NỘI DUNG CHI TIẾT Câu 1:Phân tích quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất. Việt Nam vận dụng như thế nào trước và trong thời kì đổi mới? 1. Vị trí của quy luật Là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội, bởi vì nó là quy luật của sự vận động phát triển của phương thức sản xuất xã hội, sự tác động của quy luật này dẫn đến sự biến đổi của phương thức sản xuất. Và đây cũng chính là đề tài mà chúng ta nghiên cứu để làm rõ sự ảnh hưởng của nó đến đời sống sản xuất của con người.. Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1959 Các Mác viết "trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ từ những quan hệ sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhát định của lực lượng sản xuất vật chất của họ. 2. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất a. Khái niệm lực lượng sản xuất Là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật công nghệ của một quá trình sản xuất nhất định nào đó, nó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người, bao gồm 2 nhóm cơ bản- Tư liệu sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố phản ánh rõ nhất trình độ con người chinh phục tự nhiên như thế nào- Người lao động. Trong lao động sản xuất hiện đại tri thức kỹ năng của người lao động ngày càng quan trọng. Như Lênin đã viết "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" (Lênin toàn tập). Trong hai nhóm trên nhân tố người lao động là quan trọng nhất bởi vì các tư liệu sản xuất đều là sản phẩm của lao động, những tư liệu đó chỉ có tác dụng, có giá trị trong sản xuất một khi được người lao động sử dụng, cũng chính vì vậy trong xã hội cong nghiệp hiện đại thì lực lượng sản xuất số một là người công nhân công nghiệp, nhu cầu của 1 nền sản xuất hiện đại cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, các tri thức khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội, nó không phải là nhân tố thứ 3 kết tinh trong tư liệu sản xuất, vá người lao động thông qua các quá trình sáng chế kỹ thuật, sáng chế kỹ thuật phải thông qua nhân tố người lao động. b. Khái niệm quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất là mối quan hệ sản xuất giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất quan hệ sản xuất này được phân tích trên 3 phương diện - Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quan hệ quyết định các mối quan hệ khác. - Quan hệ tổ chức quản lý, vi mô, vĩ mô, tuỳ thuộc vào quan hệ sản xuất, thực chất là lớp quan hệ tổ chức kết hựop giữa tư liệu sản xuất với sức lao động trong các quá trình sản xuất cụ thể - Phân phối sản phẩm tuỳ thuộc vào mối quan hệ sở hữu người công nhân sở hữu sức lao động, người chủ sở hữu tư liệu sản xuất. - Vai trò của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định với quan hệ sản xuất bởi vì lực lượng sản xuất là nhân tố thuộc nhân tố nội dung vật chất, đảm bảo cho sự duy trì kết hợp các quá trình sản xuất. Tính quyết định đó thể hiện với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có nó đòi hỏi các quan hệ sở hữu cách thức giải quyết và mộ chế độ tương ứng với nó những biến đổi trong lực lượng sản xuất đặt ra nhu cầu phải thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Vì vậy, yêu cầu cơ bản của quy luật này trong việc quy định hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất thì phải căn cứ vào thực trạng của nhu cầu phát triển lực lượng sản xuất, mỗi người cần liên hệ thực tiễn quan hệ sản xuất. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như Các mác nhận xét "không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi"
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN
Môn học:
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN 1
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Nguyễn Thị Phương Đặng Văn Chánh- Lớp: K33B
Huế, 10/2012
Trang 2Câu 1: Phân tích quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất Việt Nam vận dụng như thế nào trước
và trong thời kì đổi mới?
Trả lời:
1 Vị trí của quy luật
2 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
a Khái niệm lực lượng sản xuất
b Khái niệm quan hệ sản xuất
3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
4 Vấn đề vận dụng quy luật vào quá trình đổi mới ở Việt Nam
a Đặc điểm và bản chất của quá trình đổi mới ở nước ta
c Thành tựu của quá trình đổi mới
d Bài học kinh nghiệm
Câu 2: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Đặc điểm của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nước ta hiện nay như thế nào?
Trả lời:
1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a Khái niệm cơ sở hạ tầng
b Khái niệm kiến trúc thượng tầng
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
b Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
3 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Việt
Nam hiện nay.
