1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd

27 340 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 470,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi khám phá ra tác động của những tranh luận này về việc cụ thể hóa mô hình hồi quy và chỉ ra rằng, nếu điểm này bị bỏ qua thì sai lệch để ước lượng tác động của các biến tài chín

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Richard Kneller, Michael F Bleaney, Norman Gemmell

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Sử Đình Thành

Trang 2

MỤC LỤC

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNGBẰNG CHỨNG TỪ

NHỮNG NƯỚC OECD

I GIỚI THIỆU 1

II CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: 3

III CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

1 Lý thuyết nền: 3

2 Bằng chứng thực nghiệm có sẵn 4

IV MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6

V DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 7

VI KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 9

1 Thống kê mô tả: 9

2 Kết quả thực nghiệm 11

3 Kiểm tra sự bền vững 14

3.1 GDP ban đầu 14

3.2 Thời kỳ 5 năm thay thế 15

3.3 Ước tính biến công cụ 16

3.4 Phân loại lại biến tài chính 18

VII KẾT LUẬN 20

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tổng hợp lý thuyết của phân loại chính thức

Bảng 2: Thống kê mô tả

Bảng 3: Kết quả hồi quy

Bảng 4: Xác định sai giới hạn ngân sách

Bảng 5: Thu nhập ban đầu bỏ qua từ hồi quy

Bảng 6: Ước tính bằng biến công cụ

Bảng 7: Phân phối lại việc giải thích tài chính

Trang 5

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG

BẰNG CHỨNG TỪ NHỮNG NƯỚC OECD

Richard Knellera, Michael F Bleaneyb, *, Norman Gemmellb

Viện Quốc gia Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội, Luân Đôn, Vương quốc Anh Trường Kinh tế, Đại học Nottingham, Nottingham, Vương quốc Anh

Nhận được ngày 01 Tháng mười 1998, nhận được bản sửa đổi ngày 01 Tháng 12

1998, chấp nhận ngày 01 tháng 12 năm 1998

I GIỚI THIỆU

Phần chi tiêu của chính phủ cho sản xuất, thành phần của chi tiêu và thu nhập có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dài hạn không? Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Swan (1956), câu trả lời là hầu như không Thậm chí nếu chính phủ có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dân số, ví dụ như cách giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em hoặc khuyến khích việc sinh con, điều này sẽ không ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của thu nhập theo đầu người Trong

mô hình này, thuế và mức chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc việc khuyến khích đầu tư vào vốn vật chất hoặc vốn nhân lực thì cuối cùng ảnh hưởng đến các tỷ

lệ nhân tố cân bằng hơn là đến tốc độ tăng trưởng ổn định

Ngược lại, trong những mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư vào con người

và vốn hữu hình sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ổn định và do đó nhiều khả năng trong những mô hình này có thể chỉ ra ít nhất vài thành phần của thuế và chi tiêu công đóng vai trò trong quá trình tăng trưởng Kể từ khi sự đóng góp tiên phong của Barro (1996), King và Reblo (1990) và Lucas (1990), nhiều nghiên cứu

đã mở rộng phân tích thuế, chi tiêu công và tăng trưởng, chứng minh với những điều kiện khác nhau những biến tài chính có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dài hạn (xem, ví dụ, Jones và cộng sự, 1993; Stockey và Rebelo, 1995; Mendoza và cộng sự, 1997)

Lý thuyết hoàn toàn rõ ràng hợp lý tuy nhiên bằng chứng thực nghiệm thì không Như Stockey và Rebelo (1995, trang 519) phát biểu “những ước tính gần đây về sự ảnh hưởng của cải cách thuế đến tăng trưởng tiềm năng thay đổi một cách đáng kể, biến động từ 0 đến 8 điểm %” Thực ra hầu như không có nghiên cứu nào được thiết kế để kiểm tra các dự đoán của mô hình tăng trưởng nội sinh đối với cấu

