1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

74 921 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Nguyễn Thị Duyên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Châu
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn. Vì vậy, trong quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng. Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnh chủ trương chính sách xã hội phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kĩ thuật, công nghệ…Đặc biệt phải kể đến một nguồn lực quan trọng đó là nguồn nhân lực, chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Và nguồn nhân lực không thể không nhấn mạnh đó là nguồn nhân lực nữ. Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã hội ở nước ta hiện nay(chiếm 50,5 % so với tổng số dân, trong lĩnh vực nông nghiệp lao động nữ chiếm 68%). Phụ nữ đã và đang tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở nông thôn. Quá trình hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là cơ hội tốt để lao động tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn. Hiện nay, phụ nữ nông thôn đã nhận thức và phát huy vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và cộng đồng nông thôn. Phát triển kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, đồng thời cũng nảy sinh những tác động tiêu cực cho phụ nữ, họ phải lo toan nhiều hơn cho cuộc sống gia đình, ít quan hệ xã hội. Một số phụ nữ chưa hiểu rõ các quyền pháp lí của mình do học vấn thấp, thời gian làm việc đồng áng và nội trợ cao, ít thời gian để tham gia hội họp cồng đồng, ít tiếp cận thông tin để nâng cao kiến thức và hiểu biết. Vì vậy, họ còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình lao động sản xuất, từ chính bản thân họ (trình độ chuyên môn kĩ thuật, sức khỏe…) hay những khó khăn hạn chế khách quan (việc tiếp cận với nguồn vốn, việc làm, các dịch vụ xã hội…) Đây là một vấn đề khó khăn đối với phụ nữ nông thôn trình độ và chuyên môn còn hạn chế. Do đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm ngày càng tăng gây ảnh hưởng tới đời sống kinh tế của người dân. Chính vì vậy việc tạo việc làm cho phụ nữ là điều kiện tiên quyết giúp họ nâng cao được vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa những người lao động với nhau. Cũng như lao động nữ cả nước nói chung và lao động nữ xã Phú Xuân nói riêng cũng đang gặp phải nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống. Là một xã gần như thuần nông, tất cả thu nhập của họ chủ yếu dựa vào những sào ruộng. Nhưng trên hiệu quả sản xuất nông nghiệp không đủ cho họ trang trải cuộc sống hàng ngày. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ (vốn, kĩ thuật,…) tạo điều kiện người dân khai thác những nguồn lực tiềm năng để phát triển sản xuất. Ngoài ra, trong những năm gần đây, một số chị em đã đa dạng hóa các ngành nghề để có thêm thu nhập nâng cao đời sống vật chất của gia đình như : chằm nón, nấu rượu, buôn bán, …Và để biết được cụ thể tình hình việc làm của lao động nữ trong xã như thế nào và xem những việc làm mà họ làm đem lại thu nhập cho họ ra sao, tôi chọn đề tài :” Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NỮ XÃ PHÚ XUÂN

HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

NGUYỄN THỊ DUYÊN

Khóa học: 2009 - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NỮ XÃ PHÚ XUÂN

HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Lớp: K43B-KTNN

Niên khóa: 2009 - 2013

Huế, tháng 05 năm 2013

Trang 3

Thời gian thực tập là quãng thời gian thật có ý nghĩa đối với một sinh viên, nó không những giúp sinh viên vận dụng được kiến thức trên giảng đường đại học mà nó còn giúp sinh viên có thể vận dụng được kiến thức thực tế, làm quen với các nghiệp vụ kinh tế Qua đó đánh giá phân tích thực trạng của địa phương hay của công ty Từ đó đúc kết lại kinh nghiệm bổ ích chuẩn bị hành trang cho bản thân sau này.

Từ tấm lòng mình tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Huế đã tận tình giảng dạy trong những năm qua Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Châu đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, các chú, các anh chị ở UBND và toàn thể những hộ gia đình xã Phú Xuân, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã hướng dẫn và nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và điều tra tại địa bàn xã.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình và người thân luôn bên tôi, động viên tôi để hoàn thành tốt đề tài này Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do năng lực bản thân còn hạn chế nên chuyên đề khó tránh khỏi những sai sót Rất mong được sự góp ý của thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.

Trang 4

Huế, tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Duyên

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu

Danh mục các bảng

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 11

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 12

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13

5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 13

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 14

CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 14

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 14

1.1.1 Một số khái niệm 14

1.1.2 Vai trị và đặc điểm của lao động nữ nơng thơn 17

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình vệc làm và thu nhập của lao động nơng thơn 19

Trang 5

1.2.2 Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập của phụ nữ nông thôn 24

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA XÃ PHÚ XUÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 25

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 25

2.1.1 Vị trí địa lí 25

2.1.2 Địa hình 25

2.1.3 Khí hậu 25

2.1.4 Các nguồn tài nguyên 26

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 27

2.2.1 Đất đai 27

2.2.2 Tình hình dân số và lao động xã Phú Xuân 21

2.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Phú Xuân 23

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN 24

CHƯƠNG III TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NỮ XÃ PHÚ XUÂN 27

3.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA XÃ PHÚ XUÂN 27

3.1.1 Thực trạng đời sống của các hộ điều tra xã Phú Xuân 27

3.1.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra xã Phú Xuân 29

3.2 CƠ CẤU LAO ĐỘNG CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA XÃ PHÚ XUÂN 34

3.3 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NỮ XÃ PHÚ XUÂN 39

3.3.1 Những đóng góp chủ yếu của lao động nữ nông thôn 39

3.3.2 Thời gian làm việc bình quân trong năm của một lao động nữ 47

3.4 THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG XÃ 50

3.5 MỘT SỐ ĐIỀU TRA VỀ NGUYỆN VỌNG LAO ĐỘNG XÃ PHÚ XUÂN 53

Trang 6

TĂNG THU NHẬP CHO PHỤ NỮ XÃ PHÚ XUÂN 54

4.1 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN 54

4.1.1 Các quan điểm giải quyết việc làm 54

4.1.2 Định hướng giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn ở xã Phú Xuân 54

4.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM TẠO VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO PHỤ NỮ TRONG XÃ PHÚ XUÂN 55

4.2.1 Quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 55

4.2.2 Phát triển các ngành nghề dịch vụ để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn nói chung và phụ nữ nói riêng 56

4.2.3 Thực hiện thâm canh tăng năng suất cây trồng và tăng hệ số sử dụng đất 57

4.2.4 Giải pháp về thị trường 58

4.2.5 Dân số và kế hoạch hoá gia đình .58

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

I Kết luận 60

II KIẾN NGHỊ 61

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

UBND Ủy Ban nhân dân

BHXH Bảo hiểm xã hội

GO Giá trị sản xuất

VA Giá trị gia tăng

IC Chi phí trung gian

NNDV Ngành nghề dịch vụ

NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BQ Bình quân

Trang 7

BQC Bình quân chung

ĐH, CĐ, TCNN Đại học, Cao đẳng, Trung cấp nghề nghiệpBVTV Bảo vệ thực vật

ĐVT Đơn vị tính

DS - KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình

TLSX Tư liệu sản xuất

CQ, CT Cơ quan, công trình

KH - KT Khoa học - kĩ thuật

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Trang 8

Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 18

Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 22

Bảng 3: Phân loại số hộ điều tra theo các loại hình sản xuất kinh doanh 27

Bảng 4: Phân tổ các nhóm hộ nghiên cứu theo ngành nghề sản xuất kinh doanh và mức thu nhập 28

