những khu vực khai thác, chế biến khoáng sản có tính trọng điểm, gây ảnh hưởng lớn tới môi trường làm cơ sở cho việc thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường
và có biện pháp xử lý phù hợp với các chủ thể hoạt động khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường
Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã quy định về thẩm quyền, thủ tục, căn cứ và các tiêu chuẩn để thực hiện trách nhiệm đánh giá thực trạng khoáng sản, hiện trạng môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
•Trách nhiệm thẩm định, phê duyệt các báo cáo, đề án, dự án liên quan đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản quy định trách nhiệm thẩm định, phê duyệt các báo cáo, đề án, dự án liên quan môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Việc thẩm định các
đề án, báo cáo này giúp nhà nước nắm bắt một cách đầy đủ và toàn diện nội dung hoạt động khai thác khoáng sản, xác định loại khoáng sản sẽ được khai thác, ranh giới, diện tích khai thác và các loại thiết bị, công nghệ cũng như các biện pháp mà chủ thể khai thác khoáng sản (dự kiến) áp dụng để bảo vệ môi trường
•Trách nhiệm cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản
Trang 27Giấy phép khai thác khoáng sản là chứng thư pháp lý xác định những quyền và nghĩa vụ của người hoạt động khoáng sản Những quyền và nghĩa
vụ này không chỉ nhằm bảo vệ tài nguyên khoáng sản với tư cách là một tư liệu sản xuất mà còn với tư cách là một thành phần môi trường quan trọng, góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của con người và đất nước
Hoạt động cấp, gia hạn, thu hồi các giấy phép khai thác khoáng sản là biện pháp mang tính chất pháp lý để Nhà nước theo dõi, quản lý, kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Hoạt động này một mặt giúp hạn chế việc khai thác tài nguyên khoáng sản một cách bừa bãi, lãng phí, đồng thời kiểm soát được những tác động xấu đến môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản quy định thẩm quyền; tiêu chuẩn; điều kiện cấp, gia hạn; các trường hợp ngoại lệ; nội dung; thời hạn cấp giấy phép cũng như thu hồi các giấy phép khai thác khoáng sản
Hiện nay, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã có những quy định
về cấp phép khai thác khoáng sản Ví dụ như:
Theo Điều 2, Luật Khai khoáng Nhật Bản thì Nhà nước có thẩm quyền cấp quyền khai thác và chiếm hữu khoáng sản chưa khai thác Bên cạnh đó, Điều 7 Luật trên quy định: “Không một tổ chức nào được tự ý khai mỏ và cũng không được thu gom khoáng sản trừ khi đã được cấp quyền khai thác mỏ Trừ khí đốt, đolomit, sét sử dụng cho mục đích tiêu dùng gia đình và không có mục đích thu lợi nhuận” (Điều 7, Luật Khai khoáng Nhật Bản) Đồng thời, theo điều 17, ngoài công dân Nhật và công
ty của Nhật, không ai được sở hữu quyền khai thác mỏ, trừ khi có quy định khác của một hiệp ước
(http://www.hoivlxdvn.org.vn/index.php?
module=newlistDetail&newsId=958)
Theo Luật Khai khoáng Hàn Quốc thì Nhà nước có thẩm quyền cấp quyền khai thác và quyền chiếm hữu khoáng sản chưa khai thác (Điều 2-
Trang 28Luật Khai khoáng Hàn Quốc); Điều 6 Luật này quy định người nước ngoài
và pháp nhân nước ngoài, pháp nhân được thành lập theo pháp luật Cộng hòa Hàn Quốc trong đó có một nửa hoặc hơn một nwaar số vốn hoặc phần lớn phiếu biểu quyết thuộc về nười nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài thì không được cấp quyền khai thác, trừ khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên và được Hội đồng Quốc gia chấp thuận Theo Điều 14, Luật Khoáng sản thì thời hạn của một giấy phép khai khoáng không quá 25 năm, một người nắm giữ quyền khai thác có thể mở rộng thời hạn của một quyền khai thác với sự phê chuẩn của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên trước khi kết thúc của thời hạn
đó, dưới các điều kiện như đã quy định bởi Sắc lệnh Tổng thống Trong trường hợp này, như sự gia hạn sẽ được tạo ra cho một giai đoạn không nhiều hơn 25 năm
(http://www.hoivlxdvn.org.vn/index.php?
