1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011

90 459 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam 2011
Trường học Bộ Công Thương Việt Nam
Chuyên ngành Năng lực cạnh tranh công nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THUẬT NGỮ AFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN MT Công nghệ trung bình ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á MVA Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo ASEAN-4 Gồm các quốc gia thành vi

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP LIÊN HỢP QUỐC

Trang 2

MỤC LỤC

Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam 2011

Trang 3

 

Bản quyền © 2011

Bộ Công Thương Việt Nam (MoIT) và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)

Không được tái bản hoặc biên dịch lại ấn phẩm này khi không có sự cho phép bằng văn bản

Ấn phẩm này là kết quả của nỗ lực hợp tác giữa Bộ Công Thương Việt Nam (MoIT) và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)

Trang 4

MỤC LỤC

4.1 Việt Nam trong chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) của UNIDO 24

4.6 Thành tích của Việt Nam trong xuất khẩu các sản phẩm chế tạo năng động nhất thế giới 38

PHẦN C: LẬP CHUẨN ĐỐI SÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH THEO NHÓM NGÀNH 43

6.2 Đa dạng hóa công nghiệp hướng vào các sản phẩm có giá trị gia tăng cao 65

A Nguồn số liệu và phân loại theo công nghệ của xuất khẩu và hoạt động chế tạo giá trị gia tăng 79

B Phân tích đối với nhóm ngành chế tạo phụ thuộc tài nguyên và phân loại các nhóm sản phẩm 80

C Phân tích đối với nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ thấp và phân loại các nhóm sản phẩm 81

D Phân tích đối với nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và phân loại các nhóm sản phẩm 82

E Phân tích đối với nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ cao và phân loại các nhóm sản phẩm 83

Trang 5

HÌNH

HÌNH 1 Khung lý thuyết và phân tích năng lực cạnh tranh công nghiệp 14

HÌNH 2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng MVA, 2000–2005 18

HÌNH 3. Xu hướng thay đổi của tỷ trọng thương mại các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, Đông Á và Thế giới,

HÌNH 4 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 29

HÌNH 5 Tỷ trọng của MVA sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng MVA của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000 và 2007 hoặc

HÌNH 6 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo và các sản phẩm thâm dụng công nghệ của Việt Nam và

HÌNH 7 Đóng góp của nhóm 5 sản phẩm chế tạo đứng đầu trong tổng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, 2000–2009 36

HÌNH 8 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam tới các thị trường chính, 2000–2009 37

HÌNH 9. Ma trận về mức độ rủi ro đối với sản phẩm và thị trường, 2009 37

HÌNH 10 Thị phần trên thế giới của 20 sản phẩm năng động nhất thế giới, 2000–2009 38

HÌNH 11 Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ thấp ở Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 49

HÌNH 12 Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ trung bình của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 53

HÌNH 13 Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ cao của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 55

BẢNG

BẢNG 2 Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 27

BẢNG 3 Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo trên đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 28

BẢNG 4 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 29

BẢNG 5 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 29

BẢNG 6 Cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm chế tạo theo công nghệ của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 33

BẢNG 9. Năng lực và cơ cấu xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 39

BẢNG 10 Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới phân loại theo công nghệ, 2000–2009 39

BẢNG 11 Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới của Việt Nam, 2000–2009 40

BẢNG 13 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo phụ thuộc tài nguyên của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 45

BẢNG 14 Kết quả xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc đối với 7 sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ thấp xuất xắc nhất của Việt Nam,

HỘP

HỘP 10 Bằng chứng về mối liên kết giữa tự do hóa thương mại, chuyển dịch cơ cấu và công nghiệp hóa 60

HỘP 12 Ví dụ điển hình trong phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ thuật và dạy nghề ở Singapore 67

HỘP 15 Ví dụ điển hình cho các cơ quan xúc tiến đầu tư: Cơ quan Phát triển công nghiệp của Ireland (IDA) 76

HỘP 16 Costa Rica thu hút đầu tư của Intel xây dựng nhà máy chế tạo chất bán dẫn duy nhất ở khu vực Mỹ Latin 76

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 2011 đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp và hiện đại hóa của Việt Nam Đại hội Đảng lần thứ XI đã thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011–2020, mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới Điều đáng ghi nhận là trong những năm gần đây công nghiệp Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao, giá trị sản xuất công nghiệp đã chiếm một phần đáng kể trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên so với các nền kinh tế trên thế giới nói chung và tại khu vực Đông Á nói riêng, nơi mà sự cạnh tranh diễn ra khốc liệt nhất, chất lượng các động lực cơ bản của phát triển công nghiệp Việt Nam vẫn cần được cải thiện hơn nữa

Trong bối cảnh đó, Báo cáo Năng Lực Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam 2011 (VICR 2011) – kết quả hợp tác giữa Bộ Công Thương và UNIDO đã ra đời rất đúng lúc vì đã đưa ra những gợi ý chính sách hết sức quan trọng Sử dụng phương pháp luận được UNIDO xây dựng công phu, Báo cáo tập trung vào công nghiệp chế tạo nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc xác định các lĩnh vực có thể can thiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp Báo cáo so sánh kết quả hoạt động công nghiệp của Việt Nam với các nước khác trong khu vực và định ra con đường chiến lược nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa

VICR 2011 đã nêu bật được hai vấn đề lớn đáng quan tâm: đánh giá vai trò của tự do hóa thương mại trong những năm gần đây đối với việc tái cơ cấu sản xuất, kinh tế; và sự cần thiết phải lưu ý đến các ưu tiên quốc gia, cũng như những thách thức và cơ hội trên phạm vi toàn cầu trong quá trình tái hoạch định các chính sách và chiến lược công nghiệp Báo cáo cũng xem xét khả năng xây dựng mối liên kết giữa các ngành công nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong các sản phẩm hiện có và tham gia vào các ngành mới năng động hơn Do vậy, Báo cáo đã đánh giá khả năng tham gia và cạnh tranh của các ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hiện nay Chúng tôi hy vọng rằng VICR 2011 sẽ trở thành một tài liệu hữu ích, có thể giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng chính sách công nghiệp và thương mại, đáp ứng yêu cầu của thực tế trong giai đoạn phát triển mới của công nghiệp Việt Nam

Vũ Huy Hoàng

Bộ trưởng Công Thương Việt Nam

Kandeh K Yumkella

Tổng giám đốc UNIDO

Trang 7

LỜI CẢM ƠN 

Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam 2011 là một sản phẩm hợp tác giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), trong khuôn khổ chương trình 'Xây dựng năng lực quốc gia trong chẩn đoán công nghiệp và phân tích cạnh tranh thương mại (FB/VIE/09/008)’ do Một Liên hợp quốc tài trợ Ông Cao Quốc Hưng – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và ông Lê Hữu Phúc – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Công Thương và bà Nilgun Tas, nguyên đại diện UNIDO và Ông Patrick Gilabert – đại diện UNIDO tại Việt Nam đã hỗ trợ và hướng dẫn tổng thể cho quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án trên Ông Manuel Albaladejo – chuyên gia UNIDO, Quản lý chương trình – là tác giả chính, cung cấp khung lý thuyết và hướng dẫn kỹ thuật cho nhóm soạn thảo Nhóm Cạnh tranh Công nghiệp (ICG) là Tổ công tác liên Bộ được thành lập và đào tạo bởi UNIDO, chịu trách nhiệm về việc phân tích và biên soạn một số chương trong Báo cáo Nhóm ICG bao gồm bà Đỗ Phương Dung (chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế), ông Nguyễn Việt San (chuyên viên chính Vụ Hợp tác quốc tế, Điều phối viên chương trình), bà Lưu Thùy Dương (chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế), bà Đinh Thị Hoàng Yến (chuyên viên Vụ Kế hoạch, Bộ Công Thương), ông Lê Phan (nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và bà Lê Thị Thanh Thảo (cán bộ chương trình, UNIDO)

VICR 2011 nhận được góp ý, chỉ đạo của Hội đồng cố vấn bao gồm các quan chức Chính phủ và cố vấn cấp cao Hội đồng cố vấn dưới sự chủ trì của ông Đỗ Hữu Hào (nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương), ông Phan Đăng Tuất (Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp), ông Trần Ngọc Ca (Chánh Văn phòng Hội đồng Chính sách khoa học & công nghệ quốc gia (NCSTP), Trợ lý Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ) và ông Jonathan Pincus (Giám đốc đào tạo, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam)

Báo cáo cũng nhận được hỗ trợ của bà Maria Elena Ayala, bà Susan Long, ông Richard Jones, ông Brian McCrohan và ông Nguyễn Ngọc Anh, các chuyên gia tư vấn ngắn hạn ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình soạn thảo Báo cáo Bà Niki Rodousakis biên tập Báo cáo và bà Nevera Nenadic hỗ trợ các công việc hành chính

Trang 8

THUẬT NGỮ 

AFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN MT Công nghệ trung bình

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á MVA Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo

ASEAN-4 Gồm các quốc gia thành viên trừ Singapore (Malaysia,

Indonesia, Thái Lan và Philippines) NAFOSTED Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia BTA Hiệp định Thương mại song phương NCSTP Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia CEFT Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung NES (Sản phẩm) không xác định

CIEM Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương NICs Các nước công nghiệp mới

CINDE Cơ quan Xúc tiến đầu tư của Costa Rica OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

CIP Năng lực cạnh tranh công nghiệp RB Phụ thuộc tài nguyên

COMTRADE Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại hàng hóa của Liên

hợp quốc RIA Hiệp định Hội nhập khu vực DNV Det Norske Veritas R&D Nghiên cứu và phát triển

EPA Hiệp định Đối tác kinh tế SEDP Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội

EPZ Khu chế xuất SITC Phân loại thương mại chuẩn quốc tế

FDI Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài SMEs Các doanh nghiệp vừa và nhỏ

FIEs Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SOEs Các doanh nghiệp nhà nước

FSC Hội đồng Quản trị rừng S&T Khoa học và công nghệ

FTA Hiệp định Mậu dịch tự do TDA Cơ quan Phát triển công nghệ

GDP Tổng sản phẩm quốc nội TLO Văn phòng Cấp phép công nghệ

GLOBAL G.A.P Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu TNCs Các công ty xuyên quốc gia

HT Công nghệ cao TTO Văn phòng Chuyển giao công nghệ

ICT Công nghệ thông tin liên lạc UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc

IDA Cơ quan Phát triển công nghiệp Ireland UNIDO Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc

IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam INDSTAT Cơ sở dữ liệu thống kê công nghiệp của UNIDO VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

IPA Cơ quan Xúc tiến đầu tư VCR Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam

ISO Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế VICR Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam ITC Trung tâm Thương mại quốc tế VIETRADE Cục Xúc tiến thương mại

LT Công nghệ thấp VNU Đại học Quốc gia Hà Nội

MNCs Các tập đoàn đa quốc gia VTE Đào tạo kỹ thuật và dạy nghề

MoIT Bộ Công Thương WDI Chỉ số phát triển thế giới

MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 9

LỜI CẢM ƠN 

Trang 10

THUẬT NGỮ 

BÁO CÁO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG NGHIỆP

Phần A: THIẾT LẬP BỐI CẢNH

Trang 11

1 Giới thiệu

Những nỗ lực của Việt Nam để chuyển đổi từ nền

kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường

đang được đền đáp Việt Nam không chỉ là một trong

những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong vòng

20 năm qua mà tăng trưởng còn làm giảm rõ rệt tỷ lệ

đói nghèo Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng

vào nền kinh tế toàn cầu và trở thành điểm đến hấp

dẫn cho nhiều nhà đầu tư tiềm năng trong nước và

quốc tế Việc trở thành thành viên ASEAN vào năm

1995 và gia nhập WTO năm 2007 đã giúp Việt Nam

được biết đến là một nước ủng hộ tự do hóa và hội

nhập thương mại

Nhưng công nghiệp hóa đã đóng góp như thế nào

vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và thành công

trong xuất khẩu? Hoạt động chế tạo và sự chuyển

dịch cơ cấu sản xuất có vai trò gì trong tương lai kinh

tế của đất nước? Báo cáo này nhận định rằng công

nghiệp hóa là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế Việt

Nam Điều này phù hợp với các bằng chứng thực tế

trong quá khứ cho thấy rằng một nền kinh tế tăng

trưởng nhanh chóng cần có một ngành công nghiệp

vững mạnh Thúc đẩy công nghiệp chế tạo thậm chí

còn quan trọng hơn để Việt Nam tạo ra nhiều của cải

và việc làm hơn trong tương lai Báo cáo này lập luận

rằng chuyển dịch cơ cấu hướng đến một số ngành

thâm chiến lược dụng công nghệ nhất định có thể đẩy

nhanh quá trình công nghiệp hóa, nhờ đó tạo ra các

điều kiện hợp lý cho tăng trưởng bền vững

Trong những năm gần đây đã có một số nghiên

cứu đánh giá năng lực cạnh tranh ở cấp vĩ mô của Việt

Nam Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam 2010

do CIEM và Trường Chính sách công Lý Quang

Diệu tại Singapore thực hiện đã đề cập đến nhiều

khía cạnh của năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt

Nam (CIEM, 2010) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ

KHĐT), cùng với UNDP, cũng đã công bố một

nghiên cứu năm 2010 về các khó khăn và cơ hội đối

với doanh nghiệp Việt Nam trong việc cải thiện năng

lực cạnh tranh (Nixson & Walters, 2010) Một

nghiên cứu của đại học Harvard năm 2008 đã trình

bày các bài học chính sách trong khu vực để hỗ trợ

phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam (Anthony et

al., 2008)

Tất cả các báo cáo trên đều đã có những đóng

góp đáng kể cho các cuộc đối thoại chính sách ở Việt

Nam Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Công nghiệp

Việt Nam 2011 (VICR 2011) chỉ tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo, do vậy có khác biệt so với các báo cáo khác Báo cáo này nhận định rằng Việt Nam cần một chính sách công nghiệp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu hướng tới các ngành chế tạo có giá trị gia tăng cao nhằm duy trì mức độ tăng trưởng như hiện nay trong dài hạn Báo cáo mong muốn đóng góp vào các cuộc tranh luận chính sách hiện có bằng cách:

 Cung cấp khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam;

 Xác định vị trí của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế thông qua việc lập chuẩn đối sánh khu vực về các kết quả hoạt động công nghiệp;

 Xác định các nút thắt cổ chai trong lĩnh vực công nghiệp mà chính sách có thể tháo gỡ;

 Đề xuất các kiến nghị cụ thể cho các nhà lãnh đạo Việt Nam

1.1 Phương pháp luận của UNIDO

và việc xây dựng năng lực thể chế

UNIDO đã xây dựng một hệ thống các yếu tố, chỉ

số và chỉ báo liên quan tới công nghiệp nhằm đánh giá kết quả hoạt động công nghiệp quốc gia Phương pháp luận này là thành quả sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu và tư vấn dưới sự hướng dẫn của cố Giáo

sư Sanjaya Lall, Đại học Oxford Những chỉ báo này

đã được các nhà hoạch định chính sách và khu vực tư nhân sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới Chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp của UNIDO (CIP) thể

hiện một cách đơn giản và trực quan “khả năng cạnh

tranh của các quốc gia trong việc sản xuất và xuất khẩu hàng hóa chế tạo” (UNIDO, 2002: 42)

Nguyên lý chủ đạo trong cách tiếp cận của UNIDO là xây dựng năng lực thể chế, phục vụ việc thiết kế và thực thi chính sách Trong phạm vi của chương trình, UNIDO thiết lập và đào tạo các cán bộ

có năng lực của các Bộ để họ có thể tự mình lập được các báo cáo phân tích VICR 2011 là kết quả của chương trình xây dựng năng lực thể chế của UNIDO tại Việt Nam Nhóm Cạnh tranh Công nghiệp (ICG) được hình thành tại Bộ Công Thương (MoIT) là nguồn lực chính soạn thảo Báo cáo này