Bảng 5: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại xã Phú Xuân 33

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2012 33

Bảng 6: Cơ cấu lao động của các hộ điều tra 37

Bảng 7: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc gia đình 41

Bảng 8: Thời gian làm việc bình quân trong ngày của một lao động nữ 44

Bảng 9: Thời gian làm việc bình quân trong năm của lao động nữ xã năm 2012 47

Bảng 10: Thu nhập bình quân của lao động nữ cả năm của các hộ điều tra 52

Bảng 11: Nguyện vọng của lao động nữ trong xã 53

Trang 9

1 mẫu = 10 sào

1 sào = 500 m2

Trang 10

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại xã Phú Xuân, huyện Phú vang, tỉnh Thừa

Thiên Huế, tôi đã chọn đề tài : “ Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã

Phú Xuân, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm chuyên đề tốt nghiệp.

Mục đích của nghiên cứu

- Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vần đề lí luận cơ bản về lao động, việc làm, thu nhập cho lao động nữ nông thôn nói chung và lao động nữ xã Phú Xuân nói riêng

- Phân tích đánh giá một cách toàn diện có hệ thống thực trạng sử dụng lao động

nữ ở nông thôn xã Phú Xuân

- Từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho phụ nữ nông thôn ở địa bàn nghiên cứu

Dữ liệu phục vụ nghiên cứu

- Số liệu điều tra 45 hộ ở xã Phú Xuân, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Số liệu thứ cấp thu thập được từ các tài liệu, báo cáo, website

Kết quả mà nghiên cứu đạt được

- Biết được tình hình việc làm và thu nhập từ những việc làm hiện có của lao động nữ trong xã Phú Xuân

Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm tạo việc làm

và tăng thu nhập cho lao động nữ trong xã

Trang 11

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn Vì vậy, trong quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnh chủ trương chính sách xã hội phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kĩ thuật, công nghệ…Đặc biệt phải kể đến một nguồn lực quan trọng đó là nguồn nhân lực, chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Và nguồn nhân lực không thể không nhấn mạnh đó là nguồn nhân lực nữ

Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã hội

ở nước ta hiện nay(chiếm 50,5 % so với tổng số dân, trong lĩnh vực nông nghiệp lao động nữ chiếm 68%) Phụ nữ đã và đang tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất

và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở nông thôn Quá trình hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

là cơ hội tốt để lao động tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn Hiện nay, phụ nữ nông thôn

đã nhận thức và phát huy vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và cộng đồng nông thôn Phát triển kinh

tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, đồng thời cũng nảy sinh những tác động tiêu cực cho phụ nữ, họ phải lo toan nhiều hơn cho cuộc sống gia đình, ít quan hệ xã hội Một số phụ nữ chưa hiểu rõ các quyền pháp lí của mình do học vấn thấp, thời gian làm việc đồng áng và nội trợ cao, ít thời gian để tham gia hội họp cồng đồng, ít tiếp cận thông tin để nâng cao kiến thức và hiểu biết Vì vậy, họ còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình lao động sản xuất, từ chính bản thân họ (trình độ chuyên môn kĩ thuật, sức khỏe…) hay những khó khăn hạn chế khách quan (việc tiếp cận với nguồn vốn, việc làm, các dịch vụ xã hội…) Đây là một vấn đề khó khăn đối với phụ nữ nông thôn trình độ và chuyên môn còn hạn chế Do đó dẫn đến tình trạng

Trang 12

thất nghiệp thiếu việc làm ngày càng tăng gây ảnh hưởng tới đời sống kinh tế của người dân Chính vì vậy việc tạo việc làm cho phụ nữ là điều kiện tiên quyết giúp họ nâng cao được vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa những người lao động với nhau.

Cũng như lao động nữ cả nước nói chung và lao động nữ xã Phú Xuân nói riêng cũng đang gặp phải nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống Là một xã gần như thuần nông, tất cả thu nhập của họ chủ yếu dựa vào những sào ruộng Nhưng trên hiệu quả sản xuất nông nghiệp không đủ cho họ trang trải cuộc sống hàng ngày Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ (vốn, kĩ thuật,…) tạo điều kiện người dân khai thác những nguồn lực tiềm năng để phát triển sản xuất Ngoài ra, trong những năm gần đây, một số chị em đã đa dạng hóa các ngành nghề để

có thêm thu nhập nâng cao đời sống vật chất của gia đình như : chằm nón, nấu rượu, buôn bán, …Và để biết được cụ thể tình hình việc làm của lao động nữ trong xã như thế nào và xem những việc làm mà họ làm đem lại thu nhập cho họ ra sao, tôi chọn đề

tài :” Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú

Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vần đề lí luận cơ bản về lao động, việc làm, thu nhập cho lao động nữ nông thôn nói chung và lao động nữ xã Phú Xuân nói riêng

- Phân tích đánh giá một cách toàn diện có hệ thống thực trạng sử dụng lao động

nữ ở nông thôn xã Phú Xuân

- Từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho phụ nữ nông thôn ở địa bàn nghiên cứu

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Điều tra chọn mẫu

- Phương pháp thu thập số liệu

• Số liệu thứ cấp: Thông tin thu thập từ UBND xã Phú Xuân

• Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập từ số liệu điều tra phỏng vấn 45 hộ ở các thôn theo mẫu đã được thiết kế sẵn phục vụ cho quá trình

Trang 13

nghiên cứu

- Phương pháp phân tổ thống kê

Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau của các hộ điều tra để phân thành các tổ có tính chất khác nhau

- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

Nghiên cứu dựa trên sự chỉ dẫn, góp ý của giảng viên hướng dẫn, các cô chú ở cơ quan thực tập, cán bộ địa phương và các hộ dân

- Phương pháp phân tích kinh tế

Từ các số liệu thu thập được, xây dựng hệ thống bảng biểu để phân tích đánh giá tình hình chung qua các năm và tình hình sử dụng lao động và việc làm, thu nhập của

xã trong những năm qua

- Phương pháp hệ thống nhằm xem xét các tương tác của các yếu tố bên trong và bên ngoài

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ nông thôn xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

• Phạm vi không gian: tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

• Phạm vi thời gian: Tình hình việc làm và thu nhập năm

2012 của lao động nữ xã Phú Xuân

5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu , phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu làm 4 chương

Chương I: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Chương II: Điều kiện tự nhiên _ kinh tế xã hội xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương III: Tình hình nguồn lao động, việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 14

Chương IV: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi được Những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữa nam và nữ được coi là thuộc về khía cạnh giới Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau), không thể thay đổi được (giữa nam và nữ),

do các yếu tố sinh học quyết định Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà: chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó

Giới phản ánh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội Những sự khác biệt này là do quá trình học mà thành, đa dạng, và có thể thay đổi Chúng thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh

tế quyết định

Các vai trò của giới khác với các vai trò của giới tính - mang đặc điểm sinh học Những vai trò khác nhau này chịu ảnh hưởng của các nhân tố lịch sử, tôn giáo, kinh tế, văn hóa và chủng tộc Do vậy, vai trò giới của chúng ta phải có từ khi chúng ta được sinh ra - mà là những điều mà chúng ta được dạy dỗ và thu nhận từ khi còn nhỏ và trong suốt quá trình trưởng thành

Đặc điểm của giới và các mối quan hệ giới là các khía cạnh quan trọng của một nền

Trang 15

văn hóa bởi chúng quyết định lối sống trong gia đình, ngoài cộng đồng và nơi làm việc.

