TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 3 1 Khái niệm 3 2 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư của một quốc gia 4 II THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG[.]
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "môi trường" là những yếu tố hoặc trạng thái bên ngoài có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tượng Vậy, môi trường đầu tư là những nhân tố bên ngoài (khách quan) của nước sở tại có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư là việc bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai Như vậy từ khái niệm môi trường, của một khách thể bao gồm vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động khách thể diễn ra trong chúng, ta có thể định nghĩa: Môi trường đầu tư (theo nghĩa chung nhất) là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật,tài chính, cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của nhà đầu tư.
Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư của một quốc gia
- Môi trường đầu tư cứng: Môi trường đầu tư cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật đảm bảo cho sự phát triển kinh tế vùng, quốc gia như: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng, sân bay, bến cảng ), hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng, nước v.v
- Môi trường đầu tư mềm: Môi trường đầu tư mềm bao gồm hệ thống các dịch vụ hành chính công, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt là các vân đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại), hệ thống các dịch vụ tài chính- ngân hàng, kế toán và kiểm toán v.v
- Cụ thể, môi trường đầu tư được cấu thành từ nhiều yếu tố mà theo UNCTAD, có thể tổng hợp thành 3 nhóm yếu tố sau: Khung chính sách; Các yếu tố kinh tế; Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh.
- Bên cạnh cách tiếp cận của UNCTAD, còn có cách tiếp cận khác và đây cũng chính là cách mà nhóm sẽ tiếp cận Theo đó môi trường đầu tư bao gồm các yếu tố sau:
+ Môi trường chính trị xã hội: Sự ổn định của chế độ chính trị, quan hệ các đảng phái đối lập và vai trò kinh tế của họ, sự ủng hộ của quần chúng, của các đảng phái, tổ chức xã hội và của quốc tế đối với chính phủ cầm quyền, năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo đất nước, ý thức dân tộc và tinh thần tiết kiệm của nhân dân, mức độ an toàn và an ninh trật tự xã hội
+ Môi trường pháp lý và hành chính: tính đầy đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật; tính rõ ràng, công bằng và ổn định của hệ thống pháp luật; khả năng thực thi pháp luật; khả năng bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư của pháp luật; những ưu đãi và hạn chế dành cho các nhà đầu tư của hệ thống pháp luật; thủ tục hành chính và hải quan + Môi trường kinh tế và tài nguyên: chính sách kinh tế; các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội (GDP, GDP/người, GNP); tỷ lệ tiết kiệm quốc gia; các luồng vốn đầu tư cho phát triển; dung lượng thị trường và sức mua của thị trường; tài nguyên thiên nhiên và khả năng khai thác; tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế; tình hình buôn lậu và khả năng kiểm soát; chính sách bảo hộ thị trường nội địa; hệ thống thông tin kinh tế
+ Môi trường tài chính: các chính sách tài chính (thu chi tài chính, mở tài khoản, vay vốn, lãi suất, chuyển lợi nhuận về nước, ); các chỉ tiêu đánh giá nền tài chính quốc gia (cán cân thương mại quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế, nợ quốc gia, tỷ lệ lạm phát); tỷ giá hối đoái và khả năng điều tiết của nhà nước; khả năng tự do chuyển đổi của đồng tiền; hiệu quả hoạt động của hệ 11 thống ngân hàng; hoạt động của thị trường tài chính; hệ thống thuế và lệ phí; khả năng đầu tư chính phủ cho phát triển; giá cả hàng hoá;
+ Môi trường cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sá, cầu cống, sân bay, cảng, ; mức độ thoả mãn các dịch vụ điện, nước, bưu chính viễn thông, khách sạn, ; khả năng thuê đất và sở hữu nhà; chì phí thuê đất, đền bù giải toả, thuê nhà; chi phí dịch vụ vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc
+ Môi trường lao động: nguồn lao động và giá cả nhân công lao động; trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân; cường độ lao động và năng suất lao động; tính cần cù và kỷ luật lao động; tình hình đình công, bãi công; hệ thống giáo dục đào tạo; sự hỗ trợ của chính phủ cho phát triển nguồn nhân lực
+ Môi trường quốc tế: quan hệ ngoại giao của chính phủ; quan hệ thương mại, mức độ được hưởng ưu đãi MFN và GSP của các nước này; hợp tác kinh tế quốc tế (tham gia vào các khối kinh tế, diễn đàn kinh tế thế giới); mức độ mở cửa về kinh tế và tài chính với thị trường bên ngoài Tóm lại là các nhân tố của môi trường quốc tế.
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
Môi trường tự nhiên (vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, địa hình, khí hậu): 5 2 Môi trường chính trị - pháp luật (hệ thống quy định luật liên quan đến đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư nước ngoài, chính sách thuế, tiền thuê đất…)
Nước Việt Nam nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dânTrung Hoa, Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và vương quốc Campuchia,Đông và Nam giáp Biển Đông (Thái Bình Dương), có diện tích 329.600 km 2 đất liền, gần700.000 km 2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo Hình thể nước Việt Nam có hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam (theo đường chim bay) là 1.648 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km 2 biển Đông Nước ta nằm ở vị trí cầu nối giữa đất liền và biển, giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á đất liền tạo điều kiện cho việc hội nhập khu vực, trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ và đồng thời phát triển một nền kinh tế toàn diện cả trên đất liền và biển đảo với sự đa dạng về cơ cấu ngành Lợi thế về vị trí địa lý cũng giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hoá.
