1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC TỶ GIÁ ĐẾN GIÁ NHẬP KHẨU VÀ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

62 533 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đo Lường Mức Độ Truyền Dẫn Cú Sốc Tỷ Giá Đến Giá Nhập Khẩu Và Giá Tiêu Dùng Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC TỶ GIÁ ĐẾN GIÁ NHẬP KHẨU VÀ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

Trang 1

Tóm lƣợc

Hầu hết các tài liệu nghiên cứu trước đây về mô hình ERPT( hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá cả - exchange rate passthrough) đều cho thấy đây là một công cụ rất quan trọng trong việc xem xét thực hiện các chính sách tiền tệ, đặc biệt là để đối phó lại với cú sốc tỷ giá hối đoái Bài viết này cũng sẽ (1) đo lường mức độ và thời gian của ERPT( exchange rate pass-through), (2) đánh giá tác động của thay đổi của tỷ giá hối đoái đến lạm phát, và (3) kiến nghị chính sách thích hợp từ những kết quả nhận được bằng cách sử dụng các kiểm định khác nhau bao gồm Dickey-Fuller Augmented, Hodrick và Prescott, kiểm định sự phù hợp của mô hình và hai thuộc tính của mô hình Var là phản ứng xung lực và phân tách Var Kết quả cho thấy rằng hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá nhập khẩu lẫn giá tiêu dùng đều dương khi có một cú sốc tỷ giá xảy ra,

và ERPT của CPI thì thấp hơn nhiều so với IMP Cụ thể, trong ngắn hạn, hệ số ERPT đến giá nhập khẩu là khá cao, 0.912 trong vòng một năm, và giảm còn 0.727 trong năm thứ hai Riêng với ERPT của CPI thì thấp hơn nhiều so với IMP, nhưng cũng khá cao, ở mức 0.112 trong vòng mười hai tháng đầu, và giảm còn 0.094 trong vòng hai mươi bốn tháng Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu với kết quả của VoVan Minh (2009) với hệ số ERPT đến CPI là 0.08, với IMP là 0.61 trong khoảng thời gian 1 năm đầu kể từ khi xảy

ra cú sốc phá giá, và của Nguyễn Phi Lân (2010) thì khả năng giải thích của tỷ giá đối với lạm phát là khá ít, 5% sau 12 tháng và 8% sau 24 tháng Nghiên cứu cũng thấy rằng lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm gần đây chủ yếu là sự biến động của tỷ giá, của lãi suất, và do biến động của giá dầu

Trang 2

1) Giới thiệu

Tỷ giá hối đoái là một trong những biến số quan trọng của nền kinh tế Tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau như thương mại, giá cả và ngân sách Một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất của nó là tác động đến lạm phát Do đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát luôn là trọng tâm của các bài nghiên cứu Theo đó, các bài nghiên cứu tập trung trả lời cho câu hỏi tỷ giá ảnh hưởng như thế nào đến giá cả, hay yếu tố nào là nhân tố chính gây nên lạm phát trong thời kỳ này Các bài nghiên cứu xoay quanh việc đo lường mức độ truyền dẫn

cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước như thế nào thông qua hệ số ERPT

ERPT được định nghĩa là phần trăm thay đổi trong gia cả của nước nhập khẩu tính bằng nội tệ khi một phần trăm thay đổi trong tỷ giá giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu (Goldberg & Knetter 1996)

Nền kinh tế đối mặt với hiệu ứng truyền dẫn hoàn toàn khi có 1% phản ứng của giá cả đối với 1% cú sốc tỷ giá xảy ra Và ngược lại là hiệu ứng truyền dẫn không hoàn toàn khi có ít hơn 1% thay đổi trong giá cả Thực tế cho thấy rằng hiệu ứng truyền dẫn thì không hoàn toàn như trong nghiên cứu của Campa & Goldberg ( 2001)

Tầm quan trọng của ERPT đã được đề cập khá nhiều ở nhiều bài nghiên cứu trước

ở một số nước Nhìn chung ERPT có hai vai trò chính là giúp dự báo khả năng lạm phát

và ngụ ý trong điều hành chính sách tiền tệ, cái mà bất kỳ Ngân Hàng Trung Ương nào cũng cần trong việc điều hành chính sách tiền tệ của mình Hiểu biết và đánh giá tốt ERPT ngân hàng trung ương có thể hiểu được ảnh hưởng, mức độ, thời gian của cú sốc tỷ giá đến lạm phát Do đó, ngân hàng trung ương, đặc biệt là trong giai đoạn kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu, có thể đáp ứng kịp thời các cú sốc với chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu Một mức độ ERPT thấp ngụ ý chi phí chuyển đổi trong chính sách tiền tệ trong nước thì thấp và chính sách tiền tệ thì hiệu quả khi đối phó với những

cú sốc thực Do đó Ngân Hàng Trung Ương ít quan tâm đến vấn đề tỷ giá hơn để tập trung cho các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế hay gia tăng khả năng cạnh tranh

Trang 3

xuất khẩu Mặt khác chính sách tiền tệ sẽ bị ảnh hưởng khi mức độ ERPT cao khi quốc gia đó theo đuổi mục tiêu ổn định chính sách tiền tệ ( Campa& Goldberg 2002) Do đó nó thì quan trọng để biết và hiểu mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá cả và cú sốc được truyền dẫn với những mức độ khác nhau đến nền kinh tế

Như ta biết, tỷ giá là một trong những kênh truyền tải của chính sách tiền tệ, truyền dẫn tác động từ các công cụ đến mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ, trong

đó, quan trọng nhất là mục tiêu ổn định giá cả Và điều này thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:

Nguồn: ThS Nguyễn Huyền Diệu

Thông qua hình vẽ trên, ta có thể thấy được vai trò của tỷ giá trong quá trình truyền tải tác động của chính sách tiền tệ Bằng kênh truyền dẫn trực tiếp thông qua giá nhập khẩu hay kênh truyền dẫn gián tiếp tác động lên tổng cầu cuối cùng tỷ giá tác động lên lạm phát

Theo Sahminan ( 2002) và An ( 2006) tỷ giá hối đoái được truyền dẫn đến giá cả trong nước qua ba kênh: giá tiêu dùng nhập khẩu, giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu và giá hàng hóa trong nước khi tính bằng đồng tiền nước ngoài Để hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của tỷ giá đến giá hàng hóa trong nước như thế nào, ta có thể sử dụng biểu đồ mô tả

