1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Xây dựng Phương án Kỹ thuật quản lý lâm nghiệp cộng đồng

14 487 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 419,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp tác kỹ thuật Việt nam - Đức DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI SÔNG ĐÀ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – GTZ - GFA TRONG QUẢN LÝ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG KINH NGHIỆM TỪ DỰ ÁN

Trang 1

Hợp tác kỹ thuật Việt nam - Đức

DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI SÔNG ĐÀ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – GTZ - GFA

TRONG QUẢN LÝ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG

KINH NGHIỆM TỪ DỰ ÁN SÔNG ĐÀ

Tài liệu làm việc số 7

Bộ phận Lâm nghiệp Cộng đồng Người chuẩn bị: Ulrich Apel

Hà nội /1997

1 Tài liệu này được trình bày tại hội thảo quốc tế :"Canh tác rừng: các phương án quản lý rừng và kỹ thuật trong lâm nghiệp cộng đồng" -23-25 tháng 9 năm 1998, Bangkoc, Thái lan

Trang 2

Mục lục

Mở đầu 3

1 Giới thiệu 3

2 Phương pháp đề xuất cho các can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng 4

3 Hai nghiên cứu điển hình tại khu vực đầu nguồn Sông Đà 6 3.1 Tóm tắt về dự án Sông Đà và hoạt động của dự án 6 3.2 Quản lý tái sinh tự nhiên tại các bản H'mong Thôn I, Thôn II và Thôn III, xã Xính Phình, huyện Tủa Chùa, tỉnh Lai Châu 7 3.3 Quản lý rừng non tái sinh ở bản người Thái Thèn luông, xã Chiềng đông, huyện Yên châu, tỉnh Sơn la 10

4 Tóm tắt và kết luận 12 Tài liệu tham khảo 14

Trang 3

Mở đầu

Có bốn yếu tố chính đưa ra những tiêu chuẩn hữu ích cho việc giới thiệu hoặc tăng cường các hoạt động quản lý lâm nghiệp dựa trên cộng đồng: hưởng dụng, nhu cầu địa phương, năng lực cộng đồng và các điều kiện lập địa Tài liệu này sử dụng hai nghiên cứu điển hình ở dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà, Tây bắc Việt nam, nhằm chỉ ra cách xây dựng các can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm

nghiệp cộng đồng, đề cập cả bốn yếu tố trên

1 Giới thiệu

Hơn 500 năm trước đây tại Đức đã phổ biến hệ thống rừng chồi2 và rừng chồi chuẩn3 cho quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những rừng cộng đồng này được hình thành từ việc phân chia ranh giới các bản vào khoảng thời gian giữa thế kỷ 9 và 12 Rừng nằm trong ranh giới của một bản là tài sản chung, đáp ứng nhu cầu của người dân Hệ thống rừng chồi phát minh trước đây chủ yếu cung cấp củi và gỗ làm nhiên liệu, thức ăn gia súc và thuộc da Sau này, khi nhu cầu thay đổi, đã xuất hiện hệ thống rừng chồi tiêu chuẩn cho sản xuất cột chống, gỗ và rau quả cho chăn nuôi gia súc Hệ thống này được hình thành thông qua giữ lại các cá thể cây hoặc các đám rừng ở tầng cây thấp, sau này phát triển thành rừng thuần gỗ Cho dù các kỹ năng đánh giá và điều tra tài nguyên rừng còn kém vẫn có thể đảm bảo tính bền vững bằng cách phân chia diện tích rừng ra theo chu kỳ thu hoạch hàng năm chỉ trên một diện tích nhất định4 (Hasarath 1982)

Những điều chỉnh trong hai cách quản lý trên dẫn tới những áp dụng đa dạng ở các địa phương Tuy nhiên, qua quá trình phát triển các phương thức quản lý đã hình thành một số yếu tố chính Tiến hành các hoạt động quản lý đã không chỉ phản ánh các điều kiện lập địa và tiềm năng sản xuất của rừng mà còn cả các nhu cầu địa phương, phân chia quyền hưởng dụng và hưởng lợi cũng như năng lực của cộng đồng về kiến thức và kỹ năng Trong quá khứ cũng như ngày nay, các nỗ lực giới thiệu hoặc tăng cường các hoạt động quản lý lâm nghịêp đều cần phản ánh những yếu tố này