Việt Nam nằm trong vị trí nội chí tuyến bán cầu bắc có bức xạ mặt trời lớn, nhiệt độ cao và độ ẩm lớn tạo điều kiện cho cây trồng vật nuôi phát triển với cơ cấu đa dạng. Dọc theo lãnh thổ trải dài khí hậu Việt Nam phân bổ thành 3 vùng: miền Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền Trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi miền Nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan Khí hậu Việt Nam có độ ẩm tương đối trung bình 84 - 100% cả năm Thêm nữa, nước ta là nơi tiếp xúc của các luồng sinh vật và các luồng gió mùa nên có sinh vật đa dạng, thuận lợi cho chọn giống và lai tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng và chăn nuôi Nhờ có một nền khí hậu đa dạng như vậy mà Việt Nam có thể thu hút rất đa dạng các ngành nghề đầu tư, nhiều lĩnh vực đầu tư…Việt Nam còn có nhiều danh lam thắng cảnh, thuận lợi cho thu hút các nguồn vốn đầu tư vào để phát triển du lịch, dịch vụ, nghỉ dưỡng…
Bên cạnh đó, ta cũng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Chúng ta có hệ thống sông ngòi dày đặc trải khắp từ Bắc đến Nam, nguồn thuỷ sản phong phú, tiềm năng thuỷ điện dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Phần biển Đông của Việt Nam là ngư trường phong phú và là con đường giao lưu hàng hải quốc tế rất thuận lợi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Bờ biển Việt Nam là những điểm du lịch hấp dẫn có di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh Trong nước biển và thềm lục địa của Việt Nam có nhiều tài nguyên quý.
* Hạn chế của môi trường tự nhiên:
- Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác quá mức và có nguy cơ cạn kiệt, đa dạng sinh học đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, rừng tiếp tục bị thu hẹp…
- Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2014 - 2019, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 1,450 – 2,890 nghìn tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc Riêng năm 2019, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 2,890 nghìn tấn thông qua đường chính ngạch Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn nữa
- Sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống
- Ngoài ra, số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2019 có hơn 2.598,5 ha rừng tự nhiên bị phá, gấp 2,7 lần cùng kỳ năm trước để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện
→ Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến các nhà đầu tư nước ngoài còn e dè, đắn đo khi đầu tư một khoản tiền lớn vào Việt Nam.
2 Môi trường chính trị - pháp luật (hệ thống quy định luật liên quan đến đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư nước ngoài, chính sách thuế, tiền thuê đất…): a,
Sau hơn 30 năm đổi mới, sự thay đổi trong thể chế chính trị và thể chế kinh tế đã dẫn đến những thay đổi rõ rệt trong phát triển kinh tế
Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thế chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập Một nhà nước có tính thống nhất cao, gắn bó mật thiết với nhân dân như nước ta sẽ tạo được sự tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài
Biểu đồ thể hiện xếp hạng tiêu chí về thể chế của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2019
Chỉ số xếp hạng thể chế của Việt Nam dao động trong khoảng từ 70 đến 100, thuộc mức trung bình thấp trên thế giới Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, vị trí xếp hạng thể chế của Việt Nam có xu hướng tích cực.
Việt Nam có tình hình chính trị - an ninh ổn định, hệ thống pháp luật ngày càng được sửa đổi phù hợp với nền kinh tế hiện nay Từ sau khi gia nhập WTO, chúng ta đã có các chính sách kinh tế phù hợp hơn, không những với các doanh nghiệp Việt Nam mà còn với cả doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào nước ta Cơ chế điều hành của nước ta hiện nay chủ trương đường lối theo Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhìn chung chúng ta có môi trường chính trị và xã hội ổn định hơn so với các nước khác trong khu vực Tổ chức tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị (PERC) cũng đánh giá cao tình trạng ổn định chính trị và xã hôi ở nước ta do đó Việt Nam được coi là nơi an toàn để đầu tư, là tầm ngắm của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài Chỉ số “Ổn định chính trị và không có bạo lực” được đánh giá cao.
* Hạn chế của môi trường chính trị:
Nước ta cũng đang đối mặt với những vấn đề chính trị khá nóng như: Tình trạng tham nhũng phổ biến ở mọi cấp chính quyền, đây chính là rào cản quan trọng ngăn cản nước ngoài đầu tư; Hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền: Tình trạng tham nhũng, sự thiếu trách nhiệm, thiếu minh bạch, tính quan liêu của các quan chức nhà nước đã gây cản trở và tác động xấu đến việc vận hành của bộ máy chính quyền có thể ảnh hưởng đến công cuộc cải cách kinh tế và tái cấu trúc doanh nghiệp quốc doanh hoạt động kém hiệu quả; Tình trạng xã hội bất ổn định: tại Việt Nam trong những năm gần đây, những cuộc đình công, biểu tình và tranh chấp đất đai xảy ra ngày càng nhiều đã gây ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, tình trạng xáo trộn đã bùng lên tại các vùng nông thôn có liên quan đển việc nhà nước xung công đất đai và tình trạng tham nhũng của các quan chức địa phương. b, Môi trường luật pháp:
Sự ra đời của Luật Đất đai năm 1993 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các quy định mang tính tiến bộ, từng bước phù hợp với cơ chế thị trường Bên cạnh đó, đã có các quy định về ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giải quyết hợp lý lợi ích giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Để thu hút đầu tư, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính đất đai tại các khu kinh tế, khu công nghệ cao Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2017/NĐ-CP ngày 3/4/2017 quy định thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu công nghệ cao với nhiều ưu đãi.