Trang 3NỘI DUNG CHI TIẾT
Câu 1:Phân tích quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất Việt Nam vận dụng như thế nào trước
và trong thời kì đổi mới?
1 Vị trí của quy luật
Là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội, bởi vì nó là quyluật của sự vận động phát triển của phương thức sản xuất xã hội, sự tácđộng của quy luật này dẫn đến sự biến đổi của phương thức sản xuất Vàđây cũng chính là đề tài mà chúng ta nghiên cứu để làm rõ sự ảnh hưởngcủa nó đến đời sống sản xuất của con người
Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1959Các Mác viết "trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta
có những quan hệ nhất định tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ từnhững quan hệ sản xuất Những quan hệ này phù hợp với một trình độ pháttriển nhát định của lực lượng sản xuất vật chất của họ
2 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
a Khái niệm lực lượng sản xuất
Là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật công nghệ của một quá trìnhsản xuất nhất định nào đó, nó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên củacon người, bao gồm 2 nhóm cơ bản- Tư liệu sản xuất
Công cụ lao động là yếu tố phản ánh rõ nhất trình độ con người chinhphục tự nhiên như thế nào- Người lao động
Trong lao động sản xuất hiện đại tri thức kỹ năng của người lao độngngày càng quan trọng Như Lênin đã viết "lực lượng sản xuất hàng đầu củatoàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" (Lênin toàn tập)
Trong hai nhóm trên nhân tố người lao động là quan trọng nhất bởi vìcác tư liệu sản xuất đều là sản phẩm của lao động, những tư liệu đó chỉ cótác dụng, có giá trị trong sản xuất một khi được người lao động sử dụng,cũng chính vì vậy trong xã hội cong nghiệp hiện đại thì lực lượng sản xuất
Trang 4số một là người công nhân công nghiệp, nhu cầu của 1 nền sản xuất hiệnđại cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, các tri thức khoa học ngàycàng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội, nó không phải lànhân tố thứ 3 kết tinh trong tư liệu sản xuất, vá người lao động thông quacác quá trình sáng chế kỹ thuật, sáng chế kỹ thuật phải thông qua nhân tốngười lao động.
b Khái niệm quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ sản xuất giữa con người với nhautrong quá trình sản xuất quan hệ sản xuất này được phân tích trên 3 phươngdiện
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quan hệ quyết định các mối quan
hệ khác
- Quan hệ tổ chức quản lý, vi mô, vĩ mô, tuỳ thuộc vào quan hệ sảnxuất, thực chất là lớp quan hệ tổ chức kết hựop giữa tư liệu sản xuất với sứclao động trong các quá trình sản xuất cụ thể
- Phân phối sản phẩm tuỳ thuộc vào mối quan hệ sở hữu người côngnhân sở hữu sức lao động, người chủ sở hữu tư liệu sản xuất
- Vai trò của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định với quan hệ sản xuất bởi vìlực lượng sản xuất là nhân tố thuộc nhân tố nội dung vật chất, đảm bảo cho
sự duy trì kết hợp các quá trình sản xuất Tính quyết định đó thể hiện vớimột trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có nó đòi hỏi các quan
hệ sở hữu cách thức giải quyết và mộ chế độ tương ứng với nó những biếnđổi trong lực lượng sản xuất đặt ra nhu cầu phải thay đổi quan hệ sản xuấtcho phù hợp với nó
Vì vậy, yêu cầu cơ bản của quy luật này trong việc quy định hoànthiện hệ thống quan hệ sản xuất thì phải căn cứ vào thực trạng của nhu cầuphát triển lực lượng sản xuất, mỗi người cần liên hệ thực tiễn quan hệ sảnxuất
Trang 5Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như Các mácnhận xét "không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vậtchất của những quan hệ đó chưa chín muồi"
3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất làmối quan hệ thống nhất biện chứng trong đó lực lượng sản suất quyết địnhquan hệ sản xuất và quan hẹ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là 2 mặt tất yếu của quá trìnhsnar xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất cảu quá trình sảnxuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của sản xuất vật chất Lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định, thống nhấtlẫn nhau Đây là yêu cầu tất yếu phổ biến Mối quan hệ thống nhất Lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất theo nguyên tắc khách quan: Quan hệsản xuất phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trongmỗi gai đoạn lịch sử nhất định
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặtđối lập và phát sinh mâu thuẫn