Tài liệu này cố gắng đưa ra một phương pháp xây dựng các can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm nghịêp cộng đồng Tài liệu sẽ bắt đầu với một thảo luận tóm tắt về bốn yếu tố cơ bản, đưa ra những tiêu chí hữu ích cho việc giới thiệu hoặc tăng cường quản lý rừng cộng đồng Những yếu tố này được rút ra từ kinh nghiệm của dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà tại vùng Tây bắc Việt nam và được thường xuyên đề cập tới trong các tài liệu về lâm nghiệp cộng đồng Phần 3 sẽ đưa ra hai ví dụ về cách dự án đã xây dựng các can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng Các nghiên cứu

2 Tiếng Đức là Niederward and Mittelwald

3 Tiếng Đức là Allmende

4 Trong tiÕng §øc kiÓu ®iÒu tra rõng nµy gäi lµ FlaÌchenfachwerk

Trang 4

điển hình sẽ được trình bày theo bốn yếu tố nhắm minh hoạ cho phương pháp đề xuất phần 3 cũng mô

tả sơ bộ về dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà và hoạt động của dự án

2 Phương pháp đề xuất cho các can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng

Từ kinh nghiệm thực tế về lâm nghiệp cộng đồng ở Tây bắc Việt nam (xem nghiên cứu điển hình trong phần 3) và từ các tài liệu, bốn yếu tố chính tạo nên các hoạt động quản lý lâm nghiệp cộng đồng cũng như xác định các giải pháp kỹ thuật trong quản lý lâm nghịêp cộng đồng đã được xác định

Quyền hưởng dụng

Quyền hưởng dụng được coi là một yếu tố quan trọng trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng Mặc dù lâm nghiệp cộng đồng rất cần thiết để tiếp cận và quản lý tài nguyên rừng, các quyền hưởng dụng địa phương và quá trình ra quyết định liên quan tới việc sử dụng tài nguyên không phải lúc nào cũng được người bên ngoài hiểu rõ Khả năng tiếp cận tài nguyên rừng thường được qui định thông qua các quyền

sử dụng được địa phương công nhận Những quyền này hoàn toàn khác với các quyền do pháp luật qui định Nhóm người có cùng quyền sử dụng có thể được coi như một nhóm sử dụng Fisher và Makarabhirom 1997) Việc họ đòi quyền được sử dụng tài nguyên rừng là cơ sở cho quyền hưởng dụng trên thực tế Trong khi đó tài nguyên có thể thuộc quyền hưởng dụng theo luật pháp của cộng đồng hoặc nhà nước, các nhóm sử dụng hiểu biết rất rõ về tài nguyên và đòi có quyền và trách nhiệm quản lý đối với tài nguyên đó (Poffenberger 1996)

Để quản lý hữu hiệu, can thiệp kỹ thuật trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng sẽ chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp nhóm sử dụng và khả năng hợp tác của nhóm Điều này cho thấy nhóm sử dụng là đơn vị phù hợp cho can thiệp kỹ thuật Điều này cũng cho thấy phát huy quyền sử dụng thực tế sẽ tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả

Tuy nhiên, cần có các can thiệp về tổ chức ở các cấp quản lý hành chính lớn hơn Các can thiệp về tổ chức nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho quản lý lâm nghiệp cộng đồng và loại bớt những khó khăn cản trở người dân địa phương trong việc hưởng lợi từ nguồn tài nguyên mà trên thực tế họ đang quản lý

Việc phân chia lợi ích thường xuất phát từ các qui định hưởng dụng địa phương Các can thiệp kỹ thuật cần đề cập các giải pháp hiện tại hoặc phải tạo ra các giải pháp phù hợp

Nhu cầu địa phương

Trang 5

Ngay từ đầu lâm nghiệp cộng đồng được hướng theo nhu cầu ở nông thôn, nhất là nhu cầu của những người nghèo bao gồm cả nam và nữ (xem Arnold 1992) Người dân địa phương không chỉ sử dụng gỗ

và củi mà còn sử dụng nhiều lâm sản khác như tre nứa, song mây, sợi, thuốc nhuộm, rau và hoa quả dại, cây dược liệu, thức ăn gia súc v.vv Ngoài ra, rừng còn là nơi săn bắn, chăn thả và bảo vệ cho sản xuất nông nghiệp