1.1.1.2 Khái niệm về lao động nông thôn

Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của mình và xã hội

Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất của những người lao động nông thôn Do đó lao động nông thôn bao gồm: Lao động trong ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông thôn…

1.1.1.3 Việc làm

Con người là một nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Bản thân cá nhân mỗi người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm

Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với những điều kiện cần thiết (vốn, TLSX, công nghệ, ) để sử dụng sức lao động đó

Theo điều 13, chương II Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 được bổ sung sửa đổi năm 2002, 2006, 2007 quy định:”Mọi hoạt động lao động taọ ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Như vậy, việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho cán nhân, gia đình người lao động hoặc một cộng đồng nào đó Với cách hiểu này đã tạo thuận lợi cho việc tạo việc làm và giải quyết việc làm cho nhiều đối tượng lao động Từ đó người lao động tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tạo việc làm và tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nhà nước, để tạo việc làm cho bản thân mình cũng như việc thuê mướn lao động trong thị trường lao động

Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Người có việc làm là người làm trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội

Trang 16

Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người ấy.

Tạo việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động Quá trình đó diễn ra từ giáo dục, đào tạo

và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động, đến

tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với những giá trị lao động mà mình tạo ra.Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm việc làm cho người lao động duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp

•Người có việc làm

Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế:

- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật

- Đang làm công việc không được hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình nhưng không được trả công cho công việc đó

- Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không làm việc

và sẽ trở lại làm việc ngay sau thời gian nghỉ việc

•Người thất nghiệp

Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu việc làm nhưng chưa tìm được việc làm( theo định nghĩa nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam)

Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có tính tự nhiên của nền kinh

tế thị trường Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp

Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ILO: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn tìm việc làm, nhưng không tìm được việc ở mức thịnh hành Giải quyết việc làm đang là một vấn đề bức xúc trong chính sách việc làm của mỗi quốc gia

Trang 17

Ở nước ta, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, thất nghiệp là điều khó tránh Vấn đề đặt ra là giải quyết tình trạng thất nghiệp, một mặt phải tạo ra chỗ làm việc mới, mặt khác phải tránh cho người lao động trước nguy cơ thất nghiệp (đào tạo, đào tạo lại nghề ) Ngoài ra, phải có chính sách cho người lao động khi họ bị thất nghiệp

1.1.1.4 Thu nhập

Xác định thu nhập của một lao động có ý nghĩa rất quan trọng Thông qua thu nhập của một lao động hoặc của một gia đình ta có thể đánh giá được mức sống của họ trong từng giai đoạn cụ thể

Tuy nhiên các phạm trù khác nhau(toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân), biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng

Theo Robert J Gorden:” Thu nhập cá nhân là thu nhập mà hộ gia đình nhận được

từ mọi nguồn bao gồm các khoản làm ra các khoản chuyển nhượng Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi cac khoản thuế thu nhập cá nhân.”

1.1.2 Vai trò và đặc điểm của lao động nữ nông thôn

Phụ nữ nông thôn là những người phụ nữ sinh sống và làm việc ở nông thôn Trong cơ cấu dân số, gần 80% dân Việt Nam sống ở nông thôn Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình

độ học vấn khác nhau và sinh sống ở những vùng nông thôn khác nhau Họ hoạt động

ở mọi ngành nghề - kể cả những ngành nghề nặng nhọc và độc hại Theo số liệu từ tổng điều tra dân số năm 2009, trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68% là hoạt động trong nông nghiệp và được đánh giá là làm ra 60% sản phẩm nông nghiệp Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọng nhất mang lại thu nhập cho các hộ gia đình

Hiện nay, có rất nhiều gánh nặng đang chồng chất lên vai người phụ nữ Phụ nữ nông thôn thường phải lao động quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức lao động đang ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe Phụ nữ không có điều kiện học tập, giao lưu, thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần, trình độ văn hóa vốn đã thấp lại không có điều kiện bổ sung, nâng cao, sự hiểu biết xã hội hạn chế, lạc hậu Khi sức khỏe của người phụ nữ nông thôn bị suy kiệt sẽ ảnh hưởng nặng nề đến việc thực hiện

Trang 18

chức năng sinh sản và nuôi con của chính họ…

Phụ nữ là người đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc nội trợ gia đình, nuôi con cái và chăm sóc người già, người ốm ở các gia đình; là lực lượng chủ yếu trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, tuyên truyền, lãnh đạo, quản lý cộng đồng; phụ nữ nông thôn vừa đóng vai trò xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực mới vừa là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào quá trình biến đổi cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn

Phụ nữ nông thôn nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng đang có vai trò

và vị trí đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn Biến đổi của lao động nữ nông thôn đang diễn ra theo ba xu hướng cơ bản là: thứ nhất, nâng cao chất lượng lao động nữ nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của thời kỳ mới; thứ hai, từng bước chuyển dần từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, thương mại và dịch vụ; và, thứ ba, chủ động, tích cực tham gia thị trường lao động quốc tế (cả trong nước và nước ngoài)

Đặc điểm lao động của phụ nữ nông thôn:

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phụ nữ nông thôn nước ta có một số đặc điểm sau: là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động ở nông thôn; là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn; là người gánh chịu nặng nề nhất những mất mát, tai họa do hậu quả của các cuộc chiến tranh mấy chục năm qua; vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội trợ trong gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng; là người sinh

đẻ, chăm sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình độ học vấn thấp, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ; ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình

Lao động nữ nông thôn là dạng lao động đa năng (có thể đồng thời làm tốt ở nhiều lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc người già, người

Trang 19

ốm, tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội và cộng đồng…); có mặt ở mọi loại hình lao động trong đời sống xã hội nông thôn; lao động nữ vượt trội về sự dẻo dai, bền bỉ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn; nhiều sáng tạo, năng động, khéo léo và luôn tuân thủ, phục tùng các nguyên tắc, các qui định của người sử dụng lao động và của đặc trưng ngành nghề; phù hợp với những việc làm ổn định có thu nhập chắc chắn, đều đặn;… Lao động nữ nông thôn có nhiều bất lợi không chỉ so với lao động nam giới mà cả lao động nữ ở các đô thị, các vùng công nghiệp Mặc dù, đối với lao động nữ thời gian lao động kéo dài, cường độ lao động cao, môi trường lao động nhiều ô nhiễm, môi trường văn hóa thấp kém… nhưng nhìn chung thu nhập của họ thường thấp, không ổn định, bị phân biệt đối xử, chịu nhiều áp lực và thường không được bảo hiểm Hơn thế, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tính chất thường phải gắn liền với gia đình của lao động nữ nông thôn nên họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời cơ để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở các đô thị hay các thị trường lao động quốc tế.