Tính ổn định phù hợ của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất càngcao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển Nhưng chính sựphát triển của lực lương sản xuất luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sựthống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước đến nay đóng vai trò làhình thức hinh tế xã hội cho sự phát triển của nó Những quan hệ sản xuấtnày từ chỗ cần thiết phù hợp với lực lượng sản xuất đã trở thành nhữnghình thức kìm hãm nó, nó đã tạo ra một mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
và quan hê sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan là là pahir thiếtlập lại sự thốn nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Trang 64 Vấn đề vận dụng quy luật vào quá trình đổi mới ở Việt Nam
a Sự hình thành quan hệ sản xuất trong nền kinh tế ở nước ta
Như ta đã biết trước đây nước ta là một nước phong kiến kinh tế chủyếu là sản xuất nông nghiệp, tự cung tự cấp Sau nước ta trở thành thuộcđịa của Pháp, hàng hoá tuy có phong phú hơn trước đây nhưng vẫn không
có các ngành sản xuất ở trình độ khoa học, hàng hoá chủ yếu phục vụ chocác nhu cầu cơ bản của đời sống Sau một thời gian ngắn hoà bình, đấtnước ta bước vào cuộc đấu tranh khốc liệt với đế quốc Mỹ với mục tiêuthống nhâtý đất nước Bước ra từ hai cuộc chiến tranh ác liệt nền kinh tếsản xuất của ta gần như không có gì, nền sản xuất nhỏ trình độ khoa họckém phát triển, sau khi giành độc lập nước ta chủ trương quá độ đi lên xãhội chủ nghĩa nhưng không qua tư bản chủ nghĩa, nhưng do trong thời gian
đó chúng ta đã có những quan niệm không đúng cho rằng đưa quan hệ sảnxuất đi trước để mở đường cho sự phát triển lực lượng sản xuất, thiết lậpcông hữu sở hữu toàn dân trong khi trình độ sản xuất và quản lý yếu kémdẫn đến mâu thuẫn sâu sắc nảy sinh không lường trước được Đất nước rơivào tình trạng trị trệ không phát triển cán bộ tham ô, người công nhân vớinông dân không hăng hái tham gia sản xuất, cuộc sống khó khăn, kinh tếgiảm sút đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nhận thức được sai lầm
đó Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách mới, cho phép phục hồi
và phát triển chủ nghĩa tư bản, buôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự pháttriển sản xuất, đưa ra phương hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
có định hướng xã hội chủ nghĩa, dần dần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng
và phát triển kinh tế, giảm dần sự tụt hậu so với các nền kinh tế phát triển
b Đặc điểm và bản chất của quá trình đổi mới ở nước ta
Nhìn lại lịch sử tiến trình đổi mới của Việt Nam, chúng ta có thể rút ramột số đặc trưng chủ yếu của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam ở những vấn
đề sau:
- Sự nghiệp đổi mới được tiến hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 7Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới là đổi mới về phương thức và
mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với thực tiễn của xã hộiViệt Nam, chứ không xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đổimới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu gắn việc giữ vữngđộc lập dân tộc với xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở Việt Namluôn hướng tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Vì vậy, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đãđược thể hiện trên cả phương diện mục tiêu lẫn trong từng giai đoạn cụ thể,trong cả kết quả đạt được lẫn phương thức để đạt kết quả đó Chính sự địnhhướng xã hội chủ nghĩa này đã làm cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam thểhiện được tính đặc thù của lý luận chung về con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam
Ngay từ đầu, khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản ViệtNam đã xác định đổi mới tư duy về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam là vấn đề giữ vị trí quan trọng, mang tính đột phá trong việc từ
bỏ trên thực tiễn mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội rập khuôn theo Liên
Xô Việc đổi mới tư duy này trước hết được thể hiện chủ yếu trong sự nhậnthức lại của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đổi mới tư duy mà Đảng Cộng sảnViệt Nam chủ trương là nhận thức đúng về bản chất của chủ nghĩa xã hội
mà trước kia hiểu chưa đúng, nhận thức lại về hình thức, bước đi cụ thể củaViệt Nam trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội để làm sao xây dựng
