1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình Luận Án Lệ Trong Việc Phân Định Biển Giữa Các Quốc Gia Trong Thời Gian Vừa Qua
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công Pháp Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 183,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 2 B. NỘI DUNG CHÍNH 3 1. TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO UNCLOS 1982 3 2. BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 5 3. NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA UNCLOS 1982 DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁC ÁN LỆ TRÊN 12 C. KẾT LUẬN 13 D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14 A.MỞ ĐẦU Với vị trí chiến lược và là một trong những quân át chủ bài đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như quốc phòng, an ninh; Biển đã và đang trở thành đối tượng tranh chấp ngày càng gay gắt giữa các quốc gia trong khu vực cũng như tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định trật tự trên biển. Cơ sở pháp lý của vấn đề phân định biển được quy định trong Công ước Luật Biển 1982. Vấn đề đặt ra là việc các quốc gia có xảy ra xung đột tranh chấp cần tìm đến một phương pháp đàm phán thoả thuận để đi đến phân định biển sao cho phù hợp với lợi ích chính đáng của các quốc gia hữu quan. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phân định biển trong việc bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bài tiểu luận cuối kỳ môn Công pháp quốc tế, em đã chọn đề tài: “Bình luận án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua” với mong muốn tìm hiểu về những án lệ điển hình trong quá trình giải quyết tranh chấp phân định biển giữa các quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong trường hợp xảy ra những xung đột trên biển cần sự can thiệp của các thiết chế tài phán quốc tế. 2 B.NỘI DUNG CHÍNH 1.TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO UNCLOS 1982 a.Khái niệm phân định biển Vấn đề phân định biển được quy định trong CTS1, CCS2 và UNCLOS3. Theo đó, phân định biển là quá trình hoạch định biên giới quốc gia trên biển và các vùng biển mà quốc gia có chủ quyền, quyền chủ quyền, từ đó xác định đường ranh giới phân chia vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau. Phân định biển là yếu tố đóng vai trò quan trọng để xác lập, trật tự trên biển, từ đó đi đến sự ổn định, phát triển hoà bình giữa các khu vực và trên thế giới. Phân định biển thành công sẽ thúc đẩy sự phát triển giao thương hàng hải, hàng không cũng như đẩy mạnh quá trình khai thác tài nguyên trên biển. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến chủ quyền, quyền chủ quyền, và lợi ích của quốc gia nên cần được tiến hành tuân theo trật tự pháp luật quốc tế và tình hình thực tiễn của quốc gia có biển. b.Nguyên tắc phân định biển UNCLOS 1982 thực sự được coi là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế. Theo đó, việc phân định biển phải được dựa trên những nguyên tắc của UNCLOS mà 166quốc gia đã phê chuẩn và tham gia4. Đó là nguyên tắc thoả thuận phù hợp với pháp luật quốc tế và nguyên tắc công bằng. Thứ nhất, nguyên tắc thoả thuận có hiệu lực trong trường hợp các quốc gia hữu quan trực tiếp thoả thuận phương pháp phân định trên cơ sở thiện chí, đàm phán một cách tự nguyện, từ đó đi đến một thoả thuận thống nhất. Tất cả những hành viđơn phương thừa nhận sẽ không có hiệu lực pháp lý trước cộng đồng quốc tế. Thứ hai, nguyên tắc công bằng trong phân định biển được hiểu là quá trình pháp luật biển quốc tế được áp dụng trong việc hoạch định ranh giới các vùng biển, lấy quan điểm thiện chí, hợp lý và công minh áp dụng vào hoàn cảnh các quốc gia hữu quan một cách linh hoạt nhằm đi đến một giải pháp công bằng mà các bên tranh chấp đều đồng ý chấp thuận. Ngoài hai nguyên tắc chính yếu trên, một số nguyên tắc khác như: nguyên tắc đất thống trị biển, 1CTS: Công ước Geneva 1958 về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải 2CCS: Công ước Geneva 1958 về Thềm lục địa 3UNCLOS: Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 4Theo www.un.org, website của Liên Hợp quốc, tính đến 2092013, có 166 nước phê chuẩn và tham gia UNCLOS 3 nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ, nguyên tắc Uti possideti được một số quốc gia, Toà ICJ5 vận dụng giải quyết tranh chấp biên giới trên biển giữa các quốc gia ven biển láng giềng. c.Phương pháp phân định biển Trong quan hệ quốc tế, quá trình phân định biển giữa các quốc gia thường được diễn ra theo thoả thuận với các phương pháp như: Thứ nhất, phương pháp đường trung tuyến cách đều được áp dụng trong trường hợp các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Theo đó, đường ranh giới phân định biển được xác định là đường mà tất cả các điểm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để đo lường chiều rộng lãnh hải quốc gia. Thứ hai, phương pháp đường trung tuyến có điều chỉnh được áp dụng trong trường hợp các quốc gia hữu quan có những hoàn cảnh đặc thù trong khu vực biển phân định. Quá trình này được xem xét cẩn trọng các yếu tố hình dạng bờ biển, đảo, hàng hải để tìm ra giải pháp thích ứng mà các bên đều công nhận phân định. Ví dụ, việc bỏ qua các đảo nhỏ hay các điểm làm sai lệch đường cách đều được các quốc gia hữu quan áp dụng để đi tới thoả thuận không sử dụng chúng làm các điểm cơ sở để đạt được một giải pháp cân bằng. Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: giải pháp tạm thời thông qua việc thành lập các vùng thăm dò khai thác chung (Joint Development), phương pháp đường kinh tuyến và vĩ tuyến (Hiệp định giữa Colombia và Peru 1975), phương pháp phần kéo dài tự nhiên của biên giới trên bộ (Thoả thuận giữa Brazil và Uruguay 1972),… d.Các trường hợp phân định biển Theo UNCLOS 1982, có hai trường hợp phân định biển như sau: Thứ nhất, phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Điều 15 UNCLOS quy định, khi hai quốc gia có bờ biển nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn nhau, không quốc gia nào có quyền mở rộng lãnh hải quá đường trung tuyến mà mọi điểm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải quốc gia, trừ các thoả thuận khác. Quy định này ghi nhận phương pháp đường trung tuyến cách đều và những thoả thuận liên quan có thể được các quốc gia hữu quan ký kết trên cơ sở danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt6. Thứ 5ICJ: International Court of Justice: Toà án Công lý Quốc tế 6Hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn quốc tế phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải có thể là: Hình dạng bất thường của bờ biển, sự hiện diện của các đảo hay các tuyến đường và luồng hàng hải. 4 hai, phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định tại điều 74, 83 UNCLOS. Điều 38 của ICJ quy định việc hoạch định ranh giới hai vùng này được thực hiện bằng con đường thương lượng theo đúng luật pháp quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng. Khác với phân định lãnh hải, UNCLOS 1982 không đưa ra phương pháp cụ thể nào trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Công ước mở ra khả năng áp dụng rộng rãi các nguồn có liên quan như: tập quán quốc tế, án lệ quốc tế, hay hoàn cảnh thực tiễn của các quốc gia hữu quan, nhằm đạt tới ý chí chung nhất giữa hai hay nhiều bên liên quan. 2.BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 2.1 . . Peru và Chile a.Khái quát về án lệ Ngày 16012008, Cộng hoà Peru nộp đơn khởi kiện tại Cơ quan thư ký của ICJ đối với Cộng hoà Chile, về việc phân định vùng biển giữa hai nước bao gồm: Phân định đường biên giới ở khu vực biển Thái Bình Dương. Thứ hai, Peru yêu cầu công nhận khu vực biển nằm trong giới hạn 200 hải lý tính từ bờ biển của Peru nhưng Chile cho Bản đồ đường biên giới của Peru và Chile rằng đây là khu vực thuộc hải phận quốc tế. Ngay sau đó, Chile đã phản hồi chấp thuận giải quyết tranh chấp phân định biển giữa hai nước dưới thẩm quyền của Toà án ICJ. Thành phần xét xử bao gồm: Chủ tịch, phó chủ tịch Toà, 12 thẩm phán và 02 thẩm phán adhoc của hai bên7. Peru cho rằng, không tồn tại đường biên giới trên biển giữa hai nước và yêu cầu Toà hoạch định đường này bằng phương pháp đường cách đều nhằm đi đến một kết quả công bằng. Còn Chile phản biện, rằng Tuyên bố Santiago 1952 đã thiết lập đường biên giới trên biển đi dọc theo đường vĩ tuyến và đi qua điểm bắt đầu ranh giới đất liền giữa hai nước và mở rộng đến 200 hải lý của Peru. Sau 7Khoản 3 Điều 31 trong Quy chế Toà án quy định: Mỗi bên tham gia tranh chấp được chọn 1 thẩm phán adhoc với tư cách là thành viên của Toà trong trường hợp thành phần của Toà không có thành viên là công dân của các bên 5 hơn 6 năm trải qua nhiều thủ tục và phiên toà, ngày 27012014, Toà ICJ đã đưa ra phán quyết cuối cùng cho vụ việc. b.Bình luận về án lệ Thực tế cho thấy, biên giới đất liền giữa Peru và Chile đã được hoạch định theo Hiệp ước Lima được ký kết vào ngày 03061929 là điểm Concordia. Năm 1947, các bên đã đơn phương tuyên bố một số quyền trên biển được mở rộng đến 200 hải lý tính từ bờ biển mỗi nước mà không thiết lập đường biên giới biển quốc tế rõ ràng. Do đó, các tuyên bố này chỉ mang tính chất tạm thời và không phản ánh đầy đủ ý chí của các bên liên quan trong quá trình phân định. Toà án ICJ cũng xem xét Tuyên bố Santiago được ký kết vào 081952 với 4văn kiện về khu vực biển trong khuôn khổ của Công ước Vienna về Luật điều ước quốc tế 1969 và đi đến kết luận trái ngược với đệ trình của Chile. Theo đó tuyên bố này không thể coi là đã thiết lập một đường biên giới biển giữa Peru và Chile dọc theo đường vĩ tuyến chạy về phía Thái Bình Dương tính từ điểm cuối của biên giới đất liền. Hiệp định khu vực biên giới biển riêng biệt 1954 được ký kết bởi ba quốc gia là Peru, Chile và Ecuador để thành lập khu vực miễn trừ do lỗi vô ý của tàu thuyền mang tính chất như một “vùng đệm”, nhằm thừa nhận một biên giới biển đã tồn tại trong thoả thuận quốc tế. Tuy nhiên, sự thừa nhận này chỉ phản ánh thoả