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình vệc làm và thu nhập của lao động nông thôn

1.1.3.1 Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nữ nông thôn

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm là tỷ

số giữa số ngày - người đã sử dụng vào sản xuất hoặc dịch vụ so với tổng số ngày - người có thể làm việc được trong năm Quỹ thời gian làm việc được trong năm tính theo công thức sau:

Tq = Nlv / Tng * 100(%)

Trong đó:

Tq: Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm

Nlv : Số ngày đã đầu tư vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ tính bình quân cho một lao động trong năm(ngày)

Tng : Quỹ thời gian làm việc trong năm bình quân của lao động nông thôn (ngày)

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm nói lên trình độ sử dụng lao động theo ngày và qua đó ta thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa sử dụng hết cần phải huy động hết trong năm Tất nhiên, ngày lao động được tính theo ngày chuẩn tức là thời gian làm việc phải đạt 8 giờ trong một ngày Qua chỉ tiêu này sẽ

Trang 20

thấy được tình hình và mức độ việc làm, thấy được số ngày còn dôi ra chưa được sử dụng vào sản xuất, trên cơ sở đó lập ra kế hoạch và biện pháp nhằm tạo thêm việc làm

để người lao động có thể sử dụng quỹ thời gian làm việc trong năm

Quỹ thời gian làm việc của người lao động trong năm là số ngày trung bình mà một người lao động có thể dùng vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ trong năm Đó chính là số ngày trong năm còn lại sau khi đã trừ đi số ngày nghỉ do ốm đau, giỗ tết,

ma chay, cưới xin, hội họp hoặc thời tiết xấu và những ngày nghỉ khác Đối với lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn có những ngày nghỉ do thai sản, sinh đẻ hay công việc khác cần thiết cho cuộc sống cũng như sản xuất, đi chợ, sửa chữa nhà cửa, chuẩn

bị công cụ sản xuất, mua săm vật tư, phân bón hoặc chuẩn bị giống cây trồng, vật nuôi

1.1.3.2 Thu nhập bình quân của một lao động nữ nông thôn trong năm

Hiện nay, trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta, hộ gia đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ Thu nhập của một lao động là một bộ phận thu nhập của nông hộ Do

đó, trước tiên chúng ta phải xác nhận thu nhập của một hộ

Thu nhập của hộ là các khoản thu bằng tiền hoặc giá trị hiện vật (kể cả các khoản phúc lợi xã hội không mất tiền) mà người lao động hay gia đình nhận được trong một khoảng thời gian nhất định

Thu nhập của một hộ được tính theo công thức sau:

Thu

nhập

=

Thu từ tiền lương, tiền công

+

Thu từ sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp

+

Thu từ sản xuất kinh doanh ngành nghề dịch

vụ

+

Các khoản thu khác được tính vào thu nhậpTrong đó:

- Thu từ tiền lương, tiền công:

+ Tiền lương( không kể BHXH)

+ Phụ cấp làm thêm giờ, ăn trưa, nghỉ trưa, ăn giữa ca, phụ cấp

+ Phụ cấp độc hại

+ Thưởng và các khoản khác

+ Các khoản trợ cấp

Trang 21

- Thu từ sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp: Đây là chỉ tiêu đánh giá giá trị gia tăng của nông nghiệp, ngư nghiệp.

i) Tổng giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ sáng tạo ra trong nông nghiệp, ngư nghiệp trong thời gian nhất định, thường là một năm

Qi: Khối lượng sản phẩm loại i

Pi: Đơn giá sản phẩm loại i

ii) Chi phí trung gian(IC): là bao gồm những giá trị vật chất và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp

Cj: Là các khoản chi phí thứ j trong năm sản xuất

iii) Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm (VA) : là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó

VA = GO - IC

- Thu từ sản xuất ngành nghề, dịch vụ

Thu nhập từ sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ = Tổng thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ - Chi phí sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ

- Các khoản thu khác được tính vào thu nhập:

+ Giá trị hiện vật và tiền của người người gửi về cho, biếu mừng

+ Lương hưu, trợ cấp mất sức, trờ cấp mất việc một lần

Do lao động nữ là một bộ phận của lao động trong hộ gia đình nên việc tách thu nhập của họ ra khỏi thu nhập của hộ gia đình là một việc rất phức tạp, để tính thu nhập của lao động nữ tôi đã tính như sau:

+ Đối với công việc nhiều người cùng làm (nhất là công việc trồng trọt, hoa màu…) Thu nhập mỗi người phụ thuộc vào số ngày mà mỗi người đóng góp

Trang 22

+ Đối với công việc mà chỉ có một mình phụ nữ làm

Ta tính thu nhập riêng cho họ

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nữ nông thôn Việt Nam

Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước Là một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68% là hoạt động trong nông nghiệp và được đánh giá

là làm ra 60% sản phẩm nông nghiệp Đó là lực lượng to lớn, đã và đang góp phần quyết định vào việc đảm bảo an toàn lương thực quốc gia_ một trong những yếu tố cơ bản nhất của sự ổn định và phát triển xã hội., phát triển nông thôn

Với việc đổi mới cơ chế quản lí trong nông nghiệp, từng bước xóa bỏ tập thể hóa

về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, hộ gia đình đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, hạch toán kinh doanh, được giao quyền sử dụng ruộng đất ổn đinh và lâu dài.Tuy nhiên, nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đang đặt người phụ nữ ở nông thôn phải đối đầu với thử thách mới:

- Lực lượng lao động nữ ở nông thôn tăng lên không ngừng và luôn luôn nhiều hơn lao động nam, nhưng con đường để có thêm công ăn việc làm của phụ nữ lại chật hẹp hơn, khả năng cạnh tranh của phụ nữ trên thị trường lao động yếu hơn nam giới.Chúng ta đều biết phụ nữ nông thôn chủ yếu là lao động giản đơn, trình độ văn hóa thấp, không được qua đào tạo tay nghề, ít có điều kiện tiếp xúc với khoa học kĩ thuật và công nghệ mới Do đặc điểm sinh lí, sức khỏe của phụ nữ thường kém hơn nam giới, họ lại phải đảm nhận thêm chức năng sinh đẻ, nuôi con chăm sóc gia đình, tính cơ động và di chuyển không cao vì vậy phụ nữ nông thôn khó có thể tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động hiện nay nếu như không có các chính sách hỗ trợ của chính phủ

- Thiếu việc làm và có thu nhập thấp đang là một cản trở đối với phụ nữ nông thôn Theo số liệu điều tra của một số ngành chức năng, khoảng 1/3 thời gian lao động

ở nông thôn chưa được sử dụng hết do không đủ việc làm và tiền công bình quân hàng

Trang 23

tháng của phụ nữ chỉ bằng 96% của nam giới.