Trang 6

trúc của cả thuế và chi tiêu theo cách mà chúng tôi làm ở đây (Devarajian và cộng

sự (1996) chỉ nghiên cứu cho vần đề chi tiêu) Ngoài ra một vài nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng những nghiên cứu từng phần (ví dụ những nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn đề ngân sách mà bỏ qua những vấn đề khác) chấp nhận sai số hệ thống để ước lượng tham số kết hợp với những giả định tài chính tiềm ẩn Điểm này đã được giải thích bởi Helms (1985), Mofidi và Stone (1990) và Miller và Russek (1193) cho nhiều bộ dữ liệu khác nhau Chúng tôi khám phá ra tác động của những tranh luận này về việc cụ thể hóa mô hình hồi quy và chỉ ra rằng, nếu điểm này bị bỏ qua thì sai lệch để ước lượng tác động của các biến tài chính đến tốc độ tăng trưởng có thể rất đáng kể Vấn đề này giả định quan trọng hơn vì lý thuyết trở nên tinh tế hơn trong việc dự đoán sự tác động của những thành phần khác nhau của chi tiêu và thuế đến tăng trưởng

Trong bài nghiên cứu này chúng tôi kiểm tra những dự đoán cụ thể của mô hình tăng trưởng nội sinh chính sách công gần đây như Barro (1990) và Medoza và cộng sự (1997), chú ý cẩn thận để tránh nguồn gốc sai lệch vừa được đề cập Sử dụng các tiêu chuẩn đề xuất của những mô hình này để phân loại dữ liệu tài chính, chúng tôi xem xét tác động đến tăng trưởng của chính sách tài khoá cho 1 nhóm 22 quốc gia OECD, 1970 – 95 Chúng tôi thấy: (i) Hỗ trợ đáng kể cho những dự đoán của Barro (1990) với sự chú ý đến ảnh hưởng của cấu trúc thuế và chi tiêu đến tăng trưởng (ii) Việc không cụ thể hóa giới hạn ngân sách chính phủ dẫn tới việc ước lượng tham số rất khác nhau mà trong những nghiên cứu trước đây đã bị nhầm lẫn với không bền vững; và (iii) những kết quả của chúng tôi là mạnh đối với một số thay đổi trong phân loại dữ liệu hay cụ thể hóa mô hình hồi quy

Phần còn lại của bài nghiên cứu được sắp xếp như sau Chúng tôi tóm tắt những dự đoán chính của mô hình tăng trưởng nội sinh chính sách công gần đây và thảo luận những tác động của giới hạn ngân sách chính phủ đối với thử nghiệm thực nghiệm Lý thuyết thực nghiệm có liên quan được trình bày ở phần 3.Phần 4 thảo luận về phương pháp và kết quả thực nghiệm cho mẫu là các nước OECD.Phần 5 đưa ra một số kết luận

Trang 7

II CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

1 Có bằng chứng thực nghiệm về cấu trúc của thuế và chi tiêu công có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dài hạn trong mô hình tăng trưởng nội sinh hay không? (Bao gồm các yếu tố thuế bóp méo, thuế không bóp méo thì không, chi tiêu của chính phủ cho sản xuất, chi tiêu phi sản xuất )

2 Giới hạn ngân sách của chính phủ có ảnh hưởng đến hệ số ước lượng của mỗi biến tài chính trong mô hình hồi quy hay không?

1 Lý thuyết nền:

Như đã biết, mô hình tăng trưởng tân cổ điển chính sách công (xem, ví dụ Judd, 1985; Chamley, 1986) ủy thác vai trò của chính sách tài khóa cho một trong những quyết định đầu ra hơn là tốc độ tăng trưởng dài hạn Tốc độ tăng trưởng bền vững được lèo lái bởi các yếu tố ngoại sinh của tăng trưởng dân số và tiến bộ công nghệ, trong khi chính sách tài khóa có thể chỉ ảnh hưởng đến con đường chuyển đổi sang trạng thái bền vững này Ngược lại, mô hình tăng trưởng nội sinh chính sách công của Barro (1990), Barro và Sala-i-Martin (1992), (1995) và Mendoza và cộng

sự (1997) cung cấp cơ chế mà chính sách tài khóa có thể xác định cả mức sản lượng đầu ra và tốc độ tăng trưởng bền vững

