1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Chiến lược tài chính bền vững Khu bảo tồn Na Hang tỉnh Tuyên Quang

27 427 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược tài chính bền vững khu bảo tồn thiên nhiên na hang
Trường học Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 460,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một phần của nghiên cứu này là tiến hành đánh giá hệ thống tài chính hiện đang được áp dụng cho công tác quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam, nhất là đối với các điểm thuộc dự án PARC.. P

Trang 2

Báo cáo này trình Chính Phủ Việt Nam trong khuôn khổ dự án tài trợ bởi GEF và UNDP

VIE/95/G31&031 “Xây dựng Các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên trên Cơ sở Sinh thái Cảnh quan” (PARC) Báo cáo được viêt bởi IUCN – Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế

Tên công trình: IUCN, 2002, Chiến lược tài chính bền vững Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà

Hang, tỉnh Tuyên Quang, Dự án PARC VIE/95/G31&031, Chính Phủ Việt

Nam (Cục Kiểm Lâm) /UNOPS/UNDP/IUCN, Hà Nội

Dự án tài trợ bởi: Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

(UNDP) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cơ quan chủ quản: Cục Kiểm Lâm

Cơ quan thực hiện: Văn Phòng Dịch Vụ Dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS)

IUCN – Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế

Bản quyền: Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

Lưu trữ tại: www.undp.org.vn/projects/parc

Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác giả

Bản tiếng Việt này được dịch từ nguyên bản tiếng Anh Do số lượng báo cáo của dự án quá lớn, công tác biên dịch có thể còn thiếu chính xác hoặc sai xót Nếu có nghi ngờ, xin tham khảo bản gốc tiếng Anh

Đây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, được xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án Báo cáo

được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái mà

dự án sử dung Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã được thay đổi

so với thời điểm phiên bản này được xuất bản

ấn phẩm này được phép tái xuất bản cho mục đích giáo dục hoặc các mục đích phi thương mại khác không cần xin phép bản quyền với đIũu kiện phảI đảm bảo trích dẫn nguồn đầy đủ Nghiêm cấm tái xuất bản ấn phẩm này cho các mục đích thương mại khác mà không được sự cho phép bằng văn bản của cơ quan giữ bản quyền

Trang 3

Mục Lục

1 Giới Thiệu 2

1.1 Cấu trúc báo cáo 2

1.2 Kết hợp các nội dung tài chính vào kế hoạch quản lý 3

2 Khu Bảo tồn Thiên Nhiên Na Hang 4

2.1 Những đặc điểm cơ bản 4

2.2 Thực trạng tài chính 4

2.3 Các mục tiêu tài chính 5

3 Các cơ chế tài chính 7

3.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái 8

3.2 Thanh toán từ ngành điện năng 8

3.3 áp dụng phí sử dụng nguồn nước 8

3.4 Hình thành quỹ bản tồn Khu BTTN Na Hang 8

3.5 Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế) 9

4 Các biện pháp thực hiện 13

4.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái 13

4.2 Thanh toán từ ngành điện năng 17

4.3 áp dụng phí sử dụng nước 19

4.4 Hình thành quỹ bảo tồn Khu BTTN Na Hang 20

4.5 Chiến lược tương lai 22

5 Quy hoạch tài chính 23

5.1 Phân bổ và quản lý nguồn vốn 24

1

Trang 4

1 Giới Thiệu

Mục tiêu của Dự án “Xây dựng các Khu bảo tồn nhằm bảo vệ nguồn Tài nguyên sử dụng quan điểm sinh thái cảnh quan” PARC (1998-2003) là xây dựng và thực hiện thí điểm các phương pháp cải tiến nhằm bảo vệ các loài và môi trường sống độc đáo duy nhất đang bị đe doạ ở Việt Nam Dự án PARC được triển khai ở 3 khu bảo tồn (PA)- Vườn Quốc gia Ba Bể ở phía bắc tỉnh Bắc Kạn, Khu bảo tồn Thiên nhiên Na Hang ở tỉnh Tuyên Quang, và Vườn Quốc gia Yok Đôn ở Tây Nguyên thuộc tỉnh Đắc Lắk

Một Nghiên cứu Tài chính hiện đang được tiến hành qua 3 giai đoạn nhằm hoàn thành Kết quả 1.6 của Dự án PARC, với mục tiêu “ xây dựng một cơ chế cung cấp nguồn tài chính dài hạn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng ở các vùng mục tiêu” Một phần của nghiên cứu này là tiến hành đánh giá hệ thống tài chính hiện đang được áp dụng cho công tác quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam, nhất là đối với các điểm thuộc dự án PARC Điều này tạo cơ sở cho việc xác định các phương pháp nâng cao hiệu quả tài chính, khám phá các phương án tài trợ, xây dựng các cơ chế tài trợ mới, với ưu tiên dành cho bảo tồn đa dạng sinh học và thừa nhận các nhu cầu phát triển cộng đồng địa phương ở các khu mục tiêu

