MỤC LỤC Lời mở đầu Chương I: Điểm khác biệt trong tiêu chí phân loại dự án và đánh giá tác động của dự án ấy lên môi trường 1, Phân loại dự án đầu tư 2, Đánh giá sơ bộ tác động môi trường của các dự án thuộc Nhóm I Chương II: Thay đổi về quy định Giấy phép Môi trường Chương III: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt thông qua hoạt động phân loại chất thải. 1, Phân loại, lưu trữ và chuyển giao Chất thải rắn sinh hoạt. 2, Đối với thu gom, vận chuyển Chất thải rắn sinh hoạt 3, Cơ chế thu gom Chương IV: Vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường Chương V: Một số góc nhìn cá nhân về Luật Bảo vệ Môi trường 2020 Tổng kết 2 3 3 4 5 7 7 8 8 8 9 10 1 Lời mở đầu Môi trường vẫn luôn là vấn đề tốn rất nhiều bút mực của dư luận trong nước và quốc tế. Vấn đề này đã là tâm điểm của chú ý từ những năm đầu của thế kỷ 21; năm 2007, Ngân hàng thế giới đưa ra một báo cáo cho rằng Việt Nam là một trong những quốc gia chịu sự ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu1, một số vấn đề chính được nêu ra là ô nhiễm đất, suy thoái tài nguyên rừng. ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, mất đa dạng sinh học và những vấn đề khác liên quan đến xử lý chất thải rắn2. Trong số đó, các chuyên gia cũng nhận định ba mục tiêu mà chính phủ Việt Nam cần đạt được trong giai đoạn 2022 – 2025. Thứ nhất, cần bảo tồn nguồn nước ngọt, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh. Thứ hai, tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng trầm trọng do số lượng rừng giảm mạnh, khí thải phương tiện giao thông cao kết hợp với sự quy hoạch đô thị hoá thiếu khoa học. Cuối cùng là vấn đề môi trường biển, Luật Biển Việt Nam và Luật Biển UNCLOS 1982 cũng là đề tài trọng tâm của học phần Công pháp quốc tế trong học kì này. Bàn về đôi nét tổng quan về đặc điểm của các bờ biển Việt Nam, đường bờ biển của Việt Nam dài 3200 km với sự đa dạng sinh học cao, tuy nhiên, phát triển công nghiệp lại khiến cho vùng biển ven bờ và cửu sông Việt Nam bị ô nhiễm. Tác động của hoạt hàng hải cũng chiếm vai trò lớn do nước thải từ các phương tiện vận tải. Đứng trước những thách thức đó, Quốc hội nước Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2020 vào ngày 17 tháng 11 năm 2020, bao gồm 16 Chương, 171 Điều, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022. Mục tiêu của bài luận này sẽ là phân tích một số điểm mới của Luật này so với Luật tiền nhiệm trước đó là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, đồng thời đưa ra những quan điểm nhận xét về ý nghĩa cũng như sự tác động của những thay đổi này đối với môi trường Việt Nam trong tương lai. 1Waibel, Michael 2008 “Implication and Challenges of Climate Change for Vietnam”, Pacific News, 29, pp.2627 2 Nghiên cứu về tình trạng của Môi trường Việt Nam do Chính phủ Việt Nam thực hiện năm 2001 2 Chương I: Điểm khác biệt trong tiêu chí phân loại dự án và đánh giá tác động của dự án ấy lên môi trường 1. Phân loại dự án đầu tư Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 phân loại các dự án đầu tư về môi trường thành 04 nhóm, trong đó: a)Nhóm I: có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao; b)Nhóm II: có nguy cơ; c)Nhóm III: có ít nguy cơ; d)Nhóm IV: không có tác động xấu đến môi trường. Bằng cách sử dụng biện pháp phân loại này, các nhà làm luật cho rằng ưu điểm của sự phân loại này là giảm thủ tục hành chính cho nhà đầu tư. Đồng thời sàng lọc những dự án nào cần phải có sự đánh giá kĩ lưỡng về mặt chuyên môn hơn về các tác động của chúng đối với môi trường, đối với những dự án không có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sẽ không phải trải qua các bước cấp phép rườm rà. Trong khoản 1 của Điều nay, có tất cả 06 trường hợp các dự án được xếp loại vào dự án đầu tư nhóm I. Điều 29 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng quy định về các đối tượng phải thực hiện đánh giá sơ bộ về tác động đối với môi trường, cụ thể hơn là các dự án đầu tư thuộc Nhóm I