Môi trường kinh tế - tài chính (tình hình kinh tế, chính sách tài chính, cơ sở hạ tầng)
Tăng trưởng GDP năm 2019 của Việt Nam đạt 7,02% so với năm 2018; mức tăng trưởng năm 2019 tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011 – 2017 Kinh tế Việt Nam năm 2019 tiếp tục đánh dấu một năm khởi sắc trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại.
Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02% so với năm 2018; trong đó quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%,quý III tăng 7,48% và quý IV tăng 6,97%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra là từ 6,6-6,8% Năm 2019, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu lớn trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt gần 517 tỷ USD, tăng 7,6% so năm 2018; lần đầu vượt ngưỡng 500 tỷ USD và là kết quả lịch sử, với giá trị xuất siêu đạt mức kỷ lục mới đạt 9,94 tỷ USD Trong đó,kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% Khu vực kinh tế trong nước năm qua đánh dấu sự phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lên tới 17,7%, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (4,2%).Tăng trưởng trên 7% năm 2019 là một tin vui đối với từng người dân Việt Nam, trong bối cảnh các tổ chức quốc tế đều cho rằng, nền kinh tế thế giới đang xuất hiện hiện tượng “bốn thấp” Cụ thể, đó là tăng trưởng thấp, thương mại - đầu tư thấp, lãi suất thấp và lạm phát thấp Điều này có thể dẫn đến trì trệ kéo dài và sẽ chuyển sang suy thoái.
Năm 2019, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chững lại, tiến trình phục hồi về thương mại, sản xuất, đầu tư đang mất đà Thuế quan gia tăng và tình trạng bấp bênh kéo dài do chính sách thương mại gây ra đã làm suy yếu hoạt động đầu tư và nhu cầu hàng hóa lâu bền Lĩnh vực sản xuất tiếp tục trì trệ và thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm Căng thẳng thương mại Mỹ- Trung Quốc diễn biến phức tạp, dòng vốn FDI phục hồi so với năm 2018, nhưng còn yếu, niềm tin đầu tư giảm Căng thẳng thương mại giữa Mỹ-Trung và các vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu.
- Về tăng trưởng GDP, mặc dù môi trường kinh tế toàn cầu trở nên thách thức hơn, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững nhờ sức cầu mạnh trong nước và nền sản xuất định hướng xuất khẩu.
Tăng trưởng Việt Nam so với các khu vực trên thế giới Nguồn: World Economic Outlook,
10/2019, Tổng cục Thống kê và tổng hợp các dự báo.
Nền kinh tế không những đạt mức tăng trưởng cao, mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tỉ trọng trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ mức 17% của năm 2015 xuống 13,96% vào năm 2019, trong khi đó, tỉ trọng của khu vực dịch vụ tăng từ mức 39,73% của năm
2015 lên 41,17% vào năm 2018 và 41,64 % trong năm 2019; tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì ổn định ở mức 33-34,5% từ năm 2015 đến năm 2019.Tăng trưởng kinh tế dần chuyển dịch theo chiều sâu, tỉ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 46,11%, bình quân giai đoạn 2016 – 2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,6% của giai đoạn 2011 – 2015 Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực Năm 2019, đầu tư phát triển tăng 10,2%, nâng tổng mức đầu tư lên mức 33,9% GDP so với 32,6% trong năm 2015 Trong đó, đầu tư khu vực nhà nước chiếm 31% tổng vốn và tăng trưởng 2,6% so với năm trước; mặc dù có tăng trưởng nhưng tỉ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước tiếp tục xu hướng giảm từ mức 38% năm
2015 xuống 31% năm 2019. Đầu tư khu vực nhà nước giảm về tỉ trọng trong thời gian qua được bù đắp còn nhiều hơn bởi đầu tư của khu vực tư nhân nhờ chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa tốc độ tăng trưởng và tỉ trọng vốn đầu tư của khu vực này lần lượt lên mức 17,3% và 46% vào năm 2019 so với mức 13% và 38,7% năm 2015 Đầu tư khu vực FDI vẫn duy trì mức tăng trưởng khá trong thời gian qua; năm 2019, tổng vốn FDI đạt 38,02 tỉ USD, tăng 7,2% so với cùng kì; duy trì tỉ trọng ổn định ở mức 23,3 – 23,8% trong giai đoạn 2015 – 2019.
- Về ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thanh khoản của tổ chức tín dụng được đảm bảo và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt.
Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như cơ chế phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Chỉ số CPI (giá tiêu dùng) bình quân năm giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018; năm 2019, giảm còn 2,79%.
Mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định và giảm dần, phù hợp với bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước.