ở Việt Nam một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, vănminh Xã hội mà Việt Nam xây dựng phải là xã hội do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao, ổn định, bền vững; có nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,được phát triển toàn diện; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; các dân
Trang 8tộc đoàn kết giúp nhau cùng phát triển; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất
cả các nước trên thế giới như trong các Nghị quyết của Đảng Cộng sản ViệtNam đã xác định Vì vậy mà công cuộc đổi mới ở Việt Nam không thể xarời mục tiêu chủ nghĩa xã hội
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được tiến hành theo mục tiêu chủnghĩa xã hội trên hai phương diện Về phương diện lý luận là xác lập được
hệ thống quan điểm đúng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủnghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam; về phương diện thực tiễn là làm chochủ nghĩa xã hội từng bước xuất hiện và hình thành một cách vững chắc ởViệt Nam Đây cũng chính là cách mà Việt Nam và Trung Quốc tiến hànhđổi mới và cải cách mở cửa khác hoàn toàn với công cuộc cải tổ của Liên
Xô và cải cách mở cửa ở các nước Đông Âu Việt Nam tiến hành đổi mớinhưng không “đổi màu”, còn Trung Quốc cải cách nhưng vẫn kiên trì,không lay chuyển đối với chế độ xã hội chủ nghĩa Chính sự thành côngcủa công cuộc đổi mới ở Việt Nam và cải cách mở cửa ở Trung Quốc đãkhẳng định tính đúng đắn của mô hình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
mà hai nước đã lựa chọn Đặc trưng này thể hiện được thực chất của côngcuộc đổi mới ở Việt Nam và xuyên suốt toàn bộ tiến trình thực hiện đổimới cho đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng thành công ở Việt Nam
- Đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm được tiến hành một cách tuần tự, từng bước phù hợp với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn
Việt Nam tiến hành đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các lĩnhvực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Nhưng, do đặc điểm khi tiến hànhđổi mới Việt Nam đang ở trình độ phát triển thấp và nhất là đang rơi vàomột cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, nên tiến hành đổi mớikhông thể làm đồng bộ tất cả các lĩnh vực, các khâu trong quá trình đổimới Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trên cơ sở đổi mới toàndiện đất nước phải lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là thenchốt, lấy sự ổn định chính trị làm cơ sở cho đổi mới kinh tế và các lĩnh vực
Trang 9khác Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đãtập trung toàn bộ sức lực, của cải và trí tuệ cho việc xây dựng một nền kinh
tế phát triển nhằm trước hết nâng cao đời sống của người dân lao động Đổimới phải mang lại trước hết những lợi ích thiết thực cho người dân, đặcbiệt là nông dân vốn vẫn chiếm đa số trong dân số Việt Nam (lúc tiến hànhđổi mới chiếm khoảng 80% dân số cả nước) Chỉ khi làm được điều đó thìĐảng Cộng sản Việt Nam mới tạo ra được một động lực mạnh mẽ cho việctiến hành đổi mới toàn diện đất nước Trong đổi mới kinh tế thì việc xâydựng mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaphải nhằm vào trọng điểm là giải phóng sức sản xuất, giải phóng mọi tiềmnăng của đất nước cho việc thực hiện công cuộc đổi mới Xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là làm cho quan hệsản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo ra mộtnền kinh tế có sức cạnh tranh cao Một nền kinh tế như thế sẽ khơi dậyđược mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động, của các doanh nghiệptrong và ngoài quốc doanh Nhưng, nền kinh tế mà Việt Nam xây dựng nàyvẫn duy trì vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kể cả những năm gần đây,khi Việt Nam thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
Trong cải cách kinh tế, nếu lúc đầu được tiến hành theo hướng giảiquyết những nhu cầu thiết yếu về đời sống cho người dân, còn sự nghiệpcông nghiệp hóa chỉ được tiến hành trên cơ sở cho phép và phục vụ chomục tiêu nói trên thì sau này, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại được coitrọng hơn trên cơ sở những thành tựu kinh tế đã đạt được Đảng Cộng sảnViệt Nam xác định đến năm 2020, Việt Nam phải hoàn thành về cơ bản sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, trong những nămgần đây, Việt Nam đã tập trung nhiều sức lực cho sự nghiệp này Vì chỉ cóhoàn thành được sự nghiệp này thì nền kinh tế Việt Nam mới phát triểnđược và mới có vị trí cao trên trường quốc tế Đặc biệt, đến Đại hội X (năm2006), Đảng Cộng sản Việt Nam lại đưa thêm chủ trương phát triển nền
