1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài đảng cộng sản việt nam ra đời quá trình sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và dân tộc việt nam

29 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời – Quá Trình Sàng Lọc Nghiêm Khắc Của Lịch Sử Và Dân Tộc Việt Nam
Tác giả Trần Thành Đạt, Nguyễn Quang Đạt, Phùng Minh Đức, Nguyễn Thành Đạt
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Hữu Kỷ
Trường học Đại Học Bách Khoa
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 688,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA  BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC V[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



BÀI TẬP LỚNMÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Nguyễn Quang Đạt 2012929Phùng Minh Đức 2013012 Nguyễn Thành Đạt 2012937

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOAKHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM

 Môn:LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (MSMH: SP1039)

Mã sốSV

Họ Tên Nhiệm vụ được phân công Kết

quả

Kýtên

 (Ký và ghi rõ họ, tên)  (Ký và ghi rõ họ, tên)

Thành Đạt

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

Lý do chọn đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 5

I Bối cảnh lịch sự Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 5

1.1 Bối cảnh thế giới 5

1.2 Bối cảnh trong nước 7

II Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 10

2.1 Phong trao yêu nước theo khuynh hướng phong kiến 10

2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản 17

2.3 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản 21

III Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 24

3.1 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 24

3.2 Giá trị của việc thành lập Đảng 26

PHẦN KẾT LUẬN 27

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng

về đường lối cứu nước, người con của quê hương là Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc

ra đi tìm con đường cứu nước Bước ngoặc lớn trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc diễn

ra khi người đọc toàn văn: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc vàthuộc địa của Lênin Người hiểu sâu sắc những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóngdân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phónggiai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng giải phóng dân tộc từng bước với phong trào cáchmạng vô sản thế giới Từ đây người dứt khoát đi theo con đường cách mạng của Lênin. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam

 Ngày 3-2-1930, Hội nghi hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (HươngCảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã diễn ra Hội nghịnhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông quaChánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt củaĐảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như làmột Đại hội thành lập Đảng Đảng được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp

và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kếthợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quảcủa quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trìnhchuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng,đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc Đó là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọngđại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứunước

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I Bối cảnh lịch sự Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX1.1 Bối cảnh thế giới

1.1.1 Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa

Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu - Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽtrong đời sống kinh tế - xã hội Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự docạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa pháttriển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Do đó các nước Chủ nghĩa tư bản phương Tây đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở Châu Á,châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa cũng như là thịtrường tiêu thụ của các nước đế quốc Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làmcho nhân dân lao động ở các nước trở nên cùng cực Trước bối cảnh đó, nhân dân cácdân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạothành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ , rộng khắp, nhất là ở Châu Á 1

Tháng 8 năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra với mục đích tranh giànhthuộc địa giữa các nước đế quốc gây ra nhiều hậu quả đau thương cho nhân dân nhiềunước Đồng thời cũng làm cho sức mạnh của chủ nghĩa đế quốc suy yếu và mâu thuẫngiữa các nước đế quốc càng tăng thêm Từ đó tạo điều kiện cho các cuộc đấu tranh ở cácnước cũng như các thuộc địa phát triển mạnh mẽ

Sự ra đời của hàng loạt các Đảng Cộng Sản: Đảng Cộng Sản Pháp (1920), ĐảngCộng Sản Trung Quốc (1921), tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩaMác - Lênin vào Việt Nam

1.1.2 Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời Với ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, giữa thế kỷ XIX phong trào đấu tranhcủa giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ dẫn đến yêu cầu phải có hệ thống lý luậnkhoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranhchống chủ nghĩa tư bản thành lập vì điều này đã dẫn đến chủ nghĩa Mác-Lênin rađời Khi đề cập đến chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa

1  Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 tr.36.