Trang 4

của Lafleche (1996), thông qua đó, một sự giảm tỷ giá có thể tác động đến giá trong nước của một quốc gia (lưu ý ở đây, tỷ giá được tính theo phương pháp gián tiếp, số đơn vị ngoại tệ trên 1 đơn vị nội tệ)

Biểu đồ mô tả của Lafleche (1996)

Có tối thiểu ba kênh mà thông qua đó, giá tiêu dùng thích ứng với những thay đổi của tỷ giá danh nghĩa: trực tiếp, gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hiệu ứng trực tiếp: Chuỗi hiệu ứng trực tiếp bao gồm thay đổi trực tiếp giá cả các hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỷ giá Obstefeld và Rogoff (2000) và các tác giả khác đã chứng minh rằng, giá cả các hàng hóa nhập khẩu có mức độ nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của tỷ giá so với giá cả hàng tiêu dùng nói chung

Trang 5

Hiệu ứng gián tiếp: Chuỗi hiệu ứng gián tiếp dựa trên giả thuyết về sự thay thế lẫn nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa và trên thị trường nước ngoài

Hiệu ứng FDI: Thí dụ đơn giản như một sự giảm giá của VND có thể làm giảm đi nhu cầu đối với hàng nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu và đồng thời cũng làm cho tiền lương danh nghĩa giảm đi tính bằng ngoại tệ Điều này, ảnh hưởng tương đối đến các nhà xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam, khi phải lực chọn một trong hai tình huống, đó là có thể bị mất thị phần thị trường xuất khẩu của mình, hoặc là phải bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất mới ở Việt Nam, nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về tiền lương và nguồn nhân công dồi dào Chính điều này, đã thúc đẩy nhiều tập đoàn đã mở chi nhánh và dịch chuyển cơ sở sản xuất vào Việt Nam( FDI flows) Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương Đến lượt mình, điều này đã đẩy giá tăng lên

Trong những năm gần đây, theo số liệu thống kê cho thấy rằng Việt Nam đã và đang đối mặt với lạm phát cao, khi mà chỉ số CPI cao lên theo từng ngày, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 Điều này, thể hiện rõ qua biều sau:

0 50 100 150 200 250

Trang 6

Theo thống kê cho biết được, Việt Nam đã rơi vào một tình trạng tỷ lệ lạm phát ngày càng tăng, và tăng ở mức hai con số, cùng với sự mất giá đáng kể của Việt Nam đồng, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế- xã hôi, và mục tiêu kiểm soát lạm phát được đặt ra là mục tiêu hàng đầu Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Bùi Quang Vinh nhấn mạnh khi chủ trì cuộc thảo luận về Dự thảo Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 : “Phải đưa kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 Người dân hiện rất quan tâm vấn đề này” Vì vậy, thực sự rất quan trọng để có một nghiên cứu thực nghiệm của hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đên giá đối với Việt Nam Đồng thời, theo An (2006) thì nghiên cứu ERPT là cực kì quan trọng, vì những lý do sau:

Thứ nhất là các thông tin về mức độ và thời gian của ERPT là rất cần thiết cho việc đánh giá đúng đắn của kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ đến giá cả cũng như lạm phát

Thứ hai, việc áp dụng lạm phát mục tiêu cũng cần phải có kiến thức về quy mô và tốc độ của tỷ giá hối truyền dẫn vào lạm phát

Từ những yêu cầu trên, bài nghiên cứu này sẽ đi sâu tìm hiểu xem hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá cả tác động như thế nào đến biến động giá cả CPI của Việt Nam và

sẽ cố gắng để khắc phục một số hạn chế trong các nghiên cứu trước đó về chuỗi thời gian cũng như hạn chế về số liệu.Và cụ thể, mục tiêu bài viết này là:

Mục tiêu đầu tiên của bài nghiên cứu này là để đánh giá phản ứng của mức giá khác nhau (IMP,CPI) đối với một cú sốc tỷ giá hối đoái tại Việt Nam Chúng tôi sử dụng

dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 5 năm 2011 để kiểm tra mức độ hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá trong cả ngắn hạn và dài han Kết quả thực nghiệm cho

ta thấy rằng mối quan hệ giữa tỷ giá với giá nhập khẩu (IMP) và giá tiêu dùng có mối tương quan dương trong ngắn hạn lẫn dài hạn

Trang 7

Mục tiêu thứ hai là ta sẽ tiến hành phân tích sự biến động của CPI là do những yếu

tố nào quyết định, nghĩa là biết được yếu tố nào đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thay đổi của CPI

Mục tiêu thứ ba là xem xét liệu việc thay đổi biến trong mô hình có làm thay đổi kết quả hay không, từ đó lựa chọn mô hình phù hợp

Và mục tiêu cuối cùng là thông qua kết quả thực nghiệm nghiên cứu được, ta sẽ tiến hành đề xuất một vài kiến nghị để có thể phần nào giải quyết tình trạng lạm phát hiện nay

Ngoài phần mở đầu và kết luận và kiến nghị chính sách thì kết cấu của bài nghiên cứu được chia làm:

1 : Tổng quan những bài nghiên cứu trước

2: Phương pháp nghiên cứu

3: Nội dung các kiểm định

4: Kết quả nghiên cứu

5: So sánh và lựa chọn mô hình

6: Kết luận và kiến nghị

2) Tổng hợp các bài nghiên cứu trước đây

Nghiên cứu ban đầu về ERPT được thực hiện bằng cách ước tính độ co giãn của cung và cầu xuất nhập khẩu trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, phương pháp đo lường này gặp phải rất nhiều vấn đề lớn Phương pháp này không hề xét đến thời gian,

và cũng bỏ qua một số yếu tố quan trọng khác nữa Gần đây, rất nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp bằng chứng thống kê rằng việc truyền tải của tỷ giá hối đoái là không hoàn toàn tại các mức giá khác nhau Điều này có thể là do cơ cấu thị trường (cạnh

Trang 8

hưởng của các rào cản thương mại,… Kết quả là, ERPT của tỷ giá hối đoái có xu

hướng thay đổi đáng kể trên một phạm vi rộng của các nước và các ngành công nghiệp