thuận ngầm mà các bên đã đạt được trước đó. Sau khi kết luận có sự tồn tại của đường biên giới biển giữa Peru và Chile, Toà án ICJ đi đến xác định vị trí của điểm xuất phát của biên giới biển. Toà xem xét hồ sơ quá trình thoả thuận xây dựng ngọn hải đăng năm 19681969 được tiến hành xây tại vị trí đường vĩ tuyến đi qua Cột mốc số 1 và nhận thấy đây là bằng chứng minh xác để đi đến kết luận: Đường biên giới biển giữa Peru và Chile là giao điểm của vĩ tuyến vượt qua Cột mốc số 1 với mức nước thuỷ triều thấp nhất. 6 Bản đồ xây dựng đường cách đều Để xây dựng đường cách đều tạm thời A (như hình bên), Toà ICJ lựa chọn điểm cơ sở đầu tiên trên bờ biển Chile cách A 80 hải lý dọc theo vĩ tuyến, điểm cơ sở của Peru được xác định khi quay vòng cung tâm A, bán kính 80 hải lý đến khi cắt đường bờ biển của Peru. Các điểm cơ sở tiếp theo được xác định tương tự với khoảng cách lớn hơn 80 hải lý mỗi lần so với điểm A. Cứ như thế, đường cách đều tạm thời được hoạch định theo một đường thẳng, đến khi giao với đường giới hạn 200 hải lý, đó là điểm B. Từ điểm này, ranh giới biển giữa hai bên không còn vùng chồng lấn. Từ đó Toà nối điểm B với điểm C (điểm giao nhau của các đường giới hạn 200 hải lý của hai bên). Căn cứ theo các hoàn cảnh có liên quan như các vị trí nhô ra trên đường bờ biển, Toà sẽ xem xét điều chỉnh đường cách đều tạm thời để đi đến một kết quả công bằng. Cùng với đó tính cân xứng của đường này so với độ dài bờ biển cũng được cân nhắc. Với những hoàn cảnh bất thường của địa thế như điểm biên giới đầu tiên kéo dài 80 hải lý theo vĩ tuyến sẽ làm quá trình hoạch định trở nên thiếu cân xứng, nhưng quá trình hoạch định này của ICJ vẫn đem đến những kết quả công bằng nhất với những thoả thuận mà các bên đã đạt được trước đó. c.Phán quyết của Toà ICJ Trên cơ sở các lập luận được phần lớn các thành viên của Toà án công lý quốc tế thông qua, phán quyết cuối cùng đã được đưa ra vào ngày 27012014, nhằm chấm dứt tranh chấp giữa Peru và Chile trong quá trình phân định biển. Phán quyết bao gồm 5 nội dung chính: Thứ nhất, Điểm xuất phát của đường biên giới biển duy nhất phân chia ranh giới khu vực biển giữa Peru và Chile là giao điểm của mốc biên giới số 1 với mức nước thuỷ triều thấp. Thứ hai, phân khúc ban đầu của biên giới biển duy nhất đi theo vĩ tuyến và đi qua mốc biên giới số 1 về phía Tây. Thứ ba, phân khúc ban đầu chạy đến điểm A nằm ở khoảng cách 80 hải lý tính từ điểm xuất phát của biên giới biển duy nhất. Thứ tư, phân định được đường biên giới trên biển thông qua các điểm A, B, C như trên. Thứ năm, Toà quyết định không cần ra phán quyết đối với đệ trình thứ hai của Peru. Với những phán quyết như 7 trên, ngày 19082014, Tổng thống Peru đã ký kết hiệp định chấm dứt mọi tranh chấp về việc phân định biển với Chile, mong muốn vụ việc này sẽ là tiền lệ, hình mẫu cho cộng đồng quốc tế trong quá trình giải quyết các tranh chấp trên biển. d.Bài học cho Việt Nam khi tham gia tranh chấp trên biển thông qua ICJ Thực tế, những tranh chấp trên biển của Việt Nam với Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ; với Campuchia, Thái Lan, Malaysia trong vịnh Thái Lan; với Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa và các nước khác trên quần đảo Trường Sa,… Nếu những tranh chấp và xung đột này không thể giải quyết, có thể Việt Nam cần sự can thiệp của các thiết chế tài phán quốc tế như ICJ để thực hiện phân xử và hoạch định. Vì những vùng biển tranh chấp của Việt Nam ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan mang những tính chất và đặc điểm tương tự như án lệ của Peru và Chile, nên việc nghiên cứu cách thức Toà án ICJ tiến hành phân xử và hoạch định đường biên giới biển sẽ giúp đất nước ta ứng phó nhanh nhạy hơn trong các tình huống có thể xảy ra. Đó là việc viện dẫn các điều ước quốc tế đã được ký kết để nhằm đạt tới một kết quả công bằng; đó là cách thức sử dụng con người có trình độ chuyên môn, kiến thức để sẵn sàng đối phó với mọi lập luận từ nước bạn;… 2.2 . Philippines kiện Trung Quốc về Tranh chấp chủ quyền Biển Đông a.Khái quát về án lệ Bắt nguồn từ những mâu thuẫn kéo dài nhiều năm trên biển giữa Philippines và Trung Quốc nói chung, sự việc tranh chấp bãi cạn Scarborough8 nói riêng là một trong những lý do chính yếu khiến Philippines đệ đơn lên Toà án trọng tài Thường trực PCA9 ngày 22012013 nhằm tìm giải pháp hoà bình cho vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông giữa hai nước. Theo đó Philippines khởi kiện Trung Quốc 15 nội dung vì đã giải thích và áp dụng sai Điều 279, 283, và 284 về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Công ước UNCLOS 1982. Ngày 19022013, Trung Quốc trả lại công hàm của Philippines, kiên quyết đàm phán, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp song phương mà không cần sự can thiệp của cơ quan tài phán quốc tế nào. Tuy nhiên, vì Philippines tiếp tục duy trì yêu cầu khởi kiện, căn cứ theo khoản 3, 5 Điều 287 UNCLOS 1982, Toà Trọng tài vẫn sẽ có thẩm quyền

