ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP LỜI NÓI ĐẦU Than là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá của quốc gia, là nguồn lợi thiên nhiên ban tặng cho các quốc gia Đối với Việt Nam, Than có mộ[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Than là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá của quốc gia, là nguồn lợi thiên nhiên ban tặng cho các quốc gia Đối với Việt Nam, Than có một vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác, sử dụng và tiến hành xuất khẩu Hàng năm, hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản của Việt Nam đã thu về một nguồn lợi lớn cho quốc gia, là một trong những nhóm ngành có tỷ trọng đóng góp GDP lớn nhất của đất nước Ngành Than được coi là ngành công nghiệp hạ tầng của các ngành công nghiệp quan trọng khác khi mà cung cấp đầu vào cho các ngành về hóa chất, xi măng, điện và phân bón… Sự phát triển của ngành Than của Việt Nam gắn liền với sự phát triển của các ngành nghề khác trong tổng thể nền kinh tế
Nhằm tìm hiểu rõ hơn tác động của Than đối với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam em đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp cho sự phát triển ngành than Việt Nam”.
Trang 2PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN THAN TẠI VIỆT NAM
1 Than khoáng sản
Than khoáng sản là một trong những tài nguyên khoáng sản trong lòng đất của quốc gia, cùng với các loại khoáng sản khác như: Đồng, chì, kẽm, thiếc…đã tạo thành một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú và
có giá trị của Việt Nam Than khoáng sản là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh thái đầm lầy, các xác cây cối thực vật được nước và bùn lưu giữ khỏi bị oxi hóa và phân hủy bởi sinh vật mà hình thành nên Than đá ngày nay Thành phần chính của Than khoáng sản là chất Cacbon, ngoài ra còn có các chất khác như lưu huỳnh, nên Than có tính năng
là đốt cháy tốt và sinh ra lượng nhiệt lớn, vì vậy Than khoáng sản là nguồn nguyên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới
Hiện nay, lượng Than được khai thác trên thế giới và Việt Nam được sử dụng trong các ngành năng lượng, phục vụ sản xuất nhà máy nhiệt điện và các ngành công nghiệp sử dụng chất đốt… Than đang được khai thác từ các mỏ Than lộ thiên hay các hầm lò nằm sâu dưới lòng đất Ngày nay, với trình độ công nghệ hiện đại, công tác thăm dò và khai thác đã giúp con người phát hiện ra nhiều tài nguyên khoáng sản có giá trị đồng thời khai thác có hiệu quả hơn đối với nguồn tài sản quốc gia này Việt Nam được đánh giá là có nguồn
dự trữ Than đá đáng kể và có giá trị về mặt kinh tế, trong tài nguyên về khoáng sản thì Than đá là nguồn tài nguyên có trữ lượng và hiệu quả kinh tế lớn nhất
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế thì trữ lượng Than hiện nay trên thế giới rất lớn, khoảng 910 tỷ tấn, đủ cho sản xuất trong 155 năm với tốc độ như hiện nay và nếu như không có sự đột biến nào thì nhu cầu sử dụng Than trên thế giới sẽ tăng gấp 3 lần từ nay đến năm 2050 Theo các cuộc thăm dò và khai thác thì Than hiện diện ở khắp nơi trên thế giới và được sử dụng chủ yếu trong các nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng, phục vụ các ngành công nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân, nhưng được sử dụng lớn nhất là
Trang 3trong các nhà máy nhiệt điện, do đó 40% lượng điện được sản xuất trên toàn cầu là từ các nhà máy nhiệt điện dùng Than
2 Lịch sử phát triển ngành than tại Việt Nam