Những dự báo từ những mô hình tăng trưởng nội sinh này được lấy từ việc phân loại các thành phần của ngân sách chính phủ vào một trong 4 nhóm: thuế bóp méo hoặc thuế không bóp méo, chi tiêu sản xuất hoặc chi tiêu phi sản xuất Thuế bóp méo ở trong bối cảnh này là những loại thuế ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư (đối với vốn hữu hình hoặc vốn con người) tạo thành cái nêm thuế

và do đó bóp méo tốc độ ổn định của tăng trưởng Thuế không bóp méo không ảnh hưởng đến quyết định tiết kiệm hay đầu tư vì bản chất không có thật của các chức năng ưu tiên và vì thế không ảnh hưởng đến tốc độ của tăng trưởng Chi tiêu của chính phủ được phân biệt tùy thuộc vào việc chúng có được bao gồm như những tranh luận trong chức năng sản xuất tư nhân hay không.Nếu có, thì chúng sẽ được phân loại vào chi tiêu sản xuất và vì vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng Nếu không thì chúng sẽ được phân loại vào chi tiêu phi sản xuất và không

Trang 8

ảnh hưởng đến tốc độ ổn định của tăng trưởng (xem Barro và Sala-i-Martin, 1995

để trình bày lý thuyết rõ ràng hơn)

Những kết quả này có thể được mở rộng thành nhiều cách khác nhau, ví dụ bằng cách cho phép hàng hóa do chính phủ cung cấp được sản xuất dưới dạng tồn kho hơn là hình thức lưu thông (Glomm và Ravikumar, 1994, 1997) hoặc cho phép

có nhiều hình thức thuế khác nhau được bóp méo (hoặc hình thức khác nhau chi tiêu cho sản xuất) ở các mức độ khác nhau (Devarajan và cộng sự, 1996; Mendoza

và cộng sự, 1997) Tất nhiên có tranh luận về việc phân loại của các chi tiêu cụ thể như cho sản xuất hay phi sản xuất hoặc của các loại thuế cụ thể như thuế bóp méo hay không bóp méo và đây là điểm mà chúng ta sẽ quay trở lại trong phần thực nghiệm

Những mô hình này dự báo sự thay đổi của thu nhập quốc gia từ các hình thức bóp méo của thuế và hướng tới hình thức không bóp méo có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng, trong khi việc chuyển đổi hình thức chi tiêu từ sản xuất hướng đến phi sản xuất làm chậm tăng trưởng Thuế không bóp méo được tài trợ tăng trong chi tiêu cho sản xuất được dự báo là có ảnh hưởng tích cực đến tốc độ tăng trưởng Trong khi với việc tài trợ thuế bóp méo mức ảnh hưởng đến tăng trưởng được dự báo không rõ ràng Cuối cùng chi tiêu phi sản xuất được tài trợ bằng thuế bóp méo

có ảnh hưởng tiêu cực một cách rõ ràng đến tăng trưởng, nhưng ảnh hưởng bằng 0

sẽ được dự đoán nếu tài trợ bằng thuế không bóp méo (xem Barro, 1990)

2 Bằng chứng thực nghiệm có sẵn

Hầu hết các lý thuyết thực nghiệm kiểm tra mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với các biến tài chính trước ngày mô hình tăng trưởng nội sinh chính sách công được nói đến ở trên, và thay đổi về bộ dữ liệu, kỹ thuật kinh tế lượng và chất lượng Bản chất đặc biệt của hầu hết những lý thuyết trước năm 1990 là nó cung cấp, lúc tốt nhất, những thử nghiệm thô của giá trị thực tiễn của mô hình tăng trưởng nội sinh (cũng như bị những sai lệch như đã đề cập trước đó) và những kết quả thì rất dễ thay đổi

Trong Kneller và cộng sự (1998) chúng tôi lập bảng những nghiên cứu chính

và những kết quả quan trọng của chúng, phân loại chúng theo biến tài chính trong hàm hồi quy (thuế, chi tiêu tiêu dùng công, chi phí chuyển nhượng/ phúc lợi, đầu tư công) Dấu và ý nghĩa của hệ số không bền vững trên diện rộng, thậm chí trong một