quy định tại Khoản 3 Điều 28 của điều luật này. Bên cạnh đó, cũng tồn tại quy định mà nhà đầu tư cần lưu ý về loại dự án đầu tư thuộc nhóm II quy định tại điểm c, d, đ và e Khoản 4 Điều 28 của Luật này. Trong đó, Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ là hai nhóm có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư. Những dự án thuộc Nhóm II ngoài bao hàm những yếu tố về tác động môi trường ra còn có một số đặc điểm khác bao gồm: a)Dự án đầu tư nằm trên địa bản 02 tỉnh trở lên; b)Dự án nằm trên vùng biển mà không chịu sự quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; 3 c)Dự án thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình, Uỷ biên Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, Ông Phạm Văn Tuân cho rằng, quy định như vậy về phân loại dự án sẽ đảm bảo sự thống nhất các tiêu chí trong việc đánh giá sơ bộ các tác động của môi trường và đảm bảo tính linh hoạt trong việc điều chỉnh danh mục đối tượng cần phải đánh giá. Đây không phải là lần đầu tiên các nhà làm luật Việt Nam áp dụng phương pháp phân loại dự án, Khoản 2 Điều 49 Luật Xây dung 2014 cũng đã chia dự án đầu tư xây dụng theo quy mô, tính chất, loại công trình than dự án nhóm A, B và C. Việc phân loại dự án như vậy đã gặt hái được những thành công nhất định trong công cuộc minh bạch hoá và tạo điều kiện cho chủ đầu tư thực hiện dự án một cách khoa học nhất. 2. Đánh giá sơ bộ tác động môi trường của các dự án thuộc Nhóm I Việc đánh giá sơ bộ tác động của dự án đối với môi trường có ý nghĩa quan trọng đối với thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường. Trước tiên, chúng ta sẽ bàn về thẩm quyền của các tổ chức sẽ tham gia vào hoạt động thẩm định, điều tra về tác động của dự án đối với môi trường. Sẽ có 02 trường hợp. Đối với trường hợp thứ nhất, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sẽ là cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc tính đó, trường hợp ngoại lệ ở Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 của Luật này. Ngoài ra, Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ cũng có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đưa ra đánh giá công tâm, chính xác nhân đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, quyết định đầu tư của cơ quan này. Quy định cũ về phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư được phân cấp thành cấp các Bộ, các ngành đều có thẩm quyền tương đương nhau trong hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; điều này đã gây ra một rào cản rất lớn do tính thiếu hiệu quả, gây ra tình trạng một số cơ quan không đủ chuyên môn nhưng vẫn được trao cho thẩm quyền để đưa ra báo cáo khiến cho việc tiến hành thẩm định thiếu khách quan, thiếu cơ sở khoa học thiếu chính xác và có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề. Trường hợp thứ hai chính là báo cáo tác động môi trường đối với các dự án có 4 tính chất bí mật quốc phòng, an ninh của khu vực, của quốc gia. Đối với trường hợp này, Bộ quốc phòng, Bộ Công an có thẩm quyền tổ chức thẩm định loại dự án có đặc thù hết sức nhạy cảm này. Quy định này cải thiện chức năng quản lý thống nhất tại địa phương, quan trọng hơn nữa chính là sau khi cấp phép có thể tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát một cách thuận lợi, hiệu quả và vẫn đảm bảo xu hướng phân cấp cho địa phương như hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành. Một điểm đáng lưu ý chính là Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bãi bỏ thủ tục cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, xả nước thải trực tiếp vào công trình thuỷ lợi. Thay vào đó, Quốc hội đã phê chuyển nội dung này bằng cách gộp nó vào các quy định về giải phóng mặt bằng. Bằng cách này, thẩm quyền, trách nhiệm và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã được thống nhất, tinh giảm đáng kể thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Thêm vào đó, chính những cơ quan nhà nước quản lý công trình thuỷ lợi nơi sẽ có những hoạt động xả thải cũng được cấp thẩm quyền tham gia, phản biện và đồng thuận từ giai đoạn đánh giá tác động môi trường này và cho đến tận khi giải phóng mặt bằng đối với cơ sở sẽ thực hiện việc xả thải. Điều này thể hiện ở Điểm d, Khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo vệ môi trường, việc bổ sung cơ quan quản lý công trình thuỷ lợi vào hoạt động thẩm định giúp tang cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đồng thời đảm bảo nguyên tắc quản lý tổng hợp, thống nhất và nhấn mạnh rằng cơ quan chủ trì sẽ vẫn là Bộ ngành hoặc cơ quan ngang bộ sẽ vẫn là đối tượng chủ trì thực hiện. Chương II: Thay đổi về quy định Giấy phép Môi trường Luật Bảo vệ Môi trường đã có từ năm 1993, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong khâu cấp Giấy phép Môi trường nên, vào năm 2020, Quốc hội đã phê chuẩn một số điều chỉnh để phù hợp với tình hình đất nước hiện tại. Giấy phép Môi trường là một văn bản chứng nhận được sử dụng cho việc xả thải ra môi trường, nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài về để làm nguyên liệu sản xuất thô. Các đối tượng cần xin cấp phép loại chứng nhận bao gồm dự án đầu tư thuộc nhóm I, II và III có phát sinh bụi, nước thải, khí thải xả ra môi trường cần xử lý đặc biệt hoặc cách chất thải khác theo quy định của pháp luật. Dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 5 tập trung, cụm công nghiệp hoạt động trước ngày Luật BVMT 2020 có hiệu lực thi hành có phát sinh nước thải, bụi, khí thải xả ra môi trường phải được xử lý hoặc phát sinh chất thải nguy hại. Tất nhiên, điểm mới được đánh giá rất cao là Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã chính thức công nhận một số trường hợp ngoại lệ. Theo đó, luật này cho phép một số dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công được miễn Giấy phép Môi trường. Tuy nhiên, tôi hi vọng là những dự án đầu tư công này vẫn phải tiến hành xin Giấy phép Môi trường trong một khoảng thời gian hợp lí, sau khi sự khẩn cấp của vấn đề không còn hiện hữu. Về thời điểm cấp phép cũng có chút thay đổi, một trong những yêu cầu của pháp luật về xây dựng thì dự án phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, điều chỉnh giấy phép Môi trường. Điều này thể hiện sự tương tác giữa các bộ Luật và sự tương tác ấy thực sự mang ý nghĩa hợp lí vì sự phát triển của toàn xã hội. Hơn nữa, ơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật BVMT 2020 đã đi vào vận hành chính thức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải có giấy phép môi trường trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày Luật BVMT 2020 có hiệu lực thi hành. Trường hợp ngoại lệ là đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, giấy phép xử lý chất thải nguy hại, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi. Có 05 cơ quan có thẩm quyền bao gồm: a)Bộ Tài nguyên và Môi trường; b)Bộ Quốc Phòng; c)Bộ Công an; d)Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; e)Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Quyền lực hành pháp cũng được sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống và giảm dần trong danh sách này. Với cơ quan nắm giữa nhiều quyền lực nhất là Bộ Tài nguyên và Môi 6 trường, điểm tiến bộ của Luật Bảo vệ Môi trường 2020 nằm ở chỗ nó đã cho phép cơ quan cấp huyện được thực hiện them các chức năng hành pháp để giảm tải gánh nặng cho các cơ quan ở trên, đồng thời xử lý công việc sao cho phù hợp với tình hình của địa bàn mình nhất. Giấy phép Môi trường sẽ quy định rõ phạm vi được cấp phép cũng như các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Thời hạn của Giấy phép Môi trường từ 07 đến 10 năm tuỳ theo loại dự án. Thêm vào đó, quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như giấy phép môi trường thành phần hết hiệu lực kể từ khi Giấy phép Môi trường có hiệu lực theo khoản 5, Điều 42 của Luật này. Chương III: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt thông qua hoạt động phân loại