Ngành Than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 100 năm, trải qua 72 năm truyền thống vẻ vang, từ cuộc tổng bãi công ngày 12/11/1936 của hơn 3 vạn thợ mỏ đã giành được thắng lợi rực rõ, đánh dấu mốc son chói lói trong trang sử hào hùng đấu tranh cách mạng vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng vùng mỏ góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc Trải qua quá trình hình thành, hoạt động và phát triển của ngành, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào, người thợ
mỏ Việt Nam vẫn phát huy bản lĩnh sáng tạo và tinh thần đoàn kết, dũng cảm, luôn tiên phong đi đầu, tạo nên nhiều chiến công xuất sắc trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong chặng đường đã đi qua, ngành Than Việt Nam đã gặp không ít những khó khăn và thăng trầm trong lịch sử phát triển, đặc biệt là thời kỳ bước vào công cuộc đổi mới của đất nước và những năm đầu của thập niên 90, nạn khai thác Than trái phép phát triển tràn lan đã dẫn đến nhiều hậu quả đối với ngành Than và xã hội, tình trạng tài nguyên môi trường vùng mỏ Than bị hủy hoại, trật tự xã hội phức tạp, công nhân thiếu việc làm, ngành Than đã phải cắt giảm sản xuất… với những khó khăn
đó đã đẩy ngành Than của Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng trong một thời gian Trong giai đoạn trưởng thành và phát triển từ 1985 đến năm 1994, ngành Than Việt Nam đã có những bước đầu thành công trong việc khai thác tập trung tại các khu mỏ, việc đầu tư trang thiết bị, máy móc tại các hầm mỏ nên sản lượng khai thác và tiêu thụ
đã được phản ánh qua kết quả kinh doanh của ngành
3 Tầm quan trọng của ngành Than Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng Than lớn trên thế giới, với ước tính có khoảng 4 tỷ tấn Than Antraxit Với trữ lượng Than phân
Trang 4bố chủ yếu là ở độ sâu dưới 500m trong khi lượng Than ở các mỏ lộ thiên lại rất nhỏ, khoảng 300 triệu tấn nên gặp không ít khó khăn trong việc khai thác Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượng khoảng 17 tỷ tấn Than nâu thích hợp cho việc sử dụng trong các ngành công nghiệp nồi hơi, nhưng phần lớn lượng Than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồng nên số Than này sẽ rất khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp và ảnh hưởng của lượng nước ngầm cao Than Antraxit nằm chủ yếu ở vùng mỏ Quảng Ninh còn Than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng Ngành Than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát triển của ngành Than phải đặt trong sự phát triển của các ngành liên quan và đặt trong tổng thể phát triển của nền kinh tế và xã hội Ngành Than là một trong những ngành công nghiệp mang tính chất hạ tầng và là nguồn cung cấp đầu vào phục vụ cho nhiều ngành kinh tế khác Mang tính chất là một ngành công nghiệp hạ tầng nên ngành cần có tính chất đặc thù cho cả đầu tư phát triển nội ngành và cả con người, đảm bảo cho ngành Than Việt Nam phát triển một cách bền vững, chắc chắn và đồng bộ với các ngành nó phục vụ Khi nói đến tầm quan trọng của ngành Than, chúng ta cần đánh giá Than trong các mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng… Về Kinh tế Việc khai thác Than có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự phát triển của nhiều ngành nói riêng, cụ thể như: Đảm bảo nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu cho một số ngành trong nền kinh tế quốc dân như: điện, xi măng, sắt thép, giấy, đạm, vật liệu xây dựng và chất đốt sinh hoạt… Hàng năm, một lượng Than lớn được cung cấp cho các ngành công nghiệp luyện kim cũng như phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong sinh hoạt không ngừng được tăng lên