module=newlistDetail&newsId=958)
Theo Điều 5, Luật Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc thì: “Nhà nước thực hành chế độ cấp giấy phép thăm dò và khai thác khoáng sản có thu tiền bồi thường Bất cứ ai khai thác tài nguyên khoáng sản đều phải nộp thuế tài nguyên và tiền bồi thường tài nguyên khoáng sản theo các quy định liên quan của Nhà nước”
Trang 29phối hợp và các biện pháp mà lực lượng có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra được phép áp dụng.
•Trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trong hoạt động khai thác khoáng sản, phát sinh khiếu nại, tố cáo và tranh chấp là điều không thể tránh khỏi Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời quy định những yêu cầu
về trình tự, thủ tục, thời hạn và các biện pháp mà các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền được phép áp dụng để giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về môi trường
ii) Chế định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sảnBảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân Trong đó, các tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản là đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn đến chất lượng môi trường Vì thế, hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản phụ thuộc rất nhiều vào kết quả thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản có những quy định về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân như sau:
•Trách nhiệm xây dựng và thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, đề án, kế hoạch liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản quy định về chủ thể, nội dung, trình tự, thủ tục lập và trình báo cáo, cam kết, đề án, kế hoạch liên quan đến bảo vệ môi trường, trách nhiệm thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo, đề án, cam kết, kế hoạch đã xây dựng
•Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính nhằm bảo vệ môi trường
Trang 30trong hoạt động khai thác khoáng sản
Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thì các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính để bảo vệ môi trường như: nộp thuế tài nguyên, nộp phí bảo vệ môi trường, mua bảo hiểm môi trường, ký quỹ, đặt cọc để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, Mức tiền mà các chủ thể phải thực hiện được xác định căn cứ vào quy mô, sản lượng khai thác, loại khoáng sản khai thác, mức độ tác động đến môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản mang lại Quy định về trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính về môi trường của các chủ thể khai thác khoáng sản là hoàn toàn đúng đắn, nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ thể đối với công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời tạo có nguồn kinh phí để bảo vệ môi trường, bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước
•Trong quá trình tiến hành khai thác khoáng sản, các tổ chức, cá nhân phải thực hiện các biện pháp để bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Cụ thể:
Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết
bị, vật liệu phù hợp nhằm tránh những tác động xấu cho môi trường và sức khỏe người lao động
Phải thực hiện các biện pháp thu gom, phân loại, xử lý nước thải, chất thải theo quy định pháp luật Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế phát tán bụi, khí thải độc hại ra môi trường xung quanh
Sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn năng lượng và tài nguyên phục
vụ cho khai thác khoáng sản, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác
Kết hợp khai thác với cải tạo, phục hồi môi trường ngay trong quá trình khai thác khoáng sản
•Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản gây thiệt hại về môi trường thì
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra
iii) Chế định về sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trang 31Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
có những quy định về sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản như:
- Cộng đồng tham gia vào quá trình tham vấn trong việc lập và xác nhận thực hiện các báo cáo, đề án về bảo vệ môi trường
- Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.2 Những biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tính hoàn thiện của quy phạm pháp luật, công tác quản lý của nhà nước, ý thức trách nhiệm của các chủ thể liên quan và các yếu tố khác Trong đó, ý thức trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
có vai trò hết sức quan trọng Ý thức pháp luật tốt, thì pháp luật sẽ được thực thi tốt và ngược lại Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, các quốc gia đều đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao
ý thức pháp luật của người dân Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là trước lợi ích về kinh tế, nhiều người đã vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Vì vậy, chỉ tuyên truyền, giáo dục không thôi chưa đủ để pháp luật được thực thi, mà phải sử dụng biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật mang tính chất cưỡng chế bắt buộc: biện pháp xử lý vi phạm Bất cứ chủ thể nào vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm đều phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân
sự và trách nhiệm hình sự Theo đó:
•Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính chủ yếu được các cơ quan quản lý nhà nước
áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong
Trang 32hoạt động khai thác khoáng sản do các chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thì phải bị xử lý
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì cơ sở pháp lý của
xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 142/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng
10 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản Theo đó:
Vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản rất đa dạng, gồm: vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường; gây ô nhiễm môi trường; vi phạm quy định về quản lý chất thải; vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác; vi phạm quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, sự cố môi trường; vi phạm quy định về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác…
Tổ chức, cá nhân vi phạm có thể chịu một trong số các hình phạt chính sau: Cảnh cáo; Phạt tiền Với mức tiền phạt tối đa đối với mỗi hành
vi vi phạm là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức; Tước quyền sử dụng giấy phép khai thác khoáng sản từ 01(một) tháng đến 16(mười sáu) tháng
Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung (kèm theo hình phạt chính): Tước quyền sử dụng giấy phép khai thác khoáng sản từ 03(ba) tháng đến 12 (mười hai) tháng hoặc đình chỉ hoạt động từ 01(một) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
Bên cạnh đó, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài việc bị
Trang 33áp dụng hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Nghị định số 142/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 10 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và khoáng sản, thấy rằng chế tài hành chính là công cụ đắc lực nhất trong giai đoạn hiện nay, được cơ quan nhà nước sử dụng nhiều nhất để giải quyết các vụ việc về môi trường Các điều luật về xử lý vi phạm hành chính với quy định hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả đã cụ thể quá gần như hoàn toàn những việc cần làm đối với mỗi tổ chức, cá nhân khi vi phạm pháp luật môi trường
•Trách nhiệm dân sự
Nếu các chế tài hành chính áp dụng với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là cảnh cáo, tước quyền sử dụng giấy phép khai thác khoáng, buộc tháo dỡ công trình, xử lý
ô nhiễm thì trách nhiệm dân sự lại theo một hướng khác Trách nhiệm dân
sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được áp dụng đối với các chủ thể chủ yếu dưới hình thức bồi thường thiệt hại Pháp luật quy định ngoài trách nhiệm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi, tổ chức, cá nhân
có hành vi vi phạm còn phải khắc phục hậu quả theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường
•Trách nhiệm hình sự
Cùng với trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, để bảo đảm thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nói riêng và pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung, cần thiết phải
Trang 34sử dụng các chế tài hình sự Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường
Theo quy định của Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nếu gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí hoặc hủy hoại tài nguyên rừng, khu bảo tồn thiên nhiên thì sẽ bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 182, 189, 190,
191 Trong đó có quy định nhiều khung hình phạt khác nhau tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm
Ở Singapore, pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản để thực thi Hệ thống hình phạt được áp dụng đối với vi phạm pháp luật môi trường gồm:
+ Hình phạt tiền là hình phạt phổ biến nhất trong các đạo luật về môi trường của Singapore Theo các đạo luật ở Singapore thì có nhiều mức độ
vi phạt tiền khác nhau, tuỳ thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra
Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền một cách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người vi phạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ tự kết thúc mà không phải đưa ra Toà
+ Hình phạt tù
Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người vi phạm ngoan cố, khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tội những khoản lợi nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn không ngăn chặn được các hành vi mà người đó gây ra Ví dụ: theo Đạo luật về môi trường sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi đưa chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù đến 12 tháng Đối với những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến
Trang 3512 tháng.
