Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 1mở đầu
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài:
Nước ta phát triển kinh tế, thực hiện CNH- HĐH từ một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu với khoảng 80% dân số có cuộc sống gắn
liền với kinh tế nông nghiệp Đảng và Nhà nước đã nhận thức sự
nghiệp CNH-HĐH phải được bắt đầu từ nông nghiệp Nghị Quyết
Hội nghị Trung ương 6 (lần 1) của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã khẳng định: "Tiếp tục công cuộc đổi mới đẩy mạnh
CNH-HĐH đất nước, nhất là CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn ";
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX một lần nữa khẳng định "Trong
nhiều năm tới, vẫn coi CNH- HĐH nông nghiệp là một điểm cần tập
trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết " Trong những năm vừa
qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tới việc đầu tư phát
triển nông nghiệp, nhưng xét về hiệu quả đầu tư, nhiều chuyên gia
cho rằng hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp còn rất thấp Nâng cao hiệu
quả đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, hiệu quả đầu tư trong
lĩnh vực nông nghiệp nói riêng là một vấn đề quan trọng trong sự
nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn còn hạn chế
nguồn lực như hiện nay
2- Mục đích nghiên cứu của luận án:
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận về đầu tư, hiệu quả đầu
tư nói chung và hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp nói
riêng, nghiên cứu những chính sách đầu tư cho nông nghiệp của
một số nước trong khu vực và thế giới, đồng thời phân tích, đánh
giá thực trạng đầu tư và hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp ở Việt
Nam trong thời gian vừa qua, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam
trong thời gian tới
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu về thực trạng hoạt động
đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và đánh giá hiệu quả đầu tư trong
nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1991- 2005 Nghiên cứu chủ yếu vốn đầu tư có nguồn gốc từ NSNN, trong các hoạt động đầu tư có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động sản xuất của ngành trồng trọt
và ngành chăn nuôi Các quan điểm và giải pháp được đưa ra cho giai
đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020
4- ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về tình hình đầu tư, hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua Đánh giá những bước phát triển cũng như chỉ ra những hạn chế của nền sản xuất nông nghiệp hiện nay Nghiên cứu đề xuất các giải pháp về huy động, quản
lý, sử dụng vốn đầu tư cho nông nghiệp; các giải pháp về cơ chế, chính sách phát triển đồng bộ nhằm phát huy tối đa hiệu quả vốn đầu tư, trong đó đặc biệt là hiệu quả vốn đầu tư từ NSNN
5- Kết cấu của luận án: Kết cấu của luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
1.1 Hiệu quả đầu tư và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư
1.1.1 Hiệu quả đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư: Trên cơ sở các quan điểm về khái
niệm đầu tư, tác giả cho rằng: “đầu tư” được hiểu với nghĩa chung
nhất về mặt kinh tế là “việc sử dụng một giá trị nhất định nào đó vào
một hoạt động nhất định nhằm thu lại một giá trị lớn hơn”
1.1.1.2 Phân loại đầu tư
Đầu tư có thể được phân thành nhiều loại dựa trên những tiêu thức khác nhau, tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu Các loại có thể kể
đến như: Đầu tư từ NSNN, đầu tư của doanh nghiệp, đầu tư của hộ gia đình, vốn đầu tư nước ngoài; Đầu tư cho Công nghiệp, đầu tư cho Nông nghiệp, đầu tư cho Thương mại, đầu tư cho khoa học công
Trang 2nghệ ; Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp; Đầu tư phát triển, đầu tư
chuyển dịch; đầu tư dài hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư ngắn hạn
1.1.1.3 Khái niệm hiệu quả đầu tư:
- Khái niệm hiệu quả đầu tư: Là phạm trù phản ánh chất lượng của
hoạt động đầu tư, được xác định trên cơ sở so sánh kết quả đạt được
từ hoạt động đầu tư và chi phí đầu tư để đạt được kết quả đó
Hi = Ki/Ci
- Hi là hiệu quả đầu tư
- Ki là kết quả đạt được
- Ci là chi phí đầu tư để đạt được kết quả Ki
- Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội
Kết quả đầu tư có thể là những kết quả có giá trị về kinh tế,
đồng thời có những kết quả phản ánh lợi ích xã hội Tuỳ thuộc vào hệ
thống những chỉ tiêu kết quả và chi phí đầu vào, hiệu quả đầu tư có
thể được nghiên cứu dưới giác độ hiệu quả kinh tế - tài chính, hiệu
quả xã hội hoặc là hiệu quả kinh tế xã hội