chất thải. Tình trạng chôn lấp chất thải ở Việt Nam còn diễn biến rất phức tạp. Điều nãy dẫn đến khó khan trong xử lý rác thải, chính vì lẽ đó, 06 Điều trong Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định nội dung điều chỉnh chất thải rắn sinh hoạt. 1. Phân loại, lưu trữ và chuyển giao Chất thải rắn sinh hoạt. Sẽ có hai đối tượng chính làm phát sinh chất thải rắn sinh hoạt được quy định tại Điều 75của Luật này: Thứ nhất là hộ gia đình, cá nhân ở đô thị. Nhóm đối tượng này phải lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt vào bao bì riêng và chuyển cho các tổ chức cá nhân có khả năng xử lý về mặt chuyên môn. Sau đó, một số loại chất thải từ thực phẩm có thể được dung làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi… Thứ hai là hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn. Nhóm người này được khuyến khích tận dụng tối đa chất thải thực phẩm làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi; chất thải rắn cần phải đựng trong bao bì và chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có khả năng chuyên môn để xử lý. Thông qua quy định rác thải sinh hoạt phải được phân làm 03 loại: (i) chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; (ii) chất thải thực phẩm; (iii) chất thải rắn sinh hoạt khác. Để bảo đảm tính khả thi của cơ chế này, Luật đã quy định Ủy ban 7 nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân loại cụ thể chất thải rắn sinh hoạt với thời hạn áp dụng chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2024. 2. Đối với thu gom, vận chuyển Chất thải rắn sinh hoạt Tại Khoản 3 Điều 77 Luật Bảo vệ Môi trường 2020, các cơ sở thug om, vận chuyển Chất thải sinh hoạt rắn có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã, cấp phường cũng như là cộng đồng dân cư để có sự thống nhất về thời gian, địa điểm, tần suất và tuyến đường thu gom Chất thải sinh hoạt rắn. Những cơ sở này phải công bố rộng rãi những thông tin sau khi thống nhất và họ có quyền từ chối thu gom chất thải từ những hộ không chấp hành quy định sử dụng bao bì, đồng thời thông báo với cơ quan chức năng về trường hợp của những hộ gia đình này để xử lý đúng theo quy định của pháp luật. Trường hợp từ chối thu gom sẽ không được áp dụng nếu cá nhân sử dụng bao bì của chất thải rắn sinh hoạt khác theo Điểm c Khoản 1 Điều 75 Luật Bảo vệ Môi trường 2020. 3. Cơ chế thu gom Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định rõ ràng về thu phí rác thải dựa trên khối lượng hoặc thể tích. Trước đó, cơ sở để thu phí của Luật Bảo vệ Môi trường 2014 dựa vào hộ gia đình hoặc bình quân đầu người. Ý nghĩa của hành động này để khuyến khích người dân phân loại, giảm thiểu chất thải phát sinh cũng như tiết kiệm chi phí xử lý rác thải. Chương IV: Vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường Một điểm mới mà cá nhân tôi cho rằng tương đối tiến bộ của Luật Bảo vệ Môi trường 2020 chính là nâng cao vai trò của công đồng dân cư trong việc giám sát, phát hiện và tố giác hành vi vi phạm Luật này Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bổ sung khái niệm “cộng đồng dân cư” vào phạm vi điều chỉnh ngay tại Điều 1 và đối tượng áp dụng tại Điều 2. Việc ưu tiên đặt khái niệm này lên trước không chỉ cho công dân nhiều quyền lợi hơn trong công tác bảo vệ môi trường mà họ còn được nhà nước giao phó cho trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chính môi trường nơi mà họ sinh sống.
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT MÔI TRƯỜNG
VIỆT NAM NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC Lời mở đầu
Chương I: Điểm khác biệt trong tiêu chí phân loại dự án và đánh giá
tác động của dự án ấy lên môi trường
1, Phân loại dự án đầu tư
2, Đánh giá sơ bộ tác động môi trường của các dự án thuộc Nhóm I
Chương II: Thay đổi về quy định Giấy phép Môi trường
Chương III: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt thông qua hoạt động
phân loại chất thải.
1, Phân loại, lưu trữ và chuyển giao Chất thải rắn sinh hoạt.