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-0o0 -TIỂU LUẬN MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG CHÍNH 3

1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO UNCLOS 1982 3

2. BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 5

3 NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA UNCLOS 1982 DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁC ÁN LỆ TRÊN 12

C KẾT LUẬN 13

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Với vị trí chiến lược và là một trong những quân át chủ bài đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như quốc phòng, an ninh; Biển đã và đang trở thành đối tượng tranh chấp ngày càng gay gắt giữa các quốc gia trong khu vực cũng như tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định trật tự trên biển Cơ sở pháp lý của vấn đề phân định biển được quy định trong Công ước Luật Biển 1982 Vấn đề đặt ra là việc các quốc gia có xảy ra xung đột tranh chấp cần tìm đến một phương pháp đàm phán thoả thuận để đi đến phân định biển sao cho phù hợp với lợi ích chính đáng của các quốc gia hữu quan Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phân định biển trong việc bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bài

tiểu luận cuối kỳ môn Công pháp quốc tế, em đã chọn đề tài: “Bình luận án lệ trong việc

phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua” với mong muốn tìm hiểu về

những án lệ điển hình trong quá trình giải quyết tranh chấp phân định biển giữa các quốc

gia trên thế giới, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong trường hợp xảy ra những xung đột trên biển cần sự can thiệp của các thiết chế tài phán quốc tế

2

Trang 4

B NỘI DUNG CHÍNH

1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO UNCLOS 1982

a Khái niệm phân định biển

Vấn đề phân định biển được quy định trong CTS1, CCS2 và UNCLOS3 Theo đó, phân định biển là quá trình hoạch định biên giới quốc gia trên biển và các vùng biển mà quốc gia có chủ quyền, quyền chủ quyền, từ đó xác định đường ranh giới phân chia vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau

Phân định biển là yếu tố đóng vai trò quan trọng để xác lập, trật tự trên biển, từ đó

