1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nguồn lao động việt nam với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn lao động Việt Nam với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Tác giả Nhóm tác giả: Phạm Phương Chi, Đặng Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Phạm Thị Hương Lâm, Thị Phương Hoa, Phạm Khánh Vân
Trường học Trường đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Địa lý kinh tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2015-2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính

Trang 1

CNH-HĐH đất nước.

Thành viên:Phạm Phương Chi

Đặng Hồng Hạnh

Nguyễn Thị Thanh Hiền

Phạm Thị Hương

Lâm Thị Phương Hoa( nhóm trưởng) Phạm Khánh Vân

Lớp : Địa lý kinh tế 1

Năm học: 2015-2016

I,Khái niệm:

Page | 1

Trang 2

1, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là gì?

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa VII ( tháng 1- 1994) đã có bước đột phá mới trong nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa- hiện đại hóa “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và

quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ và phương tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

Chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa do hoàn c ảnh cụ thể của nước ta hiên nay: trong khi nhiều nước đã hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa và đạt

được những thành tựu to lớn thì bây giờ Việt Nam m ới bắt đầu công cuộc này Chính vì vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để có thể nhanh chóng đuổi k ịp các nước tiên tiến trên thế giới từ đó thực hiện mục tiêu đi trước đón đầu Đồng thời c ó thể giúp chúng ta xây dựng nhanh chóng và thành công cơ s ở vật chất cho chủ nghĩa xã hội

2,Nguồn nhân lực là gì ?

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:

+ Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự

phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng

tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

+ Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội,

cung cấp nguồn lực con người cho s ự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ

dân cư có thể phát triển bình thường

II / Tầm quan trọng của nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nhân nói riêng trong giai đoạn phát triển của nước ta hiện nay.

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan trọng nhất

cho sự phát triển kinh tế-xã hội Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một nguồn lực thúc đẩy Phát triển kinh tế-xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực , song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người Bởi lẽ chính con người tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại

đó Từ đó ta có 4 vai trò của nguồn nhân lực công nhân với sự nghiệp CNH-HĐH:

- Thứ nhất là, nguồn nhân lực công nhân chất lượng cao là nguồn lực chính quyết

định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội Nguồn nhân lực công nhân là nhân

tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác

Giữa nguồn lực con người, v ốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ s ở vật chất k ỹ thuật, khoa học

Trang 3

công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem

là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế – xã hội c ủa mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với y ếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các

nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là y ếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người v ới tư cách là

nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế – xã hội

- Thứ hai là, nguồn nhân lực công nhân chất lượng cao là một trong những yếu tố

quyết định sự thành công c ủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

-Thứ ba là, nguồn nhân lực công nhân chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng

cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước nhằm đảm bảo phát triển bền vững

-Thứ tư là, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nhân chất lượng cao

nói riêng là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

III, Thực trạng nguồn lao động Việt Nam hiện nay:

1.Thực trạng lao động Việt Nam hiện nay:

Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 02/2014, Việt Nam có gần 90 triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào. Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu

thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các

ngành, nghề Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 63 triệu người, chiếm hơn 70% dân

số; nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần

1 triệu người

Page | 3

Trang 4

Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động

Đơn vị : %

Cả nước

1.Khu vực

Thành thị

Nông thôn

72,5 64,5 75,4

71,1 63,8 73,9

73,8 66,0 76,9

77,1 69,7 80,6

76,8 70,0 80,2 2.Vùng địa lý- kinh tế

Đồng bằng Sông Hồng

Trung du và miền núi phía bắc

Trung du và Duyên hải miền Trung

Tây nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

71,8 78,0 72,7 79,8 66,9 72,0

71,1 76,0 70,3 78,0 65,9 70,7

73,2 75,6 74,4 79,5 65,4 74,0

76,3 86,0 79,6 92,4 72,4 78,3

73,9 84,3 77,7 82,9 71,4 77,4

(Nguồn: - Bộ LĐTB&XH, Số liệu thống kê lao động-việc làm các năm 2002, 2005 - TCTK, Số liệu điều tra lao động-việc làm các năm 2007, 2011, 2012.)

Trang 6

(Tỷ lệ lao động qua đào tạo của LLLĐ giai đoạn 2005-2013 (nguồn: Niên giám thống kê

2014)

Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực

chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất

lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ

Trang 7

thông, mà là nhân lực chất lượng cao Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40% Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung họcchuyên nghiệp là 1,3

và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10.Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm -ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội luật, kinhtế, ngoại ngữ lại quá cao Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện

tử, viễn thông, cơ khí chế tạo

Năng suất lao động của Việt Nam đã cải thiện đáng kể Bình quân giai đoạn 2006-2015, năng suất lao động xã hội đã tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm và giai đoạn 2011-2015 tăng 4,2%/năm

2.Đánh giá lao động Việt Nam trong phạm vi khu vực châu á:

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới  (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực ViệtNam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79

điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB - 2010) trong khi Hàn Quốc là