Taylor(2000) lần đầu tiên xác định sự suy giảm trong ERPT là do môi trường lạm phát thấp bằng cách sử dụng một mô hình kinh tế hoàn toàn phù hợp với mô hình kinh tế

vi mô để minh họa làm thế nào một sự thay đổi mạnh của giá ảnh hưởng đến sản lượng

và lạm phát, và kết quả cho thấy rằng lạm phát thấp dẫn đến ERPT thấp

Một nghiên cứu thứ hai của Choudhri và Hakura ( 2001) đã thử nghiệm các giả thuyết được đề xuất bởi Taylor (2000).Một cơ sở dữ liệu lớn từ năm 1979-2000 cho 71 nước được sử dụng để ước tính mối quan hệ giữa ERPT và tỷ lệ lạm phát trung bình giữa các quốc gia Nghiên cứu ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ dương và có ý nghĩa giữa tỷ

lệ lạm phát và ERPT qua ước lượng Vì vậy, kết quả này là rất quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế các quy tắc chính sách tiền tệ

Campa và Goldberg (2002) nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá vào giá nhập khẩu của 25 nước OECD Họ sử dụng dữ liệu hàng quý 1975-1999 ước tính độ

co giãn của ERPT Họ cung cấp dữ liệu cụ thể về ngành công nghiệp vật liệu PCP hoặc LCP nhập khẩu Trong ngắn hạn, ERPT là không hoàn toàn với cả PCP và LCP Về lâu dài,mức độ của ERPT là gần một Mặc dù các biến kinh tế vĩ mô như lạm phát và tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhưng có vai trò hạn chế trong việc giải thích mức độ tác động hoàn toàn của ERPT

Hơn nữa, Campa, Goldberg, và Gonzalez-Minguez (2005) trình bày một phân tích thực nghiệm của hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá vào giá nhập khẩu giữa các nước châu

Âu và những bài khác trong vòng mười lăm năm qua Họ kiểm tra các thay đổi cấu trúc trong việc truyền dẫn của sự thay đổi tỷ giá hối đoái Kết quả của họ cho thấy trung bình ERPT vào giá nhập khẩu thì cao trong ngắn hạn, khoảng 66% Về lâu dài, hiệu ứng trung chuyển tỷ giá đến giá cao hơn so với ngắn hạn, khoảng 80% Không có bằng chứng thống kê thuyết phục nào có thể phá vỡ cấu trúc trong việc truyền tải này, ngoại trừ trong trường hợp của một số ngành công nghiệp chế tạo

Trang 9

Ito, Sasaki, và Sato (2005) xem xét tác động ERPT đến giá trong nước giữa các nước Đông Á bằng cách sử dụng phương trình mẫu theo quy ước và phân tích VAR Họ xác định những cú sốc về cấu trúc , và kiểm tra mỗi cú sốc đến giá trong nước Phân tích cho thấy giá nhập khẩu phản ứng nhiều nhất với sự thay đổi của tỷ giá, tiếp đến là giá cả sản xuất(PPI), và cuối cùng, chỉ số giá tiêu dùng bị ảnh hưởng ít nhất Các kết quả vẫn còn phù hợp với nghiên cứu trước đây như McCarthy (2000) và Hahn (2003) điều tra hệ

số ERPT đến các loại giá khác nhau ở các nước phát triển Mc Carthy và Hahn cố gắng

để kết hợp cả ba biến giá cả (giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng) trong mô hình VAR Tuy nhiên Ito, Sasaki và Sato (2005) chỉ sử dụng một biến giá trong các mô hình VAR Năm biến nội sinh trong mô hình VAR bao gồm giá dầu, nguồn cung tiền, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, hố cách sản lượng và giá cả trong nước Nhìn chung, kết quả của

họ cho thấy rằng mức độ ERPT của tỷ giá đến giá nhập khẩu là khá cao và chỉ số giá tiêu dùng thì chỉ ở mức thấp

Gần đây, Ca 'Zorzi, Hahn và Sánchez (2007) kiểm tra mức độ của hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đên giá đến giá bằng cách sử dụng mô hình VAR trong 12 thị trường mới nổi ở châu Á, châu Mỹ Latin, Trung và Đông Âu Mô hình sử dụng dữ liệu quý từ năm 1975 đến 2004 Mô hình cơ bản bao gồm sáu biến chỉ số giá dầu, outputgap, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất ngắn hạn Kết quả chính của phân tích xung lực là mức độ ERPT có tỷ lệ cao hơn đối với giá nhập khẩu, thấp hơn

so với giá tiêu dùng

Tại châu Á, hệ số ERPT đến chỉ số giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp sau bốn và tám quý Tại Nhật Bản, ERPT đển chỉ số giá tiêu dùng được tìm thấy là rất nhỏ sau bốn và tám quý

Đối với Hoa Kỳ, thì ERPT là rất thấp ở cả về giá nhập khẩu và giá tiêu dùng Ngoài ra, kết quả chứng minh rằng ERPT vào cả hai giá nhập khẩu và giá tiêu dùng của các nước thị trường mới nổi lúc nào cũng cao hơn so với các nước phát triển bằng cách so sánh ERPT qua dự báo trước cho nền kinh tế mới nổi Nghiên cứu

Trang 10

cũng tìm thấy bằng chứng của một mối tương quan dương giữa ERPT và lạm phát Hầu hết các nước dường như đều dựa vào giả thuyết của Taylor loại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina, là hai nước có siêu lạm phát nhưng tỷ lệ ERPT lại rất thấp Cuối cùng, nghiên cứu ước tính các mối quan hệ giữa mức độ mở và ERPT Và nó chỉ tìm thấy bằng chứng khá yếu của một mối quan hệ dương có ý nghĩa thống kê giữa chúng

Tóm lại, ta thấy rằng các nghiên cứu trên hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá có thể được phân chia thành ba loại:

vào giá nhập khẩu cho các ngành công nghiệp cụ thề (ví dụ, Feimberg, năm 1989 và Goldberg 1995)

khẩu tổng hợp (ví dụ như Hooper và Mann- 1989, và Campa và Goldberg – 2002)

nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng ( ví dụ McCarthy, 2000; papell, 1994; Heng, 1999; Kim, 1998)

Nhìn chung, thông qua những bài trước đó có thể kết luận rằng mức độ ERPT là khác nhau giữa các nước và các ngành công nghiệp Hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá không hoàn toàn vào giá nhập khẩu là phổ biến trong ngắn hạn và nó sẽ cao hơn

và gần bằng một trong dài hạn ERPT đến giá nhập khẩu thì nhanh hơn nhiều hơn so với chỉ số giá tiêu dùng Hơn nữa, có bằng chứng mạnh mẽ thống kê rằng nhiều nước và các ngành công nghiệp đã nghiên cứu ERPT trong vòng ba thập kỷ qua Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nước phát triển hoặc nền kinh tế lớn mà rất hiếm bài nghiên cứu về vấn đề này ở các nước đang phát triển của châu Á