Đáp ứng các nhu cầu địa phương về lâm sản sẽ được phản ánh qua các phương pháp cụ thể và linh hoạt sao cho người dân được tự do quyết định các chi tiết trong các chương trình quản lý vì những người bên ngoài thường không thể xác định chính xác các thứ tự ưu tiên địa phương Người dân cần tự thể hiện các nhu cầu và các can thiệp cần quan tâm càng nhiều càng tốt tới những sự khác nhau giữa những người sử dụng

Từ lâu người ta đã nhận thức được rằng mục tiêu đầu tiên của bất kỳ hoạt động lâm nghiệp xã hội nào

là tạo lợi ích cho người dân địa phương Người ta ngày càng nhận ra tầm quan trọng cuả nguồn thu trong các quyết định về sử dụng tài nguyên Các xem xét về kinh tế có ảnh hưởng tới các quyết định của ngay cả những người thuộc nền kinh tế tự cấp và các can thiệp cần phản ánh yếu tố này

Năng lực cộng đồng

Trọng tâm đầu tiên của lâm nghiệp cộng đồng là phải thu hút được sự tham gia của người dân địa phương trong việc bảo vệ và quản lý rừng Việc chuyển từ quản lý rừng bởi Nhà nước sang quản lý có người dân tham gia, tức là cùng nhau quản lý, chia xẻ quyền hạn giữa Nhà nước, người dân địa phương

và tiến tới người dân có toàn quyền trong việc quản lý rừng cộng đồng đã có những tác động mạnh cho việc xác định các can thiệp kỹ thuật

Việc đặt cộng đồng vào trung tâm chú ý có nghĩa là quan tâm tới năng lực và kỹ thuật của họ trong việc đánh giá tài nguyên rừng, xây dựng kế hoạch và thực hiện việc quản lý rừng Các sáng kiến về chế

độ quản lý và kỹ thuật lâm sinh cần phát huy kiến thức địa phương và kỹ năng đã có Cần chú ý tới khả năng của cộng đồng trong việc tự tổ chức, phân chia công việc và lợi ích một cách hiệu quả cũng như khả năng của họ trong việc theo dõi và tăng cường các qui định về sử dụng rừng Các thiết bị kỹ thuật, khả năng tiếp cận rừng và nhân lực cho lâm nghiệp là những yếu tố hạn chế trong việc thiết kế các chương trình quản lý rừng Việc theo dõi và đánh giá cần đơn giản với các công cụ và chỉ số quen thuộc đối với người dân

Rõ ràng là các phương pháp tiếp cận " khoa học' truyền thống đối với quản lý rừng cộng đồng không mấy thành công vì đã không quan tâm đúng mực tới năng lực kỹ thuật của người dân Các kỹ thuật lâm sinh trong quản lý rừng cộng đồng cần phản ánh năng lực quản lý của người dân địa phương ở cùng mức độ như các điều kiện lập địa và các chỉ số lâm sinh Về lâu dài, đào tạo và khuyến nông có thể

Trang 6

tăng năng lực công đồng trong việc quản lý rừng của họ và dần dẫn tới các phương pháp quản lý rừng tinh vi hơn Tuy nhiên đào tạo và khuyến nông chỉ có tác dụng ở những nơi người dân tiếp tục cam kết quản lý rừng thông qua việc tạo ra lợi ích thoả đáng

Điều kiện lập địa và thông số lâm sinh của rừng

Các xem xét liên quan tới lựa chọn một hệ thống lâm sinh cụ thể trong lâm nghiệp truyền thống chủ yếu dựa trên tình trạng ban đầu của rừng như loài cây, trữ lượng và việc phân phối trữ lượng và cấu trúc rừng (Lamprecht 1986) Không thể phủ nhận rằng các can thiệp kỹ thuật trong quản lý rừng cộng đồng cũng cần dựa trên các điều kiện lập địa địa phương, tuy nhiên trọng tâm cần chuyển từ phương pháp khoa học sang phương pháp thực hành đơn giản mà người dân có thể thực thi được Tính bền vững không cần thiết phải được đảm bảo thông qua những tính toán chi tiết, kiến thức cụ thể về loài cây, về trữ lượng như ví dụ trên đã chỉ ra