đi đến sự ổn định, phát triển hoà bình giữa các khu vực và trên thế giới Phân định biển thành công sẽ thúc đẩy sự phát triển giao thương hàng hải, hàng không cũng như đẩy mạnh quá trình khai thác tài nguyên trên biển Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến chủ quyền, quyền chủ quyền, và lợi ích của quốc gia nên cần được tiến hành tuân theo trật tự pháp luật quốc tế và tình hình thực tiễn của quốc gia có biển

b Nguyên tắc phân định biển

UNCLOS 1982 thực sự được coi là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc

tế Theo đó, việc phân định biển phải được dựa trên những nguyên tắc của UNCLOS mà

166 quốc gia đã phê chuẩn và tham gia4 Đó là nguyên tắc thoả thuận phù hợp với pháp luật quốc tế và nguyên tắc công bằng Thứ nhất, nguyên tắc thoả thuận có hiệu lực trong trường hợp các quốc gia hữu quan trực tiếp thoả thuận phương pháp phân định trên cơ sở thiện chí,

đàm phán một cách tự nguyện, từ đó đi đến một thoả thuận thống nhất Tất cả những hành

vi đơn phương thừa nhận sẽ không có hiệu lực pháp lý trước cộng đồng quốc tế Thứ hai, nguyên tắc công bằng trong phân định biển được hiểu là quá trình pháp luật biển quốc tế được áp dụng trong việc hoạch định ranh giới các vùng biển, lấy quan điểm thiện chí, hợp

lý và công minh áp dụng vào hoàn cảnh các quốc gia hữu quan một cách linh hoạt nhằm

đi đến một giải pháp công bằng mà các bên tranh chấp đều đồng ý chấp thuận Ngoài hai nguyên tắc chính yếu trên, một số nguyên tắc khác như: nguyên tắc đất thống trị biển,

1 CTS: Công ước Geneva 1958 về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải

2 CCS: Công ước Geneva 1958 về Thềm lục địa

3 UNCLOS: Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982

4 Theo www.un.org , website của Liên Hợp quốc, tính đến 20/9/2013, có 166 nước phê chuẩn và tham gia UNCLOS

Trang 5

nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ, nguyên tắc Uti possideti được một số quốc gia, Toà ICJ5 vận dụng giải quyết tranh chấp biên giới trên biển giữa các quốc gia ven biển láng giềng

c Phương pháp phân định biển

Trong quan hệ quốc tế, quá trình phân định biển giữa các quốc gia thường được diễn

ra theo thoả thuận với các phương pháp như: Thứ nhất, phương pháp đường trung tuyến cách đều được áp dụng trong trường hợp các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Theo đó, đường ranh giới phân định biển được xác định là đường mà tất cả các điểm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để đo lường chiều rộng lãnh hải quốc gia Thứ hai, phương pháp đường trung tuyến có điều chỉnh được áp dụng trong trường hợp các quốc gia hữu quan có những hoàn cảnh đặc thù trong khu vực biển phân định Quá trình này được xem xét cẩn trọng các yếu tố hình dạng bờ biển, đảo, hàng hải để tìm ra giải pháp thích ứng mà các bên đều công nhận phân định Ví dụ, việc bỏ qua các đảo nhỏ hay các điểm làm sai lệch đường cách đều được các quốc gia hữu quan áp dụng để đi tới thoả thuận không sử dụng chúng làm các điểm cơ sở để đạt được một giải pháp cân bằng Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: giải pháp tạm thời thông qua việc thành lập các vùng thăm dò khai thác chung (Joint Development), phương pháp đường kinh tuyến và vĩ tuyến (Hiệp định giữa Colombia và Peru 1975), phương pháp phần kéo dài tự nhiên của biên giới trên bộ (Thoả thuận giữa Brazil và Uruguay 1972),…

d Các trường hợp phân định biển

Theo UNCLOS 1982, có hai trường hợp phân định biển như sau: Thứ nhất, phân

định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Điều 15 UNCLOS quy định, khi hai quốc gia có bờ biển nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn nhau, không quốc gia nào có quyền mở rộng lãnh hải quá đường trung tuyến mà mọi điểm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải quốc gia, trừ các thoả thuận khác Quy định này ghi nhận phương pháp đường trung tuyến cách đều và những thoả thuận liên quan có thể được các quốc gia hữu quan ký kết trên cơ sở danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt6 Thứ

5 ICJ: International Court of Justice: Toà án Công lý Quốc tế

6 Hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn quốc tế phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải có thể là: Hình dạng bất thường của bờ biển, sự hiện diện của các đảo hay các tuyến đường và luồng hàng hải.