Một điều đáng chú ý hơn nữa là thu nhập của phụ nữ làm nông nghiệp thấp hơn hẳn thu nhập của phụ nữ làm cho các ngành nghề phi nông nghiệp khác và ngay cả trong nông nghiệp, nếu so với các cây trồng khác(cây cà phê) thì thu nhập từ cây lúa thấp hơn nhiều Vì vậy phần đông phụ nữ vẫn ở trong cảnh thiếu thốn và có thể nói phụ nữ sản xuất nông nghiệp thuần túy là nhóm người chịu thiệt thòi hơn cả

- Tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp đang tạp nên dòng chảy lao động từ nông thôn ra thành phố, trong số đó có nhiều phụ nữ Việc di chuyển tự do từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang nổi lên như một hiện tượng có tính quy luật khi phát triển nền kinh tế thị trường vào công nghiệp hóa Lao động di cư có khuôn mẫu giới rất rõ, phụ nữ trẻ nông thôn ra đô thị làm việc ở các khu công nghiệp, nhà hàng hoặc giúp việc nhà Còn nam giới có xu hướng làm việc tại các trang trại, khu công nghiệp, nhà máy Nhóm dân số trẻ di cư đến các đô thị, khu công nghiệp để lại làng quê với những người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em Nhiều gia đình nông thôn gánh nặng việc sản xuất và chăm sóc, con cái đè nặng lên vai của người vợ và ông bà Hiện tượng nam giới tuổi trung niên và nam, nữ thanh niên ly hương đi tìm công việc làm ăn ở các đô thị, các khu công nghiệp trên phạm vi cả nước dẫn đến thực trạng ở nông thôn chủ yếu phụ nữ gánh vác công việc sản xuất nông nghiệp, lão hóa nông thôn

và phụ nữ hóa chủ hộ gia đình trên thực tế (vì nam giới là chủ hộ trên danh nghĩa lại đi làm ăn xa) Xu hướng này sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ không chỉ đối với đời sống gia đình mà còn cả với sự nghiệp phát triển của thế hệ con em nông dân sống ở nông thôn hiện nay

Việc di chuyển này cũng tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn có việc làm và thu nhập, phần lớn có thu nhập cao hơn so với họ ra đi, có khi cao hơn gấp 2 - 3 lần, góp phần nâng cao mức sống của gia đình và giảm nghèo đói ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp Điều này đang có sức hút đối với phụ nữ nông thôn Tuy nhiên, việc di chuyển này đã làm gia tăng dân số đô thị một cách đột biến, làm nảy sinh nhiều vấn đề

xã hội, và tăng tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị Bởi vì những người di cư lên thành thị không phải ai cũng may mắn tìm được việc làm

- Một dạng di cư khác là xuất khẩu lao động cũng tăng lên do thị trường lao động

Trang 24

ngoài nước là một thị trường tiềm năng và đang được khai thác có hiệu quả Vấn đề là trình độ chuyên môn kĩ thuật, khả năng ngoại ngữ, tính kỉ luật lao động và tuân thủ pháp luật của lao động nói chung hay lao động nông thôn nói riêng ở Việt Nam đang

là trở ngại cho việc tuyển dụng lao động Những người di cư thành công là những người có trình độ cao hơn, trẻ tuổi và ít đất đai Vì vậy, sẽ có hiện tượng thiếu hụt cục

bộ lao động tiềm năng trẻ, khỏe, có năng lực trong khi nhiều lao động không đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp ngay trên địa bàn Về lâu dài, có khả năng thiếu trầm trọng lao động của một số ngành nghề đặc thù đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao hoặc bậc trung, đặc biệt khi kinh tế nông thôn đã phát triển rõ nét

1.2.2 Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập của phụ nữ nông thôn

Phải nói rằng trong những năm gần đây nước ta đang từng bước phát triển, đang

mở rộng ra các thị trường quốc tế và đặc biệt hơn khi đất nước ta gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thê giới (WTO), đó là một thành công rất lớn với sự nỗ lực, góp sức của nhiều tổ chức, cá nhân để đến được vinh quang ấy Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa; nông nghiệp nông thôn cũng đang trong tiến trình này Để nông nghiệp nông thôn phát triển tốt, tương xứng với kì vọng phát triển đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp, nghĩa là khi đó nông nghiệp, nông thôn đạt ở mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ bản Lực lượng lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn lúc này phải đảm bảo là động lực duy trì

và phát triển

Tuy nhiên, điều này không hề đơn giản vì mặc dù trong điều kiện nước ta lao động dồi dào, có truyền thống làm việc chăm chỉ, con người thông minh, cần cù nhưng bên cạnh đó nhược điểm của lực lượng lao động nước ta là trình độ kĩ thuật kém, ít tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học - kĩ thuật Đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng trở thành một nhiệm vụ cấp bách, cần thiết phải thực hiện Hướng chính

để giải quyết việc làm cho phụ nữ là tạo nhiều công việc, mở rộng ngành nghề, dịch vụ

ở địa bàn, tận dụng lợi thế của vùng là để tăng nhanh ngành nghề dịch vụ buôn bán trong cơ cấu kinh tế của xã Tổ chức hoạt động kinh tế nhiều ngành nghề sẽ đóng góp một vai trò lớn trong việc làm, phân bổ lại lực lượng lao động nữ, là một hình thức để

Trang 25

phát triển nhiều mặt của nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu “vì sự tiến bộ của phụ nữ”.

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA XÃ PHÚ XUÂN

HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1.1 Vị trí địa lí

Phú Xuân là xã đồng bằng nằm về phía Đông Bắc của huyện Phú Vang, có tổng diện tích tự nhiên 3.022.71 ha, chiếm 10,8% diện tích toàn huyện, với tổng dân số 8.686 người gồm 2.080 hộ thuộc 8 thôn Ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Bắc giáp xã Phú Thuận Phía Nam giáp xã Phú Hồ, xã Phú Lương Phía Đông giáp xã Phú Hải, xã Phú Diên Phía Tây giáp xã Phú An, xã Phú Mỹ

2.1.2 Địa hình

Là một xã ven đầm phá của huyện Phú Vang, Phú Xuân có địa hình tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt và nghiên dần theo hướng Đông Bắc Phía Tây Bắc và Đông Bắc là vùng trũng gồm ruộng lúa, các ao đầm, phía Nam là vùng đất cồn cát nội đồng Nhìn chung địa hình, địa mạo của xã cũng khá thuận lợi cho phát triển hạ tầng khu dân

cư cũng như sản xuất nông nghiệp

2.1.3 Khí hậu

Là xã nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền Trung nên Phú Xuân chịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đại dương, nhiệt độ cao tập trung vào các tháng 5,6,7,8 Xã Phú Xuân cũng như các xã khác khi trời mưa lớn thì trên các đồng ruộng rất dễ bị ngập Điều nay khó khăn trong việc sản xuất nông nghiệp

Xã Phú Xuân chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:

- Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân 2 - 3m/s có khi lên tới 7 - 8m/s Mùa này gió thường khô nóng, bốc hơi mạnh nên gây khô

Trang 26

2.1.4.2 Tài nguyên nước

Phú Xuân có trên 11,5 km đầm phá Tam Giang kéo dài từ Thuỷ Diện đến Phú Đa

và rộng trên 1.200 ha Đầm phá Tam Giang trên địa bàn với nhiều loài sinh vật thuỷ sinh sinh sống kéo theo hệ sinh vật ở đây khá đa dạng và phong phú với nhiều loài cá, tôm, có giá trị kinh tế cao Đây là một trong những lợi thế của xã trong phát triển

Trang 27

lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản nước lợ.