Trang 9

vài trường hợp, các biến tương tự nhau trong những mô hình hồi quy cụ thể tương

tự cũng cho thấy như vậy, một vấn đề cũng đã được giải thích bởi Levine và Renelt (1992) Easterly và Rebelo (1993) cung cấp thêm bằng chứng về việc không mạnh của các biến tài chính bằng cách chứng minh sự phụ thuộc của chúng dựa trên một tập hợp các biến điều kiện và những điều kiện ban đầu

Sự không bền vững này có thể một phần phản ánh xu hướng thêm các biến tài chính vào mô hình hồi quy trong cách thức tương đối đặc biệt mà không chú ý đến giới hạn tuyến tính được ám chỉ bởi giới hạn ngân sách chính phủ Chỉ Helms (1985), Modifi và Stone (1990) và Miller và Russek (1993) đã giải quyết vấn đề này Miller và Russek, ví dụ, nhận thấy (đối với bảng dữ liệu hàng năm cho 39 nước, 1975 – 84) rằng hiệu ứng tăng trưởng của việc thay đổi trong chi tiêu phụ thuộc chủ yếu vào cách thức mà việc thay đổi trong chi tiêu đó được tài trợ Nhìn chung những kết quả của họ cho thấy rằng việc tài trợ những thay đổi trong chi tiêu bằng thuế đem lại hiệu ứng tăng trưởng không đáng kể, và chúng xảy ra, tác động tiêu cực có xu hướng liên quan đến những thay đổi tài trợ thâm hụt ngân sách bằng thuế hoặc chi tiêu Tuy nhiên chúng không phân biệt các biến khác nhau của chi tiêu và nguồn thu trong cách đề xuất của mô hình tăng trưởng nội sinh

Tầm quan trọng của việc cụ thể hóa hoàn toàn giới hạn ngân sách chính phủ được đưa ra bởi những kết quả thực nghiệm gần đây Mendoza và cộng sự (1997) kết luận rằng hỗn hợp thuế có tác động không đáng kể đến tăng trưởng (mặc dù nó ảnh hưởng đáng kể đến đầu tư tư nhân), nhưng bởi vì mô hình hồi quy của họ không bao gồm biến chi tiêu cho nên ước tính của họ bị sai lệch bởi việc tài trợ một phần tiềm ẩn của chi tiêu sản xuất Điều này được xác nhận bởi Kocherlakota và Yi (1997) tìm thấy rằng thuế ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng chỉ khi nào chi đầu tư công được bao gồm trong mô hình hồi quy Xem xét của chúng tôi về bằng chứng trong Kneller và cộng sự (1998) cũng làm nổi bật ước lượng chi tiêu chính phủ ảnh hưởng lên tăng trưởng trong phạm vi rộng Tuy nhiên hầu hết những nghiên cứu này không bao gồm (hoặc rất ít) biến về thuế Có một số hỗ trợ cho quan điểm đầu

tư công vào giao thông và thông tin liên lạc ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng, trong khi thuế thu nhập có xu hướng có một hệ số âm đáng kể, nhưng mặt khác có rất ít sự nhất quán giữa các nghiên cứu

Trang 10

IV MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong lý thuyết nghiên cứu thực nghiệm một vấn đề quan trọng đã thường xuyên bị xem nhẹ - là việc tài trợ rõ ràng hay tiểm ẩn của thay đổi 1 đơn vị trong một yếu tố của ngân sách chính phủ sẽ ảnh hưởng đến hệ số ước lượng Khái quát

it m

1 j jt j k

1 i it i

it mt m

1 m

1 i jt j k

1 i it i

1 i

jt m j k

1 i it i

xác hệ số của mỗi biến tài chính là do ảnh hưởng của việc thay đổi một đơn vị trong các biến liên quan được bù đắp bởi thay đổi 1 đơn vị trong biến bị bỏ qua Nếu biến được chọn để bỏ qua bị thay đổi thì hệ số ước lượng của tất cả các biến sẽ thay đổi Điều này ám chỉ rằng, nhà nghiên cứu phải cẩn thận để chọn biến loại bỏ “trung