2, Đối với thu gom, vận chuyển Chất thải rắn sinh hoạt
3, Cơ chế thu gom
Chương IV: Vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường
Chương V: Một số góc nhìn cá nhân về Luật Bảo vệ Môi trường 2020
Tổng kết
2 3 3 4 5 7 7 8 8 8 9 10
Trang 3Lời mở đầu
Môi trường vẫn luôn là vấn đề tốn rất nhiều bút mực của dư luận trong nước và quốc tế Vấn đề này đã là tâm điểm của chú ý từ những năm đầu của thế kỷ 21; năm 2007, Ngân hàng thế giới đưa ra một báo cáo cho rằng Việt Nam là một trong những quốc gia chịu sự ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu1, một số vấn đề chính được nêu ra là ô nhiễm đất, suy thoái tài nguyên rừng ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, mất đa dạng sinh học và những vấn đề khác liên quan đến xử lý chất thải rắn2 Trong số đó, các chuyên gia cũng nhận định ba mục tiêu mà chính phủ Việt Nam cần đạt được trong giai đoạn 2022 – 2025 Thứ nhất, cần bảo tồn nguồn nước ngọt, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh Thứ hai, tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng trầm trọng do số lượng rừng giảm mạnh, khí thải phương tiện giao thông cao kết hợp với sự quy hoạch đô thị hoá thiếu khoa học Cuối cùng là vấn đề môi trường biển, Luật Biển Việt Nam và Luật Biển UNCLOS 1982 cũng là đề tài trọng tâm của học phần Công pháp quốc
tế trong học kì này Bàn về đôi nét tổng quan về đặc điểm của các bờ biển Việt Nam, đường bờ biển của Việt Nam dài 3200 km với sự đa dạng sinh học cao, tuy nhiên, phát triển công nghiệp lại khiến cho vùng biển ven bờ và cửu sông Việt Nam bị ô nhiễm Tác động của hoạt hàng hải cũng chiếm vai trò lớn do nước thải từ các phương tiện vận tải Đứng trước những thách thức đó, Quốc hội nước Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2020 vào ngày 17 tháng 11 năm
2020, bao gồm 16 Chương, 171 Điều, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 Mục tiêu của bài luận này sẽ là phân tích một số điểm mới của Luật này so với Luật tiền nhiệm trước đó là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, đồng thời đưa ra những quan điểm nhận xét về ý nghĩa cũng như sự tác động của những thay đổi này đối với môi trường Việt Nam trong tương lai
1 Waibel, Michael 2008 “Implication and Challenges of Climate Change for Vietnam”, Pacific News, 29, pp.26-27
2 Nghiên cứu về tình trạng của Môi trường Việt Nam do Chính phủ Việt Nam thực hiện năm 2001
Trang 4Chương I: Điểm khác biệt trong tiêu chí phân loại dự án và đánh giá tác động của
dự án ấy lên môi trường
1 Phân loại dự án đầu tư
Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 phân loại các dự án đầu tư về môi
trường thành 04 nhóm, trong đó:
a) Nhóm I: có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao;
b) Nhóm II: có nguy cơ;
c) Nhóm III: có ít nguy cơ;
d) Nhóm IV: không có tác động xấu đến môi trường
Bằng cách sử dụng biện pháp phân loại này, các nhà làm luật cho rằng ưu điểm của sự phân loại này là giảm thủ tục hành chính cho nhà đầu tư Đồng thời sàng lọc những dự
án nào cần phải có sự đánh giá kĩ lưỡng về mặt chuyên môn hơn về các tác động của chúng đối với môi trường, đối với những dự án không có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sẽ không phải trải qua các bước cấp phép rườm rà Trong khoản 1 của Điều nay,
có tất cả 06 trường hợp các dự án được xếp loại vào dự án đầu tư nhóm I Điều 29 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng quy định về các đối tượng phải thực hiện đánh giá sơ bộ
về tác động đối với môi trường, cụ thể hơn là các dự án đầu tư thuộc Nhóm I quy định tại Khoản 3 Điều 28 của điều luật này
Bên cạnh đó, cũng tồn tại quy định mà nhà đầu tư cần lưu ý về loại dự án đầu tư thuộc nhóm II quy định tại điểm c, d, đ và e Khoản 4 Điều 28 của Luật này Trong đó, Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ là hai nhóm có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư Những dự án thuộc Nhóm II ngoài bao hàm những yếu tố về tác động môi trường ra còn có một số đặc điểm khác bao gồm:
a) Dự án đầu tư nằm trên địa bản 02 tỉnh trở lên;
b) Dự án nằm trên vùng biển mà không chịu sự quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
Trang 5c) Dự án thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép khai thác tài nguyên thiên nhiên