2.1.4.4 Tài nguyên khoáng sản

Nguồn khoáng sản trên địa bàn xã Phú Xuân chủ yếu là các mỏ cát thuỷ tinh, than bùn, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp khai khoáng

2.1.4.5 Tài nguyên nhân văn

Trải qua mấy trăm năm định cư, con người Phú Vang nói chung và Phú Xuân nói riêng đã hình thành nét văn hoá đặc trưng của người dân vùng sông biển đầm phá Nằm trong dải đất miền trung anh hùng, Phú Xuân cũng rất giàu truyền thống cách mạng và đang tiếp nối truyền thống xưa chuyển mình hoà nhập vào sự đổi mới của Đảng, của huyện, tỉnh và đất nước

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.2.1 Đất đai

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ đứng, vừa là địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành nông lâm, công nghiệp khai khoáng, giao thông, vận tải,

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp Tính đặc biệt được thể hiện rõ: đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động

Để biết được tình hình biến động đất đai của xã Phú Xuân, tôi đã nghiên cứu tình hình đất đai của xã từ năm 2010 - 2012

Trang 28

Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012

tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

+/- (ha) %

Tổng diện tích đất tự nhiên 3022,71 100 3022.71 100 3022,71 100 0 0.00

I Đất nông nghiệp 1111,21 36,76 1105,81 36,58 1102,5 36.47 -8,71 -0,01

1 Đất sản xuất nông nghiệp 519,01 46,71 518,85 46,92 514,73 46.69 -4,28 -0,01

- Đất trồng cây hàng năm 505,21 97,34 505,05 97,34 500,93 97.32 -4,28 -0,01Đất trồng lúa 324,85 64,30 324,69 64,29 324,84 64.85 -0,01 0,00Đất trồng cây hàng năm khác 180,36 35,70 180,36 35,71 176,09 35.15 -4,27 -0,02

- Đất trồng cây lâu năm 13,8 2,66 13,8 2,66 13,8 2.68 0 0,00

4 Đất sông suối mặt nước chuyên dùng 1157,43 62,93 1157,43 62,68 1148,42 61.84 -9,01 -0,01

5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 279,24 15,18 279,29 15,12 279,29 15.04 0,05 0,00

Trang 29

Qua bảng 1 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã qua 3 năm vẫn là 3022,71

ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp năm 2010 là 1111,21 ha chiếm 36,76 %, năm

2011 là 1105,81 ha chiếm 36,58% và năm 2012 là 1102,50 ha chiếm 36,47 % Qua 3 năm diện tích đất nông nghiệp đã giảm 8,71 ha tương ứng giảm 0,01 % Nguyên nhân của việc giảm diện tích đất nông nghiệp là để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đồng thời để tạo thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa nên xã đã sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp để mở đường nội đồng Bên cạnh đó do tình hình phát triển dân số dẫn đến nhu cầu về nhà ở ngày càng tăng, cho nên trong 3 năm qua cũng có một phần diện tích đất nông nghiệp được quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất ở cho người dân Do đó, đây chính là những nguyên nhân dẫn đến sự giảm diện tích đất nông nghiệp

Trong diện tích đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm và đất lâm nghiệp có xu hướng thay đổi còn đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản có xu hướng không thay đổi Cụ thể:

Đối với đất trồng cây hàng năm: năm 2010 diện tích đất trồng cây hàng năm là 505,21 ha chiếm 97,34 % diện tích đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2011 diện tích này còn 505,05 ha chiếm 97,34 % và đến năm 2012 diện tích còn 500,93 ha chiếm 97,32% Qua 3 năm diện tích giảm 4,28 ha tương ứng với giảm 0,01%

Đối với đất lâm nghiệp: diện tích đất lâm nghiệp từ năm 2010 đến năm 2012 giảm từ 255,6 ha (năm 2010) xuống còn 251,17 ha (năm 2012) Diện tích bị giảm đi 4,43 ha

Đối với đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản: trong 3 năm diện tích này vẫn giữ nguyên không thay đổi Diện tích đất trồng cây lâu năm vẫn duy trì ở mức 13,8 ha và diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 336,6 ha

Song song với việc giảm diện tích đất nông nghiệp thì diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng ngày càng tăng Năm 2010 diện tích đất phi nông nghiệp là 1839,15 ha chiếm 60,84% đến năm 2011 diện tích đó tăng lên là 1846,68 ha chiếm 61,09 % và đến năm 2012 diện tích này là 1856,98% chiếm 61,43% Qua 3 năm diện tích đất phi nông nghiệp tăng 17,83 ha

Trang 30

Nguyên nhân của việc tăng diện tích đất phi nông nghiệp là do tăng diện tích đất

ở do nhu cầu nhà ở ngày càng tăng, năm 2010 diện tích nhà ở là 122,13 ha nhưng đến năm 2012 diện tích này là 130,61 ha, diện tích qua 3 năm tăng 8,48 ha Đây là hệ quả của việc tăng dân số trên địa bàn xã Bên cạnh đó là do diện tích có mục đích tăng liên tục trong 3 năm Cụ thể: năm 2010 diện tích đất có mục đích công cộng là 261,05 ha (chiếm 14,19%) nhưng đến năm 2012 thì diện tích này là 279,36 ha ( chiếm 15,4 %), diện tích đã tăng lên 18,31 ha tương ứng với tăng lên 0,07 % Sở dĩ đất có mục đất công cộng tăng vì trong những năm qua xã không chỉ quan tâm đến đời sống vật chất của người dân mà đời sống tinh thần cũng cũng được quan tâm thích đáng Do đó diện tích đất tăng Đây là điều đáng mừng bởi vì việc chăm lo xây dựng môi trường và lôi sống văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương và dân tộc cũng như các phong trào toàn dân rèn luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ làm cho người dân có một cuộc sống lành mạnh đồng thời tăng cường sức khỏe để tham gia lao động có hiệu quả cao

Bên cạnh đó việc tăng quỹ đất để xây dựng trường học, trạm y tế cho người dân đặc biệt là các đối tượng người nghèo, phụ nữ và trẻ em có ý nghĩa vô cùng lớn lao Đồng thời việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em sẽ góp phần chăm lo tạo điều kiện cho thế hệ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ, nó hứa hẹn một nguồn lao động

có chất lượng đảm bảo

Đối với đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất sông suối mặt nước, đất nghĩa trang , nghĩa địa, đất tôn giao tín ngưỡng, đất quốc phòng qua 3 năm không biến động vì về cơ bản chúng đã được quy hoạch và bố trí cụ thể

Hiện tại diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn xã là 63,23 ha chiếm 2,09 % đất

tự nhiên Chủ yếu là diện tích đất đang bỏ hoang ở các khu vực độn cát ở các thôn: Ba Lăng, Quảng Xuyên, Lộc Sơn, qua 3 năm diện tích đất này có xu hướng giảm , cụ thể: năm 2010 diện tích đất chưa sử dụng là 72,35 ha (chiếm 2,39%) đến năm 2012 diện tích này còn 63,23 ha, đã giảm được 9,12 ha Điều đó chứng tỏ mỗi năm người dân đã tận dụng và khai thác được một phần diện tích này để sản xuất và cho các mục đích khác Tuy nhiên trong thời gian tới địa phương cũng cần có các biện pháp, chính sách để khai thác triệt để các diện tích đất chưa sử dụng nói trên để góp phần thúc đẩy

Trang 31

phát triển nền kinh tế xã hội của xã.