Trên cơ sở những phát hiện của Giai đoạn 1, với việc đã xác định được phạm vi tổng thể của nghiên cứu tài chính này, Giai đoạn II cần xây dựng các Chiến lược Tài chính Bền vững cho từng điểm dự án PARC Giai đoạn này sẽ gắn kết với Giai đoạn III, trong đó yêu cầu tiến hành áp dụng các cơ chế tài chính đã được đề xuất cho ít nhất là một điểm dự án và rút ra các bài học nhằm áp dụng cho các điểm dự án khác Giai đoạn II của Nghiên cứu đã xây dựng được 4 báo cáo dưới đây:

1 Báo cáo Tổng hợp Giai đoạn II Nghiên cứu Tài chính: Nhu cầu và Cơ hội xây dựng các cơ chế tài trợ bền vững cho Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang (IUCN, 2002a)

2 Tăng cường hỗ trợ ngân sách Tỉnh và Trung ương: Trường hợp Vườn Quốc gia Ba Bể

và Khu bảo tồn Thiên nhiên Na Hang (IUCN, 2002b)

3 Tiềm năng Du lịch Sinh thái nhằm cung cấp nguồn tài chính dài hạn cho Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (IUCN, 2002c)

4 Các phương án xây dựng Quỹ Tín thác cho Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn Thiên nhiên Nà Hang (IUCN, 2002d)

1.1 Cấu trúc báo cáo

Các cơ chế tài chính bền vững cho các điểm dự án PARC cần phải có một danh mục chi tiết

về các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các khuyến nghị của nghiên cứu tài chính này Do

đó, báo cáo này sẽ trình bày chiến lược tài chính cho Khu bảo tồn Thiên nhiên Nà Hang (NHNR) nhằm huy động và phân bổ thêm các nguồn lực tài chính cũng như sử dụng các nguồn lực tài chính hiện hành có hiệu quả và hiệu lực hơn Báo cáo dựa trên kết quả các báo cáo và thông tin đã có (như là một phần của nghiên cứu này) và xây dựng các hướng dẫn thực tế, tác nghiệp cho Ban quản lý NHNR về việc hình thành chiến lược tài chính cho Khu bảo tồn Chiến lược Tài chính Bền vững (SFS) nhằm vào cả vùng đệm lẫn vùng lõi khu bảo tồn, qua đó trở thành điểm lồng ghép giúp tập hợp được tất cả các đối tượng thụ hưởng và các cơ quan khác nhau vào việc lập kế hoạch và quản lý cảnh quan Khu BTTN Na Hang Bốn báo cáo (đã đề cập ở trên) cung cấp phân tích chi tiết về tình hình tài chính liên quan

đến các khu bảo tồn ở Việt nam và bức tranh toàn cảnh về từng điểm dự án PARC và tình hình tài chính của các điểm này Các báo cáo này cần được tham khảo thêm nhằm nắm

được các chi tiết khuyến nghị Đặc biệt, Báo cáo Tổng hợp đã tiến hành phân tích chi tiết về tình hình tài chính của từng khu bảo tồn, chỉ ra các nhu cầu về nguồn tài chính và ước tính

2

Trang 5

các nguồn lực tiềm tàng có thể huy động được thông qua sử dụng từng cơ chế tìm nguồn tài chính chủ yếu đã được khuyến nghị Ba báo cáo khác có nêu lên các khuyến nghị chi tiết về từng cơ chế tài chính Do đó, nên đọc phần Chiến lược Tài chính bền vững (SFS) cùng với 4 báo cáo liên quan quan trọng này

Phần SFS chỉ tiến hành tóm tắt sơ bộ những thông tin cơ bản liên quan đến tình hình tài chính của Khu BTTN Na Hang và bao hàm các nội dung chính sau đây:

• Xây dựng chỉ tiêu tài chính thông qua đánh giá mức tài chính hiện hành của khu bảo tồn được huy động từ tất cả các nguồn, và so sánh mức tài chính này với mức tài chính mong muốn nhằm thực hiện kế hoạch hoạt động và bảo tồn gắn với phát triển cộng đồng;

• Thảo luận các cơ chế tài chính đã được khuyến nghị nhằm huy động được số tài chính còn thiếu và tiến hành phân tích SWOL (các ưu điểm, nhược điểm, các cơ hội

và hạn chế) cho các cơ chế này;