Trang 12

Cấu trúc Báo cáo gồm bốn phần: a) cơ sở lý

thuyết dùng cho phân tích, b) phân tích kết quả hoạt

động công nghiệp của Việt Nam ở cấp độ vĩ mô trong

mối tương quan với các đối tượng so sánh trong khu

vực, c) phân tích kết quả hoạt động ở cấp ngành và

sản phẩm và d) các khuyến nghị chính sách

Phần thứ nhất – "Thiết lập bối cảnh" – giới thiệu

tổng quan về những thách thức mà tất cả các nước

phải đối mặt trong quá trình phát triển, trong đó đặc

biệt chú ý tới bối cảnh công nghiệp hóa đang thay đổi

và xác định các động lực của cạnh tranh công nghiệp

Phần này cũng trình bày lịch sử phát triển công

nghiệp của Việt Nam và nhấn mạnh tầm quan trọng

của việc nâng cấp và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp

cho Việt Nam

Phần thứ hai – "Kết quả cạnh tranh công nghiệp"

– so sánh kết quả hoạt động công nghiệp của Việt

Nam với các quốc gia trong khu vực thông qua việc sử

dụng chỉ số CIP Phần này xem xét kết quả hoạt động

công nghiệp của Việt Nam ở cấp vĩ mô Ngoài ra,

phần này sẽ phân tích tính dễ tổn thương của thương

mại Việt Nam trước những biến động về nhu cầu hay

sự gia tăng cạnh tranh, sử dụng các chỉ số đa dạng hóa

sản phẩm chế tạo và đa dạng hóa thị trường Cuối

cùng, phần này phân tích khả năng thích ứng sản xuất

và khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên các thị

trường năng động nhất thế giới

Phần thứ ba – "Lập chuẩn đối sánh cạnh tranh

ngành" – phân tích kết quả hoạt động của Việt Nam

theo từng nhóm ngành: phụ thuộc tài nguyên, sử

dụng công nghệ thấp, sử dụng công nghệ trung bình

và sử dụng công nghệ cao Phần này bao gồm xác

định các sản phẩm và nhóm sản phẩm chủ lực và lưu ý

các vấn đề cụ thể đang cản trở hoặc tạo cơ hội phát

triển cho từng ngành

Phần cuối cùng đưa ra các khuyến nghị để nâng

cao năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam

dựa trên các phân tích ở Phần B và C

Trang 13

được rằng công nghiệp hóa diễn ra trong bối cảnh

đang có nhiều thay đổi Công nghiệp Việt Nam đã

được hưởng lợi từ một số xu hướng toàn cầu như FDI

gia tăng, quốc tế hóa chuỗi giá trị và tính năng động

của khu vực Mặc dù công nghiệp Việt Nam đã đạt

được nhiều kết quả ấn tượng, các nhà hoạch định

chính sách cần nhận thức rõ sự thay đổi nhanh chóng

và sâu sắc về công nghệ, sự toàn cầu hóa của hệ thống

sản xuất trong từng ngành và sự xuất hiện của các các

đối thủ cạnh tranh mới đã tạo ra một bối cảnh hoàn

toàn mới cho tăng trưởng công nghiệp bền vững Một

số đặc điểm nổi bật của bối cảnh mới là:

 Tiến bộ công nghệ nhanh chóng ảnh hưởng đến

tất cả các hoạt động kinh tế, khiến các công

nghệ và phương thức tổ chức trước đây trở

nên lỗi thời Điều này có nghĩa là mỗi quốc

gia, không phân biệt mức thu nhập và phát

triển, cần phải bám sát các công nghệ mới

nếu muốn duy trì sức cạnh tranh;

 Năng lực cạnh tranh quốc tế hiện là vấn đề cốt

lõi, một phần vì khoảng cách kinh tế đang thu

hẹp dần do chi phí vận chuyển và liên lạc

giảm, phần khác bởi hầu hết các quốc gia

đang tiến hành mở cửa thương mại Tuy

nhiên, có một lý do quan trọng hơn, đó là

khai thác tiềm năng sản xuất của công nghệ

mới yêu cầu các nước tham gia đầy đủ hơn

trong dòng chảy toàn cầu của sản phẩm và

nguyên liệu đầu vào – vật thể lẫn phi vật thể

và chuyên môn hóa nhằm tối đa hoá lợi

nhuận thu được từ các yếu tố sản xuất;

 Bản chất của cạnh tranh là sự sáng tạo và học

hỏi, làm chủ công nghệ mới và các phương

thức tiên tiến trong quản lý kinh doanh, tổ

chức và tạo mạng lưới Điều này đúng cả với

các nước đang phát triển lẫn các nước công

nghiệp hóa cao Báo cáo Phát triển Công

nghiệp của UNIDO năm 2002/2003 đề cập

đến việc các nước đang phát triển chỉ có thể

khai thác được các kho tàng kiến thức nếu họ

có thể xây dựng được các kỹ năng cần thiết,

năng lực công nghệ, khởi nghiệp, cơ sở hạ

tầng và thể chế để làm chủ các công nghệ mới hiệu quả Điều này không dễ dàng, không đơn giản chỉ là mở cửa thị trường hàng hoá, vốn và kiến thức Quá trình học hỏi công nghệ rất phức tạp, kéo dài và đòi hỏi khắt khe, cần tới sự can thiệp chiến lược của Chính phủ;

 Sản phẩm và nguồn lực – các yếu tố cơ bản,

thiết bị, vốn, công nghệ và kỹ năng trình độ

cao – dịch chuyển khắp thế giới một cách dễ

dàng và nhanh chóng hơn ‘Cái chết của

khoảng cách’ là một thực tế thuyết phục khiến cho các doanh nghiệp công nghiệp cần phải phát triển và cạnh tranh;

 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs)

đang gia tăng trong hoạt động sản xuất trên thế giới, bởi họ là động lực chính trong quá trình

dịch chuyển sản phẩm và yếu tố sản xuất Các TNC thực hiện khoảng ba phần tư giao dịch thương mại thế giới, với khoảng 40% giao dịch đó được thực hiện trong nội bộ hệ thống thay vì trên các thị trường mở Thương mại nội bộ bao gồm một số hoạt động thâm dụng công nghệ, năng động nhất trên thế giới và việc thâm nhập vào những hoạt động này nhất thiết phải có sự tham gia của các TNC;

 Một hệ quả quan trọng của việc giảm chi phí

về khoảng cách và tự do hóa là việc chuỗi giá

trị quốc gia gắn chặt hơn với chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay được tổ

chức chặt chẽ hơn, với một số thành viên dẫn dắt hay “người tích hợp hệ thống” đóng vai trò đầu mối trong việc đổi mới, phát triển sản phẩm, đảm bảo nguyên liệu, định vị sản xuất, chuyển giao thông tin và công nghệ, tổ chức hậu cần vận chuyển và thực hiện marketing

và đẩy mạnh tiêu thụ Các doanh nghiệp dẫn dắt trong từng chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng: họ kiểm soát mặt hàng nào được sản xuất, nơi sản xuất, người sản xuất, số lượng, giá cả và theo quy trình nào Người điều hành chuỗi giá trị phụ thuộc vào loại chuỗi và mức

độ phát triển công nghệ Bản chất của tổ chức công nghiệp và các chuỗi giá trị toàn cầu đang thay đổi do áp lực cạnh tranh khiến các doanh nghiệp phải chuyên môn hóa sâu hơn

và cắt bỏ tất cả các hoạt động không thiết yếu đối với năng lực cốt lõi của họ

Trang 14

Điều này có nghĩa rằng các yếu tố quyết định lợi

thế cạnh tranh đang thay đổi Các nguồn lực đang

dịch chuyển trên toàn thế giới và các nhà sản xuất

hiệu quả, đáng tin cậy và có khả năng công nghệ đang

được tìm kiếm Tuy nhiên, những nguồn lực khả dịch

này cần được bổ trợ bởi các nguồn lực tại chỗ – đó

không phải là nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản

hay lao động giản đơn, mà là các kỹ năng tổ chức và

công nghệ, các mạng lưới nhà cung cấp và cơ sở hạ

tầng tốt, các dịch vụ hỗ trợ cho công nghệ, đào tạo và

nghiên cứu phát triển (R&D) Các quốc gia cần phải

phát triển những yếu tố cạnh tranh trên nếu muốn gặt

hái được những lợi ích của công nghệ mới và chuỗi

giá trị toàn cầu

Nhiều yếu tố cạnh tranh nêu trên không chỉ phát

triển ở các doanh nghiệp độc lập mà còn trong các

cụm (cluster) gồm các doanh nghiệp liên quan đến

nhau và có vị trí gần nhau Nhiều lợi thế mới phát

triển nhanh hơn khi các doanh nghiệp có thể chia sẻ

kiến thức, kỹ năng và đổi mới và việc thúc đẩy phát

triển các cụm công nghiệp năng động giờ đây là một

công cụ quan trọng của chiến lược cạnh tranh

Công nghệ thông tin liên lạc (ICT) đóng vai trò

đặc biệt quan trọng trong phát triển công nghiệp

Việc quản lý chuỗi giá trị toàn cầu phụ thuộc nhiều

vào việc liên lạc nhanh chóng, hiệu quả và chi phí

thấp Đối với các nước đang hy vọng cạnh tranh trong

các chuỗi giá trị như vậy thì việc xây dựng cơ sở hạ

tầng và các kỹ năng cần thiết để sử dụng có hiệu quả

công nghệ thông tin có tầm quan trọng đặc biệt

Để tiếp nhận được công nghệ mới từ các doanh

nghiệp nước ngoài hàng đầu đòi hỏi chiến lược đúng

đắn nhằm thu hút và hướng tới đầu tư nước ngoài

cần thiết Trên thực tế, các chiến lược xúc tiến đầu tư

hiệu quả là một công cụ then chốt để tăng cường

năng lực cạnh tranh

2.2 Khung khái niệm

Khái niệm về năng lực cạnh tranh công nghiệp

được định nghĩa là năng lực của các quốc gia trong việc

tăng sự hiện diện công nghiệp của họ tại các thị trường

trong nước và quốc tế, đồng thời phát triển cơ cấu công

nghiệp thiên về các ngành, hoạt động có giá trị gia tăng

và hàm lượng công nghệ cao hơn Cạnh tranh thông

qua đổi mới và học hỏi giúp các nước đạt được doanh thu công nghiệp lớn hơn và bền vững hơn (UNIDO, 2002)

Đối với các nhà hoạch định chính sách, việc đưa

ra một danh sách các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh công nghiệp là điều bắt buộc Điều này không

dễ dàng Nhiều yếu tố xã hội, lịch sử, chính trị và kinh

tế đang ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp và những ảnh hưởng đó khác nhau theo thời gian và bối cảnh Tuy nhiên, sẽ rất hữu ích khi liệt kê các yếu tố kinh tế quan trọng mà hiện nay đang định hình sự phát triển công nghiệp và sửa đổi danh sách theo điều kiện và ưu tiên cụ thể của mỗi quốc gia

Báo cáo này dựa trên khung lý thuyết của UNIDO để xác định ‘nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh công nghiệp’ (xem Hình 1)

Hệ thống công nghiệp với các thành viên chính của nó (nhà sản xuất địa phương, các nhà cung cấp, người mua, các tổ chức và các nhà hoạch định chính sách) là cốt lõi của khung lý thuyết này Hệ thống công nghiệp có thể được chia thành các ngành, phân ngành và các cụm Các thành viên hợp tác và cạnh tranh với nhau, sự tương tác giữa họ chịu ảnh hưởng bởi các quy định, luật lệ, tập quán và nguồn vốn xã hội của địa phương Quá trình này tạo ra một môi trường xã hội và kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp và hệ thống đổi mới và học hỏi của quốc gia Một hệ thống mạnh sẽ giúp cho việc học hỏi và năng lực cạnh tranh trên diện rộng được phổ biến một cách nhanh chóng và rộng rãi Một hệ thống yếu kém sẽ dẫn đến sự kém hiệu quả, chậm trễ và không

có khả năng để cạnh tranh

Phát triển công nghiệp phụ thuộc sống còn vào bối cảnh quốc tế Như đã đề cập ở trên, bối cảnh này đang thay đổi nhanh chóng do quá trình toàn cầu hóa,

tự do hóa và thay đổi công nghệ Đặc biệt, nó có các mối liên kết rất chặt chẽ trong chuỗi giá trị toàn cầu dựa vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên quốc gia và quốc tế trong các hệ thống hội nhập Do

đó, thành công của các ngành công nghiệp của một quốc gia phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng xây dựng năng lực công nghệ của các doanh nghiệp trong các sản phẩm, quy trình, hay chức năng cụ thể

Trang 15

HÌNH 1 Khung lý thuyết và phân tích năng lực cạnh tranh công nghiệp

Nguồn: UNIDO

BỐI CẢNH TOÀN CẦU

Thay đổi công nghệ

- Tổng quan: ICTs, v.v

- Lĩnh vực cụ thể: sử dụng công

nghệ tinh xảo cho các quy trình gia

công, tiến gần tới ranh giới công

nghệ, v.v

Các hình thái thương mại

- Tổng quan: các hiệp định khu vực

- Các hiệp định ngành

Toàn cầu hóa

- Tổng quan: FDI và thương mại

- Lĩnh vực cụ thể: các hệ thống sản xuất tíc h hợp (hoạt động mua/cung ứng phụ thuộc vào ngành công nghiệp).

Quản lý nhà nước trong công nghiệp

Năng lực của Chính phủ trong việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chiến lược, chính sách và chương trình công nghiệp

Chuỗi giá trị

toàn cầu

Nhà sản xuất nội địa

Nhà cung cấp nội địa

Khách hàng nội địa

TNCs

Khách hàng toàn cầu Dòng chảy của

hàng hóa, tri thức,

kỹ năng, công nghệ, vốn, v.v…

Hệ thống công nghiệp

Quốc tế

Quốc gia

Trang 16

Phát triển công nghiệp phụ thuộc vào môi trường

kinh doanh (‘các điều kiện khung’), hiệu quả của các

thị trường yếu tố (về lao động, kỹ năng, công nghệ, tài

chính, đầu vào và cơ sở hạ tầng) và chất lượng hỗ trợ

từ các tổ chức trung gian (về đào tạo, dịch vụ công

nghệ, R&D, v.v…) Chính sách của chính phủ có thể

cải thiện hoặc làm suy yếu những yếu tố quyết định

tới phát triển công nghiệp, do đó quản trị (khả năng

hình thành, thực hiện và giám sát chính sách) được

cho rằng có ý nghĩa lớn lao

Nhiều thị trường ở các nước đang phát triển hoạt

động kém hiệu quả và thiếu các thể chế cần thiết

Trong nhiều trường hợp những thiếu sót này phát

sinh từ chính sách của chính phủ trong quá khứ và

việc phục hồi lại ngành công nghiệp đòi hỏi phải loại

bỏ các biện pháp can thiệp không có hiệu quả Trong

các trường hợp khác, chính phủ cần có biện pháp can

thiệp mới để tạo ra hoặc cải thiện thị trường và các

thể chế còn thiếu hay không hiệu quả

Việc xác định chính phủ nên can thiệp vào đâu và

như thế nào (ít hơn, nhiều hơn hoặc khác nhau) là

điều cốt lõi của chính sách công nghiệp hợp lý Việc

xác định này cần tính tới bối cảnh công nghệ toàn cầu,

xu hướng của các chuỗi giá trị mà các ngành công

nghiệp bản địa đang tham gia vào và vị trí của các

ngành trong chuỗi giá trị Ngoài ra, cũng cần nắm bắt

rõ triển vọng học hỏi, các trình độ công nghệ và các

lợi ích lan tỏa và chi phí có liên quan Do các điều

kiện công nghệ đã thay đổi, các chính sách công

nghiệp tối ưu hiện nay khác so với những chính sách

đã thành công cách đây hai hoặc ba thập kỷ trước

Chính vì lý do này, cần phải hết sức thận trọng khi áp

dụng những kinh nghiệm sẵn có

2.3 Cân nhắc về phương pháp luận

Một số cân nhắc về phương pháp luận quan trọng

cần được chỉ ra như sau:

 Tầm quan trọng của chuẩn đối sánh Việc so

sánh giữa các nước về kết quả hoạt động cũng

như năng lực công nghiệp là phần cốt lõi của

phương pháp này Chuẩn đối sánh là cần thiết

vì cạnh tranh công nghiệp là một khái niệm

tương đối, cần so sánh để biết được một nước

cạnh tranh hơn hay kém cạnh tranh hơn so

với các nước khác VICR 2011 thực hiện

chuẩn đối sánh Việt Nam với chín nước trong

khu vực theo một số tiêu chí: “các nước láng

giềng”, “các đối thủ cạnh tranh hiện nay”,

“các đối thủ cạnh tranh trong tương lai” và

“các mô hình tiêu biểu” Trên thực tế nhiều nước đối sánh thoả mãn hơn một tiêu chí Các quốc gia đó là: Trung Quốc và Ấn Độ (nền kinh tế khổng lồ gây ra mối đe dọa đối với Việt Nam nhưng cũng tạo ra các cơ hội đáng quan tâm), Campuchia (một quốc gia láng giềng có tiềm năng trở thành đối thủ cạnh tranh trong tương lai ở ngành chế tạo có giá trị gia tăng thấp), Hàn Quốc và Đài Loan (mô hình tiêu biểu trong khu vực về công nghiệp hóa với sự tập trung rõ ràng vào phát triển công nghệ), Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia (đối thủ cạnh tranh hiện nay và cũng là mô hình tiêu biểu trong các khía cạnh khác nhau về phát triển công nghiệp);

 Sử dụng bảng phân loại công nghệ cho thương

mại và giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo

VICR 2011 sử dụng bảng phân loại công nghệ của UNIDO để làm rõ quá trình thay đổi cấu trúc sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam và các nước so sánh Bảng phân loại này chia sản phẩm thành 4 nhóm: phụ thuộc tài nguyên, công nghệ thấp, công nghệ trung bình và công nghệ cao khi phân tích về xuất khẩu các sản phẩm chế tạo và MVA1 Mặc dù vẫn còn một số hạn chế sẽ được đề cập đến ở phần sau, cách phân loại này cung cấp những hiểu biết thấu đáo về sự chuyển biến trong lĩnh vực công nghiệp Ví dụ như sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu theo hướng phát triển các hoạt động có độ phức hợp cao

là một dấu hiệu thể hiện mức độ chuyên sâu

và nâng cấp công nghệ trong nước Phần phụ lục thống kê cung cấp bảng phân loại sản phẩm chi tiết;

 Sử dụng dữ liệu định lượng và minh bạch

VICR 2011 không dựa trên cảm nhận kinh

       

1 Ví dụ về các sản phẩm chế tạo phụ thuộc tài nguyên bao gồm các loại thịt/hoa quả chế biến, đồ uống, sản phẩm gỗ, dầu thực vật; và tinh quặng được làm giàu, các sản phẩm dầu khí/cao su, xi măng, đá quý qua chế tác và thủy tinh

Ví dụ về các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ thấp bao gồm các loại vải dệt, quần áo, mũ, giày dép, da thuộc, đồ du lịch, cũng như đồ gốm, cấu kiện/linh

kiện kim loại đơn giản, đồ nội thất, trang sức, đồ chơi và sản phẩm nhựa Ví dụ

về các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ trung bình là phương tiện chở khách/chở hàng, xe máy, sợi tổng hợp, hóa chất và sơn, phân bón, nhựa, sắt và đường ống, cũng như động cơ, mô tơ, máy móc công nghiệp, máy bơm, thiết bị

đóng ngắt, tàu thuỷ và đồng hồ Ví dụ về các sản phẩm chế tạo sử dụng công

nghệ cao bao gồm thiết bị văn phòng/xử lý dữ liệu/viễn thông, TV, chất bán dẫn, tuốc bin và thiết bị phát điện, cũng như dược phẩm, máy bay, dụng cụ quang học/đo lường, máy ảnh

Trang 17

doanh để đánh giá năng lực cạnh tranh công

nghiệp của Việt Nam Mặc dù có những lợi

ích nhất định, các cuộc điều tra dựa trên cảm

nhận định tính đưa ra các chỉ số không hoàn

chỉnh cho việc so sánh giữa các nước, do quan

điểm của các cá nhân và doanh nghiệp chịu

ảnh hưởng không chỉ bởi hoàn cảnh khách

quan mà còn bởi các yếu tố chủ quan và bối

cảnh cụ thể Phương pháp luận của UNIDO

dựa trên các mục tiêu được lựa chọn cẩn thận,

các chỉ số dựa trên kết quả do các tổ chức

quốc tế công bố Mặc dù các chỉ số định

lượng không phải là những đại diện hoàn hảo

cho những gì các chỉ số này dự định đo lường,

nhưng chúng cung cấp những nền tảng vững

chắc cho việc phân tích giữa các nước;

 Phân tích các cấp độ và xu hướng VICR 2011

đánh giá kết quả hoạt động công nghiệp của

Việt Nam và xu hướng tổng thể trong một

khoảng thời gian nhất định Cách phân tích

này đặc biệt hữu ích đối với những nước có

mức tăng trưởng cao nhưng chưa đạt tới mức

phát triển điển hình của các quốc gia công

nghiệp hoá Phần phân tích lựa chọn giai

đoạn 2000–2009 cho tất cả các nước và sẽ sử

dụng các số liệu cập nhật hơn khi có thế

Phân tích vĩ mô và cấp ngành Phân tích vĩ mô

cung cấp một cái nhìn tổng quan về năng lực cạnh

tranh công nghiệp của một nước so với các nước khác

Ví dụ điển hình của phân tích vĩ mô trong ngành chế

tạo là chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP)

của UNIDO Tuy nhiên, chỉ số tổng hợp ở cấp vĩ mô

ít có tác dụng khi hoạch định chính sách do chúng

thường bỏ qua sự năng động ở cấp ngành Nhiều báo

cáo thiếu sự phân tích ngành, dẫn đến các khuyến

nghị chính sách quá chung chung Bằng cách sử dụng

phương pháp luận của UNIDO, VICR 2011 kết hợp

phân tích vĩ mô với phân tích ngành, giúp cho các nhà

hoạch định chính sách có thể thiết lập được các thông

số thực tế và có tính ứng dụng cao Độ sâu của các

phân tích ngành phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau,

bao gồm các dữ liệu sẵn có và mục tiêu nghiên cứu

VICR 2011 phân tích kết quả hoạt động của các

ngành ở cấp độ 3 chữ số trong SITC sửa đổi lần 3

2.4 Những hạn chế của Báo cáo

Không có phương pháp luận nào hoàn hảo và

VICR 2011 không phải là ngoại lệ Có một vài hạn

chế trong phương pháp luận của UNIDO mà các độc giả cần lưu ý:

 Một số người không ủng hộ khái niệm năng lực

cạnh tranh Ví dụ, Krugman (1994) cho rằng

năng lực cạnh tranh có thể là một "nỗi ám ảnh nguy hiểm" bởi vì, theo lý thuyết về lợi thế so sánh, một đất nước không thể cạnh tranh trong tất cả các lĩnh vực Việc cố gắng đo lường năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là một việc làm vô nghĩa vì nó làm lu mờ các lợi thế kinh tế vi mô (như ở cấp độ doanh nghiệp) của một quốc gia Mặc dù có những lời chỉ trích, VICR 2011 dựa trên giả định rằng đánh giá năng lực cạnh tranh cung cấp thông tin hữu ích cho việc phân tích chính sách công nghiệp nếu đánh giá đó sử dụng các chỉ số định lượng có ý nghĩa và có tính đến sự năng động cấp ngành Để một nghiên cứu về năng lực cạnh tranh có độ tin cậy cao, cần phải giới hạn phạm vi nghiên cứu Năng lực cạnh tranh có thể là khái niệm rất rộng, do vậy cần đề cập đến nó một cách thật cụ thể VICR 2011 thực hiện điều đó bằng cách giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp;

 Bảng phân loại công nghệ của UNIDO dựa trên

một số giả định mà không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác hàm lượng công nghệ của các hoạt động cụ thể Nhiều lĩnh vực công

nghệ thấp có thể có những quy trình tinh xảo, trong khi một số hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ cao không đòi hỏi kỹ năng tiên tiến Ví dụ, việc thiết kế với sự hỗ trợ của máy tính được sử dụng trong ngành may mặc, trong khi khâu lắp ráp của quá trình sản xuất chất bán dẫn lại phụ thuộc nhiều vào lao động Phương pháp luận của UNIDO gộp chung các ngành và điều đó có thể bỏ qua những yếu tố nêu trên Thứ hai, việc phân loại công nghệ không thể hiện được sự nâng cấp xảy ra trong nội bộ ngành công nghiệp – nâng cấp công nghệ chỉ xảy ra khi một quốc gia thay đổi từ một ngành này sang ngành khác Đây là một hạn chế lớn mà chỉ có thể được khắc phục thông qua việc phân tích ngành hoặc sản phẩm cụ thể Điều quan trọng là phải nhận thức được hạn chế này khi đưa ra các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam Báo cáo này nhận định rằng Việt Nam

Trang 18

có thể hưởng lợi đáng kể từ sự chuyển dịch cơ

cấu theo hướng phát triển các ngành công

nghiệp sử dụng công nghệ vừa và cao, chủ

yếu là do hầu hết các nước công nghiệp mới

đã trải qua sự chuyển dịch tương tự Tuy

nhiên, cũng đúng khi cho rằng các hoạt động

công nghiệp tinh xảo và chuyên sâu xảy ra cả

trong các ngành công nghiệp kém phức hợp

Chuyên môn hóa các hoạt động giản đơn

trong ngành sử dụng công nghệ cao sẽ không

mang lại nhiều lợi ích như chuyên môn hóa

và gia tăng giá trị trong những ngành thâm

dụng lao động

Các phân tích được trình bày trong Báo cáo minh

họa cho lộ trình phát triển công nghiệp mà Việt Nam

có thể đi theo dựa trên các mô hình tiêu biểu trong

khu vực Báo cáo có thể hữu ích cho các nhà hoạch

định chính sách của Việt Nam Mặc dù có những hạn

chế trong phương pháp luận của UNIDO và trong

điều kiện thiếu các chỉ báo định lượng tốt hơn và có

sẵn cho phân tích liên quốc gia, bảng phân loại công

nghệ vẫn cung cấp những hiểu biết thú vị về sự

chuyển dịch công nghiệp Dịch chuyển cơ cấu của

MVA hướng tới các hoạt động phức hợp có thể phản

ánh sự chuyên sâu và nâng cấp công nghệ trong nước

Phương pháp luận của UNIDO cũng phân tích

năng lực công nghiệp hay ‘các yếu tố của năng lực

cạnh tranh công nghiệp’ VICR 2011 có trình bày

một số nét về hiện trạng của các yếu tố chính nhưng

không dành toàn bộ một chương cho vấn đề này vì

hai lý do Thứ nhất, nhiều báo cáo khác đã phân tích

về vấn đề này Ví dụ, Báo cáo VCR 2010 đã có một

chương đầy đủ về nền tảng của năng lực cạnh tranh

Việt Nam Thứ hai, Việt Nam thiếu dữ liệu cụ thể

theo ngành để đánh giá năng lực Số liệu về R&D

không chia theo ngành thực hiện, còn số liệu về đổi

mới và hình thành nguồn nhân lực trong ngành chế

tạo thì không có Các báo cáo về công nghiệp sắp tới

cần phải dựa trên kết quả đánh giá sâu về năng lực

công nghiệp của Việt Nam, tuy nhiên vấn đề về số

liệu vẫn sẽ là một trở ngại lớn

Trang 19

3 Công nghiệp hóa ở Việt Nam

3.1 Tại sao công nghiệp hóa lại

quan trọng

Trong cuốn sách gần đây của mình, nhà kinh tế

nổi tiếng của Đại học Cambridge, Ha-Joon Chang, đã

dành trọn một chương để nhấn mạnh tầm quan trọng

của ngành chế tạo đối với tăng trưởng kinh tế (Chang,

2007) Trong đó ông viết:

“Lịch sử đã nhiều lần chỉ ra rằng điều quan trọng

nhất để phân biệt nước giàu với nước nghèo là họ có

năng lực cao hơn trong hoạt động chế tạo, hoạt động này

thường có năng suất cao và quan trọng hơn, năng suất

này có xu hướng (mặc dù không phải luôn luôn) tăng

trưởng nhanh hơn năng suất của nông nghiệp và dịch vụ”

(Chang, 2007:213)

Phát triển kinh tế ở khu vực Đông Á gần đây đã

cung cấp các luận cứ vững chắc cho việc thúc đẩy các

hoạt động chế tạo tại Việt Nam Bên cạnh đó, cũng có

nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy công nghiệp

chế tạo đóng vai trò cốt lõi để Việt Nam tạo thêm của

cải và công ăn việc làm

 Thứ nhất, bằng chứng thực tế không chỉ cho

thấy công nghiệp hóa gắn kết chặt chẽ với tăng

trưởng kinh tế, mà còn cho thấy hoạt động chế

tạo có thể đóng vai trò xúc tác trong chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của các xã hội nông

nghiệp Hình 2 được công bố trong Báo cáo

Phát triển Công nghiệp 2009 của UNIDO

cho thấy mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa tăng

trưởng GDP và tăng trưởng MVA trong mẫu

gồm 131 quốc gia;

 Thứ hai, hoạt động chế tạo chiếm phần lớn

trong giỏ hàng xuất khẩu của thế giới (80%

năm 2008) và ít chịu ảnh hưởng từ các cú sốc

bên ngoài, biến động giá cả, điều kiện khí hậu và các chính sách cạnh tranh không lành mạnh

Giá cả của các hàng hóa chế tạo có xu hướng

ổn định hơn giá các mặt hàng khác Chính sách cạnh tranh không lành mạnh đã bóp méo giá cả trên thế giới, hạn chế tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu của một số mặt hàng;

 Thứ ba, hoạt động chế tạo tạo ra các ngoại ứng

trong phát triển công nghệ, học hỏi và hình thành kỹ năng, đây là các yếu tố thiết yếu của năng lực cạnh tranh Ví dụ, hoạt động chế tạo

là phương thức chính của phát triển và đổi mới công nghệ, là trung tâm của tiến bộ công nghệ Công nghiệp sử dụng công nghệ dưới nhiều hình thức và ở các cấp độ khác nhau để tăng lợi nhuận đầu tư bằng cách chuyển từ các hoạt động có năng suất thấp sang các hoạt động có năng suất cao Hoạt động chế tạo cũng tạo ra tiềm năng lớn cho các hoạt động đổi mới không chính thức như những cải tiến tình thế cho các sản phẩm và quy trình;

 Thứ tư, hoạt động chế tạo tạo ra ‘hiệu ứng kéo’

đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Sự

phát triển của công nghiệp chế tạo kích thích nhu cầu cần có nhiều dịch vụ hơn với chất lượng tốt hơn như ngân hàng, bảo hiểm, truyền thông và giao thông vận tải;

HÌNH 2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng MVA, 2000–2005

Nguồn: World Development Indicators

y = 0,4368x + 2,6455 R² = 0,4122

-10 -5 0 5 10 15 20

Trang 20

HÌNH 3 Xu hướng thay đổi của tỷ trọng thương mại các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, Đông

Á và Thế giới, 2000–2008

Nguồn: UN Comtrade

 Cuối cùng, quốc tế hóa sản xuất đã làm lan toả

lợi ích của hoạt động chế tạo Sự phân tán về

mặt địa lý của các hoạt động của các tập đoàn

đa quốc gia đã đem lại lợi ích cho lĩnh vực chế

tạo ở các nước đang phát triển nhiều hơn các

lĩnh vực khác của nền kinh tế Xu thế phân

tách theo chiều dọc trong các hoạt động sản

xuất ở các nước công nghiệp hóa mang lại

nhiều cơ hội hơn cho các nước đang phát

triển tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu

Thông điệp rõ ràng là: Việt Nam phải dựa vào các

hoạt động chế tạo như là động lực chính cho tăng

trưởng Nhưng điều quan trọng nhất để Việt Nam có

thể đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa nhằm duy

trì tăng trưởng là phải chuyên sâu vào các hoạt động

tăng trưởng nhanh và có giá trị gia tăng cao

Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng của

hoạt động chế tạo đối với tăng trưởng kinh tế và đẩy

mạnh quá trình công nghiệp hóa Đóng góp của MVA

vào GDP ở Việt Nam đã tăng từ 18,6% năm 2000 lên

26,1% trong năm 20092 Tuy nhiên, kết quả này vẫn

còn thấp hơn nhiều so với các kết quả tốt nhất của các

con rồng Đông Á Bên cạnh đó, tỷ trọng của MVA

trong GDP ở Thái Lan và Trung Quốc là trên 35%

năm 2009 Hơn nữa, phân tích ở các phần sau cho

thấy khoảng cách công nghiệp giữa Việt Nam và hai

nước này còn lớn hơn những gì thể hiện qua các con

số nêu trên

Sự tiến bộ của hoạt động chế tạo ở Việt Nam

cũng được phản ánh qua sự thay đổi của các mô hình

thương mại Tỷ trọng thương mại của các ngành chế

tạo trong tổng giá trị thương mại đã tăng từ 46,7%

       