1.1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư
Để đánh giá được hiệu quả đầu tư cần thông qua hệ thống các
chỉ tiêu, trong đó mỗi chỉ tiêu phản ánh một nội dung của hoạt động
đầu tư
1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Kinh tế-Tài chính của
đầu tư
Việc so sánh giữa kết quả đạt được với lượng vốn đầu tư có thể
tính theo giá trị thời điểm của từng chỉ tiêu, cũng có thể so sánh theo
giá trị hiện tại ròng
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thời điểm (theo giá trị thời điểm
phân tích)
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư;
- Tỷ suất doanh thu trên vốn đầu tư;
- Thời gian hoàn vốn đầu tư;
- Số vòng quay của vốn lưu động;
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả có tính đến giá trị hiện tại ròng
- Giá trị hiện tại thuần (NPV)
- Tỷ suất thu hồi vốn nội bộ (IRR)
1.1.2.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế – x∙ hội
- Giá trị gia tăng thuần
- Tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
- Đóng góp cho ngân sách
- Tiết kiệm tăng thu ngoại tệ
- Góp phần phát triển các ngành kinh tế khác
1.2 Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1.2.1 Đặc điểm đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp
1.2.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp:
Trong sản xuất nông nghiệp đối tượng sản xuất là các cây, con nên có một số đặc điểm rất cơ bản, đó là: i/ Phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, có mức độ rủi ro cao; ii/ Sản xuất nông nghiệp có tính chất mùa vụ; iii/ Chu kỳ sản xuất dài và không giống nhau giữa các loại cây trồng vật nuôi; iv/ Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu, không thể thay thế được
1.2.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Bên cạnh những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất nông nghiệp Việt Nam có một số đặc điểm riêng, rất đáng chú ý như sau:
- Chủ thể sản xuất chủ yếu dựa trên các hộ gia đình, với quy mô sản xuất nhỏ
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nông nghiệp thường bấp bênh, không ổn định Xét quan hệ mua bán nông sản hàng hoá,
dưới góc độ người sản xuất trực tiếp (hộ nông dân) thị trường nông sản hàng hoá là thị trường của người mua Nhận thức được đặc điểm
Trang 3này sẽ giúp cho chúng ta có những giải pháp phù hợp hơn trong chính
sách quản lý vĩ mô Nếu chúng ta áp dụng các chính sách hỗ trợ như
đối với thị trường hàng hoá khác thì nhiều trường hợp sẽ không đạt
được mục tiêu mong muốn
1.2.1.3 Đặc điểm của đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
Những đặc điểm trong quá trình sản xuất nông nghiệp đã tác
động đến hoạt động đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và tạo cho hoạt
động này có những đặc điểm riêng so với hoạt động đầu tư trong các
ngành kinh tế khác, cụ thể:
- Có thời gian thu hồi vốn dài và có hiệu quả về tài chính thấp
so với hoạt động đầu tư trong các ngành khác Do đặc điểm này nên
sản xuất nông nghiệp có sức hấp dẫn đầu tư thấp hơn so với các
ngành kinh tế khác Đây là đặc điểm cần quan tâm khi đưa ra những
giải pháp thu hút vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp
- Phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
đầu tư Hay nói cách khác, hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp chỉ đạt
được hiệu quả thực sự khi được tiến hành đầu tư đồng bộ với các lĩnh
vực khác
- Đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp thường có hiệu quả kinh tế
xã hội cao hơn so với hoạt đầu tư vào các ngành kinh tế khác
1.2.2 Hiệu quả đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh
vực nông nghiệp
1.2.2.1 Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp là sự so sánh giữa
những kết quả đạt được so với những chi phí đầu tư trong lĩnh vực
nông nghiệp để đạt được kết quả đó Hiệu quả đầu tư cho nông
nghiệp xét cho đến cùng là mức độ đạt được mục tiêu phát triển của
ngành
1.2.2.2 Nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả có thể bao gồm các hướng như: Các giải
pháp làm tăng giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng giá trị NSHH, tăng
thu nhập cho nông dân hoặc tăng số lượng công ăn việc làm cho khu
vực nông thôn Hoặc các giải pháp để tiết kiệm và sử dụng hợp lý vốn đầu tư Nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế và xã hội
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
1.2.3.1 Các yếu tố khách quan: Những rủi ro về điều kiện tự
nhiên; Rủi ro do dịch bệnh, giống cây trồng, vật nuôi; Rủi ro về thị
trường
1.2.3.2 Các yếu tố chủ quan: Mức vốn đầu tư và khả năng
khai thác vốn đầu tư; Chất lượng sản phẩm, năng suất cây trồng vật nuôi; Cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất; Trình độ quản lý vốn đầu tư; Công tác quy hoạch sản xuất vùng nói chung, cơ cấu phát triển các
ngành nói riêng
1.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
1.2.4.1 Quan điểm lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp:
Việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp dựa trên một số quan điểm như sau:
Thứ nhất: Trước hết cần quan tâm tới các chỉ tiêu kết quả (có
tính tổng hợp) của ngành đạt được nhờ các hoạt động đầu tư, như tốc
độ tăng trưởng, giá trị sản xuất, Giá trị gia tăng, giá trị xuất khẩu nông sản, thu nhập của nông dân, giải quyết công ăn việc làm, thực trạng xoá đói, giảm nghèo
Thứ hai : Đánh giá hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp chủ
yếu sử dụng những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội
Thứ ba: Nội dung và phạm vi đánh giá
Luận án tập trung đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư vào 02 ngành trồng trọt và chăn nuôi Với mục tiêu nghiên cứu để tìm ra các giải pháp quản lý vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, luận án sẽ tập trung hơn nghiên cứu, đánh giá tình hình
Trang 4quản lý, sử dụng vốn NSNN đầu tư cho nông nghiệp trong thời gian
qua
1.2.4.2 Hệ thống các chỉ tiêu và phương pháp phân tích, đánh
giá hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp
- Tỷ suất giá trị sản xuất nông nghiệp trên vốn đầu tư;
- Tỷ suất Giá trị gia tăng sản xuất nông nghiệp trên vốn đầu tư;
- Tỷ suất Tổng giá trị nông sản xuất khẩu so với vốn đầu tư;
- Các chỉ tiêu bổ trợ: Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp;Tỷ
trọng Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm
quốc nội (GDP); Đời sống dân cư nông thôn và một số chỉ tiêu khác
1.3 Một số kinh nghiệm nước ngoài về đầu tư trong
lĩnh vực nông nghiệp
1.3.1 Một số kinh nghiệm tiêu biểu
• Hầu hết các nước đều coi trọng việc đầu tư cho nông nghiệp,
đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông
nghiệp
• Bên cạnh đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, các nước
khá chú trọng đến đầu tư phát triển các ngành phi nông nghiệp (công
nghiệp, dịch vụ) có tác động trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp cũng
như kinh tế nông thôn
• Bên cạnh nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước, các nước
luôn coi trọng tín dụng là một kênh quan trọng trong hệ thống thị
trường tài chính cho khu vực nông nghiệp
• Quan tâm tới hoạt động thương mại, hỗ trợ nông dân trong
việc tiêu thụ nông sản hàng hoá
1.3.2 Những bài học rút ra
(i) Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp luôn được ưu tiên
trong chính sách đầu tư chung của mỗi quốc gia Điều này càng thể
hiện rõ hơn trong giai đoạn "Tiền CNH-HĐH" của các nước, giai
đoạn mà tiềm lực kinh tế còn hạn chế (ii) Vốn đầu tư từ NSNN đóng
vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong vai trò tạo "môi trường" thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp Bên cạnh những chủ chương, chính sách
đúng đắn trong đầu tư thì khá nhiều quốc gia châu á gặp phải vấn đề hiệu quả khai thác kết quả của đầu tư, đặc biệt là cơ sở hạ tầng (iii) Bên cạnh nguồn vốn đầu tư từ NSNN, chính sách khai thác nguồn vốn của chính quyền địa phương và từ khu vực dân cư cũng rất được coi trọng.(iv) Để khai thác tiềm năng phát triển, hầu hết các nước phải giải quyết bài toán tạo điều kiện cho các hộ nông dân tiếp cận với nguồn vốn, trong đó quan trọng nhất là nguồn vốn tín dụng
Chương 2
Đánh giá Thực trạng tình hình vμ hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 1991-2005
2.1 Thực trạng tình hình đầu tư vốn cho nông nghiệp
2.1.1 Vốn Ngân sách Nhà nước
Có thể thấy rằng, mặc dù còn khó khăn về nguồn vốn đầu tư, nhưng kể từ năm 1991 đến nay, lượng vốn đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp mỗi năm một tăng Các kênh, các hình thức đầu tư cũng dần
được đa dạng hoá
2.1.2 Vốn tín dụng
Nhờ việc kịp thời đổi mới những chính sách tín dụng, đặc biệt
là tín dụng cho nông nghiệp, trong những năm qua, vốn tín dụng ngày càng giữ vai trò quan trọng, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp
2.1.3 Vốn đầu tư của dân (hộ gia đình)
Vốn đầu tư của các hộ gia đình cho sản xuất nông nghiệp có
xu hướng ngày càng tăng Song phương thức đầu tư còn đơn điệu, chủ yếu đầu tư trực tiếp, qui mô đầu tư còn nhỏ
2.1.4 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp
Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, vai trò đầu tư của các doanh nghiệp cho nền kinh tế nói chung và cho nông nghiệp nói riêng ngày càng quan trọng, trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư chủ yếu
Trang 52.1.5 Vốn đầu tư nước ngoài
Bên cạnh các nguồn vốn trong nước, trong giai đoạn từ 1991
đến nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn viện trợ
đã có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển nông nghiệp của Việt
Nam Song so với các ngành kinh tế khác, lượng vốn đầu tư và số dự
án đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp còn khá khiêm tốn
Tóm lại: Vốn đầu tư cho nông nghiệp trong những năm qua
không ngừng tăng lên về số lượng, đa dạng về nguồn vốn và
phương thức đầu tư Bên cạnh vốn đầu tư từ NSNN, các nguồn vốn
từ hộ nông dân, đầu tư nước ngoài đ∙ và đang giữ vị trí quan trọng
2.2 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp việt nam
giai đoạn 1991-2005
2.2.1 Về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng
Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục qua các năm, đạt và
vượt chỉ tiêu tăng trưởng đề ra, góp phần quan trọng vào mức tăng
trưởng chung và giữ ổn định kinh tế xã hội
2.2.2 Về cơ cấu sản xuất
Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng
hoá với quy mô ngày càng lớn và từng bước nâng cao sức cạnh tranh
của nông sản hàng hoá
2.2.3 Cơ sở hạ tầng nông thôn và đời sống nông dân
Cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung và cơ sơ hạ tầng phục vụ
sản xuất nông nghiệp nói riêng đã được phát triển đáng kể Đặc biệt
là hệ thống thuỷ lợi, giao thông nông thôn, lưới điện
Bộ mặt nông thôn đổi mới, tình hình chính trị, xã hội và an
ninh thôn xóm được ổn định, đời sống nông dân được cải thiện Thu
nhập và mức sống dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện,
bình quân thu nhập đầu người một tháng đã tăng từ 172 ngàn đồng
năm 1995 lên 225 ngàn đồng năm 2000; tính đến năm 2005, 62% dân
số nông thôn có nước sạch sinh hoạt
2.2.4 Những điểm còn hạn chế của sản xuất nông nghiệp
- Trình độ sản xuất còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Quy mô sản xuất mạnh mún, chủ yếu dựa trên năng lực sản xuất của các hộ gia đình; Kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, năng suất cây trồng vật nuôi thấp; Mức độ rủi ro cao, nền sản xuất còn chứa đựng nhiều yếu tố không ổn định, hộ nông dân thường
bị ép cấp, ép giá khi tham gia thị trường nông sản
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm Chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp thấp: Cơ cấu sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi với lâm
nghiệp và thuỷ sản gần như không thay đổi; mất cân đối giữa các ngành, giữa các vùng đặc biệt là các ngành cung cấp nguyên liệu
đầu vào cũng như các ngành tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hàng hoá Phần lớn nông sản hàng hoá xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô hoặc chỉ qua sơ chế; chất lượng hàng xuất chưa cao, lại không
đồng đều
- Đời sống nông dân nhìn chung còn thấp Chất lượng lao
động chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá: Thu nhập của dân cư nông thôn trong những năm
vừa qua mặc dù có tăng về số tuyệt đối nhưng giảm về tương đối do tình trạng tỷ số giá cánh kéo đã làm cho khoảng cách thu nhập giữa dân thành thị và khu vực nông thôn ngày càng doãng ra; Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất ở nông thôn hiện nay có khoảng 27-28 triệu lao động nhưng mới sử dụng khoảng 78% quỹ thời gian làm việc, khoảng 1/3 quỹ thời gian lao động ở nông thôn không đủ việc làm Số người được đào tạo nghề
từ công nhân kỹ thuật sơ cấp trở lên ở nông thôn chỉ chiếm gần 10%
2.3 Đánh giá hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 1991-2005
2.3.1 Những kết quả đạt được
Như đã trình bày trong chương 1 của luận án, để đánh giá hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp chúng ta sẽ sử dụng hệ thống
Trang 6các chỉ tiêu đánh giá chung đồng thời kết hợp với đánh giá hiệu quả
của một số chương trình mục tiêu lớn
2.3.1.1 Đánh giá trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu
- Chỉ tiêu Giá trị sản xuất nông nghiệp trên vốn đầu tư
GTSX/Tổng VĐT 7,20 7,36 6,81 6,48 6,94
GTSX/ Vốn NSNN 33,11 35,18 35,97 29,31 37,08
Xét xu hướng biến động của 2 chỉ tiêu này qua giai đoạn
2001-2005 thấy rằng nếu giả sử cố định sự tác động của các yếu tố khác thì
sự tác động của vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư từ NSNN nói
riêng tới giá trị sản xuất nông nghiệp gần như không thay đổi Hay
nói cách khác, hiệu quả vốn đầu tư cho nông nghiệp giai đoạn
2001-2005 đạt ở mức ổn định, không có được sự tăng trưởng về hiệu quả