6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94

Theo một báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mới đây, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/5 so với Malaysia và 2/5 Thái Lan và 1/15 lao động Singapore

Trong một nghiên cứu mới đây của ILO/ADB( Asian development bank) với tựa đề “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung,” các chuyên gia của ILO và ADB cho rằng, lao động Việt Nam thiếu chuyên môn, chưa được đào tạo, các kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại…

Bình luận về báo cáo mới đây của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO về năng suất lao động của Việt Nam, ông Mai Đức Chính - Phó Tổng giám đốc Liên đoàn lao động Việt Nam khẳng định:

"Năng suất lao động chắc chắn Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực, đặc biệt là so với Singapore Ví dụ cụ thể, Singapore có 5 triệu dân nhưng họ làm ra 100 tỉ USD/năm, tức là mỗi người làm ra 20 triệu USD/năm Trong khi đó, Việt Nam 90 triệu dân cũng chỉ làm ra 100 tỉ USD như vậy rõ ràng năng suất lao động Việt Nam thấp"

Page | 7

Trang 8

IV, Nguyên nhân dẫn đến những yếu điểm của lực lượng lao động Việt Nam:

Về phía nhu cầu, mô hình tăng trưởng của chúng ta vẫn chưa khuyến khích thúc đẩy nhu cầu

lao động trình độ cao và nâng cao chất lượng lao động trình độ cao Mô hình tăng trưởng hiện hành của Việt Nam với các trụ cột chính là: (i) khai thác tài nguyên; (ii)lao động rẻ, chất lượng thấp; (iii) đầu tư vốn lớn và dễ dàng; (iv) khu vực doanh nghiệp nhà nước có thế lực mạnh nhưng với hiệu quả thấp Hệ quả là chúng ta có một cơ cấu công nghiệp lệch lạc- thiếu nền tảng công nghiệp hỗ trợ, thiếu lực lượng doanh nghiệp có khả năng liên kết và gia nhập chuỗi sản xuất thế giới, thiếu lực lượng LĐCMKTTĐC để dẫn dắt nền kinh tế, do đó không thể cạnh tranh và phát triển một cách bình thường

Về trình độ công nghệ của sản xuất, hiện nay hầu hết các DN mới đầu tư khoảng 0,2-0,3%

doanh thu cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, trong khi tỉ lệ này ở Hàn Quốc là 10%

và Ấn Độ là 5% Đáng chú ý, 80% các DN Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu từ 3-4 thế hệ so với thế giới, đa số DN sử dụng công nghệ của những năm 1980 và năng lực nghiên cứu đổi mới công nghệ rất hạn chế Giai đoạn 2010-2011, mặc dù các chỉ tiêu vĩ mô đang được phục hồi sau khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2008-2009, nhưng vẫn còn thấp Tăng trưởng GDP bình quân 6,3%/năm, tăng trưởng vốn cố định vẫn trên 10%/năm, nhưng tăng trưởng việc làm chậm lại, khoảng 2,3%/năm Đóng góp vào tăng trưởng từ vốn cố định chiếm 56,2%/năm, từ lao động là 24,2%/năm (giảm nhẹ so với giai đoạn 2006-2010) TFP tăng nhẹ (1,2%/năm) đóng góp 19,6% vào tăng trưởng

Trang 9

Về đào tạo, trong lúc nền kinh tế đang khan hiếm lao động trình độ cao ở nhiều ngành nghề như

vị trí tư vấn, thiết kế, quản trị nhân sự, lãnh đạo doanh nghiệp cấp cao, luật sư, khoa học môi trường, kỹ sư công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, kỹ sư điện, điện tử, cơ khí, logistics… thì thanh niên ra trường chủ yếu là cử nhân tài chính, ngân hàng, kế toán, luật, hành chính văn phòng…; và đang thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề để tăng năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp thì hầu hết thanh niên tốt nghiệp lớp 12 chọn con đường học đại học

Trong khi những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm và phẩm chất lao động công nghiệp hiện đại tại doanh nghiệp thì thanh niên ra trường thường chỉ được trang bị những lý thuyết chung, năng lực thực hiện yếu, thiếu những kỹ năng sống quan trọng Đặc biệt, lao động trình độ cao yếu tin học và ngoại ngữ, thiếu những công cụ sắc bén để làm việc đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng làm việc độc lập và nâng cao năng suất

Về dịch chuyển lao động theo các tín hiệu của thị trường, tỷ lệ di chuyển trên thị trường lao

