BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VŨ THANH PHƢƠNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI CĂN HẠCH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƢ HẮC TỐ DA GIAI ĐOẠN II, III LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Hà Nội Năm 2023 BỘ[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu phân tích dữ liệu của 135 bệnh nhân ung thư hắc tố da giai đoạn II, III tại Bệnh viện K Hà Nội, trong đó có 30 bệnh nhân được theo dõi hồi cứu và 105 bệnh nhân được điều trị tiến cứu bằng phẫu thuật đơn thuần Kết quả cho thấy phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho các bệnh nhân ung thư hắc tố da giai đoạn này, góp phần cải thiện khả năng sống sót và chất lượng cuộc sống Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng về hiệu quả của phẫu thuật trong điều trị ung thư hắc tố da giai đoạn II, III, hỗ trợ các bác sĩ trong lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu
Bệnh nhân có đủ các tiêu chuẩn sau sẽ được chọn vào nghiên cứu:
+ Được chẩn đoán xác định là ung thư hắc tố da nguyên phát bằng mô bệnh học tại Bệnh viện K Hà Nội
Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư hắc tố da trước khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội phòng chống ung thư Mỹ (AJCC) phiên bản thứ 8 năm 2017, bệnh nhân được xếp vào giai đoạn II hoặc III của ung thư hắc tố da.
+ Được điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần (cắt rộng khối u và nạo vét hạch khu vực), không điều trị bổ trợ
Ung thư hắc tố da được xác định dựa trên loại mô bệnh học và đặc điểm tế bào khối u, thông qua phân tích các tiêu bản nhuộm HE và hóa mô miễn dịch (HMMD).
+ Có đủ hồ sơ bệnh án bệnh viện lưu trữ ở nhóm hồi cứu
+ Không mắc kết hợp các bệnh ung thư khác
+ Không mắc các bệnh mạn tính khác có nguy cơ tử vong gần
+ Có đầy đủ thông tin về tình trạng bệnh sau phẫu thuật qua các lần khám lại định kỳ theo hẹn, điện thoại và thư trả lời được gửi cho BN và gia đình
- Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân nghiên cứu
+ Không rõ chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học là ung thư hắc tố da
+ Ung thư hắc tố da đã phẫu thuật cắt khối u ở các Bệnh viện khác
+ Di căn dưới da của ung thư hắc tố chưa rõ nguyên phát
+ Ung thư hắc tố của các cơ quan bộ phận khác của cơ thể không phải của da.
Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện từ 01/11/2015 đến 30/06/2022 tại Bệnh viện K Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu, có theo dõi dọc
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu n = Z 1 2 /2 x P (1 2 P ) d
Trong đó: n = số bệnh nhân tối thiểu cần nghiên cứu
Z = hệ số giới hạn độ tin cậy đối với độ tin cậy 95%, tra bảng = 1,96 p = tỷ lệ không tái phát di căn sau mổ ung thư hắc tố da, theo nghiên cứu trước là 25% 15 , suy ra p là 0,25 q = 1- p = tỷ lệ tái phát di căn sau mổ ung thư hắc tố da, q = 1- 0,25 = 0,75 d = sai số tuyệt đối cho phép = 0,1
Cỡ mẫu lý thuyết cho nhóm nghiên cứu tối thiểu là 72 bệnh nhân dựa trên các phương pháp tính toán thống kê Tuy nhiên, nghiên cứu đã thu thập thực tế 135 bệnh nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đề ra Quá trình thu thập dữ liệu bắt đầu từ ngày 05/01/2013 và kết thúc vào ngày 10/12/2019, đảm bảo đủ phạm vi thời gian để phân tích dữ liệu một cách khách quan và chính xác.
2.3.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
2.3.3.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu đặc điểm di căn hạch
- Nhóm tuổi: < 20, 20-29, 30-39, 40-49, 50-59, 60-69, 70-79 và ≥ 80 tuổi; nhóm tuổi trẻ, trung niên < 60 tuổi và nhóm tuổi già ≥ 60 tuổi
- Giới tính: nam và nữ
- Nghề nghiệp: làm ruộng, công nhân và viên chức hưu trí
- Tiền sử gia đình: bố mẹ đẻ bị ung thư hắc tố da và bố mẹ đẻ không bị ung thư hắc tố da
- Thời gian mắc bệnh: < 6 tháng và ≥ 6 tháng
- Triệu chứng đầu tiên:nốt ruồi to lên, loét da, sùi da, hạch to và đau chói u
- Vị trí khối u: đầu cổ, thân mình, chi trên, đùi cẳng chân và gan bàn chân
- Nền da khi xuất hiện u: da thường, nốt ruồi, da sừng hóa và sắc tố bẩm sinh tàn nhang
- Triệu chứng đau chói u: có đau và không đau
- Hình thái lâm sàng u: nốt ruồi to, sùi da, loét da, sùi loét da và phẳng
- Màu sắc u: đen loang lỗ, nâu sẫm loang lỗ và không có sắc tố
- Thể mô bệnh học: thể lan tràn nông, nốt, nốt ruồi son và nốt ruồi son đỉnh
- Độ dày u vi thể: 1,01-2,0mm (T 2 ), 2,0-4,0mm (T 3 ) và > 4,0mm (T 4 )
- Mức độ xâm lấn vi thể Clark II-III-IV-V, nhóm Clark II-III và Clark IV-V
- Giai đoạn phát triển vi thể: tỏa tia và thẳng đứng