- Chỉ tiêu Giá trị gia tăng sản xuất nông nghiệp trên vốn đầu tư
GTGT/Tổng VĐT 3,55 3,33 3,14 3,01 3,15
GTGT/Vốn NSNN 16,30 15,90 16,60 13,65 16,85
Xu hướng giảm dần của các chỉ tiêu này cho thấy tác động của
đầu tư cho nông nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 đã tác động làm
tăng trưởng về quy mô giá trị gia tăng sản xuất nông nghiệp nhưng
không làm tăng được hiệu quả của sản xuất nông nghiệp
- Chỉ tiêu Giá trị xuất khẩu nông sản trên vốn đầu tư
Cả 02 chỉ tiêu Giá trị xuất khẩu nông sản trên Tổng vốn đầu tư
cho nông nghiệp và chỉ tiêu Giá trị xuất khẩu nông sản trên vốn đầu
tư từ NSNN đều có xu hướng tăng lên Xu hướng này cho thấy hoạt
động đầu tư cho nông nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 đã có tác
động tích cực đến khả năng xuất khẩu nông sản
Tóm lại: Phân tích hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp thông qua hệ
thống các chỉ tiêu cơ bản chúng ta thấy:
Một là: Mức độ hiệu quả của đầu tư cho nông nghiệp trong giai
đoạn 2001-2005 hầu như không thay đổi, mặc dù về quy mô sản xuất ngày càng tăng và đạt được tốc độ tăng trưởng như kế hoạch đề ra
Hai là: Đầu tư cho nông nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 đã
không làm tăng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, giá trị gia tăng
của sản xuất nông nghiệp tăng về quy mô nhưng lại có xu hướng giảm về tỷ trọng trên tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp
Ba là: Đầu tư đã có những tác động đáng kể trong việc nâng
cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc
tế Song, tỷ lệ giá trị nông sản hàng hoá đã qua chế biến trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu còn rất thấp Thể hiện sự gắn kết lỏng lẻo trong chiến lược phát triển giữa các ngành, chưa có được sự hỗ trợ, bổ sung trong một chiến lược phát triển kinh tế tổng thể Chính điều này
đã làm giảm đáng kể hiệu quả kinh tế xã hội
2.3.1.2 Đánh giá hiệu quả đầu tư của một số chương trình,
dự án
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả theo hệ thống chỉ tiêu, luận án
đã lựa chọn, đánh giá hiệu quả một số chương trình, dự án lớn có liên quan tới nông nghiệp như: Chương trình 135; Dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng; Chương trình giống cây trồng, vật nuôi; Chương trình hỗ trợ
đầu tư CSHT phát triển nuôi trồng thuỷ sản
2.3.2 Một số những hạn chế
Qua phân tích thực trạng hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp trong giai đoạn 1999-2005, rút ra một số hạn chế sau:
Một là: Mức độ hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp có dấu hiệu
chững lại và có xu hướng giảm
Hai là: Đánh giá theo từng chương trình dự án, hiệu quả đầu tư
đạt được không như nhau Có những chương trình đạt kết quả tốt (như chương trình xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) nhưng có những chương trình chưa đạt kết quả như mong muốn (như chương trình 135; chương trình giống cây trồng )
Trang 7Ba là: Hoạt động đầu tư đã góp phần thúc đẩy nền sản xuất
nông nghiệp phát triển, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, song về cơ
bản nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn chứa đựng nhiều
nguy cơ, thách thức trong giai đoạn phát triển tới đây
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác đầu tư
2.3.3.1 Những nguyên nhân trong công tác đầu tư
- Mức vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với
yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tiến bộ
- Chưa khai thác tốt các nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp
- Xây dựng kế hoạch và cơ cấu đầu tư chưa hợp lý Vốn đầu tư
tập trung chủ yếu vào các khâu sản xuất sản phẩm, chưa coi trọng các
khâu giải quyết đầu ra của sản phẩm
- Quản lý hoạt động đầu tư kém hiệu quả
2.3.3.2 Những nguyên nhân thuộc các lĩnh vực khác
- Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội không đảm bảo chất lượng, còn mang nặng tính chủ quan và cục
bộ
- Còn thiếu lực lượng cán bộ có năng lực, dẫn đến việc triển
khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước còn kém hiệu quả
- Thiếu sự đồng bộ trong thực hiện các chủ trương chính sách
của Nhà nước
Tóm lại: Hoạt động đầu tư cho nông nghiệp trong thời gian
qua đã đạt được nhiều kết quả, đảm bảo thực hiện được các chỉ tiêu vĩ
mô cơ bản Song, hiệu quả đầu tư gần như không có sự thay đổi xét
trên tổng thể vĩ mô Trong hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế, kể từ
khâu khai thác nguồn vốn đầu tư, xây dựng chiến lược đầu tư, phân
bổ vốn đầu tư, quản lý và triển khai thực hiện vốn đầu tư cho từng dự