Việc bảo đảm quyền lợi về ruộng đất là vấn đề hết sức quan trọng đối với phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ làm nông nghiệp Điều này lại càng đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa hoặc phụ nữ là người dân tộc thiểu số, họ ít có

cơ hội tiếp cận với các nguồn lực khác nên đất đai có thể xem là phương tiện sinh kế duy nhất giúp họ duy trì cuộc sống và thoát nghèo

2.2.2 Tình hình dân số và lao động xã Phú Xuân

Lao động là vốn quý, là yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi hình thức kinh tế xã hội, không có một quá trình sản xuất nào diễn ra mà không có

sự tham gia của lao động Vì vậy việc tổ chức sử dụng hợp lí cũng như việc nâng cao chất lượng lao động là điều rất quan trọng

Đối với gia đình sử dụng tốt nguồn lao động là cơ sở để tạo ra thu nhập nâng cao mức sống Để thấy rõ tình hình biến động dân số và lao động của xã Phú Xuân ta đi nghiên cứu bảng 2:

Năm 2010 số hộ nông nghiệp của xã là 1902 hộ tương ứng với 94,86 % tổng số

hộ, số hộ phi nông nghiệp chỉ có 103 hộ chiếm 5,14% số hộ toàn xã và có xu hướng tăng lên ở các năm tiếp theo Năm 2011 so với năm 2010 số hộ nông nghiệp tăng 18

hộ tương ứng với 0,95 % Năm 2012 so với năm 2011 số hộ nông nghiệp tăng 17 hộ tương ứng với 0,89 %, điều này cho thấy phát triển các ngành nghề khác ở địa phương chưa được bà con chú trọng Bởi vì trên thực tế trên thực tế xã đã tổ chức nhiều lớp tập huấn ngành nghề như chằm nón, làm hương, làm nấm rơm nhưng rất ít người vận dụng kiến thức được trang bị để làm thêm góp phần tăng thu nhập cho gia đình Do đó nhìn chung đa phần người dân ở xã Phú Xuân vẫn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, vẫn có một số bà con bước đầu đã chuyển công việc từ nông nghiệp sang các ngành nghề dịch vụ vì thế tỷ lệ hộ phi nông nghiệp vào năm 2011 tăng lên so với năm 2010 là 27 hộ tương ứng với 26,21 % và năm 2012 so với năm

2011 tăng 13 hộ tương ứng với 10%, có thể nói đây là bước phát triển ban đầu trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân

Trang 32

Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 Chỉ tiêu ĐVT 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%) +/-

Cơ cấu (%) +/-

Cơ cấu (%)

- Lao động nông nghiệp Người 4023 94,59 4100 94,36 4179 93,99 77 1,91 79 1,93

- Lao động phi nông nghiệp Người 230 5,41 245 5,64 267 6,01 15 6,52 22 8,98

Trang 33

Là một xã gần như thuần nông nên lao động nông nghiệp của xã cũng tăng dần, được thể hiện lao động nông nghiệp năm 2010 là 4023 lao động tương ứng với 94,59% tăng lên 4179 lao động tương ứng với 93,99% vào năm 2012 Bên cạnh đó lao động phi nông nghiệp cũng có xu hướng tăng dần từ 230 lao động tương ứng với 5,41% năm 2010 tăng lên 267 lao động tương ứng với 6,01% năm 2012 Tuy số lượng lao động tăng nhưng tốc độ tăng lao động nông nghiệp giảm dần, đây là dấu hiệu tốt.

Nguyên nhân của sự việc này là do kết quả sản xuất nông nghiệp đạt được không cao, không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống nên một số lao động nông nghiệp đã chuyển sang làm các ngành nghê khác nhằm tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho gia đình Bên cạnh đó số lượng thanh niên được học hành, đào tạo phần lớn họ chọn cho mình những ngành nghề khác Do vậy mà số lượng lao động phi nông nghiệp tăng lên Cụ thể năm 2011 so với năm 2010 tăng 15 lao động, năm 2012 so với 2011 tăng 22 lao động Tốc độ tăng lao động phi nông nghiệp qua các năm tăng, do mức sống của người dân qua các năm tăng nên nhu cầu về các loại hàng hóa phi nông nghiệp hay cũng như nhu cầu về các dịch vụ giải trí của người dân ngày càng tăng, năm bắt được điều đó nên một số gia đình đã mạnh dạn đầu tư kinh doanh buôn bán Chính vì vậy mà tỷ lệ lao động tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp tăng

Quy mô khẩu bình quân của hộ ít thay đổi qua các năm chỉ dao động từ 4,15 khẩu/hộ năm 2010 xuống 4,07 khẩu/hộ năm 2011 và rồi tăng lên 4,18 khẩu/hộ năm

2012 Và bình quân lao động từ năm 2010 và năm 2011 không thay đổi vẫn 2,12 lao động/hộ nhưng tới năm 2012 thì bình quân lao động / hộ tăng lên 2,14 lao động/hộ Nhưng tỷ lệ tăng không đáng kể 0,85% , điều đó cũng là kết quả của công tác kế hoạch hóa gia đình và ý thức của người dân trong việc sinh đẻ có kế hoạch

2.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Phú Xuân

Trang 34

tuyến đường phù hợp với các tiêu chí phát triển nông thôn mới, phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

2.2.3.2 Thuỷ lợi

Thuỷ lợi là yếu tố vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nhìn chung mạng lưới thuỷ lợi của xã chưa hoàn chỉnh, chất lượng phục vụ còn thấp, chủ yếu là các công trình kênh mương tự chảy Vào vụ hè thu trên địa bàn xã có 167,70 ha đất nông nghiệp bỏ hoang do không có công trình tưới và nguồn nước

Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 trạm bơm điện phục vụ tưới cho 50,88 ha và tiêu cho 39,10 ha.Diện tích tưới toàn xã hiện nay 306,42 ha, trong đó bơm điện 50,88

ha, bơm dầu 13,00 ha Trong nhưng năm tới, địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa việc đầu tư các hệ thống kênh mương thủy lợi để chủ động nguồn nước trong phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất vụ Hè Thu Tránh tình trạng bỏ hoang một số diện tích do không có nguồn nước tưới, gây lãng phí đất đai

2.2.3.3 Giáo dục và đào tạo

Hệ thống các cấp học của xã bao gồm: Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ

sở, với tổng số 1.595 học sinh và 56 lớp

Nhìn chung chất lượng dạy và học của các trường ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu của học sinh, của ngành đề ra Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường hàng năm đạt trên 95%; tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm, bình quân mỗi năm trên toàn xã có hơn 25 em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN

Điều kiện tự nhiên - xã hội của xã Phú Xuân có những thuận lợi và khó khăn sau:

•Thuận lợi

Xã Phú Xuân có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên của xã có

Trang 35

nhiều thuận lợi cho phát triển dịch vụ, nông nghiệp toàn diện.