Trang 6

hai, phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định tại điều 74, 83 UNCLOS Điều 38 của ICJ quy định việc hoạch định ranh giới hai vùng này được thực hiện bằng con đường thương lượng theo đúng luật pháp quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng Khác với phân định lãnh hải, UNCLOS 1982 không đưa ra phương pháp cụ thể nào trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Công ước mở ra khả năng áp dụng rộng rãi các nguồn có liên quan như: tập quán quốc tế, án lệ quốc tế, hay hoàn cảnh thực tiễn của các quốc gia hữu quan, nhằm đạt tới ý chí chung nhất giữa hai hay nhiều bên liên quan

2 BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

2.1 Peru và Chile

a Khái quát về án lệ

Ngày 16/01/2008, Cộng hoà Peru nộp đơn

khởi kiện tại Cơ quan thư ký của ICJ đối với Cộng

hoà Chile, về việc phân định vùng biển giữa hai

nước bao gồm: Phân định đường biên giới ở khu

vực biển Thái Bình Dương Thứ hai, Peru yêu cầu

công nhận khu vực biển nằm trong giới hạn 200 hải

lý tính từ bờ biển của Peru nhưng Chile cho

Bản đồ đường biên giới của Peru và Chile

rằng đây là khu vực thuộc hải phận quốc tế

Ngay sau đó, Chile đã phản hồi chấp thuận giải quyết tranh chấp phân định biển giữa hai nước dưới thẩm quyền của Toà án ICJ Thành phần xét xử bao gồm: Chủ tịch, phó chủ tịch Toà, 12 thẩm phán và 02 thẩm phán ad-hoc của hai bên7 Peru cho rằng, không tồn tại đường biên giới trên biển giữa hai nước và yêu cầu Toà hoạch định đường này bằng phương pháp đường cách đều nhằm đi đến một kết quả công bằng Còn Chile phản biện, rằng Tuyên

bố Santiago 1952 đã thiết lập đường biên giới trên biển đi dọc theo đường vĩ tuyến và đi qua điểm bắt đầu ranh giới đất liền giữa hai nước và mở rộng đến 200 hải lý của Peru Sau

7 Khoản 3 Điều 31 trong Quy chế Toà án quy định: Mỗi bên tham gia tranh chấp được chọn 1 thẩm phán ad-hoc với

tư cách là thành viên của Toà trong trường hợp thành phần của Toà không có thành viên là công dân của các bên

Trang 7

hơn 6 năm trải qua nhiều thủ tục và phiên toà, ngày 27/01/2014, Toà ICJ đã đưa ra phán quyết cuối cùng cho vụ việc

b Bình luận về án lệ

Thực tế cho thấy, biên giới đất liền giữa Peru và Chile đã được hoạch định theo Hiệp ước Lima được ký kết vào ngày 03/06/1929 là điểm Concordia Năm 1947, các bên đã đơn phương tuyên bố một số quyền trên biển được mở rộng đến 200 hải lý tính từ bờ biển mỗi nước mà không thiết lập đường biên giới biển quốc tế rõ ràng Do đó, các tuyên bố này chỉ mang tính chất tạm thời và không phản ánh đầy đủ ý chí của các bên liên quan trong quá trình phân định Toà án ICJ cũng xem xét Tuyên bố Santiago được ký kết vào 08/1952 với

4 văn kiện về khu vực biển trong khuôn khổ của Công ước Vienna về Luật điều ước quốc tế

1969 và đi đến kết luận trái ngược với đệ trình của Chile Theo đó tuyên bố này không thể coi

là đã thiết lập một đường biên giới biển giữa Peru và Chile dọc theo đường vĩ tuyến chạy về phía Thái Bình Dương tính từ điểm cuối của biên giới đất liền Hiệp định khu vực biên giới biển riêng biệt 1954 được ký kết bởi ba quốc gia là Peru, Chile và Ecuador để

thành lập khu vực miễn trừ do lỗi vô ý của tàu thuyền mang tính chất như một “vùng đệm”, nhằm thừa nhận một biên giới biển đã tồn tại trong thoả thuận quốc tế Tuy nhiên,

sự thừa nhận này chỉ phản ánh thoả thuận ngầm mà các bên đã đạt được trước đó

Sau khi kết luận có sự tồn tại của đường biên giới biển giữa Peru và Chile, Toà án ICJ đi đến xác định vị trí của điểm xuất phát của biên giới biển Toà xem xét hồ sơ quá trình thoả thuận xây dựng ngọn hải đăng năm 1968-1969 được tiến hành xây tại vị trí đường vĩ tuyến đi qua Cột mốc số 1 và nhận thấy đây là bằng chứng minh xác để đi đến kết luận: Đường biên giới biển giữa Peru và Chile là giao điểm của vĩ tuyến vượt qua Cột mốc số 1 với mức nước thuỷ triều thấp nhất