Trang 11

Ngụ ý rằng có thể chỉ kiểm tra sự khác nhau giữa 2 giá trị , còn mỗi giá trị

Điều này thích hợp khi lý thuyết cho rằng có nhiều hơn 1 biến trung lập (trong trường hợp này là thuế không bóp méo và chi tiêu phi sản xuất), trong trường hợp

qua, thì ước lượng tham số chính xác hơn có thể đạt được bằng cách bỏ qua cả 2 biến Nói cách khác, quy trình thích hợp là thử nghiệm đi từ việc chi tiết nhất của giới hạn ngân sách chính phủ cho đến việc miêu tả không đầy đủ, cẩn thận để chỉ bỏ qua những yếu tố mà lý thuyết cho rằng sẽ có ảnh hưởng đến tăng trưởng không đáng kể Nếu điều này không được thực hiện, và (ví dụ) những biến chi tiêu được

bỏ qua từ việc hồi quy và chỉ còn lại các biến thuế (như Mendoza và cộng sự, 1997), thì kết quả sẽ bị sai lệch do việc tài trợ phần tiềm ẩn bởi yếu tố không trung lập của ngân sách chính phủ Trong trường hợp được trích dẫn, một đơn vị thuế tăng lên sẽ tài trợ một phần cho chi tiêu sản xuất, tác động ước tính (tiêu cực) sẽ bị sai lệch về 0 (chúng tôi trình bày bằng chứng về điều này sau)

V DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Như đã nói ở trên, trong loại mô hình tăng trưởng nội sinh có liên quan đến nghiên cứu này, các kết quả được tìm ra bằng cách phân loại các biến tài chính vào một trong bốn loại Để có những điều này chúng ta thêm thặng dư ngân sách chính phủ, các khoản thu nhập và chi tiêu mà sự phân loại của nó thì không rõ ràng (chúng ta gán là những “nguồn thu khác” và "chi tiêu khác”) Chúng ta tổng hợp những phân loại chính thức của IMF về dữ liệu tài chính thành bảy loại chính được

mô tả trong Bảng 1 và sau đó kiểm tra độ nhạy của kết quả phân loại này của dữ liệu

Bảng 1: Tổng hợp lý thuyết của phân loại chính thức

Đóng góp an sinh xã hội Thuế đánh trên lương và nhân lực Thuế đánh trên tài sản

Trang 12

Thuế không gây bóp méo Thuế đánh trên đối hàng hóa và dịch vụ nội địa

Khoản thu nhập không chịu thuế Các khoản thu nhập chịu thuế khác

Chi tiêu quốc phòng Chi tiêu giáo dục Chi tiêu y tế Chi tiêu nhà ở Chi tiêu vận tải và thông tin liên lạc

Chi tiêu cho giải trí Chi sự nghiệp kinh tế

Lưu ý: việcphân loại chính thức miêu tả cách phân loại được cho trong nguồn dữ liệu

Một vấn đề quan trọng là việc phân bổ các khoản thuế và chi tiêu, một cách tương ứng, thành loại bóp méo / không bóp méo và loại sản xuất /phi sản xuất Trong khi xét trên một số phương diện, tất cả các loại thuế chính được sử dụng trong các nước OECD là loại bóp méo, trong thử nghiệm những mô hình tăng trưởng nội sinh sự biến dạng liên quan nhằm khuyến khích đầu tư (trong vốn hữu hình và / hoặc vốn con người) Theo Barro (1990), chúng ta xem thuế thu nhập và thuế đánh trên tài sản như là 'sự bóp méo' và thuế đánh trên tiêu dùng (dựa trên chi tiêu) được xem như "không gây bóp méo”, trên cơ sở đó cuối cùng không làm giảm lợi nhuận trên đầu tư, mặc dù nó có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn lao động hay nghỉ ngơi Tất nhiên, trong nhiều mô hình phức tạp (như là Mendoza và cộng sự, 1997) thuế tiêu dùng làm sai lệch các quyết định đầu tư (một cách gián tiếp) trong chừng mực nào đó chúng ảnh hưởng đến lựa chọn lao động, giáo dục, giải trí của các chủ thể Tuy nhiên lưu ý rằng, việc phân loại của chúng ta về thuế tiêu dùng như "không bóp méo" là một giả thuyết (cái mà chúng ta kiểm chứng sau này), chứ không phải là một giả định của mô hình thực nghiệm Việc chia chi tiêu thành loại sản xuất hoặc phi sản xuất chúng ta áp dụng theo Barro và Sala-i-Martin (1995);