Một đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình, Uỷ biên Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, Ông Phạm Văn Tuân cho rằng, quy định như vậy về phân loại dự án sẽ đảm bảo sự thống nhất các tiêu chí trong việc đánh giá sơ bộ các tác động của môi trường và đảm bảo tính linh hoạt trong việc điều chỉnh danh mục đối tượng cần phải đánh giá Đây không phải là lần đầu tiên các nhà làm luật Việt Nam áp dụng phương pháp phân loại dự án, Khoản 2 Điều 49 Luật Xây dung 2014 cũng đã chia dự án đầu tư xây dụng theo quy mô, tính chất, loại công trình than dự án nhóm A, B và C Việc phân loại dự án như vậy đã gặt hái được những thành công nhất định trong công cuộc minh bạch hoá và tạo điều kiện cho chủ đầu tư thực hiện dự án một cách khoa học nhất
2 Đánh giá sơ bộ tác động môi trường của các dự án thuộc Nhóm I
Việc đánh giá sơ bộ tác động của dự án đối với môi trường có ý nghĩa quan trọng đối với thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường
Trước tiên, chúng ta sẽ bàn về thẩm quyền của các tổ chức sẽ tham gia vào hoạt động thẩm định, điều tra về tác động của dự án đối với môi trường Sẽ có 02 trường hợp Đối với trường hợp thứ nhất, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sẽ là cơ quan thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc tính đó, trường hợp ngoại lệ ở Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 của Luật này Ngoài ra, Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ cũng có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đưa ra đánh giá công tâm, chính xác nhân đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, quyết định đầu tư của cơ quan này Quy định cũ về phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư được phân cấp
thành cấp các Bộ, các ngành đều có thẩm quyền tương đương nhau trong hoạt động
thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; điều này đã gây ra một rào cản rất lớn
do tính thiếu hiệu quả, gây ra tình trạng một số cơ quan không đủ chuyên môn nhưng vẫn được trao cho thẩm quyền để đưa ra báo cáo khiến cho việc tiến hành thẩm định thiếu khách quan, thiếu cơ sở khoa học thiếu chính xác và có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề Trường hợp thứ hai chính là báo cáo tác động môi trường đối với các dự án có
Trang 6tính chất bí mật quốc phòng, an ninh của khu vực, của quốc gia Đối với trường hợp này, Bộ quốc phòng, Bộ Công an có thẩm quyền tổ chức thẩm định loại dự án có đặc thù hết sức nhạy cảm này Quy định này cải thiện chức năng quản lý thống nhất tại địa
phương, quan trọng hơn nữa chính là sau khi cấp phép có thể tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát một cách thuận lợi, hiệu quả và vẫn đảm bảo xu hướng phân cấp cho địa phương như hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành
Một điểm đáng lưu ý chính là Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bãi bỏ thủ tục cấp phép
xả nước thải vào nguồn nước, xả nước thải trực tiếp vào công trình thuỷ lợi Thay vào
đó, Quốc hội đã phê chuyển nội dung này bằng cách gộp nó vào các quy định về giải phóng mặt bằng Bằng cách này, thẩm quyền, trách nhiệm và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã được thống nhất, tinh giảm đáng kể thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, nhà đầu tư
Thêm vào đó, chính những cơ quan nhà nước quản lý công trình thuỷ lợi nơi sẽ có
những hoạt động xả thải cũng được cấp thẩm quyền tham gia, phản biện và đồng thuận
từ giai đoạn đánh giá tác động môi trường này và cho đến tận khi giải phóng mặt bằng đối với cơ sở sẽ thực hiện việc xả thải Điều này thể hiện ở Điểm d, Khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo vệ môi trường, việc bổ sung cơ quan quản lý công trình thuỷ lợi vào hoạt động thẩm định giúp tang cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đồng thời đảm bảo nguyên tắc quản lý tổng hợp, thống nhất và nhấn mạnh rằng cơ quan chủ trì sẽ vẫn
là Bộ ngành hoặc cơ quan ngang bộ sẽ vẫn là đối tượng chủ trì thực hiện
Chương II: Thay đổi về quy định Giấy phép Môi trường
Luật Bảo vệ Môi trường đã có từ năm 1993, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong khâu cấp Giấy phép Môi trường nên, vào năm 2020, Quốc hội đã phê chuẩn một
số điều chỉnh để phù hợp với tình hình đất nước hiện tại