án và cả trong việc ban hành các văn bản quản lý hoạt động đầu tư
Có thể tóm lại những hạn chế trong hoạt động đầu tư cho nông nghiệp
thời gian qua là: "Chưa đủ, chưa đúng, chưa đạt"
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2020
3.1 Định hướng phát triển nông nghiệp đến 2020
3.1.1 Những tiềm năng, thuận lợi và khó khăn đặt ra
Những thuận lợi: Nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay có một số thuận lợi cơ bản như: Có quỹ đất khá lớn, đa dạng về địa chất,
khí hậu; Năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp tạo cơ hội tăng năng suất; Lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào; khả năng thuận lợi
trong việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến của cac nước Những khó khăn: Sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá thấp, khả
năng tiêu thụ nông sản khó khăn đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế; Trình độ phát triển kinh tế nông thôn còn lạc hậu; Công tác quản lý, tổ chức thực hiện các cơ chế chính sách còn yếu, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ Trình độ dân trí còn thấp, đặc biệt là các khu vực vùng sâu, vùng xa Việc truyền đạo, mê tín dị đoan vẫn tồn tại và
có xu hướng tăng lên
3.1.2 Định hướng phát triển nông nghiệp đến 2020
Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển nông nghiệp đến
2010 là: Xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá mạnh và kinh tế nông thôn phát triển đa dạng, bền vững và hiệu quả cao Phát triển cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với
đô thị hoá; tiếp tục phát triển nông nghiệp, đồng thời đẩy nhanh tốc
độ phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo đủ việc làm cho người lao
động, không còn đói, nghèo, tiến tới cuộc sống no đủ, sung túc, xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh
Mục tiêu này sẽ tiếp tục được khẳng định trong giai đoạn tới Tại báo cáo "Phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010" của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX trình
Đại hội X của Đảng có nêu rõ: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông
Trang 8nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá
đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và
khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và
tạo điều kiện để hình thành nền nông nghiệp sạch "
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh
vực nông nghiệp đến năm 2010 và định hướng năm 2020
3.2.1 Một số quan điểm về hiệu quả, nhu cầu và định hướng
đầu tư cho nông nghiệp trong thời gian tới
Một là: Hiệu quả đầu tư phải gắn với các mục tiêu đặt ra
trong định hướng phát triển của ngành
Bên cạnh những chỉ tiêu về kinh tế, tài chính, chúng ta cần
hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao trong xu
hướng hội nhập ngày càng sâu hơn với quốc tế, đồng thời đảm bảo
các mục tiêu về an ninh lương thực và các mục tiêu về môi trường
sinh thái Vì vậy, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho
nông nghiệp thời gian tới trước hết phải tập trung giải quyết những
hạn chế, thách thức đang đặt ra của sản xuất nông nghiệp, và đặc biệt
là những vấn đề có ý nghĩa kinh tế xã hội như: Đời sống của dân cư
khu vực nông thôn; thu nhập của nông dân; điều kiện kinh tế xã hội
khu vực nông thôn chính những yếu tố này tạo nên một nền sản
xuất nông nghiệp bền vững
Quan điểm này chính là cơ sở xuất phát điểm của các quan
điểm tiếp theo được trình bày sau đây:
Hai là: Cần phải tăng vốn đầu tư cho nông nghiệp, đặc biệt
là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, bởi vì: Nông nghiệp, nông
thôn luôn giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế và sự ổn
định về chính trị của đất nước Bên cạnh đó, để đảm bảo phát triển
sản xuất nông nghiệp đạt được mục tiêu đề ra, nhu cầu đầu tư phát
triển hệ thống hạ tầng cơ sở rất lớn Vì vậy, tăng cường đầu tư vốn
NSNN cho nông nghiệp trong những năm tới là yêu cầu tất yếu
Ba là: Thực hiện huy động đa dạng các nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp: Động viên, khai thác hơn nữa các nguồn vốn đầu
tư ngoài NSNN Để đạt được hiệu quả cần định hướng rõ lĩnh vực đầu tư cho từng nguồn vốn, có chính sách khuyến khích phù hợp
Bốn là: Cần quan tâm và làm tốt công tác xác định cơ cấu
đầu tư hợp lý Trong những năm tiếp theo cần tập trung vốn đầu tư vào khâu tiêu thụ nông sản hàng hoá, và về lâu dài tăng dần tỷ trọng vốn đầu tư cho khâu sản xuất Với thực trạng của Việt Nam