2 Dự báo của UNIDO

năm 2000 lên gần 63,8% năm 2008 (xem Hình 3) Tuy nhiên, vẫn còn 26% khác biệt giữa số liệu của Việt Nam và số liệu trung bình của các nước định hướng xuất khẩu ở Đông Á

Mặc dù vẫn còn xa mức trung bình khu vực, các con số của Việt Nam cho thấy hoạt động chế tạo đang ngày càng trở thành một động lực tăng trưởng trong nền kinh tế Báo cáo này lập luận rằng sự chuyển dịch cơ cấu xảy ra ở hai cấp độ: từ các ngành khác sang ngành chế tạo và trong nội bộ ngành chế tạo Trong khi Việt Nam đang đạt được những tiến

bộ rõ rệt ở cấp độ thứ nhất, các phần còn lại của Báo cáo cho thấy Việt Nam thiếu các hoạt động chế tạo thâm dụng công nghệ và tri thức để duy trì tăng trưởng trong dài hạn

Trọng tâm Báo cáo này muốn nhận định rằng hoạt động chế tạo có thể đẩy mạnh tăng trưởng cho Việt Nam cũng như tạo ra việc làm cho lực lượng lao động đang tăng lên Tuy nhiên, để đảm bảo tăng trưởng trong xuất khẩu hàng hoá chế tạo và tạo ra việc làm, Việt Nam cần phải phát triển hoạt động chế tạo trong các phân ngành thâm dụng công nghệ nhiều hơn

3.2 Chính sách công nghiệp của Việt Nam: Một quan điểm lịch sử

Trong những thập kỷ kể từ khi bắt đầu cải cách Đổi Mới vào năm 1986, Việt Nam đã trải qua tái cơ cấu mạnh mẽ từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều này đã làm thay đổi đời sống của nhân dân Chính sách công nghiệp đã đóng một vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi kinh tế của đất nước, mặc dù trọng tâm có thay đổi theo từng thời kỳ:

Trang 21

 Trong giai đoạn 1946 đến 1954, trọng tâm

chính là thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp, khai thác mỏ, luyện kim, cơ

khí, dệt may, giấy và dược phẩm;

 Giữa 1955 đến1965, điểm nhấn thời hậu

chiến là phục hồi và phát triển công nghiệp

thông qua việc chuyển giao sở hữu công

nghiệp cho liên doanh tư nhân – nhà nước và

các doanh nghiệp hợp tác xã Trọng tâm là

các ngành công nghiệp nặng được lựa chọn

(cơ khí, khai khoáng luyện kim, hóa chất,

phân bón) và các ngành công nghiệp nhẹ

(hàng tiêu dùng và trang thiết bị cho phát

triển nông nghiệp);

 Giữa 1965 đến 1975, Việt Nam đã trải qua

một thời kỳ bảo hộ với trọng tâm là một số

ngành công nghiệp cơ bản như chế tạo vật

liệu xây dựng, năng lượng, máy móc và phụ

tùng linh kiện, đóng tàu, sửa chữa ô tô/xe gắn

máy, dịch vụ vận tải và hàng tiêu dùng;

 Trong giai đoạn 1975 đến 1985, Việt Nam

tiếp tục thực hiện chính sách công nghiệp để

hình thành một cơ cấu kinh tế mới dựa trên

sự phục hồi nông nghiệp và phát triển sản

xuất công nghiệp Mục tiêu chính là đáp ứng

nhu cầu về trang thiết bị, hàng tiêu dùng và

củng cố các ngành công nghiệp miền Nam;

 Thời kỳ tái thiết công nghiệp kéo dài 20 năm,

từ 1986 đến 2006 Trong thời kỳ này, chính

sách công nghiệp có những ưu tiên sau đây:

a) Đổi mới tiến trình công nghiệp hóa định

hướng xã hội chủ nghĩa và điều chỉnh các

chính sách cơ cấu công nghiệp để thúc

đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với

trọng tâm là sản xuất nông nghiệp, hàng

tiêu dùng cho xuất khẩu (dệt may, giày

dép, hải sản) và một số ngành công

nghiệp nặng mà Việt Nam có lợi thế cạnh

tranh (năng lượng, nhiên liệu, vật liệu

xây dựng, công nghiệp chế biến, đóng và

sửa chữa tàu, luyện kim và hóa chất);

b) Phát triển doanh nghiệp nhà nước, từng

bước mở rộng quyền tự chủ cho các

doanh nghiệp nhà nước song song với

việc loại bỏ bao cấp nhà nước;

c) Phát triển khu vực tư nhân, mở cửa cho đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế

 Hai thay đổi lớn về chính sách được khởi xướng trong giai đoạn 2000 đến 2010 dẫn đến sự điều chỉnh đáng kể trong cơ cấu công nghiệp của Việt Nam Trong đó có quyết định trở thành thành viên của WTO và đàm phán các hiệp định thương mại với các đối tác thương mại quan trọng, đặc biệt là Hoa Kỳ,

EU và Nhật Bản Do vậy, Việt Nam đã phải sửa đổi một số luật và quy định có liên quan đến việc gia nhập WTO3 Thay đổi lớn thứ

hai là quyết định của Chính phủ và Quốc hội phê duyệt Luật Doanh nghiệp 2000 và 2005

để tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp không phân biệt hình thức

sở hữu;

 Trong những năm tới (2011–2020), Chính phủ Việt Nam có quan điểm rõ ràng về các mục tiêu tổng thể của chính sách công nghiệp của đất nước:

a) Duy trì mức tăng trưởng của ngành công nghiệp, thực hiện tái cơ cấu để ứng phó với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; b) Tập trung vào phát triển lợi thế cạnh tranh và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như công-nông nghiệp, thực phẩm, máy móc, cơ khí và vật liệu xây dựng;

c) Phát triển hơn nữa của các ngành công nghiệp chủ đạo, như năng lượng, hóa chất, luyện kim và cơ khí;

d) Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ để cải thiện chất lượng công nghiệp hóa và đẩy mạnh phát triển công nghệ

Một nghiên cứu được thực hiện để phục vụ cho Báo cáo này đã xác định được 44 quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp và 7 chiến lược cụ thể cho phát

       

3 Trong báo cáo năm 2009, Dwight Perkins và Vũ Thành Tự Anh đã cho thấy rất khó khăn trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của những hiệp định thương mại đối với chính sách công nghiệp Việt Nam Các ngành công nghiệp do Nhà nước quản lý vẫn phát triển tốt nhờ hàng rào bảo vệ cao, đang đối mặt với việc sắp phải gỡ bỏ hoàn toàn những hàng rào này Trên thực tế, các đối tác đàm phán WTO với Việt Nam đã cảnh báo rằng khu vực công của Việt Nam phải trở nên cạnh tranh hơn trong bối cảnh toàn cầu và phải thực hiện điều này ngay lập tức

Trang 22

triển ngành4 Theo một nghiên cứu gần đây, từ năm

1995 đến nay, Việt Nam đã xây dựng khoảng 80

chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể và kế hoạch

cho các ngành công nghiệp (Kim & Nguyen, 2011)

Như vậy, Việt Nam không thiếu chính sách phát triển

công nghiệp nhưng lại thiếu kế hoạch triển khai hiệu

quả để kết hợp hài hoà nhu cầu của các ngành khác

nhau Chính sách hiện tại vạch ra các mục tiêu kế

hoạch cho một ngành nào đó dựa trên các giải pháp

hỗ trợ cụ thể nhưng thường không được thực hiện

đầy đủ do thiếu các nguồn lực

Ngoài số lượng lớn các quy hoạch tổng thể,

Chính phủ Việt Nam còn tập trung vào phát triển,

nâng cao hiệu quả và tái cơ cấu các ngành công

nghiệp quan trọng do các doanh nghiệp nhà nước

nắm vai trò chủ đạo Quyết định của Thủ tướng

Chính phủ năm 2005 đã thành lập tám Tập đoàn

kinh tế, mỗi Tập đoàn chịu trách nhiệm chiến lược

trong một ngành cụ thể Tám Tập đoàn kinh tế đó

bao gồm Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

(bưu điện và truyền thông), Tập đoàn Than Khoáng

sản Việt Nam (khai thác mỏ), Tập đoàn Dệt may

Việt Nam (dệt may), Tập đoàn Điện lực Việt Nam

(điện), Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam

(đóng tàu, cảng), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (thăm

dò khai thác dầu khí), Tập đoàn Cao su Việt Nam

(cao su) và Tập đoàn Tài chính và Bảo hiểm Bảo Việt

       

4 Đây mới chỉ là kết quả nghiên cứu ban đầu từ các văn bản pháp quy của Bộ

Công Thương và có thể không bao gồm các quy hoạch tổng thể của các Bộ khác

5 Trước khi tái cấu trúc Vinashin và phát hiện khoản nợ hơn 4,5 tỷ USD của Tập

đoàn này, Chính phủ đã đang xem xét việc mở rộng mô hình tập đoàn kinh tế,

cho phép Tập đoàn Xây dựng Sông Đà, Tập đoàn Lilama và Tập đoàn Phát triển

đô thị Hà Nội thực hiện thí điểm mô hình này

Trang 23

 

Trang 24

BÁO CÁO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG NGHIỆP

Phần B: KẾT QUẢ CẠNH TRANH

CÔNG NGHIỆP

Trang 25

4 Lập chuẩn đối sánh hiệu quả

công nghiệp Việt Nam

Việc lập chuẩn đối sánh sẽ tạo ra các thông tin có

giá trị cho chính sách Mối quan tâm ngày càng tăng

về cạnh tranh toàn cầu đã tạo ra một ngành chuyên

cung cấp các chỉ số quốc tế và các bảng xếp hạng

quốc gia do các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác

xây dựng Trong lĩnh vực công nghiệp, UNIDO đã

phát triển chỉ số riêng của mình để lập chuẩn đối sánh

năng lực cạnh tranh công nghiệp toàn cầu

Các chuẩn đối sánh công nghiệp quốc tế là cần

thiết vì rất khó để có thể đánh giá hoạt động của một

quốc gia nếu chỉ dựa trên các chỉ báo trong nước Lý

thuyết kinh tế không cung cấp cho chúng ta các cách

tiếp cận đơn giản để có thể đánh giá nhiều khía cạnh

khác nhau của kết quả hoạt động công nghiệp Do đó,

cách tốt nhất là so sánh hiện trạng của một nước với

các nước khác sử dụng các chỉ báo định lượng minh

bạch và hợp lý về mặt kỹ thuật Trên thực tế, kết quả

hoạt động công nghiệp của một quốc gia ngày nay

chịu tác động ngày càng nhiều bởi các yếu tố bên

ngoài (thay đổi công nghệ quốc tế, toàn cầu hóa, hội

nhập khu vực), do đó việc so sánh quốc tế càng trở

nên thích hợp hơn khi xác định các mục tiêu và chiến

lược công nghiệp quốc gia

Chuẩn đối sánh có thể được lập ở nhiều cấp độ,

nhưng mức độ càng cụ thể thì sẽ thu được càng nhiều

các chỉ báo định lượng hữu ích Điều này làm cho việc

lập chuẩn đối sánh kết quả hoạt động công nghiệp dễ

dàng hơn so với việc lập chuẩn đối sánh năng lực cạnh

tranh quốc gia Điểm bất lợi là sự phân tách cụ thể

này gây khó khăn trong quá trình thu thập số liệu của

các nước so sánh Chuẩn đối sánh công nghiệp quốc

tế, mặc dù phạm vi còn khá rộng, nhưng cũng cung

cấp các chỉ báo sơ bộ hữu ích về kết quả hoạt động có

liên quan Chuẩn đối sánh giúp các nhà hoạch định

chính sách đánh giá sự tiến bộ, rút ra bài học từ các

mô hình tiêu biểu và xác định hướng đi chiến lược

cho tăng trưởng công nghiệp Để hỗ trợ hơn nữa cho

công tác hoạch định chính sách, đánh giá tổng thể

này cần được bổ sung bằng các phân tích chi tiết cho

từng ngành và từng hoạt động, cũng như bằng các

biến định tính về chính sách và thể chế không nằm

trong phương pháp định lượng chuẩn đối sánh này

Phần này phân tích kết quả hoạt động công

nghiệp của Việt Nam và so sánh với kết quả của mười

nước: Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,

Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Philippines, Singapore

và Hàn Quốc Các nước này được xếp vào một hay nhiều nhóm theo bốn tiêu chí cơ bản sau đây nhằm xác định nước phù hợp để lập chuẩn đối sánh:

 Nước láng giềng là các nước có chung lợi thế

địa lý và có cơ cấu sản xuất tương đồng;

 Đối thủ cạnh tranh hiện tại là các nước có các

yếu tố tương đồng nhất định và cùng tập trung vào các ngành công nghiệp giống nhau;

 Đối thủ cạnh tranh trong tương lai là các nước

có khả năng tạo ra nguy cơ cạnh tranh trong các lĩnh vực vực có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh;

 Các mô hình tiêu biểu là các nước có những

gợi ý về các mục tiêu có thể đạt được cho phát triển công nghiệp

Phần này xác định vị trí của Việt Nam trong chỉ

số Năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) của UNIDO, là sự kết hợp các khía cạnh của kết quả hoạt động công nghiệp thành một đơn vị đo duy nhất Tiếp theo, phần này đánh giá kết quả thương mại các sản phẩm chế tạo và MVA của Việt Nam Từ đây, Báo cáo sẽ chỉ ra khả năng tiến lên nấc thang công nghệ và tăng giá trị gia tăng của Việt nam bằng cách chuyển hướng sang các ngành thâm dụng công nghệ Cuối cùng, phần này phân tích mô hình đa dạng hóa sản phẩm và thị trường của Việt Nam và xếp hạng Việt Nam cùng với các đối thủ cạnh tranh trong ma trận

về mức độ rủi ro

4.1 Việt Nam trong chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) của UNIDO

Chỉ số Năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) của UNIDO kết hợp các khía cạnh của kết quả hoạt động công nghiệp thành một thước đo trực quan duy nhất Chỉ số CIP thể hiện được khả năng cạnh tranh của các nước trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, cũng như việc chuyển dịch cơ cấu hướng tới các ngành thâm dụng công nghệ, có giá trị gia tăng cao UNIDO công bố chỉ số CIP trong báo

cáo có uy tín của mình, Báo cáo Phát triển Công nghiệp,

lập chuẩn đối sánh cho 118 quốc gia Hộp 1 trình bày các khía cạnh, các chỉ báo và cách tính chỉ số CIP Bảng 1 dưới đây là kết quả xếp hạng quốc gia theo chỉ số CIP được công bố trong Báo cáo Phát triển Công nghiệp UNIDO 2011

Trang 26

HỘP 1 Khía cạnh, chỉ báo và cách tính chỉ số CIP

Chỉ số CIP tập hợp tám chỉ báo trong sáu khía cạnh của kết quả hoạt động công nghiệp:

 Năng lực công nghiệp MVA trên đầu người là một chỉ báo cơ bản phản ánh mức độ công nghiệp hóa, được điều chỉnh theo quy mô dân số của một nước Nó cho thấy năng lực tạo ra giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất của một nước Tuy nhiên, không phải lúc nào MVA cũng cho biết năng lực cạnh tranh quốc tế – bởi các chính sách hướng nội

và các rào cản thương mại có thể làm hạn chế sự tiếp xúc của các ngành công nghiệp trong nước với cạnh tranh toàn cầu Việc phân tích MVA có thể bóp méo kết quả của các nước đã trải qua một thời gian dài bảo hộ và thay thế nhập khẩu Do vậy, điều quan trọng là phải kết hợp MVA với định hướng xuất khẩu, bởi nó đặt năng lực cạnh tranh của hoạt động công nghiệp trong bối cảnh quốc tế