Trong giai đoạn 2016 - 2018, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia tăng (Fed 9 lần tăng lãi suất từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2018, từ mức gần 0% lên mức 2,25-2,5%), NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý. Điểm khá đặc biệt trong cách thức điều hành tỉ giá của NHNN so với trước đây, đó là, đã sử dụng những công cụ mang tính thị trường hơn là các công cụ mang tính áp đặt hành chính Điều này thể hiện quyết tâm theo đuổi cơ chế tỉ giá trung tâm linh hoạt và định hướng thị trường của ngành NH Nhờ đó, tỉ giá được duy trì ổn định, thanh khoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, dự trữ ngoại hối được tăng cường.
Thu NSNN trong giai đoạn 2016 – 2019 đều vượt dự toán; chi NSNN chuyển biến tích cực, bội chi được kiểm soát tốt, nợ công nằm trong giới hạn an toàn cho phép Bội chi NSNN so với GDP giảm mạnh từ mức 5,52% năm 2016 xuống 3,46% năm 2018 và dự toán bội chi năm 2016 là 3,6%; năm 2020 là 3,44% Như vậy, bình quân cả giai đoạn
2016 – 2020, bội chi NSNN khoảng 3,6 – 3,7%, hoàn thành mục tiêu Quốc hội đề ra ở mức 4% đến năm 2020.
Nhờ kiểm soát bội chi, các khoản vay bảo lãnh của Chính phủ nên tốc độ tăng của nợ công đã giảm hơn một nửa và tăng thấp hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa Nếu như giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng nợ công là 18,1%/năm trong khi GDP danh nghĩa tăng 14,5%/năm thì giai đoạn 2016 – 2018, tốc độ tăng nợ công là 8,2%/năm trong khi GDP danh nghĩa tăng 9,7%/năm Nhờ vậy, ước tính nợ công đến cuối năm 2020, chỉ còn 54,3% từ mức 64,3% năm 2016.
Vị thế kinh tế đối ngoại của Việt Nam được tăng cường trên cơ sở thặng dư cán cân vãng lai và dòng vốn FDI đổ vào mạnh mẽ.
Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đạt kỉ lục thặng dư 9,9 tỉ USD trong năm
2019, vượt đỉnh gần nhất là 9 tỉ USD vào năm 2017. b, Chính sách tài chính:
Cùng với các chính sách khác, chính sách thuế cũng đóng góp tích cực trong thu hút vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam và được điều chỉnh tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội (KT - XH) cụ thể Chính sách thuế tập trung chủ yếu vào thuế thu nhập DN (TNDN), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản thu về đất Chính sách này rất cạnh tranh so với các nước trên thế giới và các ưu đãi về thuế suất và miễn thuế, giảm thuế có thời hạn với các lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư Chính sách thuế đã tạo môi trường pháp lý bình đẳng trong sản xuất kinh doanh để cùng cạnh tranh và phát triển giữa DN trong nước và DN nước ngoài, qua đó, góp phần thu hút cả vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy xuất khẩu, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm và nâng cao đời sống nhân dân Chính sách ưu đãi thuế, đặc biệt là chính sách ưu đãi thuế TNDN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát huy các lợi thế so sánh của đất nước.
Theo quy định pháp luật thuế hiện hành, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài được đối xử như nhau cả về điều kiện cũng như mức độ ưu đãi thuế Đối tượng ưu đãi thuế dựa trên hai tiêu chí chính: Ưu đãi theo địa bàn và theo lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực ưu đãi và đặc biệt ưu đãi đầu tư bao gồm: Hoạt động công nghệ cao; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất sản phẩm tạo ra tối thiểu 30% giá trị gia tăng; sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất phụ kiện, linh kiện điện tử, cụm chi tiết điện tử, sản phẩm cơ khí, máy phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô, đóng tàu, trồng trọt, chế biến sản phẩm nông nghiệp Đầu tư tại địa bàn trong danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư bao gồm địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khu công nghiệp; khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Môi trường văn hóa - xã hội (truyền thống, tôn giáo, giáo dục, chất lượng nguồn lao động, thị hiếu của người tiêu dùng)
Truyền thống văn hóa – tôn giáo :
Với 54 dân tộc, Việt Nam có nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử Nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam dồi dào, đa dạng về loại hình và có giá trị cao trên nhiều phương diện, được công nhận cả ở tầm khu vực và quốc tế Hệ thống di sản văn hóa phong phú, cảnh quan kỳ vĩ và thơ mộng là những tài sản vô giá, có tiềm năng chuyển hóa thành những sản phẩm, dịch vụ độc đáo Đây chính là lợi thế của Việt Nam để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình Ở Việt Nam, 95% dân số có đời sống tín ngưỡng Hằng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức Những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo đã góp phần tạo nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam chúng ta.