hiện nay, các nhà sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những hộ nông dân hiện đang bị thị trường chi phối Các hộ sản xuất nông nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ, do đó họ rất dễ bị "tổn thương" trước những rủi
ro, đặc biệt là rủi ro thị trường Bên cạnh đó, kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, vai trò của Nhà nước can thiệp vào thị trường là rất quan trọng, tạo tiền đề cho sản xuất nông nghiệp phát triển và tích luỹ
Năm là: Để đầu tư cho nông nghiệp đạt được hiệu quả cần
đảm bảo sự đồng bộ với chính sách đầu tư của các ngành khác, đặc
biệt là các ngành có vai trò nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp như công nghiệp chế biến, công nghệ lai tạo giống
3.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp đến 2020
Luận án đưa ra hệ thống các giải pháp tác động chủ yếu đến: Huy động vốn đầu tư; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; và các giải pháp đảm bảo tính đồng bộ trong đầu tư
3.2.2.1 Các giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp
Huy động vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau theo hướng: Huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển nông nghiệp Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và cá nhân (trong và ngoài nước) bỏ vốn đầu tư và sản xuất nông nghiệp; Phát triển hình
Trang 9thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Tạo mọi điều kiện để khuyến
khích phát triển các mô hình sản xuất theo dạng Trang trại và Hợp tác
xã Bên cạnh đó nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa bàn
nông thôn, tạo thuận lợi cho nông dân tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn
tín dụng
3.2.2.2 Điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp trong
những năm tới theo thứ tự ưu tiên sau:
Một là: Tập trung giải quyết các vấn đề trong khâu thị trường
tiêu thụ nông sản hàng hoá
Các giải pháp phải đạt được mục tiêu đảm bảo quyền lợi của
nông dân khi tham gia thị trường Để đạt được mục tiêu đó, phải tạo
cho người nông dân thế chủ động khi tham gia thị trường, họ có thể tự
quyết định giá bán, thời gian bán, số lượng bán có nghĩa là làm
giảm các yếu tố buộc người nông dân phải bán ngay sản phẩm của
mình sau khi thu hoạch
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, xin đưa ra giải pháp: Đầu
tư phát triển hệ thống "Doanh nghiệp kinh doanh nông sản tổng
hợp" Thành lập hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh nông sản
tổng hợp tại các địa phương, đặc biệt chú ý tới các vùng chuyên canh
và chủ yếu thực hiện cho những sản phẩm từ cây trồng như Gạo, Cà
phê, chè, hồ tiêu Chức năng của các doanh nghiệp này là: tổ chức
hoạt động mua bán NSHH; Tổ chức công tác bảo quản, dự trữ NSHH
theo nhu cầu của khách hàng hoặc theo yêu cầu của Nhà nước; kinh
doanh NSHH và cho vay hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Phương thức
hoạt động: Đến mùa thu hoạch, nông dân sau khi thu hoạch sản phẩm
của mình có thể đưa đến bán hoặc ký gửi tại doanh nghiệp nếu thấy
giá bán tại thời điểm đó chưa phù hợp (thường vào mùa thu hoạch giá
nông sản xuống rất thấp) Trên cơ sở giá trị của lượng nông sản ký
gửi (lượng giá trị này sẽ được tính trên mức giá tối thiểu do Nhà nước
quy định cho loại nông sản đó vào từng thời gian nhất định), doanh
nghiệp có thể cho nông dân vay một số vốn nhất định để đáp ứng nhu
cầu vốn tái đầu tư sản xuất vụ tiếp theo Người nông dân có quyền lựa
chọn quyết định bán số nông sản của mình gửi ở doanh nghiệp bất cứ lúc nào mà họ cho là có lợi nhất
- Tác dụng của giải pháp: Người nông dân thực sự chủ động
trong việc tham gia thị trường, từng bước thoát khỏi cảnh bị tư thương
ép cấp, ép giá, giảm thiểu những tổn thất, thiệt hại cho người nông dân; là điều kiện để Chính phủ có thể thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân một cách có hiệu quả, đặc biệt là các giải pháp tài chính; Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trong nông nghiệp nông thôn; Tạo điều kiện cho nông dân tiếp xúc với thông tin về thị trường NSHH
Hai là: Đầu tư cho công tác nghiên cứu thị trường Phải quan
tâm tới thị trưởng cả trong và ngoài nước; tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thông tin về thị trường nông sản trên cơ sở đầu mối trung tâm thông tin của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ba là: Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, theo nguyên tắc:trước
hết phát huy tối đa công suất vận hành của các công trình đang khai thác, tiếp đến đầu tư mới tại các vùng có chọn lọc
Bốn là: Đầu tư cho công nghệ sinh học Đầu tư phát triển các
trung tâm nghiên cứu giống; chú ý tăng đầu tư cho khâu nuôi trồng thử nghiệm