- Có tuyến đường tỉnh lộ 3 và tỉnh lộ 10 chạy qua là điều kiện thuận lợi tạo ra nhiều

cơ hội cho xã trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và chính trị

- Tài nguyên đất đai khá đa dạng là điều kiện thuận lợi cho phát triển đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

- Nhân dân xã Phú Xuân cần cù chịu khó, ham học hỏi, tìm tòi, sáng tạo và đoàn kết là động lực, tiền đề cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

- Nhờ kịp thời xác định đúng hướng cơ cấu và phát triển kinh tế đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, chính trị được ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, cơ sở hạ tầng từng bước được xây dựng tạo nên môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tạo việc làm cho người lao động góp phần quan trọng trong xóa đói giảm nghèo Trong công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị không ngừng được tăng cường, từng bước hoạt động có hiệu quả

- Được sự quan tâm đầu tư, giúp đỡ chỉ đạo đúng đắn của thường vụ huyện ủy, UBND huyện và các ban ngành các cấp trên cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ

và nhân dân trong xã đã làm cho xã có những bước thay đổi nhất định trong việc nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân

•Khó khăn

- Là một xã lấy nông nghiệp là ngành sản xuất chính, nhưng lại nằm trong khu vực miền trung nên hàng năm mưa bão thường xuyên xuất hiện gây lũ lụt ngập úng ảnh hưởng lớn đến mùa vụ sản xuất nông nghiệp của xã Bên cạnh đó cũng làm cho một số công trình hạ tầng hư hỏng, xuống cấp, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế Đây là những khó khăn trở ngại đối với người dân trong vùng trong sự nghiệp đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

- Việc sử dụng đất còn nhiều bất cập Cụ thể: phân phối quỹ đất chưa hợp lý, chưa đáp ứng kịp thời trong thời kì đổi mới, chưa xứng với tiềm năng của xã Thửa ruộng còn manh mún, dẫn đến không có vùng thâm canh sản xuất tập trung vì vậy chưa cho sản phẩm hàng hóa lớn Mặt khác trình độ tiếp thu KH -KT còn một số hạn

Trang 36

chế nhất định cũng như thiếu vốn, kinh nghiệm nên vấn đề khai thác sử dụng đất còn không ít lãng phí, có nguy cơ gây suy thoái đất.

- Dân số đông, trình độ và chất lượng dân trí thấp Việc phân bổ và sử dụng nguồn lao động chưa hợp lý

Hiện nay trên địa bàn xã đang có sự chuyển dịch về cơ cấu và phát triển theo định hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn do đó nhiều vấn đề xã hội khác phát sinh đòi hỏi các ngành, các cấp cần có sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời

Trang 37

CHƯƠNG III TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA

có được thông tin đầy đủ theo từng loại hình sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu của

đề tài số mẫu điều tra phải đại diện được cho tổng thể, tôi đã lấy số hộ tương ứng với

tỷ trọng của từng loại hộ của địa phương (tiến hành điều tra 45 hộ trong 4 thôn) Việc chọn mẫu trong từng nhóm hộ được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên Sau đây

là bảng phân loại các hộ theo loại hình sản xuất kinh doanh:

Bảng 3: Phân loại số hộ điều tra theo các loại hình sản xuất kinh doanh

Loại hộ Tổng số hộ

(hộ)

Cơ cấu (%)

Số hộ điều tra (hộ)

Cơ cấu (%)

1 Chuyên nông - ngư nghiệp 1095 52,64 24 53

2 Nông - NNDV 842 40,48 18 40

3 Chuyên NNDV 143 6,88 3 7

(Nguồn: bộ phận NN & PTNT xã Phú Xuân)

3.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA XÃ PHÚ XUÂN

Trong quá trình nghiên cứu để thấy được tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ nông thôn của xã, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu 45 hộ gia đình gồm 99 lao động của 4 thôn làm đại diên: Diên Đại, Xuân Ổ, Thủy Diện, Quảng Xuyên

3.1.1 Thực trạng đời sống của các hộ điều tra xã Phú Xuân

Để đánh giá tình hình đời sống của các hộ điều tra xã Phú Xuân, qua điều tra thực tế 45 hộ thì tôi đã thống kê được số hộ khá, giàu, trung bình và nghèo trong xã

Ngày đăng: 10/04/2014, 12:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp của PGS.TS. Phùng Thị Hồng Hà, trường Đại Học Kinh Tế Huế Khác
2. Tổng điều tra cơ sở hành chính sự nghiệp 2011_2012 của xã Phú Xuân Khác
3. Báo cáo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2010 - 2012 Khác
4. Báo cáo tình hình dân số xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010, 2011, 2012 Khác
5. Chuyển dịch lao động trong gia đình nông thôn, những vai trò mới của nam nữ của PGS Lê Ngọc Văn _ NXB Khoa học xã hội, HN 1997 Khác
6. Nguyễn Xuân Khoát, Lao động việc làm và phát triển kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia Khác
7. TS. Trần Văn Hòa, Bài giảng kinh tế nông nghiệp, Đại Học Huế, 2006 Khác
8. Giáo trình phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của TS. Trịnh Văn Sơn, trường Đại Học Kinh Tế Huế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 1 Tình hình biến động đất đai của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 (Trang 28)
Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 2 Tình hình dân số và lao động của xã Phú Xuân qua 3 năm 2010 - 2012 (Trang 32)
Bảng 4: Phân tổ các nhóm hộ nghiên cứu theo ngành nghề  sản xuất kinh doanh và mức thu nhập - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4 Phân tổ các nhóm hộ nghiên cứu theo ngành nghề sản xuất kinh doanh và mức thu nhập (Trang 38)
Bảng 5: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại xã Phú Xuân - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại xã Phú Xuân (Trang 43)
Bảng 6: Cơ cấu lao động của các hộ điều tra - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 6 Cơ cấu lao động của các hộ điều tra (Trang 47)
Bảng 7: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc gia đình - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 7 Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc gia đình (Trang 51)
Bảng 8: Thời gian làm việc bình quân trong ngày của một lao động nữ - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 8 Thời gian làm việc bình quân trong ngày của một lao động nữ (Trang 54)
Bảng 9: Thời gian làm việc bình quân trong năm của lao động nữ xã năm 2012 - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 9 Thời gian làm việc bình quân trong năm của lao động nữ xã năm 2012 (Trang 57)
Bảng 10: Thu nhập bình quân của lao động nữ cả năm của các hộ điều tra - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 10 Thu nhập bình quân của lao động nữ cả năm của các hộ điều tra (Trang 62)
Bảng 11: Nguyện vọng của lao động nữ trong xã - Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 11 Nguyện vọng của lao động nữ trong xã (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w