Riêng với Việt Nam, viêc nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến đến các mức giá cũng rất hiếm, chỉ có một vài bài nghiên cứu vì gặp rất nhiều hạn chế trong chuỗi số liệu cũng như khó khăn trong việc đưa một vài biến vĩ mô khác vào phương trình như bài nghiên cứu của Nguyen Thi Cam Nhung (2007), Nguyen Thuy Vinh

Trang 11

(2007), VoVan Minh (2009) trong nghiên cứu về tác động ERPT tại Việt Nam với chuỗi

số liệu tháng từ 1/2001 đến 2/2007 cũng chứng minh được việc phá giá đồng Việt Nam tạo ra tác động không hoàn hảo lên giá nhập khẩu và lạm phát CPI, tuy nhiên, mức độ tác động không lớn, khoảng 8% thay đổi của tỷ giá được truyền vào giá tiêu dùng trong khoảng thời gian 1 năm đầu kể từ khi xảy ra cú sốc phá giá Và đặc biệt là bài nghiên cứu gần đây của Nguyen Dinh Minh Anh*,Tran Mai Anh** và Vo Tri Thanh(2010) với kết quả là hệ số ERPT là 0.07 sau 2 tháng kể từ cú sốc đầu tiên đến tỷ giá hối đoái và cũng cho ta biết được nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao chính là do cung tiền, và phát hiện ra lãi suất VNĐ là một công cụ hữu ích để kiềm chế lạm phát Hay bài nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2010) với chuỗi số liệu từ 1998 - 2009 về cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ cũng cho thấy tương quan tỷ lệ thuận giữa tỷ giá và lạm phát mặc dù khả năng giải thích của tỷ giá đối với lạm phát là khá ít, 5% sau 12 tháng và 8% sau 24 tháng

Và giờ đây, bài viết này cũng sẽ tập trung xem xét xem hiệu ứng truyền dẫn của

tỷ giá đến giá ảnh hưởng đến giá cả như thế nào? Mức độ và thời gian ra sao? Trật tự nào của các biến là phù hợp? Để từ đó đề ra những biện pháp khắc phục lạm phát tại Việt Nam

3) Phương pháp nghiên cứu

3.1 Khuôn khổ lý thuyết

3.1.1) Phương trình cơ bản

Trong phần này chúng ta thảo luận một số vấn đề lý thuyết trong mô hình đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái ( ERPT) và mối quan hệ giữa giá cả trong nước mà ở đây đại diện là giá nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng với tỷ giá hối đoái hiện tại

Theo các bài nghiên cứu trước đây về mô hình đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái, phương trình đo lường được xây dựng dựa trên các quan niệm của quy luật

Trang 12

với giá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ (p t ex ) nhân với tỷ giá hối đoái của nước nhập khẩu

đó (Et)

im t

dôi so với chi phí biên ( mark- up).được xác định bởi phương trình:

ex t

p =t.Ct* (2) Kết hợp phương trình (1) và (2) ta có

im t

p = Et. t.Ct* (3) Trong đó

t

xuất.Hệ số dôi phụ thuộc vào áp lực cầu của nước nhập khẩu áp lực này có thể được đại diện bởi GDP thực của nước nhập khẩu

Lấy logarit hai vế phương trình (3) ta được

im t

p = α1t.+ α2 Ct* + α3.et (4)

đối với tỷ giá hối đoái Tác động truyền dẫn của tỷ giá hối đoái được gọi là hoàn toàn khi

ước lương bằng cách sử dụng các phương trình hồi quy đơn giản sẽ được đề cập ở phần 3.4 Bên cạnh ước lượng mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu, bài nghiên cứu còn ước lượng mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng

Trang 13

3.1.2) Độ nhạy cảm của giá cả trong nước đối với cú sốc tỷ giá

Các bài nghiên cứu trước đây về ERPT cho thấy mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu thì cao hơn đối với giá tiêu dùng ( theo Edwards (2006) và Campa & Goldberg ( 2006), cũng tương tự như McCarthy( 2000), Hahn (2003) và Ito et.al (2005), mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái là cao nhất đối với giá nhập khẩu, tới trung bình giá sản xuất và cuối cùng là giá tiêu dùng.hiện tượng này có thể giả thích bằng một số các yếu tố mà tập trung vào vai trò phân phối lợi nhuận và các đầu vào nhập khẩu đối với độ nhạy cảm của giá trong nước đối với tỷ giá hiện tại Campa & Goldberg (2006) cho thấy rằng chi phí sản xuất thì nhạy cảm hơn đối với tỷ giá và giá nhập khẩu khi họ dựa vào thành phần nhập khẩu, nhà cung cấp trong nước, nhà phân phối của đầu vào nhập khẩu.chi phí phân phối cao và sự phụ thuộc thấp của đầu vào nhập khẩu gây ra mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá tiêu dùng thấp.tuy nhiên, lợi nhuận phân phối có thể dẫn đến độ nhạy cảm cao hơn trong giá tiêu dùng nếu đầu vào nhập khẩu được sử dụng trong sản xuất hàng hóa không trao đổi

Burstein, Eichenbaum & Rebelo ( 2002) phát hiện ra lạm phát trong giá tiêu dùng thì thấp so với giá sản xuất khi tiền tệ mất giá Như Campa & Golberg (2006) giải thích rằng mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến CPI thấp do kênh truyền dẫn dài và tỷ trọng các hàng hóa không nhập khẩu trong gói hàng hóa tính CPI Bên cạnh đó, một số mặt hàng không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước, những hàng hóa này thay thế cho hàng hóa nhập khẩu Thứ ba là do trong nước người tiêu dùng

có thể chuyển đổi nhu cầu từ tiêu dùng hàng nhập khẩu sang dùng hàng trong nước trong thời kỳ khủng hoảng hay tiền tệ mất giá

3.1.3) Các yếu tố ảnh hưởng đến ERPT

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ERPT bao gồm cả yếu tố vĩ mô và vi mô Theo