- Loét u vi thể:loét u và không loét u
- Nhân vệ tinh quanh uvi thể: có nhân vệ tinhvà không cónhân vệ tinh
- U xâm nhập mạch vi thể: u xâm nhập mạch và u không xâm nhập mạch
- Tế bào lympho xâm nhập u vi thể: dày đặc, thưa thớt và không có lympho bào xâm nhập u
- Tỷ lệ nhân chia vi thể: tỷ lệ < 1 nhân chia/mm 2 , tỷ lệ 1-6 nhân chia/mm 2 và tỷ lệ > 6 nhân chia/mm 2
- Hạch khu vực di căn vi thể: có di căn và không có di căn
- Hạch trung gian di căn vi thể: có di căn và không có di căn
- Số lượng hạch khu vực di căn vi thể: N0 chưa di căn hạch, N1 di căn 1 hạch,
N 2 di căn 2-3 hạch và N 3 di căn > 3 hạch
- Xếp loại T sau mổ pT: pT 2 , pT 3 và pT 4
- Xếp loại N sau mổ pN: pN0, pN1, pN2 và pN3
- Xếp loại M trước mổ: chưa di căn xa (M0)và đã di căn xa (M 1 )
- Giai đoạn bệnh: giai đoạn II và giai đoạn III
2.3.3.2 Các biến số, chỉ số nghiên cứu đánh giá kết quả sau mổ và phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm 5 năm sau mổ
Các biến số, chỉ số nghiên cứu đánh giá kết quả sau mổ
- Phương pháp phẫu thuật: cắt rộng khối u, vét hạch khu vực và cắt cụt chi - tháo khớp, vét hạch khu vực
- Sinh thiết tức thì diện cắt quanh u và đáy u: diện cắt sạch tế bào ung thư và diện cắt không sạch tế bào ung thư
- Giải phẫu bệnh diện cắt quanh u và đáy u: diện cắt sạch tế bào ung thư và diện cắt không sạch tế bào ung thư
- Vá da che phủ khuyết hổng trong mổ: cần vá da và không cần vá da
-Loại hình vá da: vá da vi phẫu, vá da hoán vị và vá da rời
- Vị trí u sau mổ cần vá da: đầu cổ, thân mình, chi trên, đùi cẳng chân và gan bàn chân
-Tử vong trong và sau mổ: tử vong và không tử vong
- Biến chứng sau mổ: nhiễm trùng vết mổ, chảy máu vết mổ, phù bạch huyết sau vét hạch và hoại tử vạt da sau vá da
- Tái phát tại u, tại hạch sau mổ: có tái phát và không tái phát
- Di căn xa sau mổ: có di căn xa và không có di căn xa
- Vị trí di căn xa sau mổ: phổi, gan, não, dưới da và đa tạng
- Điều trị lần 2 do tái phát di căn (TPDC) sau mổ: từ chối điều trị, phẫu thuật + miễn dịch và chống đau giảm triệu chứng
Thời gian theo dõi bệnh nhân sau mổ trung bình là một yếu tố quan trọng trong quá trình đánh giá kết quả điều trị Thời gian theo dõi ngắn nhất giúp xác định các trường hợp phục hồi nhanh chóng, trong khi thời gian theo dõi dài nhất phản ánh những trường hợp cần theo dõi suốt quá trình phục hồi để đảm bảo không có biến chứng Việc xác định chính xác thời gian theo dõi sau mổ đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
- Mất thông tin bệnh nhân: mất thông tin nửa chừng và mất thông tin hoàn toàn
- Tỷ lệ bệnh nhân được theo dõi 5 năm sau phẫu thuật: tỷ lệ bệnh nhân được theo dõi ≥ 5 năm và tỷ lệ bệnh nhân được theo dõi < 5 năm
- Tỷ lệ sống thêm 5 năm sau phẫu thuật: tỷ lệ sống thêm 5 năm không tái phát di căn và tỷ lệ sống thêm 5 nămtoàn bộ
Các biến số, chỉ số nghiên cứu phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm 5 năm sau phẫu thuật
- Nhóm tuổi: tuổi trẻ, trung niên < 60 tuổi và tuổi già ≥ 60 tuổi
- Giới tính: nam và nữ
- Vị trí khối u: đầu cổ, thân mình, chi trên, đùi cẳng chân và gan bàn chân
- Giai đoạn bệnh: giai đoạn II và giai đoạn III
- Độ dày u vi thể: 1,01-2,0 mm (T2), 2,01-4,0 mm (T3) và > 4,0 mm (T4)
- Thể mô bệnh học: lan tràn nông, cục, nốt ruồi son và nốt ruồi son đỉnh
- Di căn hạch khu vưc vi thể: có di căn và không di căn
- Số hạch khu vực di căn vi thể: N0 chưa di căn hạch, N1 di căn 1 hạch, N2 di căn 2 đến 3 hạch và N3 di căn ≥ 4 hạch
- Mức độ xâm lấn Clark: nhóm Clark II-III và nhóm Clark IV-V
- Loét khối u vi thể: có loét u và không loét u
- Tỷ lệ nhân chia u vi thể: nhóm tỷ lệ < 1 nhân chia/mm 2 , nhóm tỷ lệ 1-6 nhân chia/mm 2 và nhóm tỷ lệ > 6 nhân chia/mm 2
- Giai đoạn phát triển vi thể: tỏa tia và thẳng đứng
- Tế bào lympho xâm nhập u vi thể: dày đặc, thưa thớt và không có lympho bào xâm nhập
- U xâm nhập mạch vi thể: có và không xâm nhập mạch
- Nhân vệ tinh quanh u vi thể: có nhân vệ tinh và không có nhân vệ tinh
- Tỷ lệ sống thêm tích lũy 5 năm toàn bộ
2.3.4 Các bước tiến hành nghiên cứu
Bước đầu tiên trong quá trình điều trị là lựa chọn và đánh giá bệnh nhân dựa trên các tiêu chuẩn rõ ràng về lựa chọn và loại trừ Điều này đảm bảo rằng chỉ những bệnh nhân phù hợp mới được đưa vào điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả Đồng thời, việc thu thập đầy đủ thông tin trước điều trị, bao gồm dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng, là yếu tố then chốt giúp xác định chính xác tình trạng của bệnh nhân và lập kế hoạch điều trị phù hợp.