Trang 6

một trong những điểm yếu chết người của chúng nằm ngay trong câu nói: “Mặt trờikhông bao giờ lặn trên đất nước Anh”, chứng minh cho hệ thống thuộc địa rộng lớn này

sẽ gây khó khăn cho quá trình cai trị của chính quốc Vì vậy muốn chiến thắng và giànhlại độc lập, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra các dân tộc thuộc địa cùng chung kẻ thù phảihợp sức cùng lúc kiên quyết nổi dậy đấu tranh thì sẽ phân tán lực lượng của đế quốc,thay vì những phong trào nhỏ lẻ, rời rạc thì bọn chúng sẽ dễ dàng dập tắt được Từ yếu

tố này, Lênin đã bổ sung vào khẩu hiệu nổi tiếng trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản” mà C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại”2 Sau khi được bổ sung, khẩu hiệu không nhữngcông khai tuyên bố tính chất quốc tế của giai cấp vô sản mà còn kêu gọi tinh thần đoànkết của tất cả giai cấp thuộc những dân tộc bị áp bức, không chỉ giai cấp vô sản và giaicấp công nhân Muốn liên kết chặt chẽ mọi tầng lớp dân tộc bị áp bức, cần phải lập raĐảng Cộng sản để thực hiện sứ mệnh lịch sử chung: tiêu diệt đế quốc

1.1.3. Cách mạng tháng Mười Nga thành công và Quốc tế Cộng sản ra đời  Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi Trong bối cảnh đó,cách mạng tháng Mười Nga đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới Thắng lợi củacách mạng tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giaicấp vô sản ở các nước tư bản, mà còn là tấm gương sáng trong việc giải phóng dân tộc

 bị áp bức, có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộcđịa Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản, do V.I Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành

 bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới Quốc

tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà còn

đề cập các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc.Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc vàthuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vôsản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản Đạihội II của Quốc tế Cộng sản (1920) đã thông qua Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương

về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do V.I.Lênin khởi xướng Cách mạng tháng Mười Nga và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và

2  C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2017.

Trang 7

thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam vàĐông Dương.3

1.2 Bối cảnh trong nước1.2.1 Xã hội Việt nam dưới chính sách cai trị của thực dân PhápViệt Nam là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng của châu

Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp Năm

1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam Sau khi tạm thời dập tắtđược các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộmáy thống trị ở Việt Nam

Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn ápnặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, biếnvua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúng tiếp tục thi hành chính sách “chia đểtrị” rất thâm độc, chia nước ta làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó vớinước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, với mongmuốn xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc,Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dònghọ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Về kinh tế , thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướpđoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở côngnghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khaithác thuộc địa của thực dân Pháp Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đãtạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tếmới ) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bảnPháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu Pháp ra sức vơ vét tối đa nhân lực vật lực và tàilực để gánh đỡ những tổn thất và thiếu hụt của Pháp trong chiến tranh Pháp tăng thuế, bắt nhân dân Việt Nam mua công trái, vơ vét lương thực, nông lâm sản, kim loại đem

về Pháp Sự cướp bóc của Pháp ảnh hưởng trầm trọng đến kinh tế - xã hội Việt Nam

Về văn hóa-xã hội, chúng thi hành chính sách “ ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tùnhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn xã

3  Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 tr.38.

Trang 8

hội vốn có của chế độ phong kiến như mê tín dị đoan, và tạo ra nhiều tệ nạn mới, dùngrượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam Chúng còn ra sức tuyêntruyền tư tưởng “khai hóa văn minh” của nước “Đại Pháp”.

Chế độ áp bức về chính trị , bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dânPháp đã làm biến đổi tình hình, chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam Các giai cấp cũ phânhóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái

độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc

1.2.2 Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam dưới sựthống trị của thực dân Pháp

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thựcdân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc:

Giai cấp địa chủ: Một bộ phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp và làm tay saiđắc lực cho Pháp trong việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân Một

 bộ phận khác nêu cao tinh thần dân tộc, khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chốngPháp và bảo vệ chế độ phong kiến Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dânchống thực dân Pháp và phong kiến phản động Còn một số bộ phận nhỏ chuyển sangkinh doanh theo lối tư sản

Giai cấp nông dân:  Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hộiViệt Nam (chiếm khoảng hơn 90% dân số), bị áp bức và bóc lột nặng nề Do vậy, ngoàimâu thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc vớithực dân Pháp xâm lược Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần yêu nước và khao khátgiành lại độc lập tự do của dân tộc, sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo

Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời gắn liền với các cuộc khai thác thuộc địa củaPháp, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồnđiền… Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phongkiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồnđiền, lực lượng còn nhỏ bé nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại,nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnhđạo

Trang 9

Giai cấp tư sản Việt Nam: Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấpcông nhân Một bộ phận có lợi ích gắn liền với tư bản Pháp, tham gia vào đời sốngchính trị, kinh tế của chính quyền Pháp và trở thành tầng lớp tư sản mại bản Một bộ phân là giai cấp tư sản dân tộc bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc yếu ớt vềkinh tế Phần lớn tư sản dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không

có khả năng tập hợp các giai cấp để tiến hành cách mạng

Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam : bao gồm tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, họcsinh… bị đế quốc, tư bản chèn ép, khinh miệt, họ có tinh thần dân tộc, yêu nước, rấtnhạy cảm về chính trị và thời cuộc Tuy nhiên do địa vị kinh tế bấp bênh hay dao động,thiếu kiên định nên tầng lớp tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng

 Như vậy, có thể thấy, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX, Việt Nam đã có sự biến đổirất quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội Chính sách cai trị và khai thác, bóc lột củathực dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa chủ,nông dân), đồng thời hình những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu

tư sản) với thái độ chính trị khác nhau Những mâu thuẫn mới trong xã hôi Việt Namxuất hiện, trong đó, mâu thuẫn giữa đoàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu và ngày càng gay gắt.4

4  Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 tr.43.

Trang 10

II Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của ĐảngCộng sản Việt Nam

2.1 Phong trao yêu nước theo khuynh hướng phong kiến2.1.1 Khởi nghĩa Yên Thế (1884 – 1913)

  a Nguyên nhân bùng nổ Kinh tế nông nghiệp sa sút, đời sống nhân dân khó khăn, một vài bộ phận phải phiêu tán lên Yên Thế và họ sẵn sàng đấu tranh

Yên Thế là vùng đất phía Tây Bắc Giang, diện tích rộng cây cối rậm rạp, cây cỏ

um tùm từ đấy có thể đi thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên nênrất thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánhnhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi

Pháp thi hành chính sách bình định, nhân dân Yên Thế vùng dậy đấu tranh

b Diễn biến cuộc khởi nghĩaGiai đoạn thứ nhất (1884 -1892): Lúc bấy giờ xuất hiện hàng chục toán nghĩaquân của Đề Nắm, Bá Phức, Thống Luận, Tổng Tài, Đề Thuật, Đề Chung Mỗi thủlĩnh cầm đầu một toán quân và làm chủ một vùng Theo Chapuis, tới cuối năm 1889, lựclượng của Đề Thám gồm khoảng 500 quân được huấn luyện chu đáo Đề Thám liên kếtvới lực lượng của Lương Tam Kỳ, một chỉ huy quân Cờ đen, và thủ lĩnh người Thái

Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc Yên và Bắc Giang

Trong giai đoạn này, tuy phong trào chưa được thống nhất vào một mối, nhưngnghĩa quân vẫn hoạt động có hiệu quả Tháng 11-1890, nghĩa quân Đề Thám đã giànhthắng lợi trong trận chống càn ở Cao Thượng Từ đầu đến cuối tháng 12-1890, ba lầnquân Pháp tấn công vào Hố Chuối, nhưng cả ba lần chúng đều bị nghĩa quân Đề Thámđánh bại Đến cuối năm 1891, nghĩa quân đã làm chủ hầu hết vùng Yên Thế, mở rộnghoạt động sang cả Phủ Lạng Thương

 Năm 1891, quân Pháp lại tấn công Hố Chuối, nghĩa quân Đề Thám phải rút lênĐồng Hom Tranh thủ thời cơ, chúng tiến nhanh vào vùng Nhã Nam, rồi vừa tổ chức cáccuộc càn quét, vừa xây dựng các đồn bốt để bao vây nghĩa quân

 Nhằm ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của địch, nghĩa quân đã lập mộtcụm cứ điểm gồm 7 hệ thống công sự ở phía bắc Yên Thế do Đề Nắm, Đề Thám, Bá

Trang 11

Phức, Đề Tâm, Đề Tuất, Đề Chung, Tổng Tài chỉ huy Lúc này, Đề Nắm là một trongnhững thủ lĩnh có uy tín nhất của nghĩa quân Yên Thế.