Giấy phép Môi trường là một văn bản chứng nhận được sử dụng cho việc xả thải ra môi trường, nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài về để làm nguyên liệu sản xuất thô Các đối tượng cần xin cấp phép loại chứng nhận bao gồm dự án đầu tư thuộc nhóm I, II và III có phát sinh bụi, nước thải, khí thải xả ra môi trường cần xử lý đặc biệt hoặc cách chất thải khác theo quy định của pháp luật Dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 7tập trung, cụm công nghiệp hoạt động trước ngày Luật BVMT 2020 có hiệu lực thi hành
có phát sinh nước thải, bụi, khí thải xả ra môi trường phải được xử lý hoặc phát sinh chất thải nguy hại Tất nhiên, điểm mới được đánh giá rất cao là Luật Bảo vệ Môi
trường 2020 đã chính thức công nhận một số trường hợp ngoại lệ Theo đó, luật này cho phép một số dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công được miễn Giấy phép Môi trường Tuy nhiên, tôi hi vọng là những dự án đầu tư công này vẫn phải tiến hành xin Giấy phép Môi trường trong một khoảng thời gian hợp lí, sau khi sự khẩn cấp của vấn đề không còn hiện hữu
Về thời điểm cấp phép cũng có chút thay đổi, một trong những yêu cầu của pháp luật về xây dựng thì dự án phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, điều chỉnh giấy phép Môi trường Điều này thể hiện sự tương tác giữa các bộ Luật và sự tương tác ấy thực sự mang ý nghĩa hợp lí vì sự phát triển của toàn xã hội Hơn nữa, ơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật BVMT 2020 đã đi vào vận hành chính thức trước ngày Luật này
có hiệu lực thi hành phải có giấy phép môi trường trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày Luật BVMT 2020 có hiệu lực thi hành Trường hợp ngoại lệ là đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, giấy phép xử lý chất thải nguy hại, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi
Có 05 cơ quan có thẩm quyền bao gồm:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường;
b) Bộ Quốc Phòng;
c) Bộ Công an;
d) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
e) Uỷ ban nhân dân cấp huyện
Quyền lực hành pháp cũng được sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống và giảm dần trong danh sách này Với cơ quan nắm giữa nhiều quyền lực nhất là Bộ Tài nguyên và Môi
Trang 8trường, điểm tiến bộ của Luật Bảo vệ Môi trường 2020 nằm ở chỗ nó đã cho phép cơ quan cấp huyện được thực hiện them các chức năng hành pháp để giảm tải gánh nặng cho các cơ quan ở trên, đồng thời xử lý công việc sao cho phù hợp với tình hình của địa bàn mình nhất
Giấy phép Môi trường sẽ quy định rõ phạm vi được cấp phép cũng như các yêu cầu về bảo vệ môi trường Thời hạn của Giấy phép Môi trường từ 07 đến 10 năm tuỳ theo loại
dự án Thêm vào đó, quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như giấy phép môi trường thành phần hết hiệu lực kể từ khi Giấy phép Môi trường có hiệu lực theo khoản 5, Điều 42 của Luật này
Chương III: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt thông qua hoạt động phân loại chất thải.
Tình trạng chôn lấp chất thải ở Việt Nam còn diễn biến rất phức tạp Điều nãy dẫn đến khó khan trong xử lý rác thải, chính vì lẽ đó, 06 Điều trong Luật Bảo vệ Môi trường
2020 quy định nội dung điều chỉnh chất thải rắn sinh hoạt
1 Phân loại, lưu trữ và chuyển giao Chất thải rắn sinh hoạt.
Sẽ có hai đối tượng chính làm phát sinh chất thải rắn sinh hoạt được quy định tại Điều
75 của Luật này:
- Thứ nhất là hộ gia đình, cá nhân ở đô thị Nhóm đối tượng này phải lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt vào bao bì riêng và chuyển cho các tổ chức cá nhân có khả năng
xử lý về mặt chuyên môn Sau đó, một số loại chất thải từ thực phẩm có thể được dung làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi…
- Thứ hai là hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn Nhóm người này được khuyến khích tận dụng tối đa chất thải thực phẩm làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi; chất thải rắn cần phải đựng trong bao bì và chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có khả năng chuyên môn để xử lý
- Thông qua quy định rác thải sinh hoạt phải được phân làm 03 loại: (i) chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; (ii) chất thải thực phẩm; (iii) chất thải rắn sinh hoạt khác Để bảo đảm tính khả thi của cơ chế này, Luật đã quy định Ủy ban
Trang 9nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân loại cụ thể chất thải rắn sinh hoạt với thời hạn áp dụng chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2024