 Năng lực xuất khẩu các sản phẩm chế tạo Trong một thế giới toàn cầu hóa, năng lực xuất khẩu là một thành phần quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên đầu người là một chỉ báo cơ bản của năng lực cạnh tranh thương mại: nó phản ánh năng lực của các nước trong việc đáp ứng nhu cầu thế giới về hàng hoá chế tạo trong môi trường đầy cạnh tranh và biến động Việc xuất khẩu các sản phẩm chế tạo cho biết liệu chỉ số MVA quốc gia thực sự có tính cạnh tranh quốc tế hay không MVA cũng bổ trợ cho các phân tích thương mại vì nó cho thấy mức giá trị các công ty trong nước đóng góp cho xuất khẩu Bản thân các phân tích thương mại cũng

có thể đưa ra các kết quả không chính xác trong trường hợp các nước có năng lực nội tại thấp nhưng lại được các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) sử dụng như là bệ phóng xuất khẩu

 Tác động tới chỉ số MVA thế giới Ảnh hưởng của một nước tới MVA thế giới được đo bằng tỷ trọng MVA của nước

đó trong MVA thế giới, nó cho thấy kết quả hoạt động của một nước có liên quan và ảnh hưởng như thế nào đến tổng sản lượng sản xuất chung Nó cũng chỉ ra vị thế của một nước trong mối tương quan với các nước khác trong việc đóng góp vào MVA của thế giới

 Tác động tới thương mại các sản phẩm chế tạo trên thế giới Ảnh hưởng của một nước tới việc xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên thế giới được đo bằng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của nước đó trên tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của thế giới Nó cho thấy vị thế cạnh tranh của một nước so với các nước khác trên thị trường quốc tế Việc giành được thị phần quốc tế tương ứng với việc cải thiện năng lực cạnh tranh của nước đó và ngược lại việc giảm sút thị phần quốc tế là tín hiệu của sự suy giảm vị thế cạnh tranh

 Mức độ công nghiệp hóa Mức độ công nghiệp hóa được đo bằng mức trung bình của tỷ trọng của MVA trong GDP

và tỷ trọng của các hoạt động sử dụng công nghệ trung bình và cao (MHT) trong MVA Biến số đầu cho biết vai trò của các hoạt động chế tạo trong nền kinh tế, còn biến số sau cho biết mức độ tinh xảo về công nghệ của các hoạt động chế tạo Biến số sau cũng thể hiện sự đánh giá tích cực đối với các hoạt động tinh xảo bởi các hoạt động này rất cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh: một cơ cấu tinh xảo hơn chứng tỏ sự trưởng thành, linh hoạt và khả năng của ngành công nghiệp dịch chuyển sang các hoạt động tăng trưởng nhanh hơn Tuy nhiên, thước đo này chỉ phản ánh được sự dịch chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, mà không thể hiện được sự tiến bộ trong nội bộ ngành và

do đó nó đã bỏ sót một khía cạnh quan trọng của việc cải tiến công nghệ Nó cũng khá tổng quát nên không thể hiện được sự khác biệt về trình độ công nghệ trong cách phân loại (một số hoạt động công nghệ thấp có thể có trong các phân đoạn của công nghệ cao và ngược lại) Những thiếu sót này phản ánh bản chất của dữ liệu, tuy nhiên những phát hiện chung vẫn thực sự có ý nghĩa và đáng tin cậy

 Chất lượng xuất khẩu Chất lượng của xuất khẩu được đo lường bằng công thức đơn giản tính tỷ trọng của xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng của các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo Lý lẽ đưa ra cũng tương tự như đối với mức độ công nghiệp hóa Tỷ trọng của sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu phản ánh vai trò của công nghiệp chế tạo trong hoạt động xuất khẩu Tỷ trọng của các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và cao phản ánh mức độ tinh xảo của công nghệ sử dụng trong các sản phẩm xuất khẩu, cũng như khả năng chế tạo các sản phẩm tiên tiến hơn

và dịch chuyển sang các khu vực xuất khẩu năng động hơn

Tất cả các chỉ số được chuẩn hóa theo công thức sau đây:

Trong đó, Xij là giá trị chỉ số i của nước j , Min là giá trị nhỏ nhất trong mẫu và Max là lớn nhất Nước đứng đầu trong mẫu nhận giá trị 1 và nước kém nhất nhận giá trị 0 Chỉ số kết hợp được tính là số trung bình của các giá trị chuẩn của các chỉ báo Tất cả 6 khía cạnh của chỉ số CIP đều được đánh giá tương đương nhau Trong hai khía cạnh cuối (mức độ công nghiệp hóa và chất lượng xuất khẩu), mỗi chỉ báo có giá trị ngang nhau, do vậy mỗi chỉ báo của hai khía cạnh này có giá trị bằng một nửa giá trị của các chỉ báo khác trong mô hình tổng quát.

Nguồn: UNIDO

Trang 27

3 1 Singapore 0,631 0,642 39 41 Costa Rica 0,208 0,215 70 81 Chile 0,139 0,128

2 2 Hoa Kỳ 0,660 0,634 42 42 Ấn Độ 0,190 0,206 89 82 Saint Lucia 0,106 0,127

1 3 Nhật Bản 0,661 0,628 40 43 Indonesia 0,198 0,203 82 83 Iran 0,114 0,126

4 4 Đức 0,598 0,597 37 44 Brazil 0,212 0,202 87 84 Moldova 0,111 0,126

6 5 Trung Quốc 0,461 0,557 51 45 Jordan 0,167 0,193 98 85 Gambia 0,087 0,124

7 6 Thụy Sỹ 0,455 0,513 49 46 Argentina 0,168 0,192 83 86 Palestin 0,114 0,121

9 7 Hàn Quốc 0,438 0,480 46 47 Australia 0,180 0,188 90 87 Rwanda 0,106 0,119

5 8 Ireland 0,499 0,479 62 48 Swaziland 0,152 0,186 93 88 Campuchia 0,102 0,119

11 9 Phần Lan 0,411 0,442 45 49 Nam Phi 0,181 0,184 92 89 Honduras 0,103 0,118

8 10 Bỉ 0,439 0,442 52 50 Hy Lạp 0,166 0,182 74 90 Côte

d'Ivoire 0,136 0,116

12 11 Đài Loan 0,401 0,437 58 51 Georgia 0,155 0,179 99 91 Oman 0,087 0,115

10 12 Thụy Điển 0,432 0,430 61 52 Latvia 0,154 0,178 86 92 Sri Lanka 0,111 0,115

18 13 Áo 0,368 0,401 44 53 Cyprus 0,182 0,176 94 93 Fiji 0,101 0,110

21 14 Slovakia 0,322 0,387 53 54 Bulgaria 0,165 0,176 91 94 Nepal 0,105 0,108

13 15 Pháp 0,395 0,384 54 55 Tunisia 0,157 0,175 85 95 Niger 0,111 0,107

16 16 Hà Lan 0,374 0,378 50 56 El Salvador 0,168 0,175 96 96 Peru 0,094 0,106

14 17 Hong Kong 0,385 0,375 55 57 Barbados 0,156 0,174 100 97 Madagascar 0,086 0,101

17 18 Ý 0,370 0,361 72 58 Việt Nam 0,137 0,171 105 98 Uganda 0,075 0,100

15 19 Anh 0,383 0,356 59 59 Morocco 0,155 0,168 84 99 Zimbabwe 0,114 0,100

25 23 Hungary 0,310 0,328 67 63 Pakistan 0,147 0,156 81 103 Nigeria 0,114 0,081

22 24 Luxembourg 0,316 0,323 88 64 Kuwait 0,107 0,156 108 104 Ecuador 0,069 0,079

27 25 Thái Lan 0,300 0,320 60 65 Bahamas 0,154 0,154 104 105 Paraguay 0,075 0,076

23 26 Đan Mạch 0,311 0,320 57 66 Liên bang

19 28 Canada 0,349 0,309 66 68 Macedonia 0,147 0,149 112 108 Mongolia 0,055 0,070

28 29 Tây Ban Nha 0,293 0,291 75 69 Bangladesh 0,135 0,145 109 109 Ghana 0,069 0,069

29 30 Mexico 0,286 0,286 56 70 Mauritius 0,156 0,144 114 110 Tanzania 0,046 0,068

31 31 Malta 0,266 0,284 65 71 Lebanon 0,149 0,144 118 111 Ethiopia 0,017 0,068

34 32 Ba Lan 0,235 0,279 78 72 Macau 0,130 0,142 110 112 Malawi 0,064 0,059

32 33 Philippines 0,262 0,272 76 73 Jamaica 0,132 0,141 113 113 Panama 0,048 0,053

38 34 Na Uy 0,209 0,248 69 74 Colombia 0,140 0,135 116 114 Yemen 0,036 0,044

33 35 Thổ Nhĩ Kỳ 0,237 0,237 68 75 Senegal 0,142 0,134 115 115 Algeria 0,037 0,042

35 36 Estonia 0,220 0,234 77 76 Albania 0,132 0,133 117 116 Gabon 0,034 0,038

36 37 Bồ Đào Nha 0,218 0,224 71 77 Venezuela 0,138 0,131 106 117 Azerbaijan 0,072 0,036

43 38 Iceland 0,187 0,218 79 78 Botswana 0,128 0,131 95 118 Sudan 0,095 0,035

47 39 Romania 0,178 0,218 80 79 Uruguay 0,123 0,129

41 40 Lithuania 0,196 0,216 102 80 Ả Rập 0,082 0,128

Nguồn: UNIDO, 2011 (sắp phát hành)

Sự ổn định chung của các vị trí xếp hạng theo thời

gian chứng tỏ rằng sự chuyển đổi và chuyển dịch cơ

cấu kinh tế là một quá trình lâu dài và phụ thuộc

(55% các nước không thay đổi hoặc thay đổi không

đáng kể trong phạm vi 3 vị trí) Tuy nhiên, những

bước nhảy vọt vẫn có thể xảy ra và nó phản ánh kết

quả của những cải thiện mạnh mẽ hay sự xuống cấp

các điều kiện cơ bản của hoạt động công nghiệp diễn

ra trong khoảng thời gian giữa 2005 và 2009

Các nước Đông Á tiếp tục có ảnh hưởng mạnh

đến năng lực cạnh tranh công nghiệp toàn cầu

Singapore đã trở thành quốc gia cạnh tranh nhất trên

thế giới trong lĩnh vực công nghiệp, vượt qua Nhật

Bản và Hoa Kỳ; Trung Quốc đã vượt qua Thụy Sĩ và

nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với Đức Malaysia,

Indonesia và Philippines là ba nước duy nhất trong mẫu của Báo cáo này suy giảm nhẹ trong bảng xếp hạng CIP Điều này một phần được giải thích bởi sự phụ thuộc lớn của các nước này vào các ngành sơ chế

và tác động của việc giá cả hàng hóa tăng cao trong những năm gần đây

Kết quả của Việt Nam trong bảng xếp hạng CIP xứng đáng nhận được sự quan tâm đặc biệt Việt Nam đứng thứ 58 trong năm 2009, tiến lên được 14 bậc chỉ trong vòng 4 năm và trở thành một trong những nước tiến bộ nhất trên thế giới Chỉ trong bốn năm, Việt Nam đã vượt qua đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ có một truyền thống công nghiệp hóa lâu đời như Ai Cập, Morocco và Nga Đây là dấu hiệu rõ ràng rằng Việt Nam đang là một điểm sáng trong bức tranh công

Trang 28

nghiệp chế tạo toàn cầu và là mối đe dọa đối với các

đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới

Thành tích ấn tượng của Việt Nam đã thu hút

được sự chú ý của các nước trong khu vực Các nước

láng giềng như Trung Quốc lo ngại về năng lực tiềm

ẩn của Việt Nam trong việc thu hút các nhà đầu tư

nước ngoài đang mong muốn phân bố lại nguồn lực

Tuy nhiên, như Báo cáo này chỉ ra, Việt Nam vẫn cần

một chiến lược rõ ràng để hướng đầu tư chất lượng

vào các hoạt động chế tạo có giá trị gia tăng cao Mặc

dù có những cải thiện rõ rệt, phần lớn các nhà đầu tư

vẫn xem Việt Nam là điểm đến cho các hoạt động chế

tạo định hướng xuất khẩu, chi phí thấp mà không phải

là trung tâm của các hoạt động chế tạo có giá trị gia

tăng cao Do đó, Việt Nam vẫn tụt hậu so với các mô

hình tiêu biểu trong khu vực Việt Nam bị tụt hậu sau

Indonesia 15 bậc và sau Phillippines 25 bậc Vì vậy,

trong bối cảnh khu vực rộng lớn hơn, Việt Nam vẫn

còn một chặng đường dài phải vượt qua để có thể

đuổi kịp các nước dẫn đầu trong khu vực Đông Á

Về mặt chính sách công nghiệp, Việt Nam đang

đứng trước ngã ba đường Quốc gia này có thể tiếp

tục chuyên môn hóa các hoạt động chế tạo thâm

dụng lao động, định hướng xuất khẩu, hoặc có thể cơ

bản chuyển dịch sang các hoạt động chế tạo có giá trị

gia tăng cao hơn Báo cáo này lập luận rằng, trong

buối cảnh cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, việc duy

trì hiện trạng công nghiệp như hiện nay sẽ không giúp

Việt Nam chuyển dịch lên bậc thang cao hơn của

năng lực cạnh tranh Tập trung sâu vào công nghệ và

chuyển dịch cơ cấu là một lựa chọn tốt nhất đối với

Việt Nam hiện nay để duy trì tăng trưởng và nâng cao

vị thế trong bảng xếp hạng CIP trong vài năm tới

Nhưng khía cạnh nào trong năng lực cạnh tranh

công nghiệp Việt Nam cần phải tăng cường để bắt kịp

các nước Đông Á ‘công nghiệp hóa hơn’? Các phần tiếp theo sẽ phân tích cụ thể từng khía cạnh của năng lực cạnh tranh để đưa ra các câu trả lời cho câu hỏi đó

4.2 Kết quả giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo

Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo (MVA) là chỉ báo cơ bản của kết quả hoạt động công nghiệp

Nó thể hiện độ sâu của ngành và năng lực hiện tại của một ngành công nghiệp cụ thể ở cấp độ doanh nghiệp Tăng trưởng MVA của Việt Nam đã đạt được kết quả ấn tượng Từ năm 2000 đến 2009, MVA tăng vọt

từ 5,8 tỷ USD lên 15,4 tỷ USD (xem Bảng 2) Đáng ghi nhận hơn là sự thống nhất trong mô hình tăng trưởng này Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số trong nửa đầu và nửa cuối của thập kỷ này, trong khu vực chỉ có 2 nước khác đạt được thành tựu này là Trung Quốc và Campuchia Tăng trưởng MVA gắn liền với tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, Campuchia

và Việt Nam được ghi nhận là những nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong giai đoạn này (với mức tăng trưởng tương ứng là 10%, 8% và 7,3%), ngụ

ý rằng có sự liên kết mạnh mẽ giữa công nghiệp hóa

và phát triển kinh tế

Vấn đề đặt ra là liệu Việt Nam có thể giữ vững mức tăng trưởng ấn tượng này khi giá trị tuyệt đối của MVA tăng hay không, đặc biệt nếu Việt Nam vẫn tập trung vào hoạt động chế tạo các sản phẩm thâm dụng lao động Khi mở rộng nền tảng công nghiệp như vậy, các nước thường có tỷ lệ tăng trưởng kém phù hợp

Mở rộng công nghiệp đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển các ngành công nghiệp tinh xảo hơn và không đơn thuẩn chỉ là chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp như trường hợp của Campuchia và Việt Nam trong những thập kỷ qua

BẢNG 2 Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Quốc gia

MVA (tỷ USD theo giá cố định năm 2000) Tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm

Trang 29

BẢNG 3 Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo trên đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Quốc gia Giá trị (USD theo giá cố định năm 2000)