động khá cao, theo số liệu Điều tra Dân số và Nhà ở (2009), tỷ lệ lao động trình độ cao di chuyển chiếm khoảng 11.3% tổng số lao động di chuyển Trong đó, nhóm di chuyển nhiều nhất là lao động có trình độ đại học, chiếm 71% Lao động trình độ cao có xu hướng di chuyển đến những vùng, thành phố và khu vực có thị trường lao động sôi động nhất (thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 tỉnh có lượng lao động trình độ cao di chuyển đến nhiều nhất, tương ứng là 67,9% và 19,1%; chủ yếu làm việc ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 36% số lao động di chuyển) Điểm chú ý là đi liền với khả năng di chuyển cao thì mức độ “nhảy việc” nhiều, không an tâm đầu tư phát triển nghề nghiệp lâu dài của một bộ phận lao động trình độ cao Những bất cập trong mô hình tăng trưởng và trình độ công nghệ của sản xuất đã kéo theo sư mất cân đối nghiêm trọng trong cấu trúc việc làm ở Việt Nam Mâu thuẫn giữa lao động và việc làm càng trở lên gay gắt khi tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế từ năm 2012 Sự dịch chuyển lao động giữa các khu vực, các ngành nghề và nhu cầu kỹ năng làm cho một bộ phận lớn lao động trở nên

dư thừa, đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trong quá trình dịch chuyển này, nền kinh tế vừa thiếu đội ngũ lao động có kỹ thuật, công nhân lành nghề có khả năng làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao, các khu chế xuất và những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vừa thừa đội ngũ lao động phổ thông không có tay nghề chuyên môn Lao động vẫn tiếp tục bị dồn nén trong khu vực nông nghiệp, nông thôn với năng suất thấp- năm 2013, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm gần 46% việc làm nhưng chỉ tạo ra 25,7% GDP; vẫn có đến gần 70% việc làm không chính thức trong tổng việc làm với những đặc điểm của lao động dễ bị tổn thương và mới

có 20,6% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội (cơ chế an sinh xã hội chủ yếu với người lao động)

Về cơ sở hạ tầng của thị trường lao động, thông tin thị trường lao động nói chung hiện nay lạc

hậu, không mang tính hệ thống, bị chia cắt giữa các vùng miền, không phản ánh được những vấn

đề nóng của thị trường lao động, khả năng bao quát, thu thập và phổ biến thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tác Cơ sở dữ liệu về thị trường lao động vừa thiếu vừa không được cập nhật, hầu hết các cuộc điều tra về lao động – việc làm không được công bố kịp thời Hiệu quả các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp, giao dịch việc làm thấp Hệ thống dịch vụ việc làm của cả nước mới chỉ đáp ứng 10-15% nhu cầu thực tế về tư vấn và giải quyết việc làm, đặc biệt không đáp

Page | 9

Trang 10

ứng yêu cầu của lao động trình độ cao Trên thị trường lao động Việt Nam, các vị trí chủ chốt như kỹ thuật cao cấp, chức danh quản lý cao cấp (quản lý dự án, giám đốc nhân sự và

marketing…), doanh nghiệp phải tìm đến kênh chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, chủ yếu thông qua các công ty “săn đầu người” nước ngoài

Về cơ chế quản trị thị trường lao động, các cơ chế hữu hiệu trên thị trường lao động như đối

thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể…chưa được thực hiện hoặc còn hình thức Chất lượng của lao động trình độ cao theo đội ngũ một số “trụ cột” như công chức, cán bộ khoa học công nghệ, giảng viên đại học, đội ngũ doanh nhân, công nhân kỹ thuật trình độ cao… vẫn chưa đảm đương được sứ mệnh là “đầu kéo của quá trình phát triển”

V, Giải pháp cho vấn đề lao động Việt Nam:

- Ý thức được vai trò của nguồn tài nguyên con người – tài nguyên nhân lực trong sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước

- Đầu tư vào giáo dục bắt buộc miễn phí 12 năm phổ thông, tiếp tục có định hướng nghề nghiệp

rõ ràng và hợp lý để phân chia nguồn lao động ở các trình độ khác nhau phục vụ cho nhu cầu nhân lực của xã hội

- Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế

- Phát triển nguồn nhân lực đa dạng ở các ngành, lĩnh vực khác nhau như công nghiệp; xây dựng; dịch vụ; nông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải; tài nguyên, môi trường; du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin; năng lượng hạt nhân;

- Quan tâm và đưa ra các chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực đi học, làm việc ở nước ngoài, để tiếp tục quay về phát triển đất nước

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực và chuyên giao công nghệ hiện đại về Việt Nam.   

- Vận động các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực để sử dụng với chất lượng ngày càng cao

- Bảo đảm và huy động nguồn vốn cho phát triển nhân lực; đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường các nguồn vốn cho phát triển nhân lực

- Phát động phong trào thi đua yêu nước tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các chính sách phát triển nhân lực

- Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ; chính sách trọng dụng chuyên gia, tham mưu, kỹ sư, tổng công trình sư, nhà thiết kế, phát minh, ; chính sách về môi trường, điều kiện, phương tiện làm việc; chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội; chính sách cho các cơ quan khoa học NGO Tổ chức tốt việc thực hiện các chính sách đó

- Cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, có chế độ ưu đãi cho người học

- Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống Muốn có chất lượng con người, phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống, có nghĩa là phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, trí tuệ minh mẫn

Ngày đăng: 22/03/2023, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w