Trang 10kinh tế tri thức để tranh thủ tối đa những tiến bộ khoa học, công nghệ tiêntiến trên thế giới nhằm đưa nền kinh tế nước ta hội nhập được với nền kinh
tế thế giới
Như vậy, nhìn vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, có thể thấy, ở mỗigiai đoạn, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định rõ những nhiệm vụ trọngtâm, trọng điểm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đó Mặc dù trongđường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và trong thời kỳ đổi mới,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm,nhưng mỗi thời kỳ, giai đoạn nó lại được tiến hành theo những phươngthức khác nhau và sự đầu tư cho phát triển cũng khác nhau Hơn nữa, nócòn được bổ sung thêm những yêu cầu mới cho phù hợp với tình hình pháttriển mới cả trong nước và thời đại
- Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coitrọng đổi mới hệ thống chính trị cho tương ứng với sự phát triển của kinh
tế, tức là tùy theo thành quả và yêu cầu đổi mới kinh tế mà từng bước có sựđổi mới về chính trị và hệ thống chính trị Nói một cách chính xác hơn thì
đó là quá trình đổi mới về thể chế chính trị trong sự tương thích với đổimới thể chế kinh tế Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được ĐảngCộng sản Việt Nam xác định trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI (năm1989) chính là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị theo hướng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hiệulực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vì vậy, đổi mới trong lĩnh vực chính trị trước hết là làm trong sạchĐảng, xây dựng Đảng vững mạnh hơn để Đảng làm tốt vai trò lãnh đạo củamình chứ không phải thực hiện đa nguyên, đa đảng Khi xã hội Việt Namxây dựng một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường thì để lãnh đạođược xã hội đó, đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải đổi mới khôngngừng phương thức lãnh đạo của mình, giữ vững sự lãnh đạo duy nhất của
Trang 11Đảng Sự đổi mới này được thể hiện rõ nhất trong những thay đổi nhậnthức của Đảng về động lực của sự phát triển, về vai trò của Nhà nước vàkinh tế tư nhân,… để từ đó, có những chủ trương, đường lối chỉ đạo đúngđắn sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam theo xu hướng của công cuộcđổi mới toàn diện đất nước Có thể thấy, từ khi tiến hành công cuộc đổimới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng đổi mới cả vềquan niệm cũng như phương thức lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam và để đảm nhiệm được vai trò lãnh đạo của mình, Đảng
đã luôn tự đổi mới cả về cơ cấu, tổ chức cũng như không ngừng nâng caochất lượng đảng viên trong Đảng cho phù hợp với tình hình mới Để đổimới hệ thống chính trị, Việt Nam còn từng bước tiến hành xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và thực hiện mởrộng dân chủ trong nhân dân để người dân phát huy được quyền làm chủcủa mình thông qua việc nâng cao và phát huy vai trò của các tổ chức trongMặt trận Tổ quốc Việt Nam Chính nhờ có sự đổi mới hệ thống chính trịmột cách thường xuyên mà những đổi mới trong kinh tế, văn hóa, xã hội ởViệt Nam luôn đi đúng hướng, không chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hộicủa công cuộc đổi mới
- Đổi mới để phát triển trong ổn định
Như đã phân tích ở trên, Việt Nam tiến hành đổi mới là một cuộc cáchmạng về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, công cuộc đổi mớiđược tiến hành tạo ra sự phát triển toàn diện đất nước, tạo ra sự tăng trưởngmạnh về kinh tế Nhưng, trong quá trình phát triển, Việt Nam luôn đảm bảo
sự ổn định về chính trị, xã hội cũng như tránh sự tăng trưởng nóng trongkinh tế Duy trì sự ổn định trong phát triển là đặc trưng quan trọng của sựnghiệp đổi mới ở Việt Nam Nó vừa đảm bảo sự tăng trưởng về kinh tế lạivừa đảm bảo cuộc sống ổn định của đa số người dân lao động Vì thế, trongquá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giải quyết tốt mối quan
hệ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, giữa phát triển
Trang 12kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Nghĩa là, nguyên tắctiến bộ và công bằng luôn được thực hiện trong từng bước phát triển và cảtrong suốt tiến trình thực hiện đổi mới Khi phát triển kinh tế theo cơ chếthị trường thì sự phân hóa giàu nghèo tất yếu sẽ xảy ra Nếu không giảiquyết tốt vấn đề này sẽ dẫn đến những sự bất công quá đáng trong xã hội.Trong xã hội, nếu có khoảng cách quá lớn giữa người giàu và người nghèo,hơn nữa người nghèo lại chiếm đa số, thì xã hội đó đâu còn đảm bảo được