An ( 2006) các yếu tố vi mô bao gồm: việc thiết lập giá cả thị trường, các yếu tố phân khúc thị trường như chi phí vận chuyển và phân phối, hàng rào thuế quan và vai trò của các công ty đa quốc gia, mức độ lợi nhuận đối với quy mô Các yếu tố vĩ mô bao gồm:

Trang 14

lạm phát và tính dai dẵng của biến động tỷ giá hối đoái, môi trường chính sách tiền tệ, độ

mở của nền kinh tế

Theo Krugman (1987) phân tích hiện tượng thiết lập giá cả thị trường, nhà cung cấp nước ngoài có nhu cầu để giữ thị phần không đổi, chấp nhận lợi nhuận nhỏ hơn khi tiền tệ nước nhập khẩu mất giá Hành vi thiết lập giá cả như vậy ngụ ý rằng mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái thấp

Burstein et al (2001) cho thấy chi phí phân phối địa phương chẳng hạn như bán buôn và bán lẽ chiếm 40% giá bán lẽ cuối cùng của bất kỳ hàng hóa nào Khi những chi phí này ít phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái điều này có thể làm giảm hệ số ERPT

Yang (1997) và Olivei (2002) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của quy mô cho thấy rằng ERPT thì tỷ lệ nghịch với độ co giản của chi phí cận biên liên quan đến đầu ra, nếu chi phí cận biên giảm , nhu cầu được kích thích cao hơn bởi giá giảm do sự tăng giá nội

tệ đưa đến chi phí thấp hơn và giá giảm, điều này ngụ ý ERPT cao

Các nhà cung cấp nước ngoài có khả năng điều chỉnh giá theo độ co giản của cầu trong nước nhập khẩu Độ co giản càng cao các doanh nghiệp càng ít có khả năng điều chỉnh giá, ERPT thấp

Taylor (2000) cho rằng môi trường lạm phát và sự dai dẵng của những cú sốc tỷ giá là yếu tố quyết định ERPT Chính xác hơn các công ty ít có khả năng điều chỉnh giá của mình khi tỷ giá hối đoái thay đổi, lạm phát cũng được kỳ vọng biến động, nghiên cứu này cũng tương đồng với Mann (1986) và McCarthy(2000)

Mối liên quan giữa lạm phát và ERPT cũng ngụ ý rằng chính sách tiền tệ cũng nên

có tác động đến sự truyền tải cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước Gagnon và Ihrig (2004)cho thấy rằng các nước có chính sách tiền tệ dáng tin cậy và chống lạm phát thì co ERPT thấp

Trang 15

Độ mở của của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến ERPT Theo McCarthy (2000) một nước nhỏ có ERPT cao hơn một nước lớn.Điều này là do sự sụt giảm lớn của nhu cầu ở nước lớn trong phản ứng với sự tăng giá trong nước do tiền tệ mất giá

3.2 Mô hình

Để đánh giá được tác động của tỷ giá đến giá cả trong nước như thế nào, chúng ta

sử dụng một mô hình Var được đề xuất bỡi McCarthy(2000) Hầu hết các nghiên cứu trước đây sử dụng một phương trình đơn giản của mô hình Var để giải thích các phản ứng của giá cả trong nước với những sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái( ví dụ, Olivei 2002, Campa và Goldberg 2005, Campa, Goldberg and Gonzalez-Minguez, 2005, and Otani, Shirasuka and Shirota, 2005) Mối quan hệ ERPT hầu như được hiểu là mối quan hệ nhân quả từ tỷ giá đến giá cả trong nước Tuy nhiên mối quan hệ nhân quả ngược lại từ giá cả đến tỷ giá cũng không được bỏ qua Theo đề nghị của mô hình tiền tệ chuẩn, ví dụ như một sự gia tăng giá cả trong nước có nghĩa là tỷ giá tăng( nội tê mất giá) Vì thế, tốt hơn chúng ta nên sử dụng mô hình mà trong đó cả tỷ giá hối đoái lẫn giá cả trong nước đều là biến nội sinh Đồng thời phương pháp Var này cũng thể hiện được tương tác nội sinh giữa tỷ giá hối đoái và những biến vĩ mô khác, bao gồm cả giá cả trong nước Ở những bài nghiên cứu trước đây của McCarthy ( 2000), Hahn (2003) và Faruqee (2006),

họ đã áp dụng phương pháp Var để tính được mức độ ERPT tại các nước phát triển, đặc biêt là Euro Sato và Ito(2006) cũng áp dụng phân tích Var để tính hệ số ERPT ở các nước Đông Nam Á Trong khi đó, Belaish (2003) nghiên cứu cho Brazin và Leigh và Rossi(2002) cho Thổ Nhĩ Kỳ

Mô hình Var chuẩn có cấu trúc như sau:

Yt = c + A(L)Yt-1 + B(L) Zt +ut

Trong đó:

ΔCPI) ở thời kỳ t

Trang 16

 Δ đại diện cho sai phân của các biến Tất cả đều dùng sai phân bậc một, ngoại trừ gap không lấy sai phân và CPI ở mức sai phân bậc hai

Theo mô hình Var của Ito and Sato, 2006 and McCarthy, 2006, trong những bài nghiên cứu trước thì mô hình Var thường bao gồm những biến như sau:

Y = (ΔOILt, GAPt, Δ M1t, Δ NEERt, Δ IMPt, Δ PPIt, Δ CPIt), nhưng trong bài này, chúng ta cũng sử dụng thêm biến lãi suất ( theo Hahn 2003), cụ thể là lãi suất chiết khẩu Hàm phản ứng của lãi suất ngắn hạn đến các biến khác trong mô hình được sử dụng tương tự như trong mô hình mà ngân hàng trung ương sử dụng lãi suất ngắn hạn trong chính sách tiền tệ của mình Vậy tóm lại, mô hình này bao gồm những biến ΔOILt, GAPt, ΔLSCKt, ΔM2t, ΔNEERt, ΔIMPt, ΔCPIt

Trong đó:

Mục đích chính của bài này như đã nói ở trên, là nhằm ước tính tác động của tỷ giá hối đoái và những cú sốc vĩ mô khác đến giá cả trong nước, và cũng có thể có sự tương tác giữa chúng Để tạo ra được những cú sốc về cấu trúc, chúng ta sử dụng một

Trang 17

phân hủy Cholesky của ma trận 𝛺 , một ma trận phương sai – hiệp phương sai của số dư

từ phương trình Var Mối quan hệ giữa các số dư và nhiễu loạn cấu trúc được viết như sau:

Đặt trong mối quan hệ so sánh với mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá tiêu dùng và giá nhập khẩu của các nước công nghiệp ta thấy trong thời 6 thời kỳ đầu

hệ số ERPT đến CPI thì tương đối cao ở Việt Nam, tuy nhiên từ thời kỳ 12 trở đi hệ số ERPT tương đối gần giống với trung bình các nước công nghiệp ở mức 0.08 Đối với ERPT đến giá nhập khẩu thì ngược lại, ở những thời kỳ đầu, hệ số ERPT ở Việt Nam tương đối thấp hơn so với trung bình các nước công nghiệp và từ thời kỳ 12 trở đi ERPT đến giá nhập khẩu cũng gần với mức của các nước công nghiệp

Sau khi ta đã lựa chọn mô hình Var thích hợp, ta cũng nên xem thử phương pháp ước lượng mô hình Var như thế nào? Điều này cũng rất quan trọng, bới khi mô hình chạy

ra không phù hợp, thì ta cần xem xét lại các bước chạy mô hình Var để điều chỉnh thành

mô hình thích hợp Và sau đây, ta sẽ thấy được những bước chính trong phương pháp ước lượng mô hình Var:

nên tiến hành lấy sai phân để đưa dữ liệu về các chuỗi dừng

Trang 18

 Xem xét sự phù hợp của mô hình chạy ra( bằng cách kiểm định tính dừng của phần dư) Nếu phần dư của mô hình chạy ra là dừng thì mô hình phù hợp với chuỗi

số liệu không và ngược lại

3.3 Mô tả dữ liệu

Giá dầu: giá dầu đại diện cho cú sốc cung của nền kinh tế Khi đó khi giá dầu biến

động sẽ ảnh hưởng đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng trong nước.Giá dầu được sử dụng

ở đây là giá Brend của Anh với đơn vị tính là usd/ bbl Số liệu được lấy từ WorldBank Data Do chuổi số liệu là không dừng theo kiểm định ADF nên tôi lấy sai phân bậc nhất logarit của giá dầu đã điều chỉnh theo mùa để thỏa mãn tính dừng của mô hình Biến số đưa vào là D(oil)

Lỗ hổng sản lƣợng : lỗ hổng sản lượng được hiểu là sự khác nhau của sản lượng

đầu ra và sản lượng tiềm năng Lỗ hổng sản lượng dương cho thấy một sự lớn hơn trong sản lượng đầu ra so với sản lượng tiềm năng, điều này ngụ ý nền kinh tế đang tăng trưởng

và có sự vượt quá cầu trong nền kinh tế Sản lượng tiềm năng được tính toán dựa trên phương pháp HP do Hodrick và Presscott đề xuất và được tích hợp trong phần mềm

tiềm năng được tính theo phương pháp HP Do hạn chế về số liệu GDP theo tháng nên bài viết sử dụng số liệu sản lượng công nghiệp để thay thế Số liệu được điều chỉnh theo mùa và lấy logarit trước khi tính sản lượng tiềm năng Biến số đưa vào là Outputgap

Lãi suất : lãi suất tôi sử dụng ở đây là lãi suất chiết khấu theo tháng, là công cụ

đại diện cho chính sách tiền tệ, số liệu được cập nhật từ nguồn số liệu của IFS.Số liệu cũng được điều chỉnh theo mùa và lấy logarit Sau đó lấy sai phân bậc nhất để đảm bảo tính dừng của chuổi số liệu Biến số đưa vào là D(lsck)

Cung tiền M2 : Tiền mở rộng M2 bao gồm tiền mặt, tiền gửi của các ngân hàng

thương mại tại ngân hàng trung ương, cộng với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Dữ liệu được

Trang 19

lấy từ IFS Được điều chỉnh theo mùa và lấy logarit và sai phân bậc nhất.Biến đưa vào là D(m2)

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ( NEER): Tỷ giá hối đoái (NEER): Tỷ giá hiệu dụng

danh nghĩa (NEER) được sử dụng vì phản ánh tốt hơn tỷ giá của Việt Nam với các đối tác thương mại tương ứng NEER được biểu thị dưới dạng VND/ngoại tệ Vì thế, NEER tăng nghĩa là VND sụt giá, và NEER giảm nghĩa là VND tăng giá Tất cả dữ liệu tỷ giá được lấy từ IFS NEER được chuẩn hóa thành 100 năm 2005 Cách tính NEER theo công thức sau:

1 , ) (

Trong đó

N là số lượng đối tác thương mại chủ yếu với Việt Nam (gồm 20 nước: Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc, Hồng Kông, Đức, Malaysia, Pháp, Indonesia, Anh, Hà Lan, Nga, Philippines, Thụy Sĩ, Ý, Bỉ, Ấn Độ)

song phương) Vì tỷ giá trực tiếp giữa VND và đối tác thương mại tương ứng không có sẵn, bài nghiên cứu này sẽ chuyển đổi từ VND/USD và đồng tiền tương ứng/USD Tất cả

tỷ giá là trung bình theo tháng

trọng của tỷ giá song phương)

j là kỳ thanh toán (tháng)

Sau khi tính toán NEER được lấy sai phân bậc nhất Biến số đưa vào là D(neer)

Trang 20

Chỉ số giá nhập khẩu (IMP):

chỉ số giá nhập khẩu được Tính toán bằng cách biến đổi chỉ số giá nhập khẩu của những đối tác thương mại với Việt Nam Công thức tính như sau:

IMP=

wi k

Trong đó:

Số liệu được lấy từ nguồn WorldBank và đã được điều chỉnh theo mùa Biến số đưa vào là D(imp)

Chỉ số giá tiêu dùng ( CPI): số liệu chỉ số giá tiêu dùng được lấy theo tháng từ

WorldBank và điều chỉnh theo mùa Sau đó lấy sai phân bậc hai để chuổi số liệu đảm bảo tính dừng Biến số đưa vào là D(cpi,2)

Trang 21

4) Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

4.1 Kết quả kiểm định

4.1.1) Kiểm định tính đừng

Kiểm định nghiệm đơn vị ADF được sử dụng để kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu Kiểm tra tính dừng rất quan trọng , ví dụ như mô hình có thể sẽ bị hiện tượng ước lượng giả mạo nếu giả thuyết dưới đây không được kiểm định:

H0 : Chuỗi dữ liệu không có tính dừng

H1 : Chuỗi dữ liệu có tính dừng

Như kết quả dưới đây cho ta thấy rằng hầu hết chuỗi dữ liệu của chúng ta đều dừng ở sai phân bậc I, chỉ ngoại trừ outputgap là dùng ngay ở chuỗi gốc và với CPI thì dừng tại sai phân bậc 2

Trang 22

Chú thích:

*,**,*** biểu thị mức ý nghĩa 10%,5%,1%

Theo kết quả kiểm định độ trễ dưới đây kết hợp một vài kiểm định độ trễ khác được trình bày tại phụ lục thì các độ trễ được đề nghị là 0, 1, 4 Thế nhưng, chiều dài độ trễ được lựa chon là 4, vì một số lý do sau đây

Thứ nhất, chiều dài độ trễ là 0 thì không hợp lý bởi vì các dữ liệu trong qua khứ thường có ảnh hưởng nhất định đến giai đoạn tiếp theo và giá trị dự kiến trong tương lai, nghĩa là việc dự đoán sẽ dựa trên giá trị hiện tại và quá khứ

Thứ hai, các độ trễ có chiều dài nhỏ hơn thì thường tốt hơn, chất lượng của mô hình sẽ cao hơn vì khi gia tăng chiều dài độ trễ sẽ làm cho các bậc tự do giảm, làm ảnh hưởng đến chất lượng của dự toán, mà độ trễ đề nghị là 4 thì cũng tương đối nhỏ, nên ta

có thể chấp nhận được

Đồng thời, nhìn vào kết quả ta thấy cả hai kiểm định AIC và LR đều đề nghị chiều dài độ trễ ở mức 4 là phù hợp Điều này cũng thương thấy trong nhiều nghiên cứu trước

Trang 23

đây với việc đề nghị chiều dài độ trễ khoảng 4-6 (ví dụ như 4 cho Taylor, 2000, IMF (2003) và Lian (2006) Và độ trễ 4 thì cũng là thời gian hợp lý để những tác động của cú sốc giá dầu, tỷ giá, khoảng cách sản lượng, chính sách tiền tệ có xu hướng tác động sau 4 tháng

Nguồn: tính toán của tác giả

4.1.3) Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Bước này đảm bảo mô hình nhận được là phù hợp với chuỗi dữ liệu Trong phần này, có rất nhiều phương pháp kiểm định, dưới đây ta sẽ dùng một vài kiểm dịnh như nghịch đảo đơn vị gốc của đa thức đặc trung AR (the inverse roots of the characteristic

AR polynominal), kiểm định xem mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi bằng kiểm định White Heterokedasticity, , hay kiểm tra có hiện tượng tự tương quan theo B -

G, và đặc biêt là kiểm định xem phần dư của mô hình có tính dừng Và dưới đây là kết quả của các kiểm định

Trang 24

Kiểm định nghịch đảo của đơn vị gốc đa thức AR

Bằng cách sử dụng kiểm định nghịch đảo đơn vị gốc của đa thức đặc trưng AR (the inverse roots of the characteristic AR polynominal) để kiểm tra sự ổn định của mô hình Var, và thông qua bảng kết quả (Phụ lục) kết hợp với hình dưới đây, ta thấy rằng không có điểm nào nằm ngoài vòng tròn đơn vị Như vậy, các sai số chuẩn trong các phản ứng xung lực có thể tin cậy được

Nguồn: Tính toán tác giả

-1.5 -1.0 -0.5 0.0 0.5 1.0 1.5

Inverse Roots of AR Characteristic Polynomial

Trang 25

Kiểm định phần dư mô hình

*** thể hiện mức ý nghiã 1%

Nguồn: Tính toán tác giả

Sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF Ta thấy số dư của mô hình dừng ngay ở chuỗi gốc với mức ý nghĩa 1%

Tóm lại, qua tất cả những kiểm định đã trình bày ở trên, ta có thể kết luận rằng mô hình đưa ra là khá phù hợp Tiếp đến, ta sẽ qua bước thứ ba, là chạy mô hình và ghi nhận kết quả

Trang 26

4.2.1) Hàm phản ứng xung lực :

Để quyết định hàm phản ứng xung lực phù hợp, chúng ta cần phải sắp xếp trật tự các biến theo thứ tự phù hợp Mỗi cách sắp xếp trật tự các biến khác nhau thì sẽ cho ra kết quả khác nhau Trong bài này, các biến sẽ được sắp xếp như sau (tương ứng với mức sai phân phù hợp):

OIL  GAP  LSCK  M2  NEER  IMP  CPI

Phản ứng xung lực đến các biến liên quan được tính toán trong vòng 24 thời kỳ (tháng) Chúng ta sử dụng phân hủy Cholesky để theo dõi tác động từ một yếu tố đến yếu

tố khác tùy thuộc vào trật tự của nó

Như ta đã trình bày ở phần trên, mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là ta phải tính và mô tả được khi tỷ giá thay đổi, thì ảnh hưởng đến giá cả như thế nào, đặc biêt là chú ý đến sự thay đổi của giá tiêu dùng Và cụ thể trong bài này, ta chỉ xem xét ERPT đến giá nhập khẩu( IMP) và giá tiêu dùng (CPI), không sử dụng đến giá sản xuất vì ta

Trang 27

không đủ số liệu để tính toán Và dưới đây là đồ thị cho thấy hàm phản ứng xung lực của IMP, CPI dưới tác động của một cú sốc tỷ giá:

Nguồn: Tính toán tác giả

Để đơn giản, ta lượng hóa tất cả cú sốc trong mô hình này là tăng 1% - kể cả cú sốc tỷ giá Cụ thể, trong hình này ta thấy được giá nhập khẩu sẽ tăng sau khi tỷ giá tăng,

và tăng mạnh nhất vào tháng năm, tháng sáu kể từ khi cú sốc tỷ giá xảy ra, và tiếp tăng cho đến tháng hai mươi tư kể từ khi cú sốc ban đầu xảy ra, nhưng tăng với cường độ ít hơn

Tiếp đến, ta sẽ tập trung xem xét phản ứng xung lực của CPI với cú sốc tỷ giá qua hình vẽ sau:

-.02 -.01 00 01 02 03 04

2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 Accumulated Response of D(IMP) to Cholesky