Ngành Than đã trực tiếp tạo ra việc làm cho hàng chục nghìn việc làm cho người lao động và gián tiếp tạo việc làm cho hàng chục vạn người ở các ngành kinh tế khác Theo số liệu tổng kết của ngành Than về số lượng lao động tham gia hoạt động trong ngành và thu nhập bình quân qua các năm
Trang 5Ngành Than đã tạo việc làm cho một bộ phận lớn người lao động tại địa phương hay khắp các vùng miền khác đến tham gia khai thác trong các mỏ Than hay quản lý Năm 2002 , lượng lao động tham gia trong ngành Than mới khoảng hơn 80.000 lao động, nhưng đến năm 2015 thì lượng lao động của ngành Than đã tăng lên đến 115.000 lao động, với mức thu nhập bình quân của một lao động khoảng 8,7 triệu đồng/người/tháng Ngoài ra, nếu tính mỗi lao động của ngành Than nuôi thêm 1,5 – 2 người ăn theo thì trong thực
tế việc khai thác Than đã nuôi sống hàng trăm ngàn người Tạo mới và phát triển các khu dân cư, hình thành nhiều làng mỏ, phát triển dân số và từ đó phát triển về nhà ở, trường học, bệnh viện… và các dịch vụ hạ tầng cơ sở hạ tầng gần các khu mỏ khai thác Tại các khu vực khai thác mỏ Than sẽ hình thành các dịch vụ, các ngành nghề sản xuất nhỏ để phục vụ hay cung cấp cho công nhân, hay đấy chính là việc phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho một bộ phận người dân Hình thành giai cấp công nhân mỏ ở Việt Nam và văn hóa người mỏ, nhất là ở Quảng Ninh Đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa… Ở những vùng xa xôi hẻo lánh, phát triển khai thác mỏ Than là việc làm gia tăng sử dụng vùng đất xung quanh và giá trị của chúng Góp phần phân bố lại dân cư lao động hợp lý hơn, giảm được sức ép gia tăng dân số lên các trung tâm, thành thị Tuy nhiên trong việc khai thác Than, đặc biệt là hoạt động khai thác trong hầm lò luôn tiềm ẩn những rủi ro nổ lò, cháy lò, bục nước, sập lún hầm lò… Hậu quả là người lao động gánh chịu, bên cạnh đấy cũng có nhiều lao động mắc bệnh nghề nghiệp… đấy cũng là một vấn đề lớn đặt ra cho ngành trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận lao động của ngành Về bảo vệ môi trường Từ khi được thành lập vào năm 1994, Than Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp cải thiện môi trường vùng mỏ khai thác theo tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành Than và các vùng Than Với phương châm và mục tiêu đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường, ngành Than đã có nhiều hoạt động có ý nghĩa trong việc quản lý môi trường
Trang 6và giảm thiểu các ô nhiễm do hoạt động khai thác Có thể những kết quả trong công tác quản lý môi trường của ngành Than không triệt để hay chưa kiểm soát hoàn toàn lượng ô nhiễm của hoạt động khai thác gây ra nhưng những hành động của ngành đã tạo động lực và bước đi đầu cho những ngành công nghề khác học tập và làm theo trong công tác bảo vệ môi trường, khắc phục
sự suy thoái của môi trường sống xung quanh con người Một số kết quả mà ngành Than đạt được: Hầu hết các mỏ và các đơn vị sản xuất – kinh doanh đã lập và được duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, là cơ sở ban đầu cho việc quan 23 trắc, quản lý môi trường và thực hiện các giải pháp kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm Bên cạnh đấy, các mỏ và các nhà máy sàng tuyển đã, đang và thực hiện các dự án xây dựng các công trình chống bụi, thoát nước,
xử lý nước thải, thực hiện nạo vét sông suối, khôi phục một số hồ nước ở Quảng Ninh, xây kè đập ở chân bãi thải đất đá của quá trình khai thác và trồng cây xanh xung quanh các vùng mỏ, thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc
Trang 7PHẦN 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NGÀNH THAN TRONG NƯỚC
1 Cầu thị trường ngành than trong nước
Sản lượng than tiêu thụ trong nước đã có sự tăng lên đáng kể từ mức 10 triệu tấn năm 2002 lên khoảng 28 triệu tấn năm 2013, trong đó chủ yếu là than sản xuất trong nước 27,5 triệu tấn (chiếm 98,2%), than nhập khẩu chỉ khoảng 0,5 triệu tấn (chiếm 1,8%): gồm than mỡ khoảng hơn 100 ngàn tấn dùng cho luyện kim và than subbitum (than nồi hơi hoặc than năng lượng), khoảng 400 ngàn tấn dùng cho sản xuất điện ở miền Nam
Theo dự báo trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến 2020,
có xét triển vọng đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg, thì nhu cầu than trong nước thời gian tới sẽ tăng rất cao Theo phương án cơ sở cụ thể là:
Đơn vị: triệu tấn
STT Hộ tiêu thụ Năm 2015 Năm 2020 Năm 2025 Năm 2030
1.1 Các ngành
1.2 Nhiệt điện 33,6 82,8 112,7 181,3
Như vậy, so với mức tiêu thụ năm 2013 đến năm 2015 nhu cầu than trong nước sẽ tăng gấp 2 lần, đến năm 2020 tăng gấp 4 lần và đến năm 2030 tăng gấp 8 lần
Nếu dựa theo những số liệu dự báo nhu cầu than trong hai năm trước đây thì có thể thấy những dự báo trên đây là quá cao Ví dụ, năm 2012 dự báo nhu cầu là 32,9 triệu tấn, thực tế chỉ là 25,3 triệu tấn, bằng 76,9%; năm 2013
dự báo nhu cầu là 38,3 triệu tấn, thực tế khoảng 28 triệu tấn, bằng 73,1%
Nguyên nhân chủ yếu làm cho nhu cầu than thực tế giảm so với dự báo
là 2 năm vừa qua do nguồn nước nhiều nên thủy điện huy động tăng lên
Trang 8Cùng với đó, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nên nhu cầu điện cũng giảm
so với dự báo Nhưng ngay cả khi nhu cầu than thực tế chỉ bằng khoảng 80% nhu cầu dự báo thì cũng đã là rất cao Khi đó nhu cầu than đến năm 2015 sẽ là
45 triệu tấn, tăng so với năm 2013 là 17 triệu tấn (bình quân mỗi năm tăng 8,5 triệu tấn, bằng sản lượng của 4 mỏ hầm lò cỡ lớn) và đến năm 2020 là 90 triệu tấn, tăng so với năm 2013 là 62 triệu tấn (bình quân mỗi năm tăng 12,4 triệu tấn, bằng sản lượng của 6 mỏ hầm lò cỡ lớn)
Rõ ràng mức tăng đó là quá cao so với tiến độ xây dựng các mỏ than mới và vấn đề đặt ra là khả năng nâng cao sản lượng than trong nước sẽ như thế nào trong thời gian tới
2 Cung Thị trường ngành than trong nước
Thực tế ngành than hiện nay ở trong nước cho thấy thời gian tới nguồn cung ứng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn bởi các lý do:
Thứ nhất, tài nguyên than đã được thăm dò có khả năng huy động vào
khai thác bị suy giảm và mức độ tin cậy thấp Theo báo cáo của TKV ngày 16/12/2013 về tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển than đã được phê duyệt theo Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg (Quy hoạch 60) thì tổng trữ lượng
và tài nguyên bể than Đông Bắc và vùng nội địa giảm 1,875 tỷ tấn (giảm 20,8%) so với Quy hoạch 60, do việc cập nhật tài nguyên, trữ lượng theo báo cáo kết quả giai đoạn 1 đề án “Điều tra, đánh giá tiềm năng than dưới mức -300m, bể than Quảng Ninh” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt trước đó
Như vậy, chỉ sau 1 năm phê duyệt Quy hoạch 60, trữ lượng than đã
“bốc hơi” gần 2 tỷ tấn do mức độ tin cậy thấp của số liệu báo cáo thăm dò Tính đến 31/12/2013, tổng trữ lượng và tài nguyên bể than Đông Bắc và vùng nội địa còn lại là 6,933 tỷ tấn, trong đó phần tài nguyên đạt cấp trữ lượng rất thấp, chỉ khoảng 30% Ngoài ra, việc khai thác bể than Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) hiện chưa rõ về công nghệ và giải pháp bảo vệ môi trường, việc khai
Trang 9thác thử nghiệm theo dự kiến cũng bị lùi lại Hiện chưa rõ sẽ làm ở địa điểm nào và khi nào bắt đầu
Thứ hai, khả năng nâng cao sản lượng khai thác bị hạn
chế và giảm so với quy hoạch đã được duyệt Theo Quy hoạch
60, sản lượng than thương phẩm dự kiến đến năm 2030 (triệu tấn) như sau:
STT P/a sản lượng Năm 2015 Năm 2020 Năm 2025 Năm 2030
I P/a không có than
Đồng bằng sông hồng 57,4 62,3 68,1 65,6
II P/a có than Đồng bằng
- Đồng bằng sông
Nhưng đến thời điểm này có thể khẳng định, việc khai thác than ở Đồng bằng sông hồng trong giai đoạn này là chưa thể thực hiện được Do vậy, mức sản lượng tối đa đến năm 2025-2030 theo Quy hoạch 60 có thể đạt chỉ là khoảng 65 triệu tấn
Tuy nhiên, theo báo cáo của TKV về tình hình thực hiện Quy hoạch 60 sau khi rà soát lại tình hình tài nguyên, trữ lượng than thì khả năng tối đa chỉ đạt sản lượng than thương phẩm khoảng 55 triệu tấn/năm, hụt so với Quy hoạch 60 khoảng 10 triệu tấn
Như vậy, so sánh nhu cầu dự báo và khả năng khai thác trong nước cho thấy từ năm 2015 sẽ thiếu than và đến năm 2020 tối đa chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu, đặc biệt than cho sản xuất điện sẽ thiếu trầm trọng Ước tính đến năm 2015 thiếu khoảng 3 triệu tấn và đến năm 2020 ít nhất thiếu hơn 40 triệu tấn, bằng tổng sản lượng than toàn ngành năm 2013
Thứ ba, nhu cầu vốn đầu tư tăng cao Theo tính toán trong Quy hoạch
60, tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2030 là
Trang 10690.875 tỷ đồng, bình quân là 36.362 tỷ đồng mỗi năm, trong đó đầu tư mới 29.797 tỷ đồng và đầu tư duy trì công suất là 6.565 tỷ đồng Nếu không tính đến vốn đầu tư khai thác than ĐBSH thì bình quân mỗi năm cần khoảng hơn 32.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 1,5 tỷ USD/năm), riêng đầu tư mới khoảng 26.000 tỷ đồng/năm Trong khi đó, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của TKV (bao gồm cả Tổng công ty Đông Bắc) đến năm 2013 chỉ có khoảng 32.000 tỷ đồng, riêng sản xuất than chỉ khoảng hơn 18.000 tỷ đồng
Theo quy định của Luật Khoáng sản để được cấp phép hoạt động khoáng sản vốn của chủ sở hữu tối thiểu phải bằng 30% tổng mức đầu tư đối với hoạt động khai thác và 50% đối với công tác thăm dò Với nhu cầu vốn đầu tư mới là 26.000 tỷ đồng/năm thì mỗi năm vốn chủ sở hữu phải có ít nhất khoảng 7-8 ngàn tỷ đồng Trong khi đó, với tổng vốn chủ sở hữu của sản xuất than hiện có thì vốn đầu tư từ nguồn khấu hao cơ bản hàng năm chỉ có khoảng 1.800 tỷ đồng, chỉ bằng khoảng 23% mức vốn quy định Còn nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sau thuế để lại cho doanh nghiệp (tức là quỹ đầu tư phát triển trích lập từ lợi nhuận sau thuế), nếu có cũng rất hạn hẹp vì hiệu quả sản xuất than ngày càng giảm do giá bán than giảm, trong khi giá thành tăng cao Hơn nữa, theo quy định mới thì quỹ đầu tư phát triển chỉ được trích lập tối đa bằng 30% lợi nhuận sau thuế Như vậy, nguồn vốn đầu tư cho phát triển than trong thời gian tới sẽ thiếu trầm trọng so với nhu cầu đầu tư
Lẽ ra, trong bối cảnh đó phải có chính sách, biện pháp và hình thức thích hợp để thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế thì hiện đang có biểu hiện của tình trạng cấp phép khai thác than tràn lan, kể cả cho những tổ chức, cá nhân không đủ năng lực theo quy định Cần lưu ý rằng, thời điểm này điều kiện tài nguyên không còn thuận lợi để khai thác theo kiểu “bóc ngắn cắn dài”, tàn phá môi trường Mà việc khai thác phải chuyển sang khai thác lộ thiên xuống sâu dưới mực nước biển với hệ số bóc đất đá thậm chí trên 15m3/tấn, hoặc phải khai thác hầm lò trong điều kiện có nguy cơ cao về cháy nổ, bục nước, sập đổ lò đòi hỏi phải có công nghệ hiện đại, thiết bị tiên