2 Đối với thu gom, vận chuyển Chất thải rắn sinh hoạt
- Tại Khoản 3 Điều 77 Luật Bảo vệ Môi trường 2020, các cơ sở thug om, vận
chuyển Chất thải sinh hoạt rắn có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã, cấp phường cũng như là cộng đồng dân cư để có sự thống nhất về thời gian, địa điểm, tần suất và tuyến đường thu gom Chất thải sinh hoạt rắn Những cơ sở này phải công bố rộng rãi những thông tin sau khi thống nhất và họ có quyền từ chối thu gom chất thải từ những hộ không chấp hành quy định sử dụng bao bì, đồng thời thông báo với cơ quan chức năng về trường hợp của những hộ gia đình này để xử
lý đúng theo quy định của pháp luật
- Trường hợp từ chối thu gom sẽ không được áp dụng nếu cá nhân sử dụng bao bì của chất thải rắn sinh hoạt khác theo Điểm c Khoản 1 Điều 75 Luật Bảo vệ Môi trường 2020
3 Cơ chế thu gom
- Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định rõ ràng về thu phí rác thải dựa trên khối lượng hoặc thể tích Trước đó, cơ sở để thu phí của Luật Bảo vệ Môi trường 2014 dựa vào hộ gia đình hoặc bình quân đầu người Ý nghĩa của hành động này để khuyến khích người dân phân loại, giảm thiểu chất thải phát sinh cũng như tiết kiệm chi phí xử lý rác thải
Chương IV: Vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường
Một điểm mới mà cá nhân tôi cho rằng tương đối tiến bộ của Luật Bảo vệ Môi trường
2020 chính là nâng cao vai trò của công đồng dân cư trong việc giám sát, phát hiện và tố giác hành vi vi phạm Luật này
Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bổ sung khái niệm “cộng đồng dân cư” vào phạm vi điều chỉnh ngay tại Điều 1 và đối tượng áp dụng tại Điều 2 Việc ưu tiên đặt khái niệm này lên trước không chỉ cho công dân nhiều quyền lợi hơn trong công tác bảo vệ môi trường mà họ còn được nhà nước giao phó cho trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chính môi trường nơi mà họ sinh sống
Trang 10Điều 159 của Luật này đã xác lập rất rõ quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ đối với môi trường nơi mình sống mà còn môi trường chung, vệ sinh công cộng Tất nhiên, việc cấp them quyền lợi cũng đồng nghĩa với việc phải nâng cao tính phản hồi của bộ máy công Luật đã bổ sung quy định về trách nhiệm của Cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng mội hệ thộng trực tuyến có vai trò tiếp nhận, xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị của các cá nhân để kịp thời xử lý, không để xảy ra tình trạng quan lieu đồng thời tạo
cơ hội cho người dân tiếp cận được thông tin môi trường nhanh chóng nhất có thể
Khoản 5 Điều 159 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 xây dựng quy chế đường dân nóng có chức năng xử lý, tiếp nhận vấn đề về ô nhiễm môi trường Hệ thống đường dân nóng được nối đến cấp huyện và thống nhất qua phương pháp gọi điện, nhắn tin, thư điện tử và
cả ứng dụng di động
Chương V: Một số góc nhìn cá nhân về Luật Bảo vệ Môi trường 2020
Luật này được thông qua với 96% phiếu thuận, tuy nhiên, tôi cho rằng nếu các nhà làm luật tiếp thu ý kiến của những nhà khoa học môi trường nhiều hơn thì Luật này có thể đã được hoàn chính và có tính áp dụng thực tế cao hơn rất nhiều
Đáng lý ra nhà nước nên là cơ qua có thẩm quyền đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên, dự luật này lại cho phép chủ đầu tư dự án làm báo cáo Lẽ hiển nhiên là tất cả cá
dự án có liên quan đến tác động môi trường thì đều phải làm báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường, đây là một bước hết sức quan trọng trong việc quyết định dự án có được phép xây dựng và đi vào hoạt động không Vì vậy, tầm quan trọng của sự trung thực, khách quan của báo cáo này là điều đương nhiên Câu hỏi đặt ra ở đây là: Liệu cho
doanh nghiệp tự đánh giá tác động môi trường thì có còn được khách quan, trung thực không? Tất cả chủ đầu tư đều có lợi ích của mình ở trong dự án, họ muốn đưa dự án vào hoạt động sớm nhất có thể nên là lẽ tất nhiên những vị chủ doanh nghiệp này sẽ đưa ra báo cáo tích cực nhất để dự án được phê duyệt Trên thực tế, khi Luật Bảo vệ Môi
trường không quy định cụ thể vấn đề công khai Đánh giá Tác động Môi trường thì luật mới lại trao cho chủ đầu tư để quyết định vấn đề mang tính sống còn với môi trường đất nước Rất có khả năng khi xảy ra hậu quả thì doanh nghiệp sẽ không nhận trách
nhiệm, từ chối cho công chúng tiếp cận Hơn nữa, môi trường không phải là tài sản của