Có các yếu tố khác ảnh hưởng tới quản lý rừng địa phương như các yếu tố văn hoá xã hội, sở thích của người dân, quan hệ và ủng hộ của các cấp quản lý hành chính, các chính sách của chính phủ và lịch sử pháp lý Tài liệu này không thảo luận các yếu tố này vì đó không phải là các yếu tố chính Kinh nghiệm dự án cho thấy các yếu tố quan trọng là: quyền hưởng dụng, nhu cầu địa phương, năng lực cộng đồng và điều kiện lập địa Nghiên cứu theo bốn yếu tố trên có thể cho thấy các tiêu chuẩn cho việc xây dựng các giải pháp kỹ thuật Tuy nhiên có nhiều cách để quản lý rừng cộng đồng Các phương pháp quản lý là kết qủa của quá trình thử nghiệm và cả sai sót trên cơ sở hợp tác giữa những người ở bên ngoài và các cộng đồng địa phương Dưới đây là hai ví dụ từ kinh nghiệm của dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà

3 Hai nghiên cứu điển hình tại khu vực đầu nguồn Sông Đà

3.1 Tóm tắt về dự án Sông Đà và hoạt động của dự án

Dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà là một dự án hợp tác kỹ thuật giữa Việt nam và Đức Dự

án được thực hiện bởi Cục phát triển Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn và được trợ giúp bởi cơ quan hợp tác kỹ thuật Đức GTZ Dự án Sông Đà bắt đầu vào năm 1993 và hiện đang kết thúc giai đoạn thực thi thứ nhất Dự án nằm ở khu vực đầu nguồn Sông Đà, tây bắc Việt nam với hai huyện thử nghiệm là Yên châu tỉnh Sơn la và Tủa chùa tỉnh Lai châu

Các kết quả mong đợi của dự án là phát triển các phương pháp cho quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, nhất là phát triển các phương pháp qui hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng và lập kế hoạch phát triển thôn bản có người dân tham gia Hơn nữa, dự án cố gắng xác định và áp dụng các giải pháp

kỹ thuật cho nông nghịêp và lâm nghịêp, phát triển và áp dụng các chương trình khuyến nông lâm định

Trang 7

hướng theo nhu cầu, cũng như tăng cường năng lực của chớnh quyền địa phương và cỏc tổ chức thụng qua đào tạo

Vào năm 1996, dự ỏn bắt đầu cỏc hoạt động lõm nghịờp xó hội thụng qua hoàn thành qui hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng tại hai xó thuộc hai huyện Yờn chõu và Tủa chựa Việc giao đất lõm nghiệp ở Việt nam đó mở ra cỏc cơ hội cho lõm nghiệp cộng đồng5 Đất lõm nghịờp khụng cú rừng thường gọi là đất trống cú thể được giao cho cỏc hộ gia đỡnh với một giấy chứng nhận gọi là "sổ đỏ" với thời hạn 50 năm Giấy chứng nhận qui định cỏc quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuờ, thế chấp và thừa kế đối với đất Cỏc quyền Nhà nước qui định nghiờm ngặt để cụ thể hoỏ mục đớch rộng cho sử dụng diện tớch đất được giao Thụng thường nụng dõn muốn được trồng rừng trờn khu đất được giao mà tại đú cú nhiều chương trỡnh trồng rừng trả cụng lao động bằng một lượng tiền mặt lớn Đất lõm nghiệp cú rừng vẫn thuộc sở hữu Nhà nước nhưng cú thể hợp đồng bảo vệ với bản, nhúm hộ hoặc cỏc hộ Cỏc hợp đồng bảo vệ rừng được tiến hành trờn cơ sở hàng năm Cỏc hợp đồng bao gồm một khoản trả cụng tới 50 000 đồng/ha/năm6 Cỏc hợp đồng bảo vệ chỳ trọng vào việc kiểm soỏt trực tiếp của nhà nước đối với việc sử dụng tài nguyờn rừng Cho tới nay, những người cú hợp đồng bảo vệ rừng chỉ được hưởng một số quyền rất hạn chế, họ chỉ được lấy gỗ củi và một phần nhỏ lõm sản