sự tiến bộ nữa Vì vậy, có thể thấy, thành tích nổi bật của công cuộc đổimới ở Việt Nam là trong lúc kinh tế có sự tăng trưởng không ngừng thì đờisống của đa số người dân đều được cải thiện và nâng cao Khoảng cáchgiữa người giàu và người nghèo trong xã hội tuy chưa giải quyết được theoyêu cầu của định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng không để quá lớn.Trên tinh thần là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, nên đa sốngười dân lao động Việt Nam đều được hưởng lợi từ những thành tựu củacông cuộc đổi mới Ở Việt Nam, đổi mới là để đáp ứng những yêu cầu,nguyện vọng chính đáng của người dân Muốn có phát triển thì mọi chủtrương, chính sách đổi mới đều phải dựa vào dân, xuất phát từ dân và phục
vụ cho dân Chính điều đó tạo ra không chỉ động lực mạnh mẽ cho côngcuộc đổi mới, mà còn là và căn bản là làm cho lòng dân được yên và tuyệtđối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tin vào sự đúng đắn củacon đường đổi mới đã được lựa chọn Mục đích của đổi mới ở Việt Nam là
vì sự phát triển của con người, làm cho con người Việt Nam trở thành độnglực mạnh mẽ của công cuộc đổi mới đất nước
Vì vậy, Việt Nam luôn gắn phát triển kinh tế - xã hội với giáo dục vàđào tạo con người nhằm bảo đảm nguồn lực phát triển ổn định và bền vữngcho đất nước Giáo dục và đào tạo con người đáp ứng được yêu cầu của đấtnước chính là tạo ra sự ổn định trong phát triển.Việt Nam đổi mới để pháttriển, phát triển để đảm bảo sự ổn định đất nước và trên cơ sở ổn định, ngàycàng đổi mới và phát triển hơn nữa Đó chính là mối quan hệ giữa ổn định
Trang 13và phát triển được Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết tốt trong thực tiễnđổi mới đất nước trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy ổn định về chính trị là cơ bản và tiền đềcủa đổi mới và phát triển kinh tế.
- Đổi mới đất nước gắn liền mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới
Ngay từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định con đường đổi mới của Việt Nam phải kết hợp được sức mạnhtrong nước với sức mạnh thời đại Vì thế, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI,Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ đối ngoại là: “Ra sức kết hợpsức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” Suốt quá trình từ khi đổimới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn chú trọng giải quyết tốtnhiệm vụ này Nếu như thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, Việt Nam chỉmới chú trọng đến việc mở cửa và quan hệ với các nước trong khu vực vàchủ yếu là Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thì nay,Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương mở rộng quan hệ với tất cả cácnước trên thế giới trên nguyên tắc giữ vững độc lập và tự cường dân tộc.Công cuộc đổi mới ở Việt Nam không thể đạt được những thành tựu nhưngày nay nếu không có sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, không có hộinhập kinh tế quốc tế Nhờ chính sách mở cửa mà Việt Nam đã tranh thủđược sự giúp đỡ từ bên ngoài, đặc biệt là trong việc thu hút và sử dụngnguồn vốn đầu tư từ các nước phát triển Trước khi hệ thống xã hội chủnghĩa sụp đổ, Việt Nam luôn nhận được sự viện trợ toàn diện và to lớn củaLiên Xô và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa Sau khi hệthống này sụp đổ, Việt Nam không còn nguồn viện trợ đó nữa, nhưng nhờ
sự đổi mới trong chính sách đối ngoại, Việt Nam đã thu hút được nhiềunguồn vốn, như nguồn ODA (hỗ trợ phát triển chính thức) của các nướcphát triển, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Chính sự hợp tácnày luôn được duy trì và mở rộng đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam ngày
Trang 14càng phát triển mạnh mẽ, giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơhội và trên thực tế, đã vươn ra thị trường thế giới Quá trình đổi mới ở ViệtNam luôn lấy đổi mới trong nước là cơ sở để phát triển quan hệ với bênngoài, phát huy sức mạnh trong nước là chính trong sự tiếp thu và sử dụngsức mạnh của thời đại Đây cũng có thể coi là tính tất yếu trong sự nghiệpđổi mới của Việt Nam Sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở Việt Namkhông chỉ là về mặt phát triển kinh tế, giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc,