One S.D D(NEER) Innovation

Trang 28

Sau cú sốc tỷ giá ( tương ứng 1% tăng trong tỷ giá), giá tiêu dùng cũng tăng từ tháng đầu tiên cho đến tháng hai mươi bốn kể từ khi cú sốc ban đầu xảy ra Và đặc biệt, giá tiêu dùng tăng mạnh trong tháng thứ ba và tháng thứ năm kể từ khi cú sốc đầu tiên xảy ra Điều này cũng khá hợp lý khi dưới tác động của cú sốc tỷ giá, giá nhập khẩu theo

xu hướng tăng thì CPI cũng tăng đồng thời, và tăng mạnh nhất trong tháng thứ năm kể từ

cú sốc ban đầu xảy ra

Để tính toán được hệ số ERPT, ta cũng vẫn xem cú sốc tỷ giá nghĩa là 1% tăng trong tỷ giá Ngoài ra, sự thay đổi của tỷ giá với cú sốc của chính nó trong những thời kỳ

đó cũng nên được xem xét Leigh và Rosi (2002) đo lường hệ số ERPT thông qua công thức sau:

Trong đó:

với cú sốc ban đầu trong tỷ giá hối đoái

-.003 -.002 -.001 000 001 002 003 004 005 006

2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24

Accumulated Response of D(CPI,2) to Cholesky

One S.D D(NEER) Innovation

t

i t t i

t t

E

P

PT   , ,

Trang 29

 Et là sự thay đổi tác động tích lũy của tỷ giá hối đoái với những cú sốc của chính nó

Dưới đây là hệ số ERPT tính toán được thông qua phản ứng xung lực :

Hệ số ERPT đến IMP và CPI

Hình a: Tính toán của tác giả

Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy một điều rõ ràng rằng khi cú sốc tỷ giá xảy ra, làm cho cả IMP lẫn CPI đều tăng trong cả hai mươi bốn thời kỳ quan sát ( hình a) Cụ thể, ta sẽ nhìn thấy rõ tác động của cú sốc tỷ giá đến giá cả thông qua các giai đoạn được thể hiễn rõ ràng hơn tại hình b

Ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến giá nhập khẩu IMP và giá tiêu dùng CPI:

Trang 30

Hệ số ERPT tính toán theo từng giai đoạn

Hình b: Tính toán của tác giả

ty do cú sốc tỷ giá xảy ra Điều này là hợp lý và cũng thường xuyên thấy trong thực tế, vì hầu hết các hợp đồng nhập khẩu đều được ký kết trên cơ sở giao hàng trong tương lai Khi những nhà xuất khẩu và nhập khẩu nhận thức được cú sốc tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng, họ sẽ kết hợp sự thay đổi này vào những hợp đồng được giao vào những tháng sau Chính điều này cũng làm cho hệ số ERPT sẽ giảm xuống mức trung bình khoảng 91,2%

và 72,7% tương ứng với mười hai tháng và hai mươi bốn tháng sau khi cú sốc xảy ra

Với CPI

Trong giai đoạn ba tháng đầu tiên, trung bình của ERPT đến CPI cũng ở mức khá cao, 15,6% Điều này nghĩa là khi cú sốc tỷ giá xảy ra, thì đến tới 15,6% thay đổi của tỷ giá được truyền vào giá tiêu dùng CPI Và dần dần, trung bình mức độ ảnh hưởng của tỷ

Trang 31

giá đến giá tiêu dùng cũng đã thấp hơn trong 6 tháng _ ở mức 13,8%, 11,2% trong một năm và giảm xuống còn 9,4% trong hai năm Nguyên nhân cho sự giảm này cũng dễ hiểu bỡi khi lạm phát xảy ra, nhà nước cũng sẽ thực hiện một vài biện pháp kiểm soát lạm phát, thí dụ như thắt chặt tiền tệ bằng cách nâng lãi suất chẳng hạn Vì thế, ở những thời kỳ sau, mức độ truyền tải của cú sốc tỷ giá có xu hướng giảm dần trong dài hạn Thế nhưng, mức độ truyền tải của tỷ giá đến CPI cũng như IMP của Việt Nam khá cao, điều này cũng có thể dễ dàng lý giải được khi Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nền kinh

tế tăng trưởng ổn định, có nhiều tiềm năng, nhưng nền sản xuất của Việt Nam có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc phần lớn vào máy móc thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu Thí

dụ như ngành công nghiệp dệt may, hiện tại vẫn là ngành sản xuất chủ lực của nước ta thì cũng đã phải nhập khẩu đến 90% nguyên liệu Hay nói rõ hơn, nước ta là một nước có thế mạnh về nông nghiệp như lúa gạo, thủy sản xuất khẩu nhưng từ phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi cũng phải nhập khẩu từ nước ngoài Qua đó ta thấy được nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào bên ngoài, thì việc tác động gián tiếp của tỷ giá đến giá

cả của Việt Nam thông qua tăng chi phí sản xuất do tăng giá nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy moc thiết bị tính bằng VND có thể sẽ rất lớn Đồng thời tỷ giá cũng tác động trực tiếp đến nhóm hàng tiêu dùng có nguồn gốc nhập khẩu cũng có chiều hướng tăng lên

do xu hướng nhập khẩu hàng tiêu dùng như xe máy, xe ôtô, điện thoại, máy tính,…

4.2.2) Phân tách Var

Theo Taylor( 2000), mức ERPT cao ngụ ý rằng cú sốc tỷ giá hối đoái được truyền tải vào giá nhập khẩu IMP cũng như giá tiêu dùng CPI cao Thế nhưng đặt giả thuyết rằng nếu hệ số ERPT thấp, và thấp trong trường hợp này nghĩa là chỉ có vai trò nhỏ trong việc làm cho giá cả thay đổi Vậy đâu mới là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự thay đổi của giá nhập khẩu lẫn giá tiêu dùng Để biết được điều này, thật là cần thiết để ta có cài nhìn thiết thực hơn về những nhân tố quan trong ảnh hưởng đến giá cả Đó cũng chính

là nguyên nhân chính để ta tiến hành phân tách Var của giá nhập khẩu cũng như tiêu dùng Và đây là kết quả nhân được :

Ngày đăng: 10/04/2014, 12:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình a: Tính toán của tác giả - ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC TỶ GIÁ ĐẾN GIÁ NHẬP KHẨU VÀ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM
Hình a Tính toán của tác giả (Trang 29)
Hình b: Tính toán của tác giả. - ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CÚ SỐC TỶ GIÁ ĐẾN GIÁ NHẬP KHẨU VÀ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM
Hình b Tính toán của tác giả (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w