Tinh thần yêu nước, lòng thương người, nhân ái, khoan dung, tình đoàn kết và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, cần kiệm là những giá trị đạo đức căn bản và xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị đó, qua các thời đại, được những thế hệ nối tiếp nhau bồi đắp, kế thừa và chúng trở thành động lực, bản sắc của nhân cách con người Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến như một đất nước thanh bình, hiện đại, trẻ trung và năng động, một thành viên tích cực trong các hoạt động hợp tác quốc tế cho hòa bình và phồn vinh chung trên toàn cầu Nền văn hóa hiện tại đang hướng đến việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị mới, hướng tới tương lai, như dân chủ, hiện đại, nhân văn, rộng mở b, Hệ thống giáo dục – Chất lượng nguồn lao động:
Việt Nam là nước có dân số đông, lao động dồi dào, giá rẻ, chất lượng lao động ngày càng được nâng cao Hiện nay Việt Nam có trên 96 triệu dân, đứng thứ 15 trên thế giới Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 55,7 triệu người, lao động từ 15 đến 59 tuổi đạt 49,1 triệu người, chiếm 88,2% lực lượng lao động Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2019 ước tính đạt 110,4 triệu đồng/lao động (tương đương 4.791 USD/lao động, tăng 272 USD so với năm 2018); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,2% do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2019 tăng cao Tiền công và tiền lương của doanh nghiệp Việt Nam trả cho người lao động trung bình ở mức khoảng 2.739 USD/lao động Giá lương bình quân của lao động Việt Nam chỉ 0,1 USD/giờ, kém xa các quốc gia khác như Philippine là 2,1 USD/giờ, Trung Quốc là 2,5 USD/giờ.
Việt Nam đã phát triển được đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ khá đông đảo. Nhiều nhà kinh tế, cán bộ khoa học của Việt Nam đã tiếp thu và tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam thông qua xuất khẩu lao động và các chuyên gia nước ngoài đã có điều kiện tiếp cận được nhiều hơn với những máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp Người lao động Việt Nam được đánh giá có ưu điểm là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấn khá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới.
Chất lượng nguồn lao động phụ thuộc vào hệ thống giáo dục Vì vậy, Việt Nam luôn đặt chính sách giáo dục lên hàng đầu, có sự đầu tư lớn cho nền giáo dục Mức đầu tư công của Việt Nam đối với giáo dục luôn bảo đảm 20% tổng chi, khoảng 5,8% GDP Cơ sỏ vật chất, trang thiết bị giảng dạy ngày càng hiện đại, tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ
Công tác đào tạo và dạy nghề tại Việt Nam bước đầu gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động; cơ cấu ngành nghề đào tạo từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề sản xuất, kinh doanh; đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động. Để hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành Thông tư 05/2019/TT-BKHĐT hướng dẫn việc đào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị kinh doanh, đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp nhỏ và vừa; tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trực tuyến, chương trình đào tạo trên phương tiện thông tin đại chúng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thông tư nêu rõ mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước như sau: Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% tổng chi phí tổ chức một khóa đào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị kinh doanh Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% học phí đối với học viên của doanh nghiệp nhỏ và vừa có trụ sở tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, học viên của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ khi tham gia khóa đào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị kinh doanh và quản trị kinh doanh chuyên sâu. c, Thị hiếu tiêu dùng người Việt Nam:
Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng Việt Người Việt thích sử dụng thực phẩm an toàn, chất lượng, ngày càng đòi hỏi nhiều hơn ở các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, mong muốn các sản phẩm phù hợp với nhu cầu và lối sống riếng.
Khi nhu cầu thiết yếu hàng ngày được đáp ứng đầy đủ, thị hiếu người tiêu dùng Việt đang có xu hướng đến những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân : quần áo, mỹ phẩm, nội thất gia đình, thiết bị công nghệ, thết bị gia dụng thông minh, du lịch,… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Người tiêu dùng ngày càng có lối sống bận rộn hơn, thị hiếu người tiêu dùng chuyển sang kênh thương mại hiện đại và thương mại điện tử, mua sắm đa kênh bởi sự tiện lợi, nhanh chóng và dễ dàng.
Người Việt tiếp nhận rất nhanh công nghệ thông tin, các dịch vụ đặt xe và giao đồ ăn trực tuyến, dịch vụ ví điện tử, Ngày nay, kể cả những người lớn tuổi vẫn có nhu cầu sử dụng công nghệ như người trẻ Tuy vậy, nhu cầu và mối quan tâm của họ có nét khác biệt và điều này sẽ mở cánh cửa mới cho các nhà đầu tư.
Thị hiếu của người tiêu dùng Việt Nam luôn luôn có sự thay đổi qua các năm Để nắm bắt nhanh chóng xu hướng thị hiếu của người tiêu dùng , doanh nghiệp luôn cần theo dõi kỳ vọng của họ và đánh giá khả năng đáp ứng những kỳ vọng đó bằng sản phẩm của mình.
* Hạn chế của môi trường văn hóa - xã hội:
- Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn.
Môi trường đầu tư quốc tế
a, Tình hình kinh tế thế giới:
Năm 2019 khép lại với những mảng màu sáng tối đan xen trên bức tranh kinh tế thế giới, ghi nhận mức tăng trưởng thấp nhất trong 10 năm qua.
Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm tốc bởi nhiều “cú sốc” khó lường, trong đó có cuộc chiến thương mại Mỹ -Trung, biến động của thị trường dầu mỏ, vụ cháy rừng Amazon, sự lao đao của các startup công nghệ lớn …
Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc khiến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu 2019 giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 Việc tái diễn căng thẳng kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc đã làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư, làm tổn hại đến triển vọng đầu tư, sản xuất và hoạt động thương mại toàn cầu.
Kinh tế toàn cầu 2019 còn hứng chịu hàng loạt yếu tố gây rủi ro cao, từ làn sóng biểu tình bạo lực bùng phát ở Hong Kong (Trung Quốc) hay tình hình rối ren tại khu vực Mỹ Latinh, tới những căng thẳng Vùng Vịnh với nguy cơ một cuộc chiến tranh có thể bùng phát do xung đột Mỹ-Iran leo thang…
Tháng 8/2019, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) lần đầu hạ lãi suất kể từ năm 2008, với mức giảm 0,25% Quan chức Fed cho rằng việc điều chỉnh là cần thiết để giữ nền kinh tế vững mạnh, đặc biệt trong bối cảnh họ bị hạn chế về công cụ đối phó suy thoái khi lãi suất hiện ở mức thấp kỷ lục.
Năm vừa qua chứng kiến việc các start-up, kỳ lân công nghệ đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi chính thức hoặc chuẩn bị chào sàn Tiêu biểu nhất có thể kể đến trường hợp của WeWork và Uber Hàng loạt cái tên công nghệ khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự như Pinterest, Slack Technologies và SmileDirectClub Điều này đã dẫn đến việc các nhà đầu tư cẩn trọng hơn với start up công nghệ, kéo theo dòng vốn đổ vào lĩnh vực này đã chậm lại trong năm 2019.
Dưới tác động của dịch viêm phổi do chủng mới của virus corona gây ra (COVID-19),tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể suy giảm 0,1-0,2% so với mức 3,3% theo dự báo trước đó.
Tình hình kinh tế thé giới ảnh hưởng đến dòng đầu tư quốc tế và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài b, Xu hướng vận động dòng vốn đầu tư quốc tế: Đầu tư theo hình thức góp vốn mua cổ phần có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn đầu tư nước ngoài Cụ thể, năm 2018 đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần chiếm 27,8% tổng vốn đăng ký, năm 2019 chiếm 35% tổng vốn đăng ký.
Xu hướng dòng vốn FDI có sự chuyển dịch từ đầu tư vào các cơ sở sản xuất kinh doanh mới sang đầu tư cho mua lại và sáp nhập (M&A) từ năm 2017, hình thức này ngày càng chiếm tỉ trọng lớn và tốc độ tăng nhanh Một mặt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các cơ sở sản xuất kinh doanh mới giảm mạnh ở mức 15% trong năm 2018 và giảm thêm 22% trong 09 tháng đầu năm 2019. c, Hội nhập kinh tế quốc tế:
Về hội nhập đa phương, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngay 11/01/2007
Về hội nhập khu vực, tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
Về hội nhập song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế
Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao, chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới Việt Nam đã đàm phán, ký kết và thực thi 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) với gần 60 đối tác; trong đó đã thực thi 12 FTA, ký và chuẩn bị phê chuẩn 1 FTA, đang đàm phán 3 FTA Việc tham gia và thực thi các FTA đem lại nhiều cơ hội to lớn đối với Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đồng thời cũng đặt ra những thách thức cần vượt qua để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại, đưa kinh tế Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.
* Hạn chế của môi trường quốc tế:
- Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh còn thấp so với các nước trong khu vực Theo bảng xếp hạng môi trường kinh doanh của WB, Việt Nam đạt 69,8 điểm trên 100, xếp thứ 70/190 nền kinh tế Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam 2019 xếp thứ 67/141 nền kinh tế, theo diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF).
- Quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu hội nhập và quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh… Các doanh nghiệp còn mất nhiều thời gian để khởi sự kinh doanh, cho thanh tra, kiểm tra và các thủ tục hành chính khác Doanh nghiệp Việt vẫn chưa nắm được hết quy định về phòng hộ thương mại và sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Vấn đề quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu cũng là một rào cản quan trọng khiến cho các doanh nghiệp FDI còn e dè trong việc hợp tác với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong chuyển giao công nghệ và trong các lĩnh vực khoa học công nghệ
- Các chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với công tác quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội, và thiếu nguồn lực để thực hiện Tính gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực chưa cao, nhiều vấn đề mang tính liên ngành chậm được xử lý hoặc xử lý cục bộ, ngắn hạn Ở cấp độ vi mô, chủ trương, chính sách hội nhập chưa được cụ thể hóa dẫn đến tình trạng thụ động khiến các doanh nghiệp chưa nhận thức hết tính cấp thiết và lợi ích của hội nhập đối với hoạt động kinh doanh của mình
Môi trường công nghệ
Toàn cầu hóa giúp khoa học và công nghệ Việt Nam từng bước hội nhập, giao lưu với nền khoa học công nghệ của thế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam học tập kinh nghiệm, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ thế giới phục vụ cho sự phát triển của kinh tế- xã hội của đất nước Việc chuyển giao các dây chuyền công nghệ, khoa học tiên tiến của thế giới vào từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam như: Công nghệ sản xuất ô tô (Nhà máy ô tô Trường Hải tiếp nhận dây chuyền chuyển giao của Hyundai về sản xuất ô tô), công nghệ sản xuất thiết bị di động cầm tay, chip và các sản phẩm viễn thông (Samsung Việt Nam), các công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao (Công nghệ tưới nhỏ giọt theo tiêu chuẩn Israel), công nghệ xây dựng cầu đường và đặc biệt công nghệ thông tin trong các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng đã góp phần đưa các ngành này từng bước tiếp cận và đạt đến trình độ của thế giới.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự đầu tư của các nước tiên tiến có nền khoa học và công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự đầu tư của các nước tiên tiến có nền khoa học và công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo Sự tham gia liên doanh, liên kết trong hoạt động khoa học và công nghệ với các đối tác nước ngoài giúp cho các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có cơ hội tiếp cận với khoa học và công nghệ cao mà qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu phát triển cũng như nâng cao năng lực sáng tạo khoa học-công nghệ của cá nhân và nền khoa học và công nghệ trong nước Các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, có khả năng tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ những người làm khoa học hiện có và phát triển đội ngũ các nhà khoa học công nghệ trẻ kế tục sự nghiệp phát triển nền khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng hiện đại hơn.
Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, KH&CN tiếp tục có những bước tiến quan trọng về mọi mặt, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng, an ninh Hành lang pháp lý, cơ chế và chính sách quản lý KH&CN được chú trọng đổi mới, hướng đến tiệm cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Ðã từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với thực tiễn và thị trường; kiên trì thực hiện trao quyền tự chủ trong khoa học gắn với trách nhiệm giải trình; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư cho KH&CN; trọng dụng cán bộ khoa học theo nhóm đối tượng tài năng
Tiềm lực KH&CN quốc gia ngày càng phát triển Hiện nay, cả nước đã có hơn 4.000 tổ chức KH&CN, ba khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tám khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67.000 cán bộ nghiên cứu Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, na-nô, công nghệ tính toán, y học được tăng cường Ðã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở cả khu vực nhà nước và tư nhân, điển hình như Viện V-KIST, các viện nghiên cứu của VinGroup về dữ liệu lớn, công nghệ cao Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng Trình độ KH&CN của Việt Nam được cải thiện rõ rệt Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp các luận cứ sâu sắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triển đất nước của Ðảng và Nhà nước, khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước, thúc đẩy năng suất, chất lượng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần tạo nên thế và lực mới cho đất nước Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng cao, năm 2019 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp Số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam tăng trung bình 26%/năm, lĩnh vực toán học và vật lý luôn đứng ở tốp đầu các nước ASEAN
Việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản phẩm theo chuỗi được đẩy mạnh trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp Nhân tố KH&CN đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi Các nhà khoa học trong nước đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các nhà máy thủy điện lớn, công trình ngầm, nhà cao tầng, cầu dây văng, đường cao tốc đạt chuẩn quốc tế; chế tạo thành công thiết bị cơ khí thủy công và nâng hạ siêu trường, siêu trọng; làm chủ các kỹ thuật tiên tiến trong y tế như ghép đa tạng, sản xuất vắc-xin
* Hạn chế của môi trường công nghệ:
- Có thể nói, trong điều kiện một nước đang phát triển, nguồn lực có hạn, Việt Nam đã có những tiến bộ rất đáng khích lệ, từng bước rút ngắn cách biệt về năng lực khoa học và đổi mới sáng tạo so với khu vực và thế giới Tuy nhiên, các khó khăn chúng ta phải đối mặt là rất lớn Năng suất lao động của Việt Nam tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, nhưng vẫn còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực Năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu Tinh thần khoa học, văn hóa đổi mới sáng tạo chưa thấm sâu vào tư duy, nhận thức cộng đồng xã hội.KH&CN Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thật sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế - xã hội Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên toàn cầu với các cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi một nước đi sau như Việt Nam cần nhanh chóng đổi mới tư duy, hành động kịp thời, một mặt kiên trì các giải pháp tăng cường tiềm lực KH&CN trong dài hạn, mặt khác bằng mọi giá tìm cách đi riêng để phát triển bứt phá.
- Hiện nay, các sản phẩm khoa học công nghệ Việt Nam, dù đã được cải tiến và đổi mới nhiều, song phần lớn vẫn sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu Việc đổi mới công nghệ so với mặt bằng chung vẫn còn chậm Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ bị hạn chế khiến cho các sản phẩm khoa học và công nghệ vẫn bị tụt hậu so với thế giới, làm giảm năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này Mặt khác việc đổi mới công nghệ không chỉ đơn giản là thay máy cũ bằng máy mới mà còn phải đổi mới cả một hệ thống quản lý cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao đi kèm mà những điều này vẫn còn thiếu và yếu Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến 2020 đã đặt ra yêu cầu tốc độ đổi mới công nghệ phải đạt 15 - 20% mỗi năm, nghĩa là sau khoảng 5 năm các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới được một thế hệ công nghệ Thực tế, đây là con số quá cao nhưng mặt khác cũng lại được coi là quá thấp đối với khoa học và công nghệ Việt Nam.
- Khung hành lang pháp lý, việc hoàn thiện thể chế, hệ thống chính sách để bảo đảm Luật KH&CN được triển khai sâu rộng vào cuộc sống, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội, đưa KH&CN thực sự trở thành lực lượng sản xuất quan trọng để phát triển kinh tế vẫn còn nhiều bất cập Việc ban hành các văn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư hướng chậm chạp, khiến cho quá trình thực hiện Luật KH&CN gặp nhiều khó khăn.