Cỏc hoạt động lõm nghịờp xó hội của dự ỏn Sụng Đà dần dần mở rộng từ cỏc hoạt động bảo vệ rừng như thành lập cỏc nhúm bảo vệ, xõy dựng cỏc qui định bảo vệ rừng thụn bản tới việc xõy dựng cỏc ụ thử nghiệm và trỡnh diễn tại cỏc khu rừng địa phương với cỏc giải phỏp kỹ thuật lõm sinh cú triển vọng Phỏt triển và cơ cấu cỏc phương ỏn hoạt động quản lý rừng là một yếu tố quan trọng của chiến lược phỏt triển lõm nghiệp cộng đồng của dự ỏn Sụng Đà (Xem Apel và Việt 1997) Đõy là bước tiếp theo trong trật tự lụ gic bắt đầu bằng việc thu hỳt người dõn tham gia bảo vệ rừng từ đú dẫn tới trỏch nhiệm của cộng động đối với việc quản lý rừng Bài học rỳt ra từ thực trạng địa phương ở Tõy bắc Việt nam là cỏc hoạt động bảo vệ rừng là cơ sở cho giới thiệu quản lý lõm nghiệp cộng đồng Qui hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng, cỏc hợp đồng bảo vệ rừng và qui định bảo vệ rừng thụn bản đều là cơ chế tỏc động giỳp người dõn địa phương tăng cường quyền của mỡnh đối với tài nguyờn rừng

3.2 Quản lý tỏi sinh tự nhiờn tại cỏc bản H'mong Thụn I, Thụn II và Thụn III, xó Xớnh Phỡnh, huyện Tủa Chựa, tỉnh Lai Chõu

„ Hưởng dụng

5 Tuy nhiờn, chớnh sỏch hiện nay ở vựng cao tõy bắc Việt nam đó thay đổi lời hứa biến người dõn địa phương là

người giữ rừng Phần lớn đất rừng chưa được giao cho người dõn địa phương Thay vào đú, Nhà nước thuờ nụng dõn bảo vệ rừng và biến họ thành những người trụng coi và chăm súc cho rừng nhà nước và chỳ trọng quyền

kiểm soảt trực tiếp của Nhà nước để tăng cường việc bảo vệ rừng (Xem Sikor và Apel 1998)

6 1 USD = 13,000 đồng

Trang 8

Vào năm 1995, dự án đã tiến hành qui hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng tại xã Xính Phình Theo các qui định, rừng hiện còn và đất trống ở các trạng thái khác nhau đã được khoán hợp đồng cho nông dân trên cơ sở khoán hợp đồng hàng năm Do các bản người Hmong thường có nhiều xóm, vì vậy rừng thường được phân chia theo xóm Các hộ của một xóm tạo thành một nhóm bảo vệ rừng và rừng được giao cho cả nhóm Các nhóm thường từ 4 đến 30 người Phương thức này đã khá thành công và có lẽ các hộ trong một xóm đồng thời cũng tạo thành một nhóm người sử dụng Như vậy các can thiệp quản

lý rừng cộng đồng của dự án trong vùng người Hmong được xây dựng và thực hiện với các nhóm bảo

vệ rừng

Lợi ích được chia xẻ đồng đều giữa các cộng đồng người H'mong Một ví dụ minh hoạ là tiền công Nhà nước trả cho các hợp đồng bảo vệ rừng đã được chia đều cho các nhóm và các hộ thuộc các nhóm, không kể số diện tích đất rừng họ bảo vệ nhiều hay ít Như vậy, các hoạt động của dự án thúc đẩy việc phân phối lợi ích từ các hoạt động lâm nghịep một cách công bằng cho mọi hộ gia đình tạo nên một nhóm bảo vệ

„ Nhu cầu địa phương

Các cộng đồng người H'mong trong khu vực thử nghiệm dự án chủ yếu sống tự cung tự cấp Khó có thị trường cho lâm sản Các nhu cầu lâm sản chính là gỗ củi, cột chống, và gỗ làm nhà Tình trạng phổ biến ở Thôn I và Thôn III là hiếm tài nguyên nguyên Việc lấy củi chủ yếu do phụ nữ và trẻ em tiến hành Củi được lấy từ các bản cách 3-5 km, góp phần tăng thêm gánh nặng công việc cho phụ nữ

„ Năng lực cộng đồng

Người Hmong chủ yếu canh tác du canh và bị coi là thủ phạm của việc phá rừng Các quan chức và các

cơ quan nhà nước Việt nam coi họ là những người có dân trí thấp và sử dụng đất không hiệu quả Tuy nhiên trên thực tế, người Hmong tại huyện Tủa Chùa đã xây dựng được các phương thức sử dụng đất cho thấy kiến thức quản lý tài nguyên thiên nhiên của họ Người dân địa phương hiểu rõ về các loài cây, gỗ và chất lượng đất Người Hmong biết về việc tăng trưởng của cây, ví dụ họ biết phải mất bao lâu thì cây đạt được đường kính cho thu hoạch Khó có thể tiến hành việc theo dõi và đánh giá cùng người Hmong vì đối với họ gỗ hoặc củi chỉ được định lượng hoặc là "ít" hoặc là "nhiều" Dân chủ yếu

mù chữ Vào những khoảng thời gian nhất định trong năm còn hiếm lao động

Tại Tủa Chùa, các xóm người Hmong gắn kết với nhau, chia xẻ công bằng quyền tiếp cận và lợi ích từ các khu rừng gần xóm làng của họ Đây là điều rất quan trọng để họ có thể tổ chức và thực thi các hoạt động lâm nghịêp cộng đồng Chính vì vậy, các xóm đưa ra một đơn vị phù hợp làm cơ sở cho các can thiệp về quản lý rừng

Trang 9

„ Mô tả các điều kiện lập địa và thông số lâm sinh của hai khu rừng

Các can thiệp kỹ thuật tập trung vào tái sinh rừng non trên đất du canh bỏ hoá Rừng từ 3 đến 5 tuổi

thường gồm các loài cây chủ đạo như Eurya acuminata, Cratõylon cochinchinensis, Aporusa tetrapleura, Wendlandia paniculata, Mallotus metcalfianus, Glochidion Litsea cubeba, Schima wallichii, Quercus poilanei, Betula alnoides và Styrax tonkinensis Mật độ cây (cao hơn 50 cm) từ

3000 - 7000 cây một ha Số lượng chồi tái sinh lớn cho thấy nhiều cây có khả năng sinh chồi rõ rệt Tổng trữ lượng rừng ước chừng 4 - 9 m2/ha Rừng chủ yếu nằm ở độ dốc 20 0 - 30 0 và ở độ cao 1.100

- 1.200 m

„ Chiến lược can thiệp

Tình hình mô tả trên dẫn tới phương thức quản lý được đề xuất thử nghiệm trên một diện tích 1 ha tại hai bản Hmong kề nhau như sau: Giới thiệu hệ thống rừng chồi chuẩn luân canh, kết hợp sản xuất gỗ củi và gỗ làm nhà Chu kỳ dự định cho lấy gỗ củi là 4 năm Trước đây người ta đề xuất 400 cây chuẩn

(chủ yếu là Schima, Quercus, Betula và Styrax, tuy nhiên người dân địa phương được khuyến khích

nên quyết định trồng cây nào sao cho có thể thu hoạch được nhiều gỗ củi bởi đó chính là động lực cho

họ tham gia công việc này Các cây chuẩn được phân bố đều trong vùng, cách nhau chừng 5 m Giải pháp này được xây dựng và thảo luận với lãnh đạo hạt kiểm lâm và sau này được tiến hành tại các khu vực phù hợp Lợi ích được phân chia bình đẳng giữa các hộ tham gia Các bên đã nhất trí là người dân địa phương sẽ theo dõi xem họ đã lấy được bao nhiêu khối củi, các cây chặt mọc chồi thế nào và có để lại đủ các cây cho chồi chuẩn hay không, cũng như so sánh với các khu không có can thiệp kỹ thuật Hơn nữa, các diện tích được bảo vệ nghiêm ngặt tránh gia súc phá hoại và lửa rừng

Kỹ thuật này được tiến hành vào tháng 12 năm 1997 dưới sự hướng dẫn của cán bộ dự án Kết quả khá khả quan Trước hết, phần lớn các nhóm bảo vệ đều tham gia, tỷ lệ phụ nữ và trẻ em tham gia khá cao Thứ hai, qua thực hiện các giải pháp lâm sinh cho thấy cả nam và nữ đều có kiến thức khá cao về các loài cây có một nhu cầu bổ sung của người dân chưa được đề cập trong quá trình lập kế hoạch: Nông dân để lại cây nứa và một số cây thân thẳng (chủ yếu là Eurya acuminata) để dùng làm mái nhà Như

vậy có khoảng 900 cây chồi chuẩn/ha trong đó 100 cây có khả năng cho gỗ (chủ yếu là Schima) sẽ

được tỉa nếu cần Kết quả tại 1 ô 1 ha cho từ 4-6 m3 củi và một vài cây gỗ chống Tại ô kia để lại nhiều cây hơn, dẫn tới số chồi chuẩn khoảng 1600 Do vậy tại ô này chỉ thu được 2 - 3 m3 củi/ha

Tóm lại, nông dân dễ dàng tiếp thu và áp dụng giả pháp kỹ thuật của dự án đối với các nhu cầu và điều kiện đất đai địa phương Các hộ tham gia nhận thấy rằng ngay cả rừng non tái sinh cũng cho nhiều lợi ích Tuy nhiên chính sách hiện tại tập trung nhiều vào bảo vệ hơn là quản lý sử dụng Tuy nhiên,

Trang 10

những thử nghiệm này cũng đó thuyết phục được cỏc nhà lónh đạo địa phương rằng cú thể kết hợp quản lý rừng cho nhu cầu địa phương và bảo vệ đầu nguồn

3.3 Quản lý rừng non tỏi sinh ở bản người Thỏi Thốn luụng, xó Chiềng đụng, huyện Yờn chõu, tỉnh Sơn la

„ Hưởng dụng

Bản Thốn luụng được chọn làm thử nghiệm vỡ phần lớn đất lõm nghiệp đó được giao cho cả bản Chỉ

cú một phần nhỏ được giao cho nhúm hộ Tại vựng người Thỏi, cả bản gần như tương đương với một nhúm sử dụng Rừng là tài sản chung và việc sử dụng rừng được qui định bởi cỏc qui chế khụng chớnh thức do bản xõy dựng nờn Cú thể cho rằng bản là đơn vị hành chớnh phự hợp để can thiệp Kinh nghiệm thực tế với cỏc hợp đồng bảo vệ cho cỏc cỏ nhõn và nhúm hộ cho thấy trong phần lớn cỏc trường hợp cỏc nhúm bảo vệ khụng đồng nhất với cỏc nhúm sử dụng chớnh vỡ vậy đó dẫn tới mõu thuẫn giữa cỏc nhúm này

So với người Hmong thỡ lợi ớch được phõn chia ớt cụng bằng hơn Cỏc gia đỡnh khỏ giả hơn xõy nhà to hơn và cỏc hộ cú nhiều lao động cú thể thu được nhiều lõm sản hơn (một cỏch bất hợp phỏp) để bỏn trờn thị trường Tiền cụng bảo vệ cho cỏc nhúm hộ được chia đều theo diện tớch họ bảo vệ, đụi khi thậm chớ theo thời gian họ dành cho việc bảo vệ Tiền cụng bảo vệ rừng của bản được xung vào quĩ bản và được sử dụng để trả cho người gỏc rừng Bản thu thuế đối với cỏc lõm sản đó thu hoạch để xung vào quĩ bản7 Tuy nhiờn ở một chừng mực nào đú thỡ việc này cũng dẫn tới việc phõn phối lại lợi ớch khi quĩ được sử dụng cho cỏc mục đớch cụng cộng

„ Nhu cầu

Do tầm quan trọng của ngụi nhà người Thỏi như biểu tượng địa vị xó hội, nhu cầu gỗ tốt làm nhà rất lớn và ngày càng làm khan hiếm tài nguyờn Nhỡn chung gỗ củi và lõm sản ngoài gỗ vẫn cũn nhiều Như vậy nụng dõn quan tõm tới quản lý rừng để sản xuất gỗ cú chất lượng cao Điều này một phần được khẳng định qua cỏc việc nụng dõn trồng cõy (chủ yếu cõy Tếch) trong vườn của họ Tuy nhiờn cho tới nay, nụng dõn chưa cú hoạt động gỡ đối với đất rừng tự nhiờn

Tuy nhiờn, phụ nữ quan tõm tới gỗ củi nhiều hơn vỡ họ thường phải đi xa để lấy củi

Nam giới chịu trỏch nhiệm chọn và thu hoạch gỗ làm nhà Điều này dẫn tới việc chỉ cú nam giới là cú kiến thức về loài cõy và chất lượng gỗ

7 Đây là hoạt động phổ biến ở các bản Thái ngay cả những nơi còn nhiều tài nguyên

Ngày đăng: 10/04/2014, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w