Tháng 3 - 1892, Pháp huy động hơn 2.200 quân bao gồm nhiều binh chủng (công binh, pháo binh ) do tướng Voarông (Voiron) chỉ huy ào ạt tấn công vào căn cứ nghĩaquân Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân sau nhiều trận kịch chiến đã phải rút khỏi căn cứ Lực lượng nghĩa quân bị suy yếu rõ rệt Khó khăn ngày càngnhiều, một số thủ lĩnh ra hàng, một số khác hi sinh trong chiến đấu, trong đó có Đề Nắm bị giết vào tháng 4 - 1892

Để cứu vãn tình thế, Đề Thám đã đứng ra tổ chức lại phong trào và trở thành thủlĩnh tối cao của nghĩa quân Yên Thế Tuy gặp khó khăn, nhưng thế mạnh của quân YênThế là thông thuộc địa hình và cơ động, giúp họ thoát được vòng vây của quân Pháp.Giai đoạn 2 (1893-1897): Trong giai đoạn này, nghĩa quân đã hai lần đình chiếnvới Pháp, lần thứ nhất vào tháng 10 - 1894, lần thứ hai vào tháng 12-1897 Sau khi Đề Nắm hi sinh, Đề Thám đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào Yên Thế Ông đã khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các vùng xung quanh, rồi tiếp tục hoạtđộng So với giai đoạn trước, số lượng nghĩa quân tuy có giảm, nhưng địa bàn hoạt độnglại mở rộng hơn

 Năm 1894, nghĩa quân trở về Yên Thế tiến hành xây dựng lại căn cứ Hố Chuối,đồng thời mở rộng hoạt động ra các vùng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang Lúc này, các phong trào Bãi Sậy, Ba Đình, cũng như các đội quân kháng chiến của Đốc Ngữ, ĐềKiều đều đã tan rã, nên thực dân Pháp có điều kiện tập trung lực lượng đàn áp khởinghĩa Yên Thế

 Ngày 17-9-1894, quân Yên Thế bắt cóc Chesnay , biên tập viên tờ Avenir duTonkin Do phải chịu áp lực từ phía chính quyền thuộc địa và khó khăn trong việc dậptắt cuộc khởi nghĩa, quân đội Pháp phải tiến hành hòa hoãn để nghĩa quân Yên Thế thảChesnay Về phía nghĩa quân, tuy có giành được một số thắng lợi, nhưng lực lượngcũng suy yếu rõ rệt Trong tình hình đó, Đề Thám thấy cần phải hòa hoãn với Pháp đểtranh thủ thời cơ củng cố lực lượng Tháng 10-1894, cuộc thương lượng giữa nghĩaquân Yên Thế và thực dân Pháp kết thúc.Theo đó, phía Pháp trả 15.000 francs tiềnchuộc, họ phải rút khỏi Yên Thế và để Đề Thám kiểm soát 4 tổng Nhã Nam, Mục Sơn,Yên Lễ và Hữu Thượng, với quyền thu thuế trong 3 năm Trong thời gian này, Đề Thám

Trang 12

tới sống ở đồn Phồn Xương và cho cày cấy với quy mô lớn Ông cũng được Kỳ Đồng

hỗ trợ, tuyển mộ người cho ông từ thành phần phụ từ một đồn điền của Pháp do KỳĐồng quản lý

 Năm 1895, Đề Thám tham gia tổ chức đánh Bắc Ninh, và từ chối trả lại những vũkhí mà ông chiếm được tại đây cho phía Pháp Tới tháng 11-1895, thiếu tá Gallieni đưamột pháo thuyền chở quân lên uy hiếp, buộc Đề Thám đầu hàng, nhưng nghĩa quân ĐềThám đã chống đỡ quyết liệt Để tránh những cuộc đụng độ lớn với quân Pháp, ĐềThám chủ trương chia nghĩa quân thành những toán nhỏ phân tán hoạt động trong rừng

và ở các làng mạc Nghĩa quân phải di chuyển hoạt động trong bốn tỉnh: Bắc Ninh, BắcGiang, Thái Nguyên, Phúc Yên

Trước sự truy lùng và vây quét ráo riết của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngàycàng suy yếu Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám lại xin giảng hòa với Pháp lần thứ hai.Thực dân Pháp lúc này cũng muốn chấm dứt xung đột để tiến hành khai thác thuộc địa

Vì vậy, tháng 12-1897, hiệp ước hòa hoãn giữa thực dân Pháp và nghĩa quân Đề Thám

đã được ký kết với những điều kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, nghĩa quân phải nộp choPháp tất cả vũ khí và phải bãi binh Đề Thám bề ngoài tỏ ra là phục tùng, nhưng bêntrong vẫn ngầm củng cố lực lượng

Giai đoạn 3 (1898-1908): Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫngiữ tinh thần chiến đấu Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc lượng

ăn, vừa tăng cường sắm sửa vũ khí, ra sức luyện tập Đồng thời, Đề Thám còn mở rộngquan hệ giao tiếp với các nhà yêu nước ở Bắc và Trung Kì

Tại Yên Thế, nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đã hai lần đón tiếp nhà yêu nước PhanBội Châu Giữa năm 1906, Phan Châu Trinh cũng lên Yên Thế gặp Đề Thám Đề Thámcần lập một căn cứ cứ gọi là đồn Tú Nghệ dành cho các nghĩa sĩ miền Trung ra huấnluyện quân sự

Về phía Pháp, trong thời gian chúng ráo riết lập đồn, bốt, mở đường giao thông,tạo mọi điều kiện cần thiết để đánh đòn quyết định vào căn cứ nghĩa quân Yên Thế.Giai đoạn thứ 4 (1909-1913):  Năm 1908, Đề Thám tham gia cuộc nổi dậy của línhkhố xanh tại Bắc Ninh, Nam Định và Nhã Nam, khiến một sĩ quan Pháp bị giết Tới 27-

7 năm 1908, xảy ra vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội có sự tham gia của Đề Thám.Cuộc binh biến này được chuẩn bị rất chu đáo, theo đó nghĩa quân sẽ bắn phá đồn binh

Trang 13

Pháp tại Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân đội 108, Hà Nội) bằng đại bác nhằm vô hiệuhóa đồn này Các đồn binh tại Sơn Tây và Bắc Ninh sẽ bị chặn đánh, không cho tiếp cứu

Hà Nội Quân Đề Thám chờ ngoài thành Hà Nội, chờ tín hiệu từ trong thành, sẽ đánhGia Lâm và cắt đường xe lửa và điện thoại Tuy nhiên cuộc binh biến thất bại, quân ĐềThám phải rút về, 24 người tham gia cuộc binh biến bị Pháp xử tử, 70 người bị xử tùchung thân

 Nhân cơ hội này, thực dân Pháp chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt nghĩaquân Tháng 1-1909, dưới quyền chỉ huy của đại tá Batay (Bataille), khoảng 15.000quân cả Pháp và ngụy đã ào ạt tấn công vào Yên Thế Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừachuyển dần xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, rồi rút sang Tam Đảo, Thái Nguyên.Trên đường di chuyển, nghĩa quân vẫn tổ chức đánh trả quyết liệt, gây cho địch nhữngthiệt hại nặng nề Điển hình là trận chặn giặc ở đồn Hom, Yên Thế (ngày 30 tháng 1năm 1909); trận núi Hàm Lợn ở Tam Đảo, Phúc Yên (ngày 15 tháng 3 năm 1909).Trước các cuộc vây quét tiêu diệt gắt gao của quân Pháp, lực lượng nghĩa quânngày càng giảm sút Đến cuối năm 1909, hầu hết các tướng lĩnh đã hi sinh, hoặc sa vàotay giặc, như Cả Trọng, Cả Huỳnh, Cả Tuyển (con Nguyễn Thiện Thuật), Ba Biều, bà

Ba Cẩn Có một số người ra hàng như: Cả Dinh, Cai Sơn Từ 29-1 tới 11- 11 năm

1909, quân Đề Thám thua 11 trận quan trọng, bị quân Pháp vây hãm tại Yên Thế Bà BaCẩn bị bắt, bị đày đi Guyana Đến đây, phong trào coi như đã thất bại về cơ bản

Do lực lượng giảm sút, nhiều người bỏ trốn, Đề Thám phải nhờ đến Lương Tam

Kỳ hỗ trợ Tuy nhiên, ngày ngày 10 tháng 2 năm 1913, Đề Thám bị hai tên thủ hạLương Tam Kỳ giết hại tại một khu rừng cách chợ Gồm 2 km, nộp đầu cho Pháp lấythưởng Sự kiện này đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.2.1.2 Phong trào Cần Vương 

Giai đoạn một (1885-1888): đây là giai đoạn phong trào Cần Vương đặt dưới sựchỉ huy tương đối thống nhất của triều đình Mở đầu là các cuộc nổi dậy của Văn Thân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng Trị,Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thái Bình, Nam Định…nên thời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc và Trung Bộ Khi vua Hàm Nghi bị bắt ngày 1/11/1888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX và có xuhướng ngày càng đi vào chiều sâu