Nguồn: World Development Indicators

Kết quả MVA của một nước có thể có ý nghĩa nếu

nó được điều chỉnh theo quy mô của nước đó MVA

trên đầu người của Việt Nam đã tăng đáng kể từ 73

USD năm 2000 lên 171 USD năm 2009 – một mức

tăng ấn tượng với 98 USD trong chín năm (xem Bảng

3) Tuy vậy, Việt Nam vẫn tụt hậu so với hầu hết các

nước trong khu vực MVA trên đầu người của Việt

Nam năm 2009 vẫn thấp hơn 50 USD so với mức của

Philippines năm 2000 Nếu chúng ta ngoại suy xu

hướng của Philippines và Indonesia theo thời gian và

giả định rằng MVA trên đầu người của Việt Nam tiếp

tục phát triển với tốc độ như đã nêu ở trên, thì phải

mất tương ứng khoảng 30 năm và 70 năm Việt Nam

mới có thể bắt kịp hai quốc gia này Điều này có nghĩa

rằng thực chất tăng trưởng MVA của Việt Nam không

ấn tượng như đánh giá ban đầu Tuy nhiên, công

nghiệp Việt Nam có khả năng tăng trưởng thậm chí

còn nhanh hơn nếu nhìn vào quy mô lực lượng lao

động có thể tuyển dụng trong các ngành công nghiệp

có năng suất cao hơn

4.3 Kết quả xuất khẩu các sản phẩm

chế tạo

Tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế của các

quốc gia đã định hình nên những nét đặc trưng của

nền kinh tế toàn cầu trong vài thập kỷ qua Tăng

trưởng thương mại các sản phẩm chế tạo gia tốc cao

hơn tăng trưởng MVA trong những năm qua, điều

này chính là kết quả của sự phân công và quốc tế hóa

các hoạt động công nghiệp Tăng trưởng thương mại

đã được thúc đẩy bởi những nỗ lực gắn kết hội nhập

kinh tế sâu, cải thiện cơ sở hạ tầng cứng và thông tin,

cùng với sự gia tăng nhu cầu thế giới Trung Quốc và

Ấn Độ là những động lực chính đứng phía sau nhu

cầu đang bùng nổ đối với các sản phẩm sơ chế trong

những năm gần đây

Ngay cả những phân tích về MVA không phải lúc nào cũng phản ánh được thực trạng năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp trong nước Ví

dụ như trường hợp của một nền kinh tế được bảo hộ cao Chính sách hướng nội có thể làm sai lệch các đánh giá về năng lực cạng tranh công nghiệp của một quốc gia do các ngành công nghiệp này không tham gia vào môi trường cạnh tranh quốc tế và việc nhập khẩu hàng hóa cũng bị cấm Do đó, việc bổ trợ các chỉ báo về tính cạnh tranh quốc tế cho các nghiên cứu về MVA là cần thiết Thành tích xuất khẩu các sản phẩm chế tạo thường xuyên được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh công nghiệp trên thị trường toàn cầu Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam trong thập kỷ qua đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng, thậm chí vượt mức tăng trưởng của Trung Quốc trong giai đoạn 2000–2009 Thương mại các sản phẩm chế tạo đã tăng từ 6,7 tỷ USD trong năm 2000 lên hơn 36 tỷ USD trong năm 2009 (xem Bảng 4) Ấn tượng hơn cả là tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam dường như không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính những năm 2000 Các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan đã chứng kiến sự sụt giảm lớn trong thương mại các sản phẩm chế tạo tới các thị trường Hoa Kỳ

và EU Những kết quả mà Việt Nam đạt được là minh chứng cho việc đất nước hội nhập nhanh chóng vào kinh tế thế giới, trong đó có thể kể đến một số cam kết quan trọng như Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000 và Việt Nam gia nhập WTO năm 2007

Mặc dù có sự bùng nổ thương mại đối với các sản phẩm chế tạo, tỷ trọng xuất khẩu của các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức thấp nhất trong khu vực trong năm 2009 Nếu nhìn vào số liệu ở Hình 4 dưới đây, ta có thể lập

Trang 30

luận rằng để có thể tham gia vào khu vực có nền kinh

tế công nghiệp hóa cao, thương mại hàng hóa công

nghiệp của Việt Nam cần phải chiếm hơn 80% tổng

kim ngạch thương mại Trong trường hợp của Hàn

Quốc, Trung Quốc và Đài Loan, là các mô hình tiêu

biểu rõ ràng trong khu vực, xuất khẩu các sản phẩm

chế tạo đều chiếm hơn 90% tổng kim ngạch thương

mại của nước đó

Được điều chỉnh theo quy mô dân số, xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam vẫn đạt kết quả nổi bật Chỉ trong chín năm, xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên đầu người của Việt Nam tăng vọt từ 87 USD năm 2000 lên 417 USD trong năm 2009 (xem Bảng 5) Trong bảng xếp hạng khu vực, năm 2009 Việt Nam đã vượt qua Philippines và Indonesia nhưng khoảng cách với Trung Quốc vẫn còn đáng kể

BẢNG 4 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Quốc gia Xuất khẩu (triệu USD) Tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm

Trang 31

HỘP 2 Thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc

Trung Quốc là thị trường láng giềng lớn nhất của Việt Nam Cả hai nước đều có mối quan hệ thương mại lâu dài và là đối tác trong một số hiệp định thương mại như: Hiệp định Thương mại song phương, Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), Tổ chức Thương mại thế giới

Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng nhanh từ 1,5 tỷ USD trong năm 2000 lên 5 tỷ USD trong năm 2009 với tốc độ tăng trưởng trung bình 14% mỗi năm Trong cùng kỳ, tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng vọt

từ 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 15,6 tỷ USD trong năm 2009 với tốc độ tăng trưởng trung bình 30% mỗi năm Kết quả là cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc chuyển từ thặng dư nhỏ ở mức 14 triệu USD vào năm 2000 sang mức thâm hụt 10,6

tỷ USD trong năm 2009

Quyết định số 23/2007/QĐ-BTM của Bộ Thương mại ban hành ngày 02 tháng 8 năm 2007 đặt mục tiêu xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2010 là 5,4 tỷ USD, Việt Nam đã đạt được mục tiêu này; và mục tiêu đến năm 2015 xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ đạt gấp đôi so với năm 2010 Quyết định này không đề cập đến vấn đề thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc Cần lưu ý rằng, trong năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 24% tổng kim ngạch nhập khẩu

Nguyên nhân chính của thâm hụt thương mại giữa Việt Nam Trung Quốc là do mô hình thương mại không cân bằng giữa hai nước Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp và nhập khẩu từ Trung Quốc không chỉ là số lượng mà còn

là các sản phẩm chế tạo thâm dụng công nghệ Lợi thế về địa lý, tiến bộ công nghệ và việc định giá thấp đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc đã làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Trung Quốc trở nên hấp dẫn đối với Việt Nam Do hội nhập kinh

tế và thu hút đầu tư nước ngoài, thị trường Việt Nam ngày càng mở cửa hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các hợp đồng tổng thầu tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây dựng (EPC) được sử dụng rộng rãi trong đấu thầu quốc tế tại Việt Nam Trên cơ sở các hợp đồng EPC, trong hầu hết các trường hợp các nhà thầu Trung Quốc sẽ trúng thầu vì họ có thể cung cấp theo gói từ thiết kế, máy móc, mua sắm thiết bị và xây dựng Các doanh nghiệp trong nước chỉ có thể vận hành và sử dụng các cơ sở đã hoàn tất Phần lớn các hợp đồng EPC mà các nhà đầu tư Trung Quốc trúng thầu thuộc các ngành điện, giao thông vận tải và xây dựng; cụ thể là Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhà máy Nhiệt điện Kinh Lương, Nhà máy điện Kiên Lương, tuyến đường Long Thành – Dầu Giây của đường cao tốc Bắc – Nam, đường sắt quốc tế Hà Nội, Nhà máy Xi măng Nghi Sơn và dự án bauxite Tây Nguyên Hơn nữa, FDI tại Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc các công

ty nước ngoài chuyển công đoạn lắp ráp cuối cùng của họ sang Việt Nam nhằm tận dụng các lợi thế về chi phí lao động thấp

và các ưu đãi thâm nhập thị trường của Việt Nam Các doanh nghiệp này sẽ rời đi nếu các điều kiện về thuế thay đổi, đặc biệt

là đối với các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như dệt may, da giầy, máy tính và các sản phẩm điện tử Do chưa phát triển được ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập nguyên liệu sản xuất từ Trung Quốc và sau đó chỉ gia công lắp ráp trước khi xuất khẩu sang thị trường châu Âu và Hoa Kỳ

Nguồn: Nguyen, 2011

Những thành công của thương mại Việt Nam

trong thập kỷ qua được đánh giá cao ở cả trong nước

và quốc tế Có nhiều quan điểm cho rằng tự do hoá

thương mại chính là một nhân tố chính khuyến khích

tăng trưởng xuất khẩu Tuy nhiên, có một số ý kiến

khác lại cho rằng tăng trưởng xuất khẩu cần được diễn

giải một cách thận trọng bởi mô hình thương mại của

Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu và hàm

lượng công nghệ nội địa còn hạn chế Chúng ta hãy

cùng xem xét hai vấn đề này một cách cụ thể hơn

Công nghiệp trong nước đã đóng góp bao nhiêu

vào việc bùng nổ xuất khẩu là một trong những câu

hỏi quan trọng nhất của giới doanh nhân trong ngành

công nghiệp của Việt Nam Không có câu trả lời trực

tiếp cho câu hỏi này Nội dung phân tích về MVA

trong Báo cáo này cho thấy kim ngạch thương mại

hàng hóa chế tạo của Việt Nam khả quan hơn nhiều

so với kết quả đạt được của MVA Nói cách khác,

năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường

xuất khẩu không tương ứng với thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp trong nước Đối với mỗi đơn

vị MVA sản xuất tại Việt Nam thì có đến 2,5 lần giá trị này là xuất khẩu, điều này không chỉ phản ánh xu hướng xuất khẩu của Việt Nam mà còn thể hiện sự không tương xứng giữa năng lực sản xuất và kim ngạch xuất khẩu

Các số liệu về nhập khẩu cho thấy bức tranh kém lạc quan hơn về tác động của tự do hóa thương mại Trong giai đoạn 2000–2009, nhập khẩu hàng hóa chế tạo của Việt Nam tăng 19% mỗi năm, gần như tương đương với tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá chế tạo trong cùng kỳ Thâm hụt thương mại của Việt Nam trong hàng hóa chế tạo là 25 tỷ USD trong năm 2009, trong đó Trung Quốc chiếm gần 50% tổng giá trị xuất nhập khẩu (xem Hộp 2)

Tự do hóa thương mại cũng thất bại trong việc thay đổi mô hình xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam Việt Nam thặng dư thương mại đối với các

Trang 32

sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ thấp (khoảng 10

tỷ USD năm 2009) trong khi thâm hụt thương mại

đối với nhóm các sản phẩm chế tạo sử dụng công

nghệ tinh xảo hơn Việt Nam nhập siêu các sản phẩm

chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và cao, đạt

đỉnh lần lượt ở mức 20 tỷ USD và 5 tỷ USD trong

năm 2009 Báo cáo Năng lực Cạnh tranh 2010 (VCR

2010) chỉ ra rằng, mức sống cao hơn và nhu cầu sử

dụng các loại hàng hóa cao cấp gia tăng sẽ tạo thêm

áp lực đối với cân bằng thương mại và dự trữ ngoại

hối của Việt Nam Trong khi điều này là có cơ sở, thì

dường như xu thế này lại khó có thể đảo ngược được

vì Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung

bình Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trong nước và

nâng cao hàm lượng công nghệ của hàng hoá xuất

khẩu có thể là lựa chọn tốt nhất để thu hẹp khoảng

cách thương mại Đặc biệt, cần phải chú ý đến những

cơ hội do thị trường Trung Quốc mang lại cho các

nhà xuất khẩu Việt Nam

4.4 Chuyển dịch cơ cấu

Theo lý thuyết thương mại thông thường, cơ cấu

công nghiệp thực chất không phải là nhân tố quan

trọng để xác định lợi thế so sánh của một nước Theo

đó, các nước giàu tài nguyên sẽ xuất khẩu các sản

phẩm thô hoặc/và sản xuất hàng hóa dựa vào tài

nguyên, nước có nguồn lao động chi phí thấp và dồi

dào như Việt Nam sẽ chuyên môn hóa trong ngành

sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, trong

khi các nước giàu nhưng có nguồn tài nguyên khan

hiếm lại có thể cung cấp các sản phẩm chế tạo tinh

xảo Quan điểm này ngụ ý rằng có một phạm vi hạn

chế đối với chính sách trong việc thay đổi mô hình

sản xuất công nghiệp Nếu yếu tố về nguồn lực mang

tính quyết định, thì tại sao các nhà hoạch định chính

sách lại quan tâm tới việc sản xuất và xuất khẩu cái gì?

Thông tin tích cực cho các nước đang kỳ vọng

tiến lên bậc thang công nghiệp là đã có bằng chứng

chỉ ra rằng lý thuyết chính thống có thể quá đơn giản

trong việc giải thích các mô hình thương mại và sản

xuất trên toàn thế giới Nghiên cứu mới cho thấy các

ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài và việc học hỏi được

bắt nguồn từ chuyên môn hóa ngành và sự dịch

chuyển các hoạt động không diễn ra tự nhiên mà phải

có chi phí nhất định Như vậy, cơ cấu sản xuất và

thương mại của các nước không chỉ được xác định bởi

yếu tố nguồn lực mà còn bằng cách xây dựng năng lực

công nghệ trong nước Thực tế, có rất ít quan điểm

phủ nhận việc tích lũy kỹ năng, nỗ lực gia tăng kiến

thức và công nghệ là yếu tố đứng đằng sau những thành quả công nghiệp của khu vực Đông Nam Á Điều có lẽ thú vị hơn là bằng chứng mới cho thấy không phải tất cả các ngành đều có đóng góp ngang nhau cho sự tăng trưởng và do đó, những gì một nước sản xuất và xuất khẩu đều đáng ghi nhận Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với chính sách và cũng không ngạc nhiên khi các cuộc tranh luận về chuyển dịch cơ cấu hiện nay đã là mối quan tâm chính trong

lộ trình chính sách của hầu hết các nước đang phát triển Điều này cũng có nghĩa là trước khi đặt ra các công cụ chính sách và xây dựng năng lực công nghệ, các nhà hoạch định chính sách cần phải nhận thức rõ lĩnh vực nào có thể giúp đạt được mục tiêu Các tiêu chí ‘mong muốn’ rõ ràng là khác nhau từ nước này sang nước khác và sẽ phụ thuộc vào các ưu tiên quốc gia, gồm rất nhiều vấn đề: tạo công ăn việc làm, an ninh lương thực, đa dạng hóa, thay thế nhập khẩu, năng lực cạnh tranh xuất khẩu và đẩy mạnh các liên kết công nghiệp đa chiều

Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp không phải là việc dễ dàng đạt được Nó đòi hỏi sự kiến tạo các năng lực cụ thể của các ngành ở cấp độ chính sách, thể chế và doanh nghiệp Việc có được các điều kiện

vĩ mô hợp lý và để động lực của thị trường tự phân bổ nguồn lực là sẽ không có hiệu quả Khi các doanh nghiệp tư nhân vẫn luôn là động lực, thì chính phủ cũng có thể đóng một vai trò chính để đạt được sự chuyển dịch cơ cấu bằng cách giảm các chi phí và rủi

ro liên quan trong việc tham gia các hoạt động mới Tăng trưởng nhanh của hoạt động chế tạo ở Việt Nam không nên ngăn cản các nhà hoạch định chính sách vào cuộc tranh luận Sự chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tốn kém và lâu dài và việc Việt Nam rõ ràng cần phải tiến lên các bậc thang công nghệ cao hơn là lý do thuyết phục để các nhà hoạch định chính sách bắt đầu suy nghĩ đến tương lai của cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam sẽ như thế nào

Có nhiều hình thái chuyển dịch cơ cấu Trên quan điểm rộng, chuyển dịch cơ cấu được miêu tả là

sự chuyển dịch hướng tới các hoạt động chế tạo đồng

bộ cả trong sản xuất và thương mại Nhưng chuyển dịch cơ cấu cũng có thể diễn ra bên trong các hoạt động chế tạo Bằng chứng cho thấy rằng cơ cấu thâm dụng công nghệ có thể thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn với những lý do sau đây:

 Trong dài hạn, các hoạt động thâm dụng công

nghệ có xu hướng tăng trưởng thương mại

Trang 33

nhanh hơn so với các hoạt động đơn giản và

cũng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng kim

ngạch thương mại các sản phẩm chế tạo Kim

ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo sử

dụng công nghệ cao tăng 10,2% trong giai

đoạn 1990 đến 2007, cao hơn xuất khẩu các

sản phẩm có hàm lượng công nghệ đơn giản

Không kể đến việc sụt giảm trong những năm

gần đây do sự bùng nổ giá cả hàng hóa, xuất

khẩu những sản phẩm phức hợp (xuất khẩu

các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ

trung bình và cao) tiếp tục chi phối thương

mại thế giới, chiếm 61,3% trong tổng kim

ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo;

 Các ngành thâm dụng công nghệ là các ngành ít

bị rủi ro hơn nếu có các đối thủ cạnh tranh mới

và do đó có thể đạt được lợi nhuận cao và ổn

định hơn Các hoạt động sử dụng tài nguyên

và sử dụng công nghệ thấp sẽ chịu áp lực cạnh

tranh nhiều hơn do năng lực cần thiết để

tham gia ngành công nghiệp tương đối thấp

và do đó các đối thủ cạnh tranh mới sẽ dễ tiếp

cận hơn Lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực

này thường do giá cả hơn là chất lượng hoặc

thương hiệu Ngược lại, các hoạt động thâm

dụng công nghệ đòi hỏi năng lực và quy trình

phức hợp hơn do đó tạo ra rào cản lớn hơn

khi tham gia;

 Các hoạt động thâm dụng công nghệ thường

đem lại nhiều cơ hội học hỏi, nâng cao năng suất

hơn cũng như những lợi ích lan tỏa tới các hoạt

động khác lớn hơn Năng lực trong các ngành

thâm dụng công nghệ dựa chủ yếu vào tính

kỷ luật, kiến thức sâu về toán học, vật lý, cơ

khí và máy tính Năng lực mạnh mẽ dựa trên

tri thức khoa học có thể đáp ứng yêu cầu cụ

thể của các hoạt động khác với một tốc độ

nhanh hơn Do công nghệ trong các lĩnh vực

này thay đổi nhanh, sự học hỏi và đổi mới có

vai trò rất quan trọng để duy trì năng lực cạnh

tranh bền vững

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh

công nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào cạnh tranh về

giá trong các ngành có năng suất và công nghệ thấp

Khi công nghiệp phát triển, chi phí lương tăng và môi

trường cạnh tranh khốc liệt hơn, công nghiệp Việt

Nam sẽ phải đối mặt với áp lực để tiến lên các bậc

thang công nghệ

Như đã nêu trong phần A, Báo cáo này sử dụng phân loại công nghệ của UNIDO để làm sáng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp chế tạo, hướng tới các ngành thâm dụng công nghệ Giả thiết là sự dịch chuyển sản xuất và cơ cấu xuất khẩu hướng đến các hoạt động phức hợp sẽ là một dấu hiệu của việc nâng cấp công nghệ cho các ngành công nghiệp chế tạo trong nước

So với các nước khác trong khu vực, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam chưa có độ tinh xảo về công nghệ Tỷ trọng của ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng MVA chỉ khoảng trên 20% và không thay đổi trong những năm gần đây (xem Hình 5) Các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ thấp

và thâm dụng lao động chủ yếu là cụm công nghiệp dệt may, da giầy chiếm hơn 70% MVA của Việt Nam Chỉ có Campuchia là nước duy nhất trong số các nước so sánh có năng lực công nghiệp thấp hơn Việt Nam trong các ngành thâm dụng công nghệ Hàn Quốc có cơ cấu công nghiệp sử dụng nhiều công nghệ tinh xảo và thậm chí tỷ trọng của các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và cao trong MVA đã tăng trong những năm qua Malaysia và Indonesia là hai nước giàu tài nguyên của châu Á có

xu hướng ngược lại với MVA dựa vào tài nguyên lại có vai trò đáng kể hơn trong công nghiệp những năm gần đây Điều này xuất phát từ thực tế giá cả hàng hóa

và nhu cầu về các sản phẩm sử dụng tài nguyên tăng mạnh, chủ yếu là vật liệu xây dựng, thực phẩm và dầu,

mà cả hai quốc gia đều có lợi thế cạnh tranh

Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009 vẫn tương tự như trong năm 2000, xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp là trọng tâm trong mô hình xuất khẩu (xem Bảng 6) Chỉ trong 9 năm, xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp của Việt Nam tăng vọt từ 4 tỷ USD lên 22

tỷ USD Nếu đặt số liệu này trong bối cảnh toàn cầu chúng ta có thể thấy Việt Nam ít có tác động đến thị trường toàn cầu Xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp chỉ chiếm khoảng 0,2% thương mại toàn cầu Mặc dù Việt Nam đang cố đưa ngành công nghiệp của mình lên tầm quốc tế, đây vẫn sẽ là một chặng đường dài để Việt Nam có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh toàn cầu thực sự trong các hoạt động chế tạo thâm dụng lao động

Như đã đề cập ở trên, trong những năm gần đây Malaysia và Indonesia đang phục hồi xuất khẩu các sản phẩm sử dụng tài nguyên do nhu cầu thị trường thay đổi Trong trường hợp của Indonesia, xuất khẩu

Trang 34

các sản phẩm sử dụng tài nguyên chiếm gần một nửa

tổng kim ngach xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của

Indonesia, trong khi tám năm trước đó chỉ chiếm một

phần ba Tuy nhiên, bức tranh tổng thể trong khu vực

vẫn là các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công

nghệ cao, với Đài Loan dẫn đầu trong các ngành công

nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, chủ yếu là các

sản phẩm bán dẫn và Hàn Quốc trong các ngành

công nghệ trung bình, chủ yếu là ô tô và tàu thủy

Quá trình chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của

Trung Quốc hướng tới các ngành công nghiệp sử

dụng công nghệ phức hợp có thể được đánh giá là rất

ấn tượng Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo sử dụng

công nghệ trung bình và cao của Trung Quốc hiện

nay chiếm hai phần ba tổng kim ngach xuất khẩu các

sản phẩm chế tạo của Trung Quốc và chiếm khoảng

5,5% thương mại thế giới; tăng từ mức dưới 2%

những năm đầu thập kỷ Nếu bỏ qua sự khác biệt về

quy mô thì quá trình phát triển công nghiệp của Việt

Nam và Trung Quốc có những xuất phát điểm giống

nhau: nền kinh tế tập trung, nhân công rồi rào, chi phí

thấp và có kỷ luật, mất cân đối nghiêm trọng về vùng miền và lạc hậu về công nghệ trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Những tương đồng này khiến trường hợp của Trung Quốc trở thành những bài học hữu ích cho Việt Nam

Hình 6 tổng kết sự chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam hướng tới các sản phẩm tinh xảo hơn Nhìn chung, Việt Nam đang đi đúng hướng, mặc

dù chậm chạp Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo chiếm khoảng hai phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Thách thức thực sự đối với Việt Nam là làm thế nào để tăng hàm lượng công nghệ tinh xảo trong các ngành công nghiệp Vấn đề cốt lõi là khả năng nuôi dưỡng các doanh nghiệp tư nhân khác ngoài lĩnh vực giầy dép và may mặc truyền thống Việc tiến lên các bậc thang công nghệ cao hơn và tiến vào ‘đường cao tốc’ để có thể cải thiện năng lực cạnh tranh sẽ thích hợp hơn việc dựa vào các ngành công nghiệp với chi phí nhân công thấp, giá thấp, lợi nhuận thấp và cuối cùng là ‘triệt tiêu tăng trưởng’

HÌNH 5 Tỷ trọng của MVA sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng MVA của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000

và 2007 hoặc năm gần nhất

Nguồn: UNIDO’s INDSTAT

BẢNG 6 Cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm chế tạo theo công nghệ của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Trang 35

HÌNH 6 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo và các sản phẩm thâm dụng công nghệ của

Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Nguồn: UN Comtrade

Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thấy lợi thế

của việc dịch chuyển sang các hoạt động thâm dụng

công nghệ ‘Tăng hàm lượng khoa học và công nghệ cao

trong các sản phẩm của chúng ta’ là nội dung đoạn mở

đầu trong phần mục tiêu tổng quát của Kế hoạch

Phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011–2015 Kế

hoạch đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015, tỷ trọng sản

xuất công nghệ cao đạt 40% sản lượng của toàn ngành

Các giải pháp đã được thực thi nhằm thể chế hóa mục

tiêu này, với việc ban hành Luật Công nghệ cao có

hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, tập trung vào

phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,

công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa Bộ

Khoa học và Công nghệ đang tiếp tục dự thảo các văn

bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện luật này, do vậy,

hiểu rõ về vai trò của công nghệ trong công nghiệp và

thương mại là rất cần thiết đối với Việt Nam

4.5 Đa dạng hóa sản phẩm và thị

trường

Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường là một nhân

tố quan trọng khác của nâng cao năng lực cạnh tranh

công nghiệp Các kết quả nghiên cứu gần đây cho

thấy mối quan hệ tích cực giữa đa dạng hóa công

nghiệp và thu nhập (Imbs & Wacziarg, 2003) Các

nước có mức tăng trưởng chậm và thu nhập thấp cần

đa dạng cơ cấu sản xuất để đạt được năng suất cao

hơn Một số nghiên cứu khác chỉ ra mối quan hệ

tương tự giữa đa dạng hóa công nghiệp với đa dạng

hóa xuất khẩu (Carrère, Strauss-Kahnand Cadot,

2007) Tóm lại, đa dạng hóa, được hiểu là việc tham

gia vào các hoạt động mới thông qua quá trình khám

phá, có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Theo

Hausmann và Rodrik (2005), có một nền tảng công

nghiệp và xuất khẩu rộng lớn sẽ tạo thuận lợi cho

doanh nghiệp tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường và đây chính là nền móng của nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh sẽ tham gia và mở rộng sản xuất, trong khi doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh sẽ phải đóng cửa

Đa dạng hóa thị trường ít được quan tâm đến trong các nghiên cứu nhưng nó có thể có các nguyên tắc tương tự Việc xuất khẩu sang nhiều nước cho thấy khả năng cạnh tranh quốc tế, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu ít bị tổn thương hơn trước các cú sốc bên ngoài, như suy giảm nhu cầu và gia tăng cạnh tranh Tóm lại, các ngoại ứng của việc thâm nhập vào các thị trường mới với các sản phẩm mới là cốt lõi của con đường dẫn tới năng lực cạnh tranh công nghiệp của một nước Cần phải làm chủ được công nghệ và tạo ra được các kênh marketing để mở rộng thị trường xuất khẩu tiềm năng Cần phát triển các kỹ năng chuyên sâu và xây dựng các tổ chức liên quan nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia vào các dòng sản phẩm mới Đa dạng hóa thương mại có thể là một quá trình tốn kém, rủi ro và lâu dài, nhưng không thể đánh giá thấp lợi ích phát triển tiềm năng của nó Phần tiếp theo sẽ đề cập tới nội dung đa dạng hóa sản phẩm và thị trường tại Việt Nam Điều này đặc biệt có liên quan khi Việt Nam đang cố gắng sản xuất các sản phẩm xuất khẩu phi truyền thống và thâm nhập vào các thị trường mới

4.5.1 Đa dạng hóa sản phẩm

Đa dạng hoá vì lợi ích của chính nó có thể không phải là sự lựa chọn chính sách tốt nhất Trên thực tế, việc tập trung vào một sản phẩm nào đó có thể do nhu cầu thế giới quyết định – sẽ không có ý nghĩa gì nếu đa dạng hóa vào các dòng sản phẩm mà nhu cầu

Tỷ trọng thương mại các sản phẩm chế tạo trong tổng thương mại (%)

Việt Nam 05 Việt Nam 09

Indo 00 Indo 05

Indo 09

Trung Quốc 00

Trung Quốc 05

Trung Quốc 09

Thái 00

Thái 05 Thái 09

Malay 00 Malay 09

Malay 05

Hướng tới một cơ cấu xuất khẩu tinh xảo

Cam 00 Cam 04

Cam 08

Việt Nam 00

Trang 36

thị trường có ít hoặc không có Các nghiên cứu về

việc đa dạng hóa sản phẩm đòi hỏi phải có sự tìm hiểu

không chỉ về cơ cấu xuất khẩu của một nước mà còn

cơ cấu xuất khẩu của cả thế giới Lý do là nếu một

nước có cơ cấu xuất khẩu tương tự như của thế giới

thì công nghiệp của nước đó phát triển phù hợp với

nhu cầu của thế giới Chỉ số đa dạng hóa sản phẩm

chế tạo được trình bày trong Báo cáo này và được giải

thích trong Hộp 3 dưới đây sẽ cung cấp những thông

tin sâu về mô hình đa dạng hóa sản phẩm của Việt

Nam trong mối quan hệ với các nước so sánh

Việt Nam xếp thứ 8 trong số mười nước theo chỉ

số (xem Bảng 7), tăng 1 bậc vượt lên trên Philippines

Điều này cho thấy Việt Nam tập trung cao vào một

nhóm nhỏ các sản phẩm xuất khẩu Xuất khẩu của

Việt Nam cần phải hết sức quan tâm đến vấn đề này

bởi như vậy có nghĩa là nó rất dễ gặp rủi ro và chịu tác

động mạnh khi nhu cầu thay đổi và cạnh tranh từ nước thứ ba tăng lên

Năm sản phẩm chế tạo hàng đầu của Việt Nam theo trình tự giá trị xuất khẩu gồm: giày dép, sản phẩm may mặc các loại, đồ nội thất, hàng dệt kim cho phụ nữ/bé gái, hàng dệt kim cho nam giới/bé trai Nhóm sản phẩm này chiếm hơn 39% tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo năm 2009, giảm từ mức 49% năm 2000 (xem Hình 7) Mức độ tập trung của Việt Nam cũng tương tự như của Malaysia, nhưng đặc tính sản phẩm rất khác nhau: thiết bị máy tính, thiết bị văn phòng và các sản phẩm bán dẫn là các sản phẩm nằm trong nhóm 5 sản phẩm chế tạo xuất khẩu lớn nhất của Malaysia Campuchia cho thấy một mô hình tập trung đáng lo ngại với số lượng hàng may mặc chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo.