• Nêu lên các biện pháp cụ thể cần có để thực hiện các cơ chế tài chính cũng như quản

lý, phân bổ các nguồn lực nhất là ở cấp địa phương, và xác định một lộ trình cho tương lai; và

• Trình bày một mô hình dự báo luồng tiền mặt trên cơ sở các nguồn lực có khả năng huy động được nhờ vào việc sử dụng các cơ chế tài chính đã được đề xuất

Mục đích của Chiến lược Tài chính là đảm bảo sự bền vững tài chính dài hạn sau khi dự án PARC đã hoàn thành việc cung cấp hệ thống quản lý và cơ sở hạ tầng cơ bản

1.2 Kết hợp các nội dung tài chính vào kế hoạch quản lý

SFS (Chiến lược Tài chính bền vững) được xem như một phần không tách rời của kế hoạch hoạt động/quản lý Khu BTTN Na Hang Cho nên, nó chủ yếu liên quan đến các hoạt động và ngân sách như đã được nêu trong kế hoạch quản lý/hoạt động của Khu BTTN Na Hang và không được trình bày như một tài liệu độc lập Tuy nhiên, trong khi tiến hành phân tích các nhu cầu ngân sách của khu bảo tồn thiên nhiên, SFS cũng nêu một vài khuyến nghị nhằm

bổ sung số ngân sách đã được tính toán, như trường hợp về chi phí thường xuyên cho số nhân viên tăng thêm, các nguồn lực nhằm thực hiện các kế hoạch thí điểm sử dụng tài

nguyên thôn bản, mua sắm thiết bị, vv và sau đó nêu chiến lược về việc đáp ứng các nhu cầu tài chính của khu bảo tồn thiên nhiên nhằm thực hiện được kế hoạch quản lý/hoạt động đề

ra

Chiến lược Tài chính Bền vững (SFS) cần được sửa đổi theo định kỳ và đánh giá lại, tương tự như kế hoạch quản lý/hoạt động của khu bảo tồn thiên nhiên để luôn phù hợp và nhất quán với các nhu cầu tài chính và quản lý Chiến lược cũng cần được đưa vào quá trình báo cáo tài chính và lập ngân sách hàng năm Mối liên kết này giúp chỉ ra rõ ràng ngay từ đầu năm về

số ngân sách cần được huy động và huy động từ nguồn nào, bao gồm cả nguồn ngân sách mới và các nguồn tài chính phi truyền thống được SFS khuyến nghị Bên cạnh đó, kết quả thành công của các biện pháp tài chính theo SFS khuyến nghị cần được báo cáo vào dịp cuối năm qua báo cáo tài chính như một phần của báo cáo tiến độ năm của khu bảo tồn Việc lồng ghép vào quá trình báo cáo và lập ngân sách hàng năm giúp đánh giá liên tục kết quả thực hiện, gồm cả xác định các hạn chế để có thể tiến hành các thay đổi phù hợp cho việc thực hiện các cơ chế tài chính Đánh giá hàng năm cũng chỉ ra vướng mắc trong khâu thực hiện và bản chất của các vướng mắc và từ đây có thể tiến hành các thay đổi cần thiết về hành chính, luật định hay các điều chỉnh nhằm khắc phục các khó khăn

Tốt nhất, kế hoạch tài chính cần được xây dựng như một chương trong kế hoạch quản lý/kế hoạch hoạt động của khu bảo tồn nhằm thực hiện việc lồng ghép trên đây Chiến lược Tài chính cần được xây dựng theo mục tiêu bao trùm chung

3

Trang 6

2 Khu Bảo tồn Thiên Nhiên Na Hang

2.1 Những đặc điểm cơ bản

Khu BTTN Na Hang nằm ở tỉnh Tuyên Quang, có diện tích 41.930 ha, do Chi cục Kiểm lâm (FPD) Tuyên Quang quản lý Hoạt động quản lý hàng ngày thuộc trách nhiệm Ban QL Rừng

đặc dụng Na Hang trực thuộc UBND huyện (DPC), gồm một Hạt trưởng, Hạt phó và 21 cán

bộ, nhân viên Dự án Bảo tồn Voọc mũi hếch bổ sung 25 nhân viên làm việc theo chế độ hợp

đồng Điểm thu hút chính của Khu bảo tồn là sự tồn tại của một quần thể khoảng 200 Voọc

đồng Theo ước tính (IUCN, 2002a), tổng gimũi hếch đang bị đe doạ trên phạm vi toàn cầu

Điểm thu hút khác là Thác Mơ Hàng năm có khoảng 15.000 du khách tới thăm khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang

Cho đến nay, Khu BTTN Na Hang vẫn chưa xác định được ranh giới rõ ràng về vùng đệm Tuy nhiên, Khu BT bao gồm 9 xã với số dân khoảng 6.215 hộ gồm 35.302 người Hạt Kiểm lâm huyện chịu trách nhiệm các hoạt động ở vùng đệm Bên cạnh đó, có khoảng 2159 hộ với tổng số 11.233 dân sống bên trong khu bảo tồn thiên nhiên

Các cộng đồng dân cư sống ở bên trong và xung quanh Khu bảo tồn phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên để duy trì sinh kế và đời sống Họ sử dụng tài nguyên rừng nhằm thoả mãn nhu cầu về củi nhiên liệu và sản phẩm phi gỗ (NTFP) Bên cạnh đó, việc săn bắn động vật hoang dã và đánh bắt cá ở sông, suối trong khu bảo tồn cũng là nguồn sinh sống của cộng á trị tài nguyên được cộng đồng địa phương vùng lõi và đệm sử dụng lên tới khoảng 27 tỷ

đồng/năm Giá trị trung bình của nguồn tài nguyên tính theo đầu hộ vùng lõi là khoảng 2 triệu

đồng/năm và khoảng 3,7 triệu đồng/năm/hộ ở vùng đệm

2.2 Thực trạng tài chính

Khu BTTN Na Hang nằm trong số các khu bảo tồn nhận được nguồn tài chính nghèo nàn nhất ở Việt Nam, thậm chí so với các khu bảo tồn khác do tỉnh quản lý Đây là điều dễ nhận thấy khi nhìn vào mức đầu tư vốn trong vòng 5 năm qua ở Biểu 1

Biểu 1: Đầu tư ngân sách cho vùng lõi Khu BTTN Na Hang (Nguồn: IUCN, 2002b)

b không bao gồm phần chi thường xuyên của các x∙ vùng lõi

Ban quản lý đã xây dựng kế hoạch hoạt động cho khu bảo tồn thiên nhiên cho giai đoạn 2001-2005 (hiện mới chỉ là dự thảo) Do kế hoạch này chưa xây dựng dự toán ngân sách kèm theo nên Báo cáo Tổng hợp (IUCN 2002a) đã tính toán rằng tổng mức đầu tư cần thiết

để thực hiện được kế hoạch sẽ vào khoảng 34 tỷ đồng với số cán bộ là 51 người

Ngoài ra, nguồn đầu tư hàng năm cho hoạt động phát triển cộng đồng vùng lõi và vùng đệm

được cấp theo Chương trình 135 và Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, được phân bổ theo các cấp từ trung ương và tỉnh Các xã cũng được tỉnh, huyện cấp ngân sách cho đầu tư cơ bản và chi tiêu thường xuyên Trong năm 2001, số tiền đầu tư cho các xã thuộc vùng lõi là

4

Trang 7

3.070 triệu đồng và cho các xã vùng đệm là 17.196 triệu đồng Tuy nhiên, nguồn đầu tư này

lại không đi qua ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, và do đó, không thể sử dụng được vào

việc hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn Do vậy, một phần nguồn đầu tư vào vùng đệm cần được lên

kế hoạch và thực hiện phối hợp với ban quản lý Khu BTTN Na Hang để lồng ghép các mục

tiêu bảo tồn với phát triển

UBND huyện Na Hang cũng huy động được nguồn thu (160 triệu đồng năm 2001) từ khách

du lịch đến thăm Thác Mơ và từ dịch vụ nhà nghỉ, bán đồ thủ công mỹ nghệ và lưu niệm Tuy

nhiên, ban quản lý khu bảo tồn không được trực tiếp trích lại một chút nào từ nguồn thu này

Trái lại, theo các báo cáo thì UBND huyện đã đầu tư 600 triệu đồng trong năm 2001 để phát

triển khu du lịch thác nước này

2.3 Các mục tiêu tài chính

Báo cáo Tổng hợp (xem IUCN 2002a để biết thêm chi tiết) bao gồm phần đánh giá các nhu

cầu vốn của Khu BTTN Na Hang Đánh giá này được căn cứ trên nguồn vốn tiếp nhận từ các

nguồn so với nhu cầu theo đề xuất của Nghiên cứu Tài chính theo Kế hoạch Hoạt động 5

năm Các yêu cầu về nguồn vốn bổ sung cũng đã được tính toán cho việc thực hiện các Kế

hoạch Sử dụng Tài nguyên Thôn bản (VRUP) ở các xã vùng lõi và đệm, cho