+ Tạm giữ và tịch thu
Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thu các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội
+ Lao động cải tạo bắt buộc
Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà qua thực tiễn thực thi pháp luật về môi trường ở Singapore cho thấy đây là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các vi phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụng hình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất ít người tái phạm Cụ thể tại Mục 21A quy định: “Người nào từ 16 tuổi trở lên bị kết án vì vi phạm một trong các quy định tại mục 18 hoặc 20, và nếu trước khi anh ta bị kết tội, toà án thấy rằng để cải tạo người vi phạm và để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ cộng đồng liên quan đến môi trường, người vi phạm cần phải thực hiện công việc liên quan đến vệ sinh làm sạch các vị trí nhất định mà không được trả thù lao thì thay cho các quyết định hoặc hình phạt khác và trừ khi có những lý do đặc biệt Toà án sẽ ra quyết định bắt buộc lao động cải tạo đối với người vi phạm buộc họ phải thực hiện công việc nói trên dưới sự giám sát của các nhân viên giám sát, phù hợp với các quy định của mục này và mục 21B”
bao-ve-moi-truong-o-Singapore.aspx)
(http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Phap-luat/84/903/Phap-luat-ve-1.2.3 Những yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều yếu tố khác nhau trong kiến trúc thượng tầng cũng như cơ sở hạ tầng của xã hội Về cơ bản, quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản chịu sự tác động của những yếu tố sau:
Trang 36•Điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường
Các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường là những yếu tố thuộc cơ sở
hạ tầng, có vai trò quyết định sự ra đời, nội dung và sự phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường
Phát hiện ra tài nguyên khoáng sản và giá trị của nó, con người tiến hành khai thác khoáng sản để thỏa mãn những nhu cầu của mình Trong quá trình khai thác khoáng sản, đã có nhiều mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể, trong đó có những quan hệ liên quan đến môi trường Khi những quan hệ xã hội liên quan đến môi trường phát sinh trong hoạt động khai thác ngày càng nhiều lên, tất yếu xuất hiện nhu cầu phải có cơ chế, công cụ, biện pháp để điều chỉnh tốt những mối quan hệ này Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ra đời để đáp ứng nhu cầu đó Đồng thời, tình hình kinh tế, xã hội, môi trường còn là nhân tố quan trọng quyết định nội dung và sự phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cho thấy:
- Trong quá trình xây dựng pháp luật, tình hình kinh tế, xã hội, môi trường (mà cụ thể là nhu cầu sử dụng các loại khoáng sản, phương pháp khai thác khoáng sản, quan hệ trao đổi, mua bán khoáng sản, nhu cầu sử dụng nguồn kinh phí để bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm môi trường
do khai thác khoáng sản…) quyết định đến nội dung (các chế định), mức
độ và cơ chế điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Chẳng hạn: để để có nguồn kinh phí cho việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản, pháp luật có các quy định
về thuế, phí bảo vệ môi trường; để khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, pháp luật về bảo vệ môi trường quy định
về bồi thường thiệt hại và khắc phục sự cố môi trường
- Tình hình kinh tế, xã hội và môi trường cũng ảnh hưởng đến quá
Trang 37trình thực thi pháp luật Chẳng hạn như: khi nhu cầu tiêu thu một loại khoáng sản tăng lên, các chủ thể khai thác khoáng sản có thể vi phạm các quy định về giới hạn khu vực hoạt động khai thác khoáng sản để khai thác được nhiều khoáng sản hoặc khi có sự cố môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản xảy ra, các chủ thể quản lý nhà nước về môi trường tăng cường thực hiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
•Đường lối, chính sách của Đảng
Đường lối, chính sách là hệ thống các quan điểm, tư tưởng mang tính chất định hướng cho những nội dung, mặt hoạt động nhất định, gắn liền với quyền lực chính trị, với Đảng cầm quyền Trong việc xây dựng và thực thi pháp luật
về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, đường lối, chính sách của Đảng có vai trò hết sức quan trọng Thể hiện trên các khía cạnh:
- Đường lối, chính sách là cơ sở để xây dựng và quyết định nội dung
cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trước tình hình kinh tế, xã hội của quốc gia, của địa phương, Đảng đưa đường lối, chính sách để chỉ đạo điều hành Trong số những nội dung chỉ đạo, điều hành đó có định hướng xây dựng pháp luật, định hướng phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, định hướng bảo vệ môi trường.Trên cơ sở nội dung của các đường lối, chính sách về xây dựng pháp luật, bảo vệ môi trường, khai thác khoáng sản, nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách thành các quy định mang tính chất bắt buộc, điều chỉnh những quan hệ liên quan đến bảo vệ môi trường phát sinh trong quá trình khai thác khoáng sản Chẳng hạn như, ở nước ta, thực hiện Nghị Quyết số 02 - NQ/TW ngày 25-4-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trang 38để phù hợp với định hướng của Đảng trong thời kỳ mới
- Đường lối, chính sách giúp thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Không chỉ có vai trò đối với hoạt động xây dựng pháp luật, đường lối, chính sách còn có vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Các chính sách tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; các chủ trương chỉ đạo, quán triệt kiên quyết xử lý vi phạm pháp luật trong về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
đã đóng góp tích cực cho công tác thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
•Nhà nước
Nhà nước và pháp luật là hai yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Là một bộ phận của pháp luật nói chung, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng gắn bó chặt chẽ và chịu sự tác động từ Nhà nước Sự tác động của nhà nước đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm:
- Nhà nước ban hành và hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội, môi trường cũng như các chủ trương, chính sách liên quan, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
- Trong quá trình thực thi pháp luật, Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Với tư cách là chủ thể đặc biệt - mang quyền lực nhà nước và thực hiện chức năng quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện và tổ chức, hướng dẫn cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật, đồng thời tiến
Trang 39hành kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Do đó, hiệu quả thực thi pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước.
•Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm lý luận khoa học, tư tưởng, tình cảm, thái độ sự đánh giá của con người về pháp luật, về những hành vi của con người và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện pháp luật (Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.289)
Sự tác động của ý thức pháp luật tác động đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thể hiện dưới các khía cạnh:Trước hết, ý thức pháp luật là tiền đề lý luận trực tiếp để xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Trước sự vận động của các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, nhà làm luật cảm nhận, nắm bắt được sự biến đổi đó, rồi hình thành tư tưởng về xây dựng quy phạm pháp luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật đã
có để phù hợp với thực tiễn Trên cơ sở tư tưởng ấy, nhà làm luật soạn thảo
ra quy phạm pháp luật Ý thức pháp luật của nhà làm luật càng cao thì họ càng nắm bắt nhanh nhạy những biến đổi của kinh tế, xã hội, môi trường để
từ đó hình thành tư tưởng xây dựng pháp luật và thực hiện tư tưởng đó với
kỹ thuật xây dựng pháp luật cao Bên cạnh đó, nếu ý thức pháp luật của người dân cao, họ sẽ tham gia và tham gia hiệu quả vào hoạt động xây dựng pháp luật
Ý thức pháp luật có ảnh hưởng tới công tác tổ chức thực hiện và thực hiện pháp luật Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm: phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật Nếu chủ thể phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật có ý thức pháp luật cao thì họ sẽ luôn có tinh thần trách nhiệm trong việc phổ biến pháp luật Nếu ý thức pháp luật của các
Trang 40chủ thể này thấp thì kết quả này sẽ ngược lại Hoạt động thực hiện pháp luật được tiến hành dưới bốn hình thức là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Hiệu quả của bốn hình thức thực hiện pháp luật này đều phụ thuộc vào ý thức pháp luật của chủ thể Nếu các chủ thể có ý thức pháp luật cao thì họ sẽ luôn luôn tự kiềm chế được mình để không phạm vào những điều pháp luật ngăn cấm, thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ luật định, sử dụng đúng các quyền, áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật