1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội Việt nam hiện nay tới việc hình thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa và giải pháp khắc phục

29 6,2K 36

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua học tập lý luận ở lớp và thực tiển trong đời sống hàng ngày, đồng thời tìm hiểu nghiên cứu từ sách báo nên em chọn đề tài: "Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội Việt nam hiện nay tới việc hình thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa và giải pháp khắc phục".Cơ sở lý luận:Triết học là hình thái ý thức xã hội, ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những thời kỳ lớn của lịch sử triết học là: triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ, triết học của xã hội phong kiến, triết học của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, triết học của xã hội tư bản chủ nghĩa, triết học Mác- Lênin.Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau của các trường phái, học thuyết, phương pháp triết học trong lịch sử. Việc nghiên cứu lịch sử triết học không thể bỏ qua những điều kiện, tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học, tôn giáo và nghệ thuật trong lịch sử có liên quan đến triết học. Mục tiêu của lịch sử triết học là vạch ra những phát sinh, hình thành và phát triển của hai khuynh hướng triết học cơ bản. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử triết học từ cổ đại đến đương đại, song đó là "đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập" trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng triết học.Phương Đông là một trong những chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại. Từ thiên niên kỷ thứ VIII trước Công nguyên, ấn độ và trung hoa cổ đại đã trở thành trung tâm văn minh lớn của xã hội loài người lúc bấy giờ. Những tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý mà thường được trình bày dươí dạng xen kẽ hoặc ẩn sau các vấn đề chính trị- xã hội, đạo đức, nghệ thuật trong lịch sử triết học phương Đông, Nho giáo, Phật giáo, Bà la môn giáo, ... được hình thành từ thời cổ đại nhưng đến cuối thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện.Triết học phương Đông thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Những tộc người cổ đại phương Đông như: Đravia ở ấn độ và Trung á; Hạ Vũ, ấn Thương, Chu Hán ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam,... sớm định cư canh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ trụ dường như không có gì tách biệt. Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tư tưởng thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ mà thôi.Việt nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai trường phái triết học này. Cơ sở thực tiển:Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ Trung quốc và bắt đầu du nhập vào nước ta thời kỳ bắc thuộc mặc dù khi truyền bá vào nước ta dân tộc ta đã có một truyền thống văn hóa lâu đời, đạo Phật đã có thịnh hành trong xã hội, nhưng trong suốt hơn một nghìn năm bắc thuộc những ảnh hưởng của Nho giáo vào ý thức hệ của ngưòi dân Việt Nam là rất lớn Nho giáo đã ảnh hưởng đến con người và xã hội chính trị và văn hóa đến phong tục tập quán và hệ tư tưởng của người Việt Nam.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Lý do chọn đề tài:

Qua học tập lý luận ở lớp và thực tiển trong đời sống hàng ngày, đồng thời

tìm hiểu nghiên cứu từ sách báo nên em chọn đề tài: " Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội Việt nam hiện nay tới việc hình thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa và giải pháp khắc phục"

Cơ sở lý luận:

Triết học là hình thái ý thức xã hội, ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyênthuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những thời kỳ lớn của lịch sửtriết học là: triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ, triết học của xã hội phongkiến, triết học của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tưbản, triết học của xã hội tư bản chủ nghĩa, triết học Mác- Lênin

Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau củacác trường phái, học thuyết, phương pháp triết học trong lịch sử Việc nghiêncứu lịch sử triết học không thể bỏ qua những điều kiện, tiền đề về kinh tế, chínhtrị, xã hội và khoa học, tôn giáo và nghệ thuật trong lịch sử có liên quan đếntriết học Mục tiêu của lịch sử triết học là vạch ra những phát sinh, hình thành

và phát triển của hai khuynh hướng triết học cơ bản Chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử triết học từ cổ đại đến đương đại, song đó là

"đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập" trong sự phát triển của lịch sử tư

tưởng triết học

Phương Đông là một trong những chiếc nôi lớn của nền văn minh nhânloại Từ thiên niên kỷ thứ VIII trước Công nguyên, ấn độ và trung hoa cổ đại đãtrở thành trung tâm văn minh lớn của xã hội loài người lúc bấy giờ Những tưtưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý màthường được trình bày dươí dạng xen kẽ hoặc ẩn sau các vấn đề chính trị- xãhội, đạo đức, nghệ thuật trong lịch sử triết học phương Đông, Nho giáo, Phật

Trang 2

giáo, Bà la môn giáo, được hình thành từ thời cổ đại nhưng đến cuối thế kỷXIX vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện.

Triết học phương Đông thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũtrụ Những tộc người cổ đại phương Đông như: Đravia ở ấn độ và Trung á; Hạ

Vũ, ấn Thương, Chu Hán ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam, sớm định cưcanh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá

đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ trụ dường nhưkhông có gì tách biệt Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tưtưởng thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ mà thôi

Việt nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai trường phái triết học này

Cơ sở thực tiển:

Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ Trung quốc và bắt đầu du nhậpvào nước ta thời kỳ bắc thuộc mặc dù khi truyền bá vào nước ta dân tộc ta đã cómột truyền thống văn hóa lâu đời, đạo Phật đã có thịnh hành trong xã hội,nhưng trong suốt hơn một nghìn năm bắc thuộc những ảnh hưởng của Nho giáovào ý thức hệ của ngưòi dân Việt Nam là rất lớn Nho giáo đã ảnh hưởng đếncon người và xã hội chính trị và văn hóa đến phong tục tập quán và hệ tư tưởngcủa người Việt Nam

2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

a) Mục đích nghiên cứu:

Làm rỏ các vấn đề về nho giáo ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trongđời sống xã hội Việt nam, chính sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học trongcác thời kỳ này, đặc biệt là thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc đã tạo tiền đề cho sự

ra đời hàng loạt các hệ thống triết học với những nhà triết gia vĩ đại mà tên tuổicủa họ gắn liền với lịch sử của nhân loại Nho giáo có một vị thế hết sức to lớntrong đời sống xã hội Nho giáo như là một thành tố văn hóa góp phần làmphong phú văn hóa, Nho giáo vốn được hình thành trên nền tảng của văn hóaHán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hóa với các tộc người khác Tuy nhiên,

Trang 3

trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, Nho giáo được nhìn nhận hết sứckhác nhau Có những giai đoạn lịch sử, người ta đề cao Nho giáo, coi đó như làchuẩn mực để xây dựng đời sống xã hội, lại có thời gian người ta phê phán, bàibác, thậm chí phủ nhận Nho giáo Đương nhiên, khi đã coi Nho giáo như là mộthọc thuyết thì việc xem xét, đánh giá trong các giai đoạn lịch sử cũng là việclàm bình thường.

b) Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu Nho giáo là góp phần xây dựng nến văn hoá Việt Nam đậm đàbản sắc của dân tộc và nó đã trở thành tư tưởng, văn hoá, in đậm dấu ấn củamình lên lịch sử của một nửa châu Á trong suốt hai nghìn năm trăm năm qua vàcho đến tận hôm nay, dù tự giác hay không tự giác, dù đậm hay nhạt, có khoảngmột tỷ rưỡi con người đang chịu ảnh hưởng học thuyết Nho gia, học thuyết này

đã trở thành cốt lõi của cái mà ta gọi là văn hóa phương Đông

3/ Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu dựa trên cơ sở học thuyết Mác Lê Nin - tư tưởng Hồ Chí Minh

và đường lối chủ trương củ Đảng, pháp luật của Nhà Nước, ngoài ra còn vậndụng những truyền thống của dân tộc và nhân loại, nghiên cứu về khoa học, lịch

sử và một số sách báo khác để kết cấu thành một đề tài phân tích và tổng hợp

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHO GIÁO

1.1/ Khái niệm Nho giáo:

Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ nho, theo hán tự từ nho gồm từnhân (người) đứng cận chữ nhu (cần, đợi chờ) Nho giáo còn gọi là nhà nhongười đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ởcho phù hợp với luân thường đạo lý

 Khổng Tử là người mở đầu khai sinh ra trường phái Nho giáo Ông tênthật là Khổng Khâu, tự là Ni, sinh ra tại nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông -Trung Quốc Sinh ra trong gia đình quý tộc nhưng đã sa sút Khổng tử là người

thông minh ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn và hiếu học Với ông, “học không biết chán, dạy không biết mỏi” Người đầu tiên tự mở trường dạy học Học trò

của ông không phân biệt giai cấp nhưng việc đào tạo có mục đích Khổng Tửtừng làm quan (trong coi ruộng đất, sổ sách) nhưng không được trọng dụng.Cuộc đời không thành đạt trong quan trường nhưng lại rực rỡ trong lĩnh vựctriết học nhân sinh Khổng tử mất vào năm 73 tuổi

 Những tác phẩm của Khổng Tử:

Kinh Dịch: giải thích bản chất của thế giới theo quan điểm âm dương

ngũ hành

Kinh Thư: trình bày các hoạt động của các triều đại trong lịch sử.

Kinh Thi: tác phẩm sưu tầm truyền thuyết, ca dao, dân ca.

Kinh Lễ: tác phẩm trình bày tổ chức hành chính và trật tự đòi nhà Chu.

Kinh Xuân Thu

(Các bộ kinh trên gọi là Ngũ Kinh)

Luận Ngữ: bàn về đường lối về chính trị lấy dân làm gốc.

Đại Học: tác phẩm bàn về sự học của người quân tử.

Trung Dung: dạy cách ứng xử của người quân tử.

Trang 5

 Quan điểm của Khổng tử về chính trị xã hội:

 Khổng tử sống trong thời đại nhà Chu suy tàn, trật tự xã hội bị đảo lộn.trước tình hình đó, ông chủ trương lập lại lễ giáo nhà Chu, lập ra học thuyết, mởtrường dạy học và đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình Để thực hiệnđiều đó, ông đã xây dựng nên học thuyết về chính trị xã hội mà cốt lõi là 3phạm trù nhân - lễ - chính danh

 Quan niệm đức nhân: đức nhân có nhiều nghĩa nhưng nghĩa chính làthương người, nhân đạo đối với con người, nhân cũng là đức hạnh của ngườiquân tử Khổng Tử cho rằng đức nhân dựa trên 2 nguyên tắc:

“Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”- cái gì mình không muốn thì đừng làm

cho người khác

“ Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”- mình muốn đứng

vững thì giúp người khác đứng vững, mình muốn lập thân thì gíup người kháclập thân, mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt

Trên cơ sở 2 nguyên tắc này, Ông cụ thể thành các tiêu chuẩn đạo đức cụthể đặc biệt là đối với tầng lớp quân tử, ông cho rằng đối với những người làmchính trị quản lý xã hội muốn có đức nhân phải có 5 điều:

Một là trọng dân

Hai là khoan dung độ lượng với dân

Ba là giữ lòng tin với dân

Bốn là mẫn cán (tận tụy trong công việc): lo việc chung

Năm là đem lòng nhân ái đối xử với dân

Như vậy, quan niệm về đức nhân của Khổng Tử là một đóng góp lớn trongviệc giáo dục đào tạo con người giúp con người phát triển toàn diện, vừa có đứcvừa có tài Tuy nhiên do hạn chế về lập trường giai cấp nên quan niệm về đứcnhân của Khổng Tử cũng có nội dung giai cấp rõ ràng khi ông cho rằng chỉ cóngười quân tử mới có được đức nhân

 Quan niệm về lễ: Khổng tử cho rằng để đạt được đức nhân, phải chủtrương dùng lễ để duy trì trật tự xã hội Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế

Trang 6

lễ; lễ là kỷ cương, trật tự xã hội, là những qui định có tính pháp luật đòi hỏi mọingười phải chấp hành Ai làm trái những điều qui định đó là trái với đạo đức.Như vậy, lễ là biên pháp đạt đến đức nhân.

 Quan niệm về chính danh: quy định rõ danh phận của mỗi người trong

xã hội Khổng Tử cũng như các nhà Nho có hoài bão về một xã hội kỷ cương.Vào thời đại Khổng Tử, xã hội rối ren, vì vậy, điều căn bản của việc làm chínhtrị là xây dựng xã hội chính danh để mỗi người mỗi đẳng cấp xác định rõ danhphận của mình mà thực hiện

Chính danh có hai bộ phận là danh và thực: danh là tên gọi, là địa vị, thứbậc của con người; thực là quyền lợi mà con người được hưởng phù hợp vớidanh Khổng Tử cho rằng danh và thực phải thống nhất với nhau Từ đó ôngchia xã hội thành 5 mối quan hệ gọi là Ngũ Luân:

Vua - tôi (quân - thần): vua nhân - tôi trung

Chồng - vợ (phu - phụ): chồng biết điều - vợ biết nghe lẽ phải

Cha - con (phụ - tử): cha hiền - con thảo

Anh - em (huynh - đệ): anh tốt - em ngoan

Bạn bè (bằng hữu): chung thủy

Khổng Tử cho rằng nếu mỗi người mỗi đẳng cấp thực hiện đúng danh phậncủa mình thì xã hội có chính danh và một xã hội có chính danh là một xã hội có

kỷ cương thì đất nước sẽ thái bình thịnh trị

Trong quan điểm về thế giới, Khổng Tử có sự giao động gĩưa lập trườngduy vật và lập trường duy tâm vì có khi Khổng Tử tin có mệnh trời Ông cho

rằng “tử sinh có mệnh” (sống chết tại ở trời, không cãi được mệnh trời) Khổng

Tử cho rằng người quân tử có 3 điều sợ trong đó sợ nhất là mệnh trời, 2 là sợbậc đại nhân, 3 là sợ lời thánh nhân Nhưng có khi Khổng Tử lại không tin cómệnh trời Ông cho rằng trời là lực lượng tự nhiên không có ý chí, không can

thiệp vào công việc của con người Ông cho rằng “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành thay đổi, trăm vật trong vũ trụ cứ sinh sôi”.

Trang 7

Tóm lại, mặc dù đứng trên lập trường thế giới quan duy tâm bảo thủ, bảo

vệ trật tự xã hội nhà Chu suy tàn nhưng triết hoc Khổng Tử có yếu tố tiến bộ là

đề cao vai trò đạo đức kỷ cương xã hội, đề cao nguyên tắc giáo dục đào tạo conngười, trong người hiền tài, nhân đạo đối với con người và quan niệm tiến bộcủa ông nhằm xây dựng xã hội thái bình thịnh trị

Đó là những quan điểm hết sức mới mẽ và tiến bộ của ông khiến ông mạnhdạn đưa vào đường lối chính trị của trường phái Nho gia hàng loạt vấn đề mới

mẽ toát lên tinh thần nhân bản theo đường lối lấy dân làm gốc

1.2/ Những đặc trưng cơ bản và vai trò của tư tưởng nho giáo :

Bản chất của một sự vật được bộc lộ ra phụ thuộc vào sự tiếp xúc của nóvới môi trường xung quanh Cũng như vậy, đặc trưng của Nho giáo ở Việt Namđược biểu hiện ra phụ thuộc vào các phương diện khảo sát khác nhau, mà từmỗi một phương diện đó lại có thể đi tới những nhận thức khác nhau

Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… đểlàm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội

Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng

và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong

xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được anbình

Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối Tam cương là ba mối quan

hệ quân thần (vua - tôi), phụ tử (cha - con), phu phụ (vợ - chồng)

Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra

trên những nguyên tắc“chết người”.

Quân thần: (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua

có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dướikhông tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua) Trong quan hệ vua tôi, vuathưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ

Trang 8

Phụ tử: (“phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu, nghĩa là: cha khiến con

chết, con không chết thì con không có hiếu)”).

Phu phụ: (“phu xướng phụ tùy”, nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo).

Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ thường là năm điều

phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.

Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.

Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.

Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.

Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.

Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ

phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.

Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng.

Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con.

Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ

nữ phải có, là: “công - dung - ngôn - hạnh”.

Công: khéo léo trong việc làm.

Dung: hòa nhã trong sắc diện.

Ngôn: mềm mại trong lời nói.

Hạnh: nhu mì trong tính nết.

 Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:

Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà

người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu” Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất

là “trung dung” Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn

Trang 9

ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tamtòng.

Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân - trí - dũng” Khổng Tử

nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ).

Về sau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức:

“nhân, nghĩa, lễ, trí” Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là:

“nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” Năm đức này còn gọi là ngũ thường.

Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người

quân tử còn phải biết “thi, thư, lễ, nhạc” Tức là người quân tử còn phải có một

vốn văn hóa toàn diện

Vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam, là chiều hướng và động lựcvận động của Nho giáo Việt Nam và phong cách tư duy do sự hoạt động đó đưalại

Thứ nhất, vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc

lập, tự chủ:

Sau khi giành được độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏchế độ quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ.Nhưng, con người làm nên lịch sử Việt Nam lúc đó là dựa trên di sản của thời

kỳ Bắc thuộc để lại, gồm cơ cấu xã hội, con người, học thuyết, tín ngưỡng,trong đó có Nho giáo

Dù các triều đình Việt Nam đã xem xét và lựa chọn, kế thừa và cải tạo lýluận của Nho giáo cho phù hợp với cuộc sống của mình và thải loại những gìkhông phù hợp với mình, nhưng những nguyên lý cơ bản của nó thể hiện nênnội dung tư tưởng của chế độ phong kiến phương Đông vẫn được bảo lưu và

thực hiện Các nguyên lý như “mệnh trời”, “chính danh”, “tam cương, ngũ thường”, “trung hiếu lễ nghĩa”, v.v của Nho giáo Trung Quốc đã trở thành nền

tảng tư tưởng cho các triều đình Việt Nam tổ chức nên hệ thống cai trị, quy địnhnên các sinh hoạt chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán, v.v

Trang 10

mang sắc thái Việt Nam Sau một thời gian kế thừa và vận dụng Nho giáo, cáctriều đình phong kiến Việt Nam đã cải biến mảnh đất này từ thân phận nô lệ vàphụ thuộc vào đế quốc Hán trở thành một xã hội phong kiến độc lập, có nhiềuphương diện ngang hàng với nước Hán.

Sự kết hợp giữa giai cấp phong kiến thống trị của Việt Nam và Nho giáokhông những đã cải biến chế độ chính trị - xã hội còn nhiều yếu tố đơn sơ, chấtphác của thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc, không những đã xóa bỏ những tàn tích nô

lệ và phụ thuộc của thời kỳ Bắc thuộc, biến Việt Nam thành một xã hội phongkiến độc lập, mà còn góp phần thúc đẩy xã hội đó nhanh chóng đi đến chỗ tậpquyền và thống nhất Nho giáo với các lý thuyết như vua là do mệnh trời sắpđặt, người làm vua phải có đức, vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, bề tôi phải trung vớivua… đã giúp nhà Lý xác lập và củng cố chế độ phong kiến trung ương tậpquyền, đã tạo cho họ sức mạnh để ổn định được bên trong và đề kháng được bênngoài Các triều đại Trần, Lê Sơ đã tiếp tục con đường thống nhất và tập quyền

đó của triều Lý, tiếp tục khai thác và sử dụng các yếu tố tập quyền và thống nhấtcủa Nho giáo để xây dựng triều đại Như vậy, sự tác động của Nho giáo đã làmcho xu thế vận động của xã hội từ phân tán đến tập trung quyền lực vào ViệtNam sớm trở thành hiện thực

Nho giáo không những đã có công trong việc dựng nước Việt Nam về mặtchế độ, mà còn cung cấp kiến thức cho các nhà Nho yêu nước đấu tranh cho độclập dân tộc, cho quyền tự chủ của quốc gia, cho sự ngang hàng với Trung Quốcphong kiến Đúng là Nho giáo không dạy người Việt Nam yêu nước như cóngười đã quan niệm, nhiều mệnh đề, nhiều khái niệm của Nho giáo dùng trong

hệ thống thiết lập và củng cố chế độ phong kiến, khi được cấu trúc lại trên lậptrường của dân tộc và nhân dân, lập trường yêu nước Việt Nam, lại tỏ ra có sứcmạnh để chống trả kẻ thù dân tộc Nho giáo cũng có tác dụng tích cực đối vớicác công cuộc cứu nước của dân tộc Việt Nam

Đi liền với tác dụng về mặt chính trị là tác dụng về mặt văn hoá của Nho

giáo Những yếu tố về văn hoá trong “Ngũ kinh” và “Tứ thư” đã là cơ sở tư

Trang 11

tưởng và học vấn để các triều đình Việt Nam lựa chọn người tài qua các kỳ thiNho giáo Chúng được dùng làm tài liệu để giáo dục con người, nhằm khôngnhững làm cho họ trở thành người có học vấn, tức là Nho sĩ, mà còn bồi dưỡngnên những con người phi thường, đó là những đấng trượng phu, những ngườiquân tử Một khi những danh hiệu đó đạt được thì quả trở thành nhân, bởi chính

họ tác động trở lại, làm cho xã hội đó được vững vàng hơn, bền chặt hơn

“Lễ”, một tư tưởng quan trọng của Nho giáo, có vai trò đặc biệt đối với xã hội, “Lễ”, về mặt văn hoá, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới phong tục

tập quán Việt Nam

Nhìn lại lịch sử, cho ta thấy, nhiều phong tục tập quán của Việt Nam thờiTrung đại, từ tế lễ, cưới xin, ma chay, đến hội hè, tuần tiết,… đều mang dấu ấn

của những điều đã ghi trong sách “Lễ ký” của Nho giáo Có thể nói, tục lệ Hán

truyền vào đã làm phong phú thêm cho tục lệ Việt, những tục lệ gắn với lối sốngcủa các tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt, gắn với nghề trồng lúa nước bản địathì không thay đổi

Nho giáo cũng có sự phục vụ nhất định cho sự tiến bộ của đất nước Thểhiện ở chỗ, giai cấp phong kiến lúc còn sứ mệnh lịch sử đã biết vận dụng và cảitạo những yếu tố tích cực của Nho giáo, dùng chúng vào việc làm lợi cho đấtnước mình, cho nhân dân mình Quá trình đó diễn ra dần dần, từng bước một,đến một mức độ nhất định, đã đưa Việt Nam từ chỗ còn tương đối lạc hậu, trởthành một nước thi thư, một xã hội có văn hiến, ngang hàng với các nướcphương Đông Nho giáo là một học thuyết, một tư tưởng, do đó, sự vận dụng nóphụ thuộc vào người sử dụng Nhưng khi người sử dụng quá tin vào hiệu lựccủa nó mà quên mất rằng hoàn cảnh đã thay đổi thì học thuyết cũng phải thayđổi theo, thì chính học thuyết đó tác động trở lại làm cho con người mê muội,làm theo những điều đã lỗi thời

Thứ hai, chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo Việt Nam

Nho giáo Việt Nam càng về sau càng có nội dung phong phú, càng có sự hoạtđộng nhiều mặt và càng đi vào nền nếp Điều đó hoàn toàn không phải là ngẫu

Trang 12

nhiên, cũng không phải là kết quả của một giai đoạn, mà là kết quả của cả mộtquá trình và do các động lực bên trong và bên ngoài thúc đẩy.

Yêu cầu của hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội trong nước là một độnglực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của Nho giáo Việt Nam Yêu cầu này xuấtphát từ xu thế đi lên tập quyền và thống nhất của chế độ phong kiến Việt Nam.Trong ba học thuyết của phương Đông là Nho, Phật, Lão, chỉ có Nho giáo vớinội dung và tính chất của nó là có thể đáp ứng được xu thế này Các công việccủa triều đình, như quản lý thần dân, sắp xếp hệ thống quan lại, tổ chức thi cử

để chọn người tài, ấn định nội dung để giáo dục con người, xem xét việc tế lễ,cầu đảo thần thánh, v.v đều phải dựa vào Nho giáo Dù Nho giáo gốc đã có sẵnnhững điều trên, nhưng đi vào sự vận dụng vẫn có điều cần phải thêm bớt, vẫn

có sự phải bổ sung, vẫn có chỗ phải thuyết minh…Như việc cứu nước và giữnước, cho dù các triều đình phong kiến Việt Nam có sự ý thức rõ ràng về tínhđộc lập, tự chủ của mình, nhưng vẫn phải có sự kết hợp với Nho giáo Nho giáocho họ một số yếu tố nào đó để làm niềm tin, cho họ một số phương pháp nào

đó để làm phương hướng của tư duy, tạo thuận lợi cho tư tưởng yêu nước xuấthiện và từng bước trưởng thành lên

Hoạt động đối ngoại cũng là cơ hội để người trong nước hiểu biết thêm về

sự phát triển của Nho giáo và từ đó tạo nên sự thu hút bên ngoài, làm nên sựtăng trưởng của Nho giáo bên trong và cũng là dịp để trao đổi về văn hoá, tưtưởng, là dịp để Việt Nam hiểu thêm về Nho giáo nước ngoài Nho giáo Hán,Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh qua con đường chính thức đó mà có mặt ởViệt Nam, và gây nên sự học tập không ngừng của Việt Nam đối với Nho giáoTrung Quốc Kết quả là, Nho giáo Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhất định về

số lượng kiến thức, về những điều mới mẻ trong quá trình phát triển của Nhogiáo Trung Quốc Nhưng, đây mới chỉ là sự tăng trưởng về số lượng, chứ chưagây được sự biến đổi về chất lượng của Nho giáo Việt Nam, do điều kiện vàthời gian chưa đủ để thực hiện sự chuyển hoá Tuy vậy, những thông tin cậpnhật từ bên ngoài đã gây nên sự thích thú tìm hiểu của một số Nho sĩ Việt Nam

Trang 13

Bên cạnh đó, nó cũng tạo ra được tiền đề để tiếp nhận những thành tựu trongcác bước phát triển của Nho giáo Trung Quốc vào Việt Nam khi có điều kiện,giúp cho sự tiếp nhận đó được dễ dàng.