Bước 2 trong điều trị là phẫu thuật đơn thuần, bao gồm cắt rộng khối u và nạo vét hạch khu vực để loại bỏ tối đa tổ chức ung thư Sau phẫu thuật, việc thu thập dữ liệu về các biến chứng sau mổ, đặc điểm mô bệnh học, và theo dõi sự tái phát hoặc di căn của bệnh là rất quan trọng Đánh giá khả năng sống thêm 5 năm không bệnh và thực hiện các lần khám lại định kỳ giúp đảm bảo theo dõi hiệu quả và phát hiện sớm các dấu hiệu tái bệnh.
- Bước 3: Tìm hiểu mối liên quan giữa di căn hạch khu vực với một số yếu tố lâm sàng và mô bệnh học
Bước 4 trong quá trình đánh giá hiệu quả phẫu thuật bao gồm việc phân tích các biến chứng có thể xảy ra và đo lường các chỉ số quan trọng như thời gian sống thêm 5 năm không tái phát di căn (PFS) cũng như thời gian sống thêm 5 năm toàn bộ (OS) theo phương pháp Kaplan-Meier Đây là các yếu tố then chốt giúp đánh giá chính xác mức độ thành công và độ an toàn của phương pháp điều trị, cung cấp dữ liệu quan trọng để đưa ra quyết định lâm sàng phù hợp.
Bước 5 tập trung vào phân tích các yếu tố đơn và đa yếu tố dự đoán tuổi thọ, nhằm đánh giá ảnh hưởng đến khả năng sống thêm 5 năm toàn bộ của bệnh nhân Phương pháp kiểm định Log-rank và mô hình hồi quy Cox được sử dụng để xác định các yếu tố có ý nghĩa dự báo, giúp nâng cao hiệu quả dự đoán và lập kế hoạch điều trị phù hợp Việc phân tích này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ và cải thiện chiến lược chăm sóc sức khỏe bệnh nhân.
2.3.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
Kĩ thuật và công cụ thu thập thông tin lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân trước điều trị
Kĩ thuật thu thập thông tin:
Chúng tôi trực tiếp phỏng vấn, quan sát và thăm khám bệnh nhân ngay khi họ nhập viện để thu thập dữ liệu ban đầu Đồng thời, chúng tôi tiến hành các xét nghiệm cần thiết nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân nhằm chuẩn bị cho quá trình điều trị nhóm tiến cứu Các bước này đảm bảo việc chẩn đoán chính xác và tối ưu hóa kế hoạch điều trị phù hợp.
Trong quá trình hồi cứu, việc khai thác hồ sơ bệnh án của bệnh nhân là cách sử dụng thông tin sẵn có hiệu quả nhất để đảm bảo dữ liệu chính xác Đồng thời, hỏi trực tiếp bệnh nhân qua điện thoại những thông tin chưa đầy đủ giúp thu thập dữ liệu còn thiếu, từ đó nâng cao chất lượng thông tin cho quá trình phân tích và nghiên cứu Sự kết hợp giữa khai thác hồ sơ bệnh án và liên hệ trực tiếp với bệnh nhân là yếu tố then chốt để thực hiện hồi cứu chính xác và hiệu quả.
- Hình ảnh đánh giá kích thước khối u nguyên phát
Hình 2.1 Đánh giá kích thước khối u nguyên phát Công cụ thu thập thông tin:
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn
- Thước đo có đơn vị là centimet
- Ghi âm trên điện thoại cá nhân
- Mẫu bệnh án nghiên cứu riêng đã lập trước
Kĩ thuật và công cụ thu thập thông tin của bệnh nhân trong điều trị:
Kĩ thuật thu thập thông tin:
Chúng tôi tiến hành phẫu thuật trực tiếp cho bệnh nhân, thực hiện quan sát và phẫu tích hạch để đếm số lượng hạch khu vực Quá trình xét nghiệm sinh thiết tức thì và mô bệnh học diện cắt giúp thu thập thông tin chính xác về tình trạng bệnh, đồng thời xét nghiệm mô bệnh học khối u và hạch khu vực đảm bảo chẩn đoán chính xác và định hướng điều trị phù hợp.
Trong quá trình điều trị trực tiếp, đội ngũ nhân viên tiến cấp thực hiện việc hỏi thăm, quan sát và thăm khám bệnh nhân sau phẫu thuật để phát hiện sớm các biến chứng và thu thập các thông tin cần thiết nhằm đảm bảo chăm sóc toàn diện và tăng khả năng hồi phục cho bệnh nhân.
Dựa trên thông tin có sẵn từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, các chuyên gia y tế có thể khai thác dữ liệu để đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe Đồng thời, việc tham khảo ý kiến các đồng nghiệp giúp bổ sung và xác nhận các thông tin cần thiết cho nhóm hồi cứu, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.
- Xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch với một số dấu ấn Melan-A, S-
100, HMB-45, Ki-67, CD31 và D2-40, hội chẩn với các Giáo sư chuyên gia giải phẫu bệnh của Bệnh viện Kvề các đặc điểm mô bệnh học khối u
- Hình ảnh đánh giá độ dầy khối u Breslow (theo đơn vị đo mm)
Hình 2.2 Đánh giá độ dầy khối u Breslow (theo đơn vị đo mm)
- Hình ảnh đánh giá mức độ xâm lấn Clark u (theo cấu trúc giải phẫu)
Hình 2.3 Đánh giá mức độ xâm lấn Clark khối u (theo cấu trúc giải phẫu) Công cụ thu thập thông tin:
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn
- Ghi âm trên điện thoại cá nhân
- Các phương tiện kỹ thuật cần thiết
- Mẫu bệnh án nghiên cứu riêng đã lập trước
Kĩ thuật và công cụ thu thập thông tin của bệnh nhân sau điều trị
Kĩ thuật thu thập thông tin:
Chúng tôi thực hiện phỏng vấn trực tiếp, quan sát và khám thực thể cho bệnh nhân trong các lần tái khám định kỳ Ngoài ra, chúng tôi tiến hành làm xét nghiệm để phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát hoặc di căn của bệnh Công tác chăm sóc liên tục và theo dõi chặt chẽ giúp nâng cao khả năng sống thêm sau điều trị hiệu quả.