mà còn là sự thành công trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại của Đảng Cộngsản Việt Nam Dựa trên những thành công đó, đến Đại hội IX (năm 2006),
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,bảo vệ môi trường” Có thể thấy, đây cũng là mục đích, yêu cầu và nộidung của việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và tinh thầnnày cũng được tiếp tục nhấn mạnh ở Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sảnViệt Nam và giữ vững đến nay
c Thành tựu của quá trình đổi mới
Đổi mới ở Việt Nam là quá trình thử nghiệm, trong quá trình này cáimới và cái cũ xen kẽ nhau, cái cũ không mất đi ngay mà lùi dần, có lúc, cónơi còn chiếm ưu thế hơn cái mới, nhưng xu hướng chung là cái mới dầndần được khẳng định và đưa tới thành công
Điểm nổi bật của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là luôn luôn lấy sự
ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, làm điều kiện tiên quyết cho sựnghiệp đổi mới, phát triển và chính sự phát triển đó sẽ tạo ra sự ổn địnhmới vững chắc hơn
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử
Trang 15Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm,khắc phục được nạn lạm phát có lúc trên 700% (năm 1986) xuống mức lạmphát 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con số; khắcphục được nạn thiếu lương thực trước đây và hiện nay kinh tế phát triểnliên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuấtkhẩu gạo thứ hai, thứ ba trên thế giới.
Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước nhằm mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại
Cùng với tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã chú
ý đến việc thực hiện chính sách công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo.Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện mộtbước đáng kể Tính riêng trong 5 năm (1993-1998), thu nhập bình quân đầungười của Việt Nam đã tăng 2,45 lần
Một đặc điểm khác đáng chú ý nữa là sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
đã xác định đổi mới kinh tế là trọng tâm, trước hết phải đổi mới tư duy vềkinh tế Nhờ định hướng đúng đắn mà những yêu cầu cấp thiết của nhândân ta về sản xuất và đời sống được giải quyết, đem lại sự tin tưởng củanhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, tự nó trở thành động lực thúc đẩy côngcuộc đổi mới giành nhiều thắng lợi
Song song với đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, xã hội,văn hóa với mục tiêu phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, xâydựng và phát huy đại đoàn kết toàn dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Khoa học - công nghệ cùng với giáodục - đào tạo được Nhà nước hết sức chăm lo Nhà nước coi chính sách pháttriển khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, khoa học - công nghệ và giáo dục - đàotạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng Năm 2000, Việt Nam đã hoànthành phổ cập giáo dục tiểu học, hiện nay chương trình đào tạo sau đại học
Trang 16với hai học vị thạc sĩ và tiến sĩ đang được thực hiện ở hầu hết các ngànhhọc thuộc khoa học tự nhiên và công nghệ cũng như khoa học xã hội vànhân văn.
Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam thực hiện chính sách mở rộngquan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Thực hiện nhấtquán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạnghóa các quan hệ quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Trên
cơ sở đường lối đó, Việt Nam đã kiên trì phấn đấu đẩy lùi và làm thất bạichính sách bao vây cấm vận, cô lập Việt Nam của các thế lực thù địch, tạođược môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo
Hà Nội của Việt Nam
Tháng 11-1998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu
Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm các nước và lãnh thổ thuộc châu Á,châu Mỹ và châu Đại Dương ở ven hai bờ Thái Bình Dương
Chính trong quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đã nhanh chóng mởrộng xuất khẩu, thúc đẩy phát triển, tạo thêm việc làm cho người lao động,tăng nguồn thu ngân sách nhà nước Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam đạt 2,404 tỷ USD và nhập khẩu đạt 2,752 tỷ USD, tính chungbốn năm từ năm 2001 đến năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 77
tỷ USD, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân bốn năm khoảng 14,6% Kimngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2004 đạt trên 305 USD/người.Đổi mới ở Việt Nam đã kết hợp được nội lực và ngoại lực Tháng 12-
1987, Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ thời gian