Trang 8

Để xây dựng đường cách đều tạm thời A (như hình bên), Toà ICJ lựa chọn điểm cơ sở đầu tiên trên bờ biển Chile cách A 80 hải lý dọc theo vĩ tuyến, điểm cơ sở của Peru được xác định khi quay vòng cung tâm A, bán kính 80 hải lý đến khi cắt đường

bờ biển của Peru Các điểm cơ sở tiếp theo được xác định tương tự với khoảng cách lớn hơn 80 hải

lý mỗi lần so với điểm A Cứ như thế,

đường cách đều tạm thời được hoạch định theo một đường thẳng, đến khi giao với đường giới hạn 200 hải lý, đó là điểm B Từ điểm này, ranh giới biển giữa hai bên không còn vùng chồng lấn Từ đó Toà nối điểm B với điểm C (điểm giao nhau của các đường giới hạn 200 hải lý của hai bên) Căn cứ theo các hoàn cảnh có liên quan như các vị trí nhô ra trên đường bờ biển, Toà sẽ xem xét điều chỉnh đường cách đều tạm thời để đi đến một kết quả công bằng Cùng với đó tính cân xứng của đường này so với độ dài bờ biển cũng được cân nhắc Với những hoàn cảnh bất thường của địa thế như điểm biên giới đầu tiên kéo dài 80 hải lý theo vĩ tuyến sẽ làm quá trình hoạch định trở nên thiếu cân xứng, nhưng quá trình hoạch định này của ICJ vẫn đem đến những kết quả công bằng nhất với những thoả thuận mà các bên đã đạt được trước đó

c Phán quyết của Toà ICJ

Trên cơ sở các lập luận được phần lớn các thành viên của Toà án công lý quốc tế

thông qua, phán quyết cuối cùng đã được đưa ra vào ngày 27/01/2014, nhằm chấm dứt tranh chấp giữa Peru và Chile trong quá trình phân định biển Phán quyết bao gồm 5 nội dung chính: Thứ nhất, Điểm xuất phát của đường biên giới biển duy nhất phân chia ranh giới khu vực biển giữa Peru và Chile là giao điểm của mốc biên giới số 1 với mức nước thuỷ triều thấp Thứ hai, phân khúc ban đầu của biên giới biển duy nhất đi theo vĩ tuyến và đi qua mốc biên giới số 1 về phía Tây Thứ ba, phân khúc ban đầu chạy đến điểm A nằm ở khoảng cách

80 hải lý tính từ điểm xuất phát của biên giới biển duy nhất Thứ tư, phân định được đường biên giới trên biển thông qua các điểm A, B, C như trên Thứ năm, Toà quyết định không cần

ra phán quyết đối với đệ trình thứ hai của Peru Với những phán quyết như

Bản đồ xây dựng đường cách đều

Trang 9

trên, ngày 19/08/2014, Tổng thống Peru đã ký kết hiệp định chấm dứt mọi tranh chấp về việc phân định biển với Chile, mong muốn vụ việc này sẽ là tiền lệ, hình mẫu cho cộng đồng quốc tế trong quá trình giải quyết các tranh chấp trên biển

d Bài học cho Việt Nam khi tham gia tranh chấp trên biển thông qua ICJ

Thực tế, những tranh chấp trên biển của Việt Nam với Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ; với Campuchia, Thái Lan, Malaysia trong vịnh Thái Lan; với Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa và các nước khác trên quần đảo Trường Sa,… Nếu những tranh chấp và xung đột này không thể giải quyết, có thể Việt Nam cần sự can thiệp của các thiết chế tài phán quốc tế như ICJ để thực hiện phân xử và hoạch định Vì những vùng biển tranh chấp của Việt Nam ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan mang những tính chất và đặc điểm tương tự như án lệ của Peru và Chile, nên việc nghiên cứu cách thức Toà án ICJ tiến hành phân xử

và hoạch định đường biên giới biển sẽ giúp đất nước ta ứng phó nhanh nhạy hơn trong các tình huống có thể xảy ra Đó là việc viện dẫn các điều ước quốc tế đã được ký kết để nhằm đạt tới một kết quả công bằng; đó là cách thức sử dụng con người có trình độ chuyên môn, kiến thức để sẵn sàng đối phó với mọi lập luận từ nước bạn;…

2.2 Philippines kiện Trung Quốc về Tranh chấp chủ quyền Biển Đông

a Khái quát về án lệ

Bắt nguồn từ những mâu thuẫn kéo dài nhiều năm trên biển giữa Philippines và

Trung Quốc nói chung, sự việc tranh chấp bãi cạn Scarborough8 nói riêng là một trong những

lý do chính yếu khiến Philippines đệ đơn lên Toà án trọng tài Thường trực PCA9 ngày 22/01/2013 nhằm tìm giải pháp hoà bình cho vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông giữa hai nước Theo đó Philippines khởi kiện Trung Quốc 15 nội dung vì đã giải thích và áp dụng sai Điều 279, 283, và 284 về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Công ước UNCLOS