Trang 14

Giai đoạn hai (1888-1896):  phong trào Cần Vương không còn đặt dưới sự lãnhđạo của triều đình kháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quytụ xungquanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình năm (1881-1887) do Đốchọc Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mởu Thịnh,Thương Thọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Phápkiên cố Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và sự giúp

đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch , tiêu diệt hàng trăm tên Ngoàiviệc xây dựng và bảo vệ căn cứ nghĩa quân Ba Đình còn tổ chức các cuộc phục kích,chặn đánh các đoàn xe địch và tập kích tiêu diệt các toán qân của giặc đi lẻ Trước sự phát triển lớn mạnh của nghĩa quân thựcdân Pháp dã huy động một lực lượng lớn quânlính đàn áp nghĩa quân tuy chiên đấu dũng cảm nhưng do lực lượng quá chênh lệch cuốicùng khởi nghĩa đã thất bại, căn cứ Ba Đình vỡ, một bộ phận nghĩa quân rút lên rừng núigia nhập các toán nghĩa binh khác

2.1.3 Khởi nghĩa Bãi Sậy (1882-1893)

Do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, địa bàn là vùng thuọc các huyện Văn Giang,Khoái Châu, Mỹ Hào (Hưng Yên) Đựoc nhân dân ủg hộ, nghĩa quân Bãi Sậy đã thoắt

ẩn, thoắt hiện áp dụng có hiệu quả chiến thuật du kích, gây cho địch nhiều tổn thất.Trong suốt mười năm, nghĩa quân Bãi Sậy hoạt động quấy rối, tiến công, tiêu hao sinhlực địch Nhiều cuộc phục kích, đánh đòn, chặn đường giao thông diễn ra liên tục ở khắp nơi gây cho địch những tổn thất nghiêm trọng Ngày 11/11/1888 nghĩa quân tổchức đánh úp đội quân địch ở Liêu Trung (Mĩ Hào, Hưng Yên) diệt ba mươi mốt têntrong đó có tên chỉ huy, gây tiếng vang lớn , làm nức lòng nhân dân để đối phó vớinghĩa quân thực dân Pháp đã tập trung binh lực và sử dụng các tên tay sai như NguyễnTrọng Hợp, Hoàng Cao Khải mở cuộc càn quét lớn nhằm vào xung quanh Bãi Sậy rồi bao vây chặt nghĩa quân Nghĩa quân chiến đấu anh dũng song cuối cùng khởi nghĩa đãhoàn tàon thất bại, những người lãnh đạo đều hy sinh

2.1.4 Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892)

Do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạo căn cứ chính là Hùng Lĩnh, ngoài ranghĩa quân còn mở rộng hoạt động đến các vùng tả hữu ngọn sông Mã, phối hợp với ĐềKiều, Đốc Ngữ chống phá ở vùng hạ lưu sông Đà, với Phan Đình Phùng ở Hưng Khê

Về tổ chức, nghĩa quân Hùng Lĩnh lập ra các cơ sở (khoảng 200 người) lấy tên huyện

Ngày đăng: 21/03/2023, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ môn lịch sử - khoa KHXH & NV – trường Đại Học Khoa Học (20/03/2014), Quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ tự phát đến tự giác (1919- 1930), Truy cập từ: http://lichsu.tnus.edu.vn/chi-tiet/534-Qua-trinh-dau-tranh-cua-giai-cap-cong-nhan-Viet-Nam--tu-tu-phat-den-tu-giac-1919-1930   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ tự phát đến tự giác (1919- 1930)
Tác giả: Bộ môn lịch sử - khoa KHXH & NV – trường Đại Học Khoa Học
Năm: 2014
3. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2017
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15 tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1995-2011
5. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng (07/05/2012), Quá trình từ tự phát đến tự giác của giai cấp công nhân Việt Nam 1919-1930 . Truy cập từ:https://vksdanang.gov.vn/dang-doan-the/dm-cong-doan/chi-tiet?id=29135&_c=946.vnkienthuc.com (6/6/2018), Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình từ tự phát đến tự giác của giai cấp công nhân Việt Nam 1919-1930
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2012
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w