3.2.2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
3.2.2.3.1 Hoàn thiện cơ chế đầu tư phát triển các loại cơ
sở hạ tầng nông thôn: i/Xây dựng cơ chế hợp tác về trách nhiệm và
lợi ích giữa các thành phần kinh tế trong xây dựng và trong quản lý,
sử dụng các công trình hạ tầng ở nông thôn Đẩy mạnh xã hội hoá việc quản lý sử dụng công trình hạ tầng các loại cho từng cộng đồng dân cư nông thôn Nhà nước chỉ kiểm tra giám sát việc thực thi quản
lý, sử dụng công trình hạ tầng của từng cộng đồng, không can thiệp sâu vào quá trình khai thác, sử dụng ii/ Khuyến khích, mở rộng hình thức đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và
đời sống có thu phí ở khu vực nông thôn áp dụng chính sách miễn thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất dùng vào xây dựng các công
Trang 10trình này iii/ Đổi mới quy trình lựa chọn các hạng mục công trình cơ
sở hạ tầng để tránh tình trạng sau khi đầu tư không khai thác sử dụng
được do không phù hợp với yêu cầu thực tế Bên cạnh đó, đổi mới
hình thức đầu tư 100% vốn NSNN sang hình thức nhà nước và nhân
dân cùng làm, theo đó sẽ gắn trách nhiệm của người dân địa phương
trong quá trình đầu tư xây dựng cũng như trong quá trình khai thác
công trình đầu tư sau này
3.2.2.3.2 Nâng cao chất lượng sử dụng vốn thuộc các
chương trình, dự án trọng điểm quốc gia: i/ Rà soát, đánh giá tình
hình thực hiện và hiệu quả của các chương trình, dự án đã và đang
triển khai Trên cơ sở đó có các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực
hiện, đồng thời có thể điều chỉnh giảm bớt mục tiêu, quy mô của
chương trình, dự án nếu thấy cần thiết, thậm chí có thể chấm dứt sớm
để tập trung nguồn lực cho một số ít chương trình, dự án có hiệu quả
cao ii/ Tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát trong quá trình
triển khai thực hiện, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực, giảm
thiểu tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư iii/ Sớm rà soát lại các
định mức đầu tư trong mỗi chương trình cụ thể Nếu chưa đủ thì cần
sớm điều chỉnh, cần thiết có thể tăng kinh phí cho chương trình hoặc
thu hẹp quy mô của chương trình
3.2.2.3.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ: Quan tâm đầu tư công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
bao gồm: Nhóm cán bộ có liên quan tới công tác quản lý, phân bổ và
trực tiếp triển khai thực hiện đầu tư và nhóm những người trực tiếp sử
dụng, khai thác các công trình sau đầu tư
3.3 Các điều kiện cần thiết nhằm thực hiện tốt các giải
pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực nông
nghiệp
3.3.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch
- Sớm ban hành văn bản về quản lý Nhà nước đối với công tác
quy hoạch, có thể là Nghị định về quản lý quy hoạch Trong đó cần
quy định rõ tính pháp lý đối với "quy hoạch cứng"
- Đổi mới nội dung và phương pháp lập quy hoạch trên cơ sở nâng cao chất lượng công tác dự báo Đảm bảo quy hoạch là văn bản
định hướng cho đầu tư và kinh doanh của mọi thành phần kinh tế Có
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, duyệt và quản lý quy hoạch của các Bộ, ngành và các địa phương
- Đảm bảo tính công khai của quy hoạch, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cộng đồng đối với công tác triển khai thực hiện quy hoạch
3.3.2 Ban hành đồng bộ các chính sách có liên quan
3.3.2.1 Chính sách đất đai
+ Về quy hoạch: Nên quy hoạch cứng đối với diện tích đất sử dụng vào xây dựng cơ sở hạ tầng (như thuỷ lợi, giao thông, ) và quy hoạch mềm đối với diện tích đất, mặt nước được sử dụng và sản xuất nông nghiệp lâu dài Như vậy sẽ đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cây trồng vật nuôi phù hợp với yêu cầu thị trường
+ Về chính sách giao đất: Trước mắt vẫn áp dụng chính sách giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất đối với các hộ gia
đình, cộng đồng dân cư cấp thôn, bản, làng sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Tiến tới nghiên cứu chuyển sang chính sách cho thuê
đất như đối với các tổ chức kinh tế, theo các mức giá thuê khác nhau, tuỳ theo khu vực Thời gian sử dụng cần được sớm quy định và nên trong thời gian dài để khuyến khích các chủ thể đầu tư, cải tạo để khai thác lâu dài
+Về hạn mức sử dụng: Đối với đất giao thì có thể vẫn áp dụng hạn mức như hiện tại Thực hiện thu tiền thuê đất đối với diện tích vượt hạn mức Để khuyến khích phát triển sản xuất nông sản với quy
mô lớn, đề nghị đối với đất thuê lại hoặc nhận chuyển nhượng để sản xuất nông nghiệp thì không quy định hạn mức, phụ thuộc vào quy mô của dự án đầu tư