1982 Ngày 19/02/2013, Trung Quốc trả lại công hàm của Philippines, kiên quyết đàm phán, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp song phương mà không cần sự can thiệp của cơ quan tài phán quốc tế nào Tuy nhiên, vì Philippines tiếp tục duy trì yêu cầu khởi kiện, căn cứ theo khoản 3, 5 Điều 287 UNCLOS 1982, Toà Trọng tài vẫn sẽ có thẩm quyền

8 Scarborough Shoal: đảo Hoàng Nham gồm 5 đến 7 đảo đá theo Điều 121

9 PCA: Permanent Court of Arbitration: Toà án trọng tài thường trực có trụ sở tại thành phố The Haye (Hà Lan)

Trang 10

thực hiện trách nhiệm của mình kể cả khi Trung Quốc không chấp thuận Là thành viên của UNCLOS 1982, nhưng Trung Quốc lại từ chối tham gia toà án, phớt lờ các cam kết

và nghĩa vụ tuân theo luật pháp, hiệp ước quốc tế,… đây là một thảm hoạ với hình ảnh của nước này khi sẽ đánh mất đi uy tín và sự tôn trọng quốc tế của các quốc gia khác

b Bình luận về án lệ

Trong đơn kiện, Philippines không đưa ra các vấn đề hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà đưa ra các vấn đề sau: Thứ nhất, Philippines đề nghị Toà phủ quyết yêu sách đường ranh giới lưỡi bò vì vi phạm nghiêm trọng quy định của UNCLOS 1982 mà nước này đã tham gia ký kết và trở thành thành viên Thứ hai, việc Trung Quốc xây dựng

những công trình, trên các bãi, vỉa đá ngầm trong phạm vi 200 hải lý của Philippines đã vi phạm chủ quyền và quyền tài phán và xâm phạm lợi ích của quốc gia này Đơn cử như việc viện dẫn danh nghĩa lịch sử, năm 2012, một lô dầu khí của Tập đoàn China National Offshore Oil Corporation10 nằm ngoài phạm vi 200 hải lý của tất cả thực thể trên Biển Đông của Trung Quốc được đưa vào hoạt động, bất chấp chủ quyền của Philippines Thứ

ba, các nội luật Trung Quốc đưa ra như lệnh đơn phương cấm đánh bắt cá của các quốc gia khác trên hầu như toàn bộ khu vực biển Đông cũng vi phạm UNCLOS 1982

Về phía Trung Quốc, họ coi vùng nước chữ U là vùng nước lịch sử thuộc chủ quyền của mình, vừa khẳng định quyền tự do hàng hải và hàng không ở khu vực này Đây là một điều vô lý, cho thấy yêu sách đường lưỡi bò Trung Quốc đưa ra chỉ muốn giới hạn trong các quyền lịch sử đối với tài nguyên thiên chứ không phải quyền lịch sử11 thực sự Một quốc gia được pháp luật quốc tế công nhận có quyền lịch sử khi thoả mãn hai yếu tố sau: Thứ nhất, quyền được yêu sách được thực thi một cách liên tục trong thời gian dài Thứ hai,

10 CNOOC: Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi Quốc gia của Trung Quốc

11 Quyền lịch sử (historic right) là bất kỳ quyền nào một quốc gia có được, tương đương với chủ quyền tuyệt đối và đầy đủ đối với một lãnh thổ hay vùng biển nào đó

Đường lưỡi bò của Trung Quốc

Ngày đăng: 22/03/2023, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Dung, Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển năm 1982, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển năm 1982
2. Lê Thanh Hoàn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển năm 1982, Thực tiễn phân định biển của một số quốc gia trên thế giới và lời giải cho vấn đề tranh chấp tại biển Đông, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân định biển theo Công ướcLuật biển năm 1982, Thực tiễn phân định biển của một số quốc gia trên thế giới vàlời giải cho vấn đề tranh chấp tại biển Đông
4. Nguyễn Bá Diến, Đinh Phạm Văn Minh, Tranh chấp về phân định biển giữa Peru và Chile tại Toà án Công lý Quốc tế của Liên hợp quốc (ICJ) và những tham chiếu cho Việt Nam trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 10-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp về phân định biển giữa Peruvà Chile tại Toà án Công lý Quốc tế của Liên hợp quốc (ICJ) và những tham chiếucho Việt Nam trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo
5. Pierre Klein, Những phát triển mới của Luật biển quốc tế dưới ánh sáng của một số án lệ gần đây, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 3 (2018) 33-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát triển mới của Luật biển quốc tế dưới ánh sáng của một số án lệ gần đây
3. Trần Hữu Duy Minh, Phán quyết ngày 12.7.2016 trong Vụ kiện Biển Đông: Hiểu đúng một phần bản chất của Đường chữ U Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w