HỘP 3 Phương pháp tính chỉ số đa dạng hóa các sản phẩm chế tạo

Phương pháp này được UNCTAD phát triển để xây dựng chỉ số đa dạng hóa sản phẩm (UNTACD, 2011) Tuy nhiên, có một sự khác biệt chủ yếu giữa chỉ số của UNTACD và chỉ số được sử dụng trong Báo cáo này Chỉ số dùng trong Báo cáo chỉ xem xét sự đa dạng hóa sản phẩm chế tạo xuất khẩu, không tính đến các sản phẩm thô xuất khẩu và các giao dịch khác (do đó,

nó được gọi là chỉ số đa dạng hóa sản phẩm chế tạo)

Chỉ số đa dạng hóa sản phẩm chế tạo cho thấy mức độ phụ thuộc của một nước vào các sản phẩm cụ thể trong mối tương quan với xuất khẩu của thế giới Nói cách khác, nó so sánh cơ cấu xuất khẩu của một nước với cơ cấu xuất khẩu của thế giới Công thức được tính như sau:

2 Trong đó, DXj là giá trị chỉ số đa dạng hóa sản phẩm chế tạo của nước j

∑ là tổng của các giá trị trong ngoặc

hij là tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm i trong tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của nước j

hi là tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm i trong tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của thế giới

Khi tính được giá trị chỉ số đa dạng hóa sản phẩm chế tạo, các giá trị được chuẩn hóa theo công thức tính chỉ số CIP Tuy nhiên, để xếp hạng, trong đó 1 là chỉ số cao nhất (đa dạng hóa hơn) và 0 là chỉ số thấp nhất (kém đa dạng hóa), chúng ta phải đảo ngược thứ tự giá trị (tức là lấy 1 trừ đi giá trị chỉ số đa dạng hóa sản phẩm chế tạo)

Trang 37

HÌNH 7 Đóng góp của nhóm 5 sản phẩm chế tạo đứng đầu trong tổng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, 2000–2009

Nguồn: UN Comtrade

4.5.2 Đa dạng hóa thị trường

Trong khi cơ cấu xuất khẩu của một nước được

xác định bởi yếu tố nguồn lực và khả năng công nghệ

thì định hướng thị trường thông thường được xác

định bởi nhóm các yếu tố, bao gồm vị trí địa lý, dịch

vụ vận chuyển hậu cần, các hiệp định thương mại,

quốc tịch các doanh nghiệp nước ngoài hiện diện ở

trong nước và thậm chí cả các mối liên hệ có tính lịch

sử (ví dụ, các quyền lực thuộc địa) Một yếu tố quan

trọng là chiến lược là cho việc đa dạng hóa thị trường,

bởi các nhà hoạch định chính sách có thể phát triển

các mối liên kết với các thị trường tăng trưởng nhanh

để thu được các lợi ích kinh tế

Trao đổi thương mại các sản phẩm chế tạo của

Việt Nam tương đối đa dạng Việt Nam đứng thứ ba

trong khu vực về đa dạng hóa thị trường, chỉ sau

Trung Quốc và Ấn Độ (xem Bảng 8), không rõ là nhờ

chính sách thương mại và chiến lược xúc tiến xuất khẩu hay do các yếu tố khác quyết định Dù sao đi nữa thì thực tế quan trọng là việc đa dạng hóa thị trường của Việt Nam đã giúp Việt Nam tự bảo vệ mình khi nhu cầu suy giảm ở một số thị trường nhất định và các đối thủ cạnh tranh mạnh xuất hiện tại các thị trường lớn nhất trên thế giới

Kết quả đáng khích lệ của Việt Nam trong chỉ số

đa dạng hóa thị trường có liên quan tới sự hiện diện mạnh mẽ của Việt Nam trên 3 thị trường lớn nhất thế giới là Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada), Liên minh châu

Âu và Đông Á (xem Hình 8) Định hướng mạnh mẽ tới thị trường Bắc Mỹ là điều đáng được ghi nhận và giờ đây Bắc Mỹ đã trở thành điểm đến chính của các sản phẩm chế tạo xuất khẩu của Việt Nam Năm 2000, xuất khẩu sang Bắc Mỹ chiếm 4% trên tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo

HỘP 4 Phương pháp tính chỉ số đa dạng hóa thị trường

Phương pháp tính chỉ số đa dạng hóa thị trường tuân theo lô gic của phương pháp tính chỉ số đa dạng hóa sản phẩm như

đã trình bày ở trên Chỉ số này phản ánh mức độ phụ thuộc của một nước vào những thị trường nhất định trong việc xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, trong mối tương quan với tầm quan trọng của các thị trường này trong nhập khẩu các sản phẩm chế tạo của thế giới

Để thực hiện công việc tính toán này, chúng tôi cân nhắc đến 8 thị trường gồm: EU, Hoa Kỳ, các nước châu Phi tiểu Sahara,

Mỹ Latin, Đông Á, Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi và nhóm ‘các nước khác’, chúng tôi coi mỗi nhóm sản phẩm chế tạo xuất khẩu là một sản phẩm i Công thức tính như sau:

Trong đó: DM là giá trị chỉ số đa dạng hóa thị trường của một nước

∑ là tổng của tất cả các giá trị trong ngoặc

hij là tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm i của một nước tới thị trường j trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm i của nước đó

hi là tỷ trọng nhập khẩu sản phầm i của thị trường j trong tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm i của thế giới

Khi tính được chỉ số đa dạng hóa thị trường, các kết quả được chuẩn hóa theo công thức tính chỉ số CIP Tuy nhiên, để xếp hạng, trong đó giá trị 1 là tốt nhất (đa dạng hơn) và giá trị 0 là kém nhất (kém đa dạng), chúng ta cần phải đảo ngược lại thứ tự giá trị (tức là lấy 1 trừ đi giá trị chỉ số đa dạng hóa thị trường đã được chuẩn hóa)

Trang 38

BẢNG 8 Chỉ số đa dạng hóa thị trường, 2000–2009

Hình 9 trên đây là sự kết hợp giữa chỉ số đa dạng

hóa các sản phẩm chế tạo và chỉ số đa dạng hóa thị

trường để xây dựng ma trận về mức độ rủi ro, trong

đó các nước được xác định vị trí theo giá trị các chỉ số

của các nước đó Bốn cung phần tư được tạo ra sử

dụng các trung bình cộng của giá trị chỉ số, trên cơ sở

là đa dạng hóa càng cao (trong sản phẩm và thị

trường) sẽ càng giảm bớt rủi ro

Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và Indonesia có tính đa dạng hóa cao cả về sản phẩm và thị trường và

do đó sẽ ít rủi ro hơn trước nhu cầu thay đổi, biến động giá và cạnh tranh từ nước thứ ba Ở bên góc đối diện là Campuchia và Philippines Trường hợp của Campuchia là đặc biệt đáng lo ngại: không chỉ vì Campuchia tập trung vào một vài sản phẩm xuất khẩu, trong khi tất cả các sản phẩm này đều là sản phẩm chế tạo đơn giản, thâm dụng lao động, mà Campuchia còn tập trung nhiều hơn hai phần ba kim ngạch xuất

Phần còn lại của thế giới

Mỹ Latin Châu Phi tiểu

Sahara

Úc/New Zealand

Nam Á Trung

Đông/Bắc Mỹ

Đài Loan Malaysia Thái Lan

Ấn Độ Indonesia Hàn Quốc

Trung Quốc

Rủi ro cao đối với sản phẩm

Rủi ro thấp đối với thị trường

Rủi ro cao đối với cả sản phẩm và thị trường

Rủi ro thấp đối với cả sản phẩm và thị trường

Rủi ro thấp đối với sản phẩm Rủi ro cao đối với thị trường

Trang 39

khẩu của mình vào thị trường Bắc Mỹ, điều này dẫn

đến nguy cơ rủi ro cao nếu nhu cầu thay đổi Việt

Nam đứng ở vị trí riêng, có mức độ rủi ro cao về sản

phẩm và ít rủi ro về thị trường Sau khi ký Hiệp định

Thương mại song phương (BTA) với Hoa Kỳ, Việt

Nam đã xây dựng một mô hình xuất khẩu có mức độ

đa dạng hơn về thị trường Tuy nhiên, BTA này đã

không tạo ra được sự đa dạng đối với các hoạt động

chế tạo mới Điều này gợi ý rằng tự do hóa thương

mại không thúc đẩy được quá trình chuyển dịch cơ

cấu theo như Báo cáo này xác định Việc đa dạng hóa

công nghiệp đòi hỏi các chính sách công nghiệp cụ

thể để có thể khuyến khích sự phát triển của khu vực

tư nhân và các hoạt động chế tạo mới

4.6 Thành tích của Việt Nam trong

xuất khẩu các sản phẩm chế tạo

năng động nhất thế giới

Tranh luận về chuyển dịch cơ cấu không chỉ xoay

quanh vấn đề chuyển đổi công nghệ Mặc dù công

nghệ là quan trọng, khả năng nhanh chóng chuyển

hướng sản xuất và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu cho

phù hợp với những thay đổi nhu cầu trên thế giới là

một nhân tố quan trọng khác của năng lực cạnh tranh

Quốc gia có sự theo dõi và thích nghi với những nhu

cầu mới các thị trường, thì thể hiện được mức độ sẵn

sàng cạnh tranh Nhưng xây dựng năng lực để phản

ứng được với những thay đổi nhu cầu không phải là

việc dễ dàng vì công nghiệp hóa là một quá trình lâu

dài và phụ thuộc Quá trình này có thể mất hàng thập

kỷ để xây dựng năng lực cạnh tranh cho một ngành

khi công nghệ và kỹ năng lại không thể chuyển đổi

sang một ngành khác Thật vậy, sự cứng nhắc của các

cơ cấu sản xuất và xuất khẩu là trở ngại chính cho việc

cạnh tranh trong một môi trường thay đổi

Phần này sẽ nghiên cứu kỹ kết quả xuất khẩu của Việt Nam trong 20 sản phẩm năng động nhất của thế giới để đánh giá khả năng chuyển hướng sản xuất và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu để nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thế giới Cũng cần lưu ý rằng may mắn cũng đóng vai trò nhất định và nhu cầu thay đổi

có thể mang lại lợi ích cho các nước có nguồn lực và yếu tố nhất định Ví dụ, sự bùng nổ gần đây trong ngành xây dựng ở châu Á và Trung Quốc và nhu cầu cao của Ấn Độ đối với sản phẩm dầu, khoáng chất và các sản phẩm nông nghiệp mang lại cơ hội lớn cho các nước giàu tài nguyên Do đó, trong phần phân tích này, chúng tôi sẽ xem xét kết quả hoạt động của từng nước đối với từng sản phẩm cụ thể Một giỏ xuất khẩu có thể bao gồm một số sản phẩm năng động tương ứng với một ngành công nghiệp

Hình 10 dưới đây cho thấy thị phần trên thế giới của 20 sản phẩm xuất khẩu năng động nhất của Việt Nam và các nước so sánh giai đoạn 2000–2009 Các nước giành được thị phần trên thế giới đáng ghi nhận

là Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, một sự pha trộn giữa của các nước NIC và nền kinh tế mới nổi lớn nhất có nguồn lực tài nguyên phong phú

Ngược lại, hầu hết các nước Đông Nam Á đã cho thấy thị phần của họ giảm hoặc không thay đổi trong giai đoạn này, với ngoại lệ là Việt Nam và với mức độ thấp hơn là Indonesia Điều này có nghĩa rằng Việt Nam đã có thể tăng xuất khẩu các sản phẩm mà nhu cầu thế giới đang tăng mạnh Trên thực tế, Việt Nam xuất khẩu 17 trong 20 sản phẩm năng động nhất ở mức bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng trưởng trung hàng năm của toàn cầu Chỉ có 3 trường hợp ngoại lệ

là dầu thực vật dạng cô đặc, không lỏng (SITC 422), phế thải/phế liệu kim loại đen (282), và các thiết bị phát song truyền hình (761)

HÌNH 10 Thị phần trên thế giới của 20 sản phẩm năng động nhất thế giới, 2000–2009

Trang 40

BẢNG 9 Năng lực và cơ cấu xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009

Xuất khẩu trên đầu người các sản phẩm năng động Tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm năng động trong tổng

kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo Xếp hạng

Quốc gia Giá trị bình quân Xếp hạng Quốc gia Tỷ trọng

Nguồn: UN Comtrade

BẢNG 10 Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới phân loại theo công nghệ, 2000–2009

Xuất khẩu toàn cầu (USD) Tỷ lệ tăng trưởng

trung bình, 2000–2009

Đóng góp trong xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, 2009

Cần lưu ý rằng một số mặt hàng năng động trong

danh sách 20 mặt hàng xuất khẩu năng động nhất của

thế giới có liên kết chặt chẽ với nhau Ví dụ, quặng

sắt/tinh quặng được làm giàu (SITC 281), ống

dẫn/thanh bằng sắt/thép (679), Phế thải/phế liệu

kim loại đen (282), cấu kiện bằng sắt/thép/nhôm

(691) chủ yếu là các sản phẩm kim loại đen Tương tự,

dầu nặng/dầu bitum và các sản phẩm dầu cặn đều

nằm trong lĩnh vực dầu mỏ Do vậy, những nước có

ngành công nghiệp thép hoặc dầu phát triển mạnh vô

tình sẽ có vị thế tốt trong phân tích về các sản phẩm

xuất khẩu năng động

Thành tích của Việt Nam thể hiện qua chỉ báo

năng lực và năng động cơ chế là khá ổn định trong

giai đoạn 2000–2009 (xem Bảng 9) Mặc dù có sự

tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm năng động trên

đầu người lên 9 lần nhưng Việt Nam mới chỉ cải thiện

vị trí từ thứ 7 lên thứ 6 Tương tự, về tỷ trọng xuất

khẩu các sản phẩm năng động trong tổng kim ngạch

xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, Việt Nam cũng chỉ

cải thiện vị trí từ thứ 6 năm 2000 lên thứ 5 năm 2009

Tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm năng động tăng từ

8% năm 2000 lên 15% năm 2009 cho thấy Việt Nam

đang ngày càng thích nghi được với nhu cầu năng

động của thế giới

Mặc dù đã có những cải thiện trong xuất khẩu các sản phẩm năng động, Việt Nam vẫn là nước nhập khẩu ròng nhóm sản phẩm này trong năm 2009 Trong khi kim ngạch xuất khẩu của tất cả các sản phẩm năng động đạt 5,5 tỷ USD trong năm 2009, kim ngạch nhập khẩu nhóm sản phẩm này cùng trong năm đó lên tới hơn 13 tỷ USD Thực tế là, Việt Nam thâm hụt thương mại ở 14 trong 20 sản phẩm năng động nhất Sản phẩm đứng đầu trong số này trong năm 2009 là dầu nặng/dầu bitum chiếm 72% thâm hụt thương mại (5,5 tỷ USD)

Bảng 10 trình bày cụ thể các sản phẩm năng động nhất theo lĩnh vực công nghệ Các sản phẩm phụ thuộc tài nguyên chiếm 42% kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm năng động trong năm 2009 và cũng có tốc

độ tăng trưởng hàng năm đứng thứ 2 trong giai đoạn 2000–2009, với tốc độ tăng trưởng trung bình 14,2% Điều này chủ yếu là do dầu nặng/dầu bitum6 (SITC 334) có tốc độ tăng trưởng từ 156 tỷ USD năm 2000 lên 490 tỷ USD trong năm 2009 chiếm gần một phần

tư trong tổng tăng của các sản phẩm xuất khẩu năng động

       

6 Mô tả đầy đủ về sản phẩm: ‘Dầu mỏ và dầu thu được từ hoạt động khai thác dầu (trừ dầu thô); chế phẩm và các loại khác, chứa từ 70% thành phần trở lên là dầu mỏ hoặc dầu thu được từ hoạt động khai thác dầu, những loại dầu này là thành phần cơ bản của các chế phẩm’

Ngày đăng: 10/04/2014, 21:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1. Khung lý thuyết và phân tích năng lực cạnh tranh công nghiệp - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 1. Khung lý thuyết và phân tích năng lực cạnh tranh công nghiệp (Trang 15)
HÌNH 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng MVA, 2000–2005 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng MVA, 2000–2005 (Trang 19)
BẢNG 1. Xếp hạng các quốc gia theo chỉ số CIP, 2005–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 1. Xếp hạng các quốc gia theo chỉ số CIP, 2005–2009 (Trang 27)
Hình tiêu biểu trong khu vực. Việt Nam bị tụt hậu sau - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
Hình ti êu biểu trong khu vực. Việt Nam bị tụt hậu sau (Trang 28)
BẢNG 5. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 5. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trên đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 (Trang 30)
BẢNG 4. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 4. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 (Trang 30)
BẢNG 7. Chỉ số đa dạng hóa sản phẩm, 2000–2009  Xếp hạng - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 7. Chỉ số đa dạng hóa sản phẩm, 2000–2009 Xếp hạng (Trang 36)
HÌNH 7. Đóng góp của nhóm 5 sản phẩm chế tạo đứng đầu trong tổng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 7. Đóng góp của nhóm 5 sản phẩm chế tạo đứng đầu trong tổng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, 2000–2009 (Trang 37)
Hình 9 trên đây là sự kết hợp giữa chỉ số đa dạng - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
Hình 9 trên đây là sự kết hợp giữa chỉ số đa dạng (Trang 38)
HÌNH 8. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam tới các thị trường chính, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 8. Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam tới các thị trường chính, 2000–2009 (Trang 38)
BẢNG 10. Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới phân loại theo công nghệ, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 10. Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới phân loại theo công nghệ, 2000–2009 (Trang 40)
BẢNG 11. Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới của Việt Nam, 2000–2009  Phân - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
BẢNG 11. Xuất khẩu 20 sản phẩm năng động nhất thế giới của Việt Nam, 2000–2009 Phân (Trang 41)
HÌNH 11. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ thấp ở Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 11. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ thấp ở Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 (Trang 50)
HÌNH 12. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ trung bình của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 12. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ trung bình của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 (Trang 54)
HÌNH 13. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ cao của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 - Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt nam 2011
HÌNH 13. Nhóm ngành chế tạo sử dụng công nghệ cao của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh, 2000–2009 (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w