Trang 13

Devarajan và cộng sự (1996) và xem chi tiêu với một thành phần vốn đáng kể (vốn hữu hình hoặc vốn con người) là 'sản xuất' Loại chi tiêu 'phi sản xuất' chủ yếu là chi tiêu an sinh xã hội

Tập hợp dữ liệu của chúng tôi bao gồm 22 quốc gia phát triển giai đoạn 1970-1995, từ hai nguồn.Dữ liệu ngân sách chính phủ đến từ GFSY, dữ liệu còn lại

là từ Bảng biểu Ngân hàng thế giới (xem Phụ lục A) Những số liệu này là hàng năm, nhưng chúng ta thực hiện theo các tiêu chuẩn thực hành lấy trung bình 5 năm

để loại bỏ những ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế, và sau đó chúng ta áp dụng các kỹ thuật kinh tế lượng đối với bảng dữ liệu tĩnh Thông qua cách tiếp cận tiêu chuẩn làm cho nó dễ dàng hơn để so sánh kết quả của chúng ta với những nơi xuất bản khác Ở giai đoạn sau, chúng tôi xem xét độ nhạy của những kết quả được tìm thấy theo thời gian khác nhau của dữ liệu

Phương trình hồi quy của chúng tôi theo các hình thức của phương trình (3)

ở trên Chúng tôi ban đầu xem xét năm dạng khác nhau của bảng dữ liệu ước lượng cho mỗi hồi quy: gộp OLS, một chiều (biến giả quốc gia) được cố định (bằng OLS)

và ngẫu nhiên (bằng GLS) và hai chiều (tác động quốc gia và thời gian) được cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

VI KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

1 Thống kê mô tả:

Bảng 2 đưa ra một số thống kê mô tả cho tập dữ liệu Tập hợp các biến điều kiện bao gồm tỷ lệ đầu tư, tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động và GDP ban đầu Có thể thấy rằng các quốc gia mẫu của chúng ta tăng trưởng, trung bình, khoảng 2,8% bình quân đầu người mỗi năm, với tỷ lệ đầu tư vượt quá 20% và tăng trưởng lực lượng lao động khoảng 1% hằng năm Trong số các biến tài chính, loại thuế bóp méo của chúng ta sinh lợi gấp hai lần nguồn thu (trung bình 18% GDP), tương tự thuế không gây bóp méo, trong khi hai loại chi tiêu chính, mỗi loại khoảng 15% GDP

các mô hình ảnh hưởng cố định (mô hình sai số một chiều và cả hai chiều) Từ thử nghiệm của Hausman bác bỏ giả thuyết ban đầu không có sự tương quan giữa các

Ngày đăng: 11/04/2014, 09:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thống kê mô tả - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
Bảng 2 Thống kê mô tả (Trang 14)
Bảng 3: Kết quả hồi quy - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
Bảng 3 Kết quả hồi quy (Trang 15)
Bảng 4: Xác định sai giới hạn ngân sách - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
Bảng 4 Xác định sai giới hạn ngân sách (Trang 17)
Bảng  4  cho  thấy  độ  chênh  lệch  ước  lượng  các  biến  thì  thường  quan  trọng.  Trong cột 1 và 2 ba biến chi phí và thuế bị bỏ qua, tương ứng, từ hồi quy, trong khi - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
ng 4 cho thấy độ chênh lệch ước lượng các biến thì thường quan trọng. Trong cột 1 và 2 ba biến chi phí và thuế bị bỏ qua, tương ứng, từ hồi quy, trong khi (Trang 17)
Bảng 3 được dựa trên mức trung bình 5 năm của năm với những con số cuối  cùng 0-4  và 5-9 - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
Bảng 3 được dựa trên mức trung bình 5 năm của năm với những con số cuối cùng 0-4 và 5-9 (Trang 19)
Bảng 7: Phân phối lại việc giải thích tài chính - tiểu luận giscal policy and growth evidence from oecd countries - chính sách tài khóa và tăng trưởng bằng chứng từ những nước oecd
Bảng 7 Phân phối lại việc giải thích tài chính (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w