Việc vận dụng Nho giáo để giải quyết các công việc đối nội và đối ngoại

và chỉ là việc giải quyết các tình thế xã hội trên cơ sở của Nho giáo vốn có; việcchấp nhận các trào lưu Nho giáo mới của Trung Quốc đưa vào chỉ là sự truyền

bá, chứ chưa phải là việc đổi mới của Nho giáo Việt Nam Để đổi mới chấtlượng Nho giáo Việt Nam thì phải cần đến sự vận động tự thân của Nho giáoViệt Nam, cần có sự phản tỉnh của Nho sĩ trong nước đối với Nho giáo củamình, xem cái gì còn thích hợp cần duy trì, cái gì đã lỗi thời cần vứt bỏ

Trên một phương diện khác, Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện cáctrường phái học thuật Chính sự lệ thuộc vào phương Bắc của triều đình và sự

an phận của các sĩ phu Vì thiếu các học phái khác nhau, nên Nho giáo ViệtNam vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và

đa dạng

Thứ ba, phong cách tư duy của Nho giáo Việt Nam.

Xét về sự nhận thức và hoạt động tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam, chothấy không có sự nhầm lẫn với nhà Nho của các quốc gia khác, bởi ở họ đã hìnhthành cốt cách riêng, phong cách riêng

1.3/ Sự cần thiết phải khắc phục những biểu hiện tư tưởng tiêu cực trong nho giáo:

1.3.1/ Những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam

Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:

Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triếthọc Nó thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến tronglịch sử Nho giáo góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phongkiến ở á Đông nói chung và ở Việt nam nói riêng

Trang 14

Nho giáo cũng là một trong những nguyên nhân kìm hãm sản xuất pháttriển ở Việt nam Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tập thể đã biếnthành chủ nghĩa gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, bất bình đẳng Nho giáokhông thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên bởi phương phápgiáo dục thiên lệch của Nho giáo chỉ quan tâm tới đạo đức, học và dạy làmngười mà không đề cập đến kiến thức khoa học kỹ thuật Những mặt tiêu cực đóphản ánh tính chất bảo thủ lạc hậu của Nho giáo ở nước ta.

Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam thì tư tưởng chínhtrị - đạo đức của Nho giáo có ảnh hưởng trên các mặt sau:

Trên lĩnh vực xã hội: Nó có tác dụng ổn định kinh tế - chính trị để phát

triển kinh tế Đó là điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việtnam

Trên lĩnh vực chính trị - đạo đức: Ngày nay áp dụng những tư tưởng

của Nho giáo, kế thừa những mặt tích cực của nó để đạt mục tiêu ổn định kinh

tế, xã hội; đặc biệt chú trọng Nho giáo cổ đại (Khổng Tử) chứ không phải Nhogiáo sau này (chỉ nhấn mạnh quan hệ một chiều) Đảm bảo nhìn nhận vấn đềmột cách hợp lý, duy trì vấn đề phê phán đúng lúc, đặt vấn đề dân chủ trongviệc áp dụng những tinh hoa tích cực

1.3.2/ Sự cần thiết phải khắc phục những biểu hiện tiêu cực của Nho giáo:

Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ trung quốc và bắt đầu du nhập vàonước ta thời kỳ bắc thuộc mặc dù khi truyền bá vào nước ta, dân tộc ta đã có

một truyền thống văn hóa lâu đời, có đạo phật mạnh, đã có thời kỳ thịnh hành trong xã hội, nhưng trong suốt hơn một nghìn năm bắc thuộc những ảnh hưởng của nho giáo vào ý thức hệ của ngưòi dân Việt Nam là rất lớn nho giáo đã ảnh

hưởng đến con người và xã hội chính trị và văn hóa đến phong tục tập quán và

hệ tư tưởng của người Việt Nam

Ngày đăng: 10/04/2014, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w