- Đầu tư để phát triển khoa học và khoa học tuy đã có nhiều chuyển biến, được chú trọng nhưng mới chỉ đạt 2% tổng chi ngân sách nhà nước- một con số quá thấp so với nhu cầu của hoạt động khoa học và công nghệ Các nước tiên tiến đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là nghiên cứu các sản phẩm khoa học ứng dụng luôn đạt từ 3 – 5% ngân sách Rõ ràng sự chênh lệch về vốn đầu tư cho KH&CN cũng đã là một thách thức lớn cho nền KH&CN Việt Nam
- Đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành còn thiếu và yếu, thiếu các trung tâm khoa học lớn; hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động của các khu công nghệ cao còn thấp Thiếu cơ chế quản lý khoa học nhất là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài còn nhiều hạn chế Việc nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ làm công tác khoa học không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà đòi hỏi nhiều thời gian và tâm sức cũng là những thách thức không nhỏ cho việc phát triển nền KH&CN nước nhà.
Môi trường đầu tư và chuẩn mực quốc tế
Mục tiêu thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao đang được nhắc tới, như một trong những động lực quan trọng để kinh tế Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển bền vững những năm tới.
Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư EU đã kể rằng, khi làm việc với các doanh nghiệp ViệtNam, một trong những khó khăn nhất là bàn về các tiêu chuẩn kỹ thuật Các doanh nghiệp Việt Nam đang tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn Việt Nam, đi cùng với đó là những công nghệ, quy trình theo tiêu chuẩn Việt Nam Các quy định, cơ chế chính sách và phương thức quản lý của nhà nước đi theo hệ tiêu chí này
Trong khi đó, cuộc chơi toàn cầu đang đặt ra những chuẩn mực thống nhất, ở đẳng cấp cao, nhiều khi là khác biệt so với những gì doanh nghiệp Việt Nam đang tuân thủ. Trong không ít trường hợp, cơ hội kết nối làm ăn hay chuyển giao công nghệ bị cắt ngang bởi tư duy về chuẩn mực không cùng mặt bằng Những nỗi thống khổ của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm suốt nhiều năm trước khi Nghị định 15/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm được ban hành vào tháng 2/2018 là minh chứng Họ đã phải tuân thủ những tiêu chuẩn mà không ở đâu quy định, thậm chí là không thể hiểu tại sao lại có như bổ sung hàm lượng chất xơ vào cà phê bột hòa tan, trong khi tiêu chuẩn kỹ thuật cho cà phê bột ở châu Âu chỉ có độ ẩm và cafein…
Thậm chí, khi bàn về cơ hội đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước thông qua cổ phần hóa, chuẩn mực không cùng mặt bằng cũng đang làm khó các nhà đầu tư từ Nhật Bản và có thể không chỉ các nhà đầu tư Nhật Bản.
Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) đã trình bày, các hội viên của họ luôn có nghĩa vụ giải trình trước cổ đông, HĐQT của công ty khi quyết định đầu tư liên quan đến các dự án M&A, trong đó có mua cổ phần, phần vốn của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa của Việt Nam Chuẩn mực về quản trị đòi hỏi họ phải thực hiện việc đánh giá các phân tích rủi ro, rà soát, các đối sách trong quy trình rà soát đặc biệt liên quan đến luật pháp, tài chính, thuế Các giải pháp đối với các vấn đề đã được làm rõ qua quá trình rà soát trên sẽ phải được đưa vào hợp đồng (hợp đồng chuyển nhượng vốn cổ phần, hợp đồng cổ đông).
Trong khi đó, các phương pháp xác định giá bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước đang khác biệt khá xa so với tiêu chuẩn định giá cổ phiếu quốc tế Thông tin về các tập đoàn nhà nước lớn không thực sự đầy đủ, khiến nhiều khi các nhà đầu tư nước ngoài khó hiểu rõ nội dung ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn Đó là chưa kể mong muốn bán được giá ngay cả với các doanh nghiệp không thực sự tốt mà không quan tâm đến cải thiện quản trị doanh nghiệp, tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp…
Hệ quả là sự khác biệt trong các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá đang làm giảm đi tính hấp dẫn của cơ hội đầu tư mà rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã từng xác định là chiến lược khi tìm đến Việt Nam
Mọi khoảng cách sẽ trở nên xa hơn khi tới đây, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, gồm Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), sẽ được thực hiện với hàng loạt chuẩn mực mới cao hơn.
Vào thời điểm này, chuẩn mực quốc tế, thông lệ toàn cầu không còn là những khẩu hiệu mang tính cổ súy, khuyến khích mà phải là nhiệm vụ, tiêu chí buộc phải thực hiện trong rà soát, sửa đổi hệ thống văn bản quy định pháp luật của Nhà nước cũng như các quyết định đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Khi môi trường đầu tư – kinh doanh đạt chuẩn mực toàn cầu, khi doanh nghiệp Việt Nam khớp với chuẩn của các chuỗi giá trị lớn, dòng đầu tư nước ngoài chất lượng sẽ tràn đến.