Chúng tôi thực hiện gọi điện trực tiếp cho bệnh nhân, gia đình, người thân và hàng xóm để cập nhật tình hình sức khỏe Đặc biệt, một số ít bệnh nhân (khoảng 6%) sau nhiều lần khám định kỳ nhận thấy có di căn xa nhưng không tái khám trong các đợt khám sau, gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và quản lý bệnh.
Bệnh nhân và gia đình tự điền vào phiếu hỏi thông qua gửi thư hai chiều cho cơ sở y tế để theo dõi tình trạng tái phát hoặc di căn bệnh, từ đó đánh giá khả năng sống thêm sau điều trị Việc này giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát, nâng cao chất lượng chăm sóc và dự phòng di căn hiệu quả hơn Chương trình theo dõi qua thư đảm bảo sự tiện lợi, linh hoạt cho bệnh nhân trong việc cập nhật tình trạng sức khỏe của mình, góp phần nâng cao tỷ lệ sống còn sau điều trị ung thư.
Công cụ thu thập thông tin:
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn, điện thoại
- Ghi âm trên điện thoại cá nhân
- Bộ câu hỏi gửi qua thư hai chiều cho bệnh nhân và gia đình
- Mẫu bệnh án nghiên cứu riêng đã lập trước
2.3.6 Các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá xếp loại
Tiêu chuẩn xếp loại T theo AJCC phiên bản thứ 8 năm 2017
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung ung thƣ hắc tố da ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n = 135)
Các yếu tố Số BN Tỷ lệ
Tiền sử gia đình Bố mẹ đẻ không bị UTHTD 133 98,5
Bố mẹ đẻ bị UTHTD 2 1,5
Dưới đây là các câu tóm tắt phù hợp với nội dung và chuẩn SEO từ bài viết của bạn:Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,5 ± 14,7, chủ yếu trong khoảng 41 đến 70 tuổi chiếm 68,8%, với tuổi trẻ nhất là 18 và cao nhất là 85 Tỷ lệ giới tính là gần bằng nhau, nữ chiếm 50,5% và nam 49,5%, tỷ lệ nữ/nam = 1,01 Phần lớn bệnh nhân làm nông nghiệp hoặc công nhân, chiếm đến 63,7% tổng số ca Một số bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc ung thư đường tiêu hóa, trong đó có một nam giới có cha bị ung thư đường tiêu hóa và một nữ giới có mẹ mắc bệnh này.
3.1.2 Một số đặc điểm lâm sàng ung thư hắc tố da
Bảng 3.2 Một số đặc điểm lâm sàng (n = 135) Đặc điểm lâm sàng Số BN Tỷ lệ
Triệu chứng phát hiện đầu tiên
Hạch to 21 15,6 Điểm da đau chói 25 18,5
Vị trí khối u Đầu cổ 17 12,6
Chi trên 21 15,6 Đùi cẳng chân 19 14,0
Nền da khi xuất hiện u
Sắc tố bẩm sinh, tàn nhang 7 5,2 Đặc điểm lâm sàng Số BN Tỷ lệ Đau chói tại u Đau chói 59 43,7
Màu đen loang lổ 89 65,9 Màu nâu sẫm loang lổ 38 28,1
Nhận xét: thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng 56,3%, từ 6 tháng trở đi
Dị ứng với ung thư da thường bắt đầu với triệu chứng phát hiện đầu tiên là nốt ruồi phát triển bất thường, chiếm tới 43,7% Triệu chứng ít gặp hơn gồm loét da (13,3%) và đau chói tại u (43,7%) Vị trí u thường gặp ở chi dưới với tỷ lệ 49,6%, trong khi ít gặp ở đầu cổ (12,6%) và không ghi nhận u ở mu chân Nền da xuất hiện ung thư thường kèm theo sừng hóa rồi phát triển thành u, chiếm 43,0% Hình thái u phổ biến là nốt ruồi to, chiếm 34,1%, trong khi u phẳng ít gặp hơn (14,1%) Màu sắc u phổ biến nhất là màu đen loang lổ với tỷ lệ 65,9%, còn u không sắc tố chỉ chiếm 5,9%.
3.1.3 Đặc điểm mô bệnh học ung thư hắc tố da
Bảng 3.3 Đặc điểm mô bệnh học (n = 135) Đặc điểm mô bệnh học Số BN Tỷ lệ
Thể nốt ruồi son 18 13,3 Thể nốt ruồi son đỉnh 16 11,9 Độ dày khối u (Breslow)
Mức độ xâm lấn Clark
Nhóm Clark II-III và IV-V Clark II-III 31 23,0
Giai đoạn phát triển Tỏa tia 37 27,4
Tỷ lệ nhân chia trên vi trường
< 1 nhân chia/mm2 39 28,9 1-6 nhân chia/mm2 44 32,6
≥ 7 nhân chia/mm2 52 38,5 Đặc điểm mô bệnh học Số BN Tỷ lệ
Nhân vệ tinh quanh u Có nhân vệ tinh 47 34,8
Không có nhân vệ tinh 88 65,2
U xâm nhập mạch máu Có xâm nhập 30 22,2
Thể mô bệnh học phổ biến nhất là thể lan tràn nông, chiếm tỷ lệ 52,6%, trong khi thể nốt ruồi son đỉnh ít gặp hơn với tỷ lệ 11,9% Về xếp loại pT, bệnh chủ yếu ở các mức pT3 và pT4, lần lượt là 41,5% và 54,8%, cho thấy sự tiến triển đáng kể của khối u Mức độ xâm lấn của Clark phổ biến nhất là Clark V với tỷ lệ 46,7%, trong khi Clark II ít gặp hơn, chỉ khoảng 2,2%, phản ánh mức độ xâm lấn ngày càng sâu của khối u.
Trong giai đoạn phát triển, phần gặp nhiều chiếm tỷ lệ 72,6%, cho thấy đây là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển Tỷ lệ nhân chia trên vi trường thấp hơn 1 nhân chia trên 1 mm² chiếm 28,9%, trong khi tỷ lệ gặp nhiều hơn 6 nhân chia trên 1 mm² chiếm 38,5%, phản ánh sự tăng trưởng đáng kể của quá trình phân chia tế bào Trung bình số nhân chia trên 1 mm² là 3,5 ở nhóm có bề dày từ 1,01-2 mm, tăng lên 5,4 ở nhóm 2,01-4,0 mm, và đạt 7,1 ở nhóm > 4 mm, thể hiện rõ xu hướng tăng số lượng nhân chia theo mức độ phát triển của mô.
Trong nghiên cứu, có 34,8% bệnh nhân xuất hiện nhân vệ tinh vi thể quanh u, và trong số 47 bệnh nhân, tất cả đều đã di căn hạch khu vực Tỷ lệ loét u vi thể đạt 48,1%, cho thấy mức độ xâm lấn cao của khối u Xâm nhập lympho vào u ít gặp hơn, với tỷ lệ xâm nhập dày đặc là 21,4%, trong khi đó xâm nhập thưa thớt chiếm 46,7%, phản ánh mức độ phản ứng miễn dịch khác nhau Đặc biệt, khối u xâm nhập vào mạch máu là hiện tượng phổ biến, chiếm tới 77,8%, cho thấy khả năng xâm lấn và di căn của bệnh lý.
3.1.4 Di căn hạch khu vực, xếp loại pTNM và giai đoạn bệnh
Bảng 3.4 Di căn hạch khu vực, xếp loại pTNM và giai đoạn (n = 135)
Di căn hạch, xếp loại pTNM và giai đoạn bệnh Số BN Tỷ lệ
Di căn hạch khu vực
Di căn hạch trung gian
Xếp loại pT pT2 (1,01-2,0mm) 5 3,7 pT 3 (2,01-4,0mm) 56 41,5 pT4 (> 4,0mm) 74 54,8
Xếp loại pN pN0 (không di căn hạch) 70 51,9 pN1 (1 hạch di căn) 18 13,3 pN 2 (2-3 hạch di căn) 21 15,6 pN3 (> 3 hạch di căn) 26 19,3
Xếp loại giai đoạn bệnh
Nhận xét: di căn hạch khu vực chiếm 48,1% Di căn hạch trung gian chiếm 5,9%, 8 BN di căn hạch trung gian này đều đã có di căn hạch khu vực
Trong phân loại TNM, ít gặp phải T2 chiếm tỷ lệ 3,7%, trong khi tỷ lệ T4 cao hơn đáng kể là 54,8% Về phân loại nốt hạch, hơn một nửa bệnh nhân (51,9%) được xếp loại pN0, còn lại là pN1 (13,3%), pN2 (15,6%) và pN3 (19,2%) Giai đoạn bệnh chủ yếu tập trung ở giai đoạn II (51,9%) và III (48,1%), không có bệnh nhân nào đến khám ở giai đoạn I hoặc giai đoạn IV do loại trừ những bệnh nhân có di căn xa Trong số các bệnh nhân, có 5 trường hợp được xếp loại T2b (độ dày u từ 1,01-2,0 mm, có loét u vi thể), N0, M0 và được xếp vào giai đoạn IIA.
BÀN LUẬN
Một số đặc điểm chung ung thƣ hắc tố da ở nhóm nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 trình bày dữ liệu của 135 bệnh nhân có độ tuổi từ 18 đến 85, trong đó bệnh nhân trẻ nhất 18 tuổi và cao tuổi nhất 85 tuổi Khách hàng trong nhóm trẻ và trung niên (18-60 tuổi) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 83,7% Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 55,5 ± 14,7, và phần lớn người bệnh nằm trong độ tuổi từ 40 đến 70, chiếm 68,8%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Bắc (1999), tuổi BN trung bình là 54,2; trường hợp trẻ nhất là 14 tuổi, trường hợp già nhất là 79 tuổi; nhóm tuổi hay gặp từ 40 đến 70 tuổi chiếm 72,4% 171 Nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) tuổi BN trung bình là 53,6, nhóm tuổi hay gặp từ 40 đến 70 chiếm 74,8% 15 Kết quả nghiên cứu của Garbe C và CS trên 5.093 BN, tuổi trung bình là 54,8, nhóm tuổi hay gặp là 40 đến 70 tuổi chiếm 69,5% 22 Nghiên cứu của Masback A và CS trên 468 BN, tuổi trung bình là 53,2; trường hợp trẻ nhất là 12 tuổi, trường hợp già nhất là 86 tuổi; nhóm tuổi hay gặp từ 40 đến 70 tuổi chiếm 76,6% 173
Ung thư hắc tố da thường xuất hiện ở độ tuổi trưởng thành và tuổi già, với nguy cơ cao hơn theo tuổi tăng lên Tỷ lệ mắc bệnh rất hiếm gặp ở người dưới 20 tuổi, nhưng tăng nhanh chóng từ tuổi 50 đến 60 Tuổi càng cao, nguy cơ mắc ung thư hắc tố da càng tăng, đòi hỏi sự chú ý và kiểm tra da định kỳ ở nhóm tuổi trung niên và cao tuổi.
4.1.1.2 Phân bố về giới tính
Trong nghiên cứu mẫu gồm 135 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới chiếm 49,6% trong khi nữ giới chiếm 50,4%, cho thấy tỷ lệ nữ/nam là 1,01 Kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó như của Phạm Thị Hoàng Anh và cộng sự (2002) với tỷ lệ nữ/nam là 1,5, của Bùi Thị Bắc (1999) trên 92 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt là 1,2, và của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 bệnh nhân là 1,24 Những kết quả này cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ giới trong các nghiên cứu liên quan đến bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt.
Nghiên cứu của Garbe C và cộng sự trên 5.093 bệnh nhân ung thư tuyến tụy đã chỉ ra tỷ lệ nữ/nam là 1,4, cho thấy sự chênh lệch giới tính đáng chú ý Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trong nước và quốc tế, có thể do cỡ mẫu của nghiên cứu chúng tôi chưa đủ lớn để phản ánh chính xác tỷ lệ giới tính của bệnh nhân ung thư tuyến tụy.
4.1.1.3 Phân bố về nghề nghiệp
Dựa trên dữ liệu từ Bảng 3.1, trong tổng số 135 bệnh nhân, tỷ lệ nông dân và công nhân chiếm đa số với 63,7%, trong khi viên chức và hưu trí chỉ chiếm 36,3% Các nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 bệnh nhân ung thư tỳ hình, cho thấy 63,1% là nông dân, 16,5% là công nhân, còn lại là viên chức và hưu trí Đồng thời, nghiên cứu của Bùi Thị Bắc (1999) trên 92 bệnh nhân UTHT cũng xác định 53,5% là nông dân, 26,5% là công nhân, và 15,17% là viên chức, hưu trí, phản ánh sự phân bố nghề nghiệp liên quan đến bệnh lý này.
Các nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân là nông dân và công nhân, những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời có tia UV, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm bệnh nhân là viên chức hưu trí.
4.1.1.4 Phân bố về tiền sử gia đình
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 1,5% bệnh nhân (BN) trong số 135 trường hợp có tiền sử gia đình bị UTHTD, tương tự với kết quả của Đào Tiến Lục (2001) và Bùi Thị Bắc (1999), lần lượt là 1,3% và 2,1% Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng khoảng 7-15% các trường hợp UTHTD liên quan đến tiền sử gia đình có bố mẹ mắc bệnh Hầu hết các trường hợp UTHTD liên quan đến yếu tố gia đình đều do các thành viên có loại da nhạy cảm khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời Nhận xét, tỷ lệ yếu tố tiền sử gia đình bố mẹ bị UTHTD trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu quốc tế, có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn.
4.1.2 Một số đặc điểm lâm sàng của ung thư hắc tố da
Bảng 3.2 thể hiện rằng trong 135 bệnh nhân, 56,3% mắc bệnh dưới 6 tháng, trong khi 43,7% mắc bệnh từ 6 tháng trở lên Nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) cũng xác nhận rằng 53,3% bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng, còn 46,7% mắc trên 6 tháng, cho thấy thời gian mắc bệnh phổ biến trong phạm vi dưới 6 tháng.
CS trên bệnh nhân UTHTD cho thấy thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng là 83,6%; thời gian mắc bệnh từ 6 tháng trở đi chỉ có 16,4% 74
Các nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh trên 6 tháng cao hơn so với nghiên cứu của Bartoli C và cộng sự, chủ yếu ở nhóm nông dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Điều này phản ánh thực trạng rằng nhiều bệnh nhân chần chừ trong việc đi khám khi phát hiện triệu chứng, dẫn đến bỏ lỡ cơ hội điều trị sớm và giảm khả năng phục hồi.
4.1.2.2 Triệu chứng phát hiện đầu tiên
Trong nghiên cứu, có thể thấy rằng trong tổng số 135 bệnh nhân, các triệu chứng phổ biến bao gồm nốt ruồi phát triển to với tỷ lệ 34,1%, sùi da chiếm 18,5%, điểm đau chói cũng chiếm tỷ lệ tương tự là 18,5%, hạch to là 15,6%, và loét da đạt 13,3% Một nghiên cứu khác của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 bệnh nhân ung thư hậu môn ghi nhận các triệu chứng tương tự, trong đó nốt ruồi phát triển to chiếm 33,7%, loét da 14,4%, sùi loét da 27,8%, và điểm đau chói 21%.
15 Kết quả nghiên cứu của Bartoli C và CS trên 121 bệnh nhân UTHTD với nốt ruồi phát triển to là 33,5%; sùi loét chiếm 21,2%, điểm đau chói 18,7% 74
Những triệu chứng phát hiện ban đầu vô cùng quan trọng trong quá trình chẩn đoán bệnh sớm, giúp tăng khả năng điều trị thành công và kiểm soát bệnh hiệu quả.
4.1.2.3 Vị trí khối u nguyên phát
Bảng 3.2 cho thấy trong 135 BN, vùng đầu cổ chiếm 12,6%, thân mình là 22,2%, chi trên là 15,6%, chi dưới 49,6% Tính riêng ở chi dưới, trong 67
Vị trí gan bàn chân có 48 bệnh nhân chiếm 71,6% tổng số, cho thấy hơn hai phần ba bệnh nhân mắc u ở vùng này, một vị trí ít được chú ý hàng ngày Hầu hết bệnh nhân chỉ biết mình đau chói như giẫm phải gai dưới gan bàn chân khi đi lại Nghiên cứu của Bùi Thị Bắc cho thấy khối u ở chi dưới gặp nhiều hơn với tỷ lệ 48,4%, trong khi khối u ở đầu cổ chỉ 8,7%, nhấn mạnh tỷ lệ cao u ở chi dưới trong các ca mắc Tỷ lệ mắc u ở chi dưới trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các kết quả từ Garbe C và CS (34,9%) hay Roder và CS (31,6%), có thể do đa số bệnh nhân là nông dân, công nhân thường xuyên tiếp xúc với tia UV của ánh nắng mặt trời Ngoài ra, u tế bào hắc tố nguyên phát thường bắt nguồn từ vùng da tiếp xúc nhiều, cọ xát nhiều như gan gót chân, cẳng chân, cẳng bàn tay và da đầu cổ.
Như vậy theo chúng tôi, UTHTD hay gặp ở chi dưới, chiếm tỷ lệ cao hơn các vị trí khác ở tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước
4.1.2.4 Nền da xuất hiện khối u, đau chói tại u
Trong tổng số 135 bệnh nhân, tỷ lệ mắc ung thư da từ các dạng tổn thương khác nhau như sau: da bình thường sau đó xuất hiện ung thư chiếm 14,1%, da có nốt ruồi phát triển thành ung thư chiếm 37,8%, da sừng hóa rồi xuất hiện ung thư chiếm 43,0%, da có mảng sắc tố, nốt tàn nhang rồi phát triển thành ung thư chiếm 5,2% Ngoài ra, có 43,7% bệnh nhân gặp phải triệu chứng đau chói tại vùng khối u.
Kết quả nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), trên 151 bệnh nhân UTHT, gặp nhiều là da sừng hóa rồi xuất hiện ung thư 45,6%; da có nốt ruồi rồi xuất hiện ung thư 33,8%; đau chói tại khối u là 41% 15 Chúng tôi nhận xét, UTHTD nguyên phát hay gặp chủ yếu xuất phát từ những vùng da dày sừng hóa, tiếp xúc, cọ xát nhiều, phơi nhiễm nhiều bởi ánh nắng mặt trời như da vùng gan bàn chân, gan bàn tay, đặc biệt da dày sừng hóa ở gan gót chân Khi đi lại đau chói, người bệnh mới đi khám, bác sĩ phát hiện ra khối ung thư hắc tố da
4.1.2.5 Hình thái lâm sàng khối u nguyên phát
Đặc điểm di căn hạch khu vực của ung thƣ hắc tố da ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
UTHTD là loại ung thư biểu mô bắt nguồn từ các tế bào hắc tố nằm ở lớp màng đáy của da, có thể sản sinh ra hoặc chứa hắc tố Khi trở nên ung thư, các tế bào này phát triển thành khối tại vị trí nguyên phát, chưa xâm lấn sâu vào mạng lưới bạch huyết Chỉ khi các tế bào ung thư phá vỡ màng đáy và xâm lấn xuống mô đệm dưới da, chúng mới có khả năng di chuyển qua thành bạch huyết đến hạch lính gác, gây ra sự phình to và chắc của hạch Đặc điểm nổi bật của di căn hạch vùng trong UTHTD là hạch thường to nhanh, vượt xa kích thước khối u nguyên phát, nhiều trường hợp bệnh nhân đến khám vì hạch to mà không rõ nguyên nhân hoặc phát hiện u tại bề mặt da.
Triệu chứng đầu tiên: bảng 3.2 cho thấy 21 BN triệu chứng đầu tiên là hạch to, chiếm 15,6% Biểu hiện đó vừa cho thấy sự đặc biệt khác về di căn hạch khu vực của ung thư này, vừa cho thấy phần nào tính chất ác tính cao, và nhắc các bác sỹ cảnh giác khi khám thấy hạch to mà chưa thấy tổn thương nguyên phát, nhắc tìm khám các vị trí có nốt ruồi kín đáo, nhắc khám gan bàn chân khi có hạch to ở bẹn
Gần một nửa số bệnh nhân (48,1%) mắc di căn hạch khu vực khi đến khám, thể hiện tính chất ác tính cao, sớm lan tràn và có khả năng di căn xa, gây khó khăn trong điều trị và tiên lượng nặng nề Trong khi đó, còn lại một nửa bệnh nhân chưa có di căn hạch khu vực, phản ánh tính chất ôn hòa của bệnh, phát triển tại chỗ và dễ kiểm soát hơn, với tiên lượng khả năng hồi phục tốt hơn Sự khác biệt này đặt ra câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng, như các yếu tố lâm sàng, sinh học ung thư, và đặc điểm mô bệnh học, có thể đóng vai trò quan trọng trong sự di căn hạch khu vực Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan cho thấy thời gian mắc bệnh và ý thức khám chữa bệnh của bệnh nhân là những yếu tố chủ chốt; những bệnh nhân nhận thức sớm và khám kịp thời thường có khả năng di căn hạch thấp hơn, trong khi các yếu tố tâm lý, hoàn cảnh xã hội có thể làm trì hoãn chẩn đoán, dẫn đến sự tiến triển thành di căn hạch khu vực.
4.2.1 Liên quan thời gian mắc bệnh với di căn hạch khu vực
Biểu đồ 3.1 chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng có tỷ lệ di căn khu vực là 21,1% Ngược lại, nhóm bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ 6 tháng trở lên cho thấy tỷ lệ di căn khu vực khác, phù hợp với xu hướng tăng theo thời gian bệnh Các số liệu này giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa thời gian mắc bệnh và nguy cơ di căn khu vực, hỗ trợ quá trình chẩn đoán và quản lý bệnh nhân hiệu quả hơn.
6 tháng, có tỷ lệ di căn hạch khu vực là 83,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,002
Nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 BN, thời gian mắc bệnh
Thời gian mắc bệnh trên 6 tháng liên quan đến tỷ lệ di căn hạch cao hơn so với thời gian dưới 6 tháng, với tỷ lệ tương ứng là 73,2% so với 32,5%, p < 0,05 Nghiên cứu của Rajaee A và CS (2021) cũng cho thấy bệnh nhân mắc ung thư thực quản trên 6 tháng có tỷ lệ di căn hạch cao hơn so với nhóm dưới 6 tháng, lần lượt là 43,2% và 12,6%, p < 0,05 Các tác giả nhận định, tăng thời gian mắc bệnh làm tăng khả năng di căn hạch khu vực và giảm thời gian sống sót sau điều trị Chúng tôi đồng thuận với quan điểm này, cho rằng thời gian mắc bệnh kéo dài làm tăng tỷ lệ di căn hạch, phù hợp với quá trình tiến triển tự nhiên của ung thư Do đó, chẩn đoán sớm bệnh nhân là yếu tố quan trọng giúp nâng cao khả năng điều trị thành công ở giai đoạn sớm.
4.2.2 Liên quan vị trí khối u nguyên phát với di căn hạch khu vực
Bảng 3.5 cho thấy vị trí u ở chi dưới có tỷ lệ di căn hạch khu vực cao hơn đáng kể so với u ở thân mình, chi trên và đầu cổ, với tỷ lệ lần lượt là 70,1% so với 40%, 38% và 23,5% (p=0,016) Những trường hợp di căn hạch cao ở nhóm bệnh nhân có u nguyên phát tại gan bàn chân thúc đẩy việc nghiên cứu thêm về vị trí u này Nhiều bệnh nhân thường đến khám với hạch bẹn to, đau chói ở gan bàn chân, thường nhầm lẫn với chấn thương do va đập hoặc trầy xước thông thường Bác sĩ có thể dễ dàng bỏ qua dấu hiệu u gan bàn chân, dẫn đến chẩn đoán chậm trễ, kéo dài trong nhiều tháng, phải điều trị kháng sinh nhiều đợt rồi chuyển sang thuốc đông y Thực tế lâm sàng cho thấy u gan bàn chân thường bị tác động bởi hoạt động đi lại, gây cọ sát và đè ép, điều này có thể thúc đẩy quá trình di căn hạch Ngoài ra, u còn thường xuất hiện tại các nốt ruồi lành trên gan bàn chân, sau một thời gian dài quá trình biến đổi màu sắc, viền bờ, mất cân đối, gây chậm phát hiện bệnh, từ đó làm gia tăng khả năng di căn hạch khu vực theo thời gian mắc bệnh Chính vì vậy, việc mã hóa u nguyên phát tại vị trí gan bàn chân được đặt ra để nâng cao nhận thức và hỗ trợ chẩn đoán sớm, giúp kiểm soát tốt hơn quá trình di căn và điều trị ung thư hiệu quả.
Biểu đồ 3.2 cho thấy khối u ở gan bàn chân có tỷ lệ di căn hạch vùng cao hơn đáng kể so với các vị trí khác như thân mình, chi trên, đùi cẳng chân và đầu cổ (72,9% so với lần lượt là 40%, 38%, 31,5% và 23,5%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê with p = 0,001, cho thấy khối u ở gan bàn chân có nguy cơ di căn hạch khu vực cao hơn rõ rệt.
Nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 bệnh nhân UTHT cho thấy tỷ lệ di căn hạch cao nhất tại khối u ở chi dưới là 65,4%, trong khi đó các vị trí khác như thân mình, đầu cổ và chi trên có tỷ lệ di căn hạch lần lượt là 35,6%, 25,3% và 31,2%, với p < 0,05 Nghiên cứu của Rajaee A và cộng sự (2021) trên 1.350 bệnh nhân UTHTD cũng xác nhận rằng khối u ở chi dưới có tỷ lệ di căn hạch khu vực cao nhất là 46,5%, còn các vị trí khác như thân mình, đầu cổ và chi trên có tỷ lệ lần lượt là 28,7%, 10,5% và 12,5%, với p < 0,05 Các nghiên cứu này đều cho thấy tỷ lệ di căn hạch ở vùng chi dưới cao hơn nhiều so với các vị trí khác, ngay cả khi chưa xác định tỷ lệ di căn hạch tại gan bàn chân. -**Sponsor**Need help refining your article to be SEO-friendly and coherent? It sounds like you're aiming to highlight key sentences and ensure your content resonates [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/JFKB6jVo) can assist you in creating high-quality, SEO-optimized articles in minutes by extracting and rewriting the important sentences that contain the meaning of a coherent paragraph, saving you time and resources Perfect for ensuring your rewritten article maintains its core message while adhering to SEO best practices Why not leverage this tool to enhance your article's impact and reach?
Bệnh nhân ung thư tế bào thượng bì da ở Việt Nam thường có vị trí u nguyên phát ở gan bàn chân, chủ yếu do đặc thù nghề nghiệp của họ là nông dân, công nhân tiếp xúc nhiều với đất đai và môi trường Vị trí này dễ bị cọ xát, tổn thương do hoạt động hàng ngày, đồng thời tiếp xúc nhiều với tia UV từ ánh nắng mặt trời, điều này có thể thúc đẩy quá trình di căn hạch khu vực Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tiên lượng và lập phương án điều trị phù hợp cho bệnh nhân.
4.2.3 Liên quan nền khối u nguyên phát với di căn hạch khu vực
Bảng 3.6 cho thấy nền khối u là da sừng hóa hoặc da thường có tỷ lệ di căn hạch khu vực cao hơn đáng kể so với nền khối u là nốt ruồi hoặc sắc tố bẩm sinh Cụ thể, tỷ lệ di căn hạch khu vực đạt 63,7% và 52,6% ở những trường hợp da sừng hóa hoặc da thường, trong khi đó, các trường hợp nốt ruồi và sắc tố bẩm sinh chỉ lần lượt là 33,3% và 14,3% Sự khác biệt này đã được xác nhận là có ý nghĩa thống kê với giá trị p thấp, cho thấy mối liên hệ rõ rệt giữa loại nền khối u và mức độ di căn hạch.
Nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) trên 151 bệnh nhân u nhú tóc, cho thấy tỷ lệ di căn hạch cao tới 54,9% đối với các trường hợp trên nền da sừng hóa, trong khi chỉ đạt 25,6% ở các trường hợp trên nền da thường hoặc nền nốt ruồi, đặc biệt là với p < 0,05, cho thấy tầm quan trọng của đặc điểm da trong dự đoán nguy cơ di căn hạch của bệnh nhân.
Theo nghiên cứu của CS (2021), tỷ lệ di căn hạch khu vực ở những vùng da sừng hóa là 34,7%, cao hơn nhiều so với 13,9% trên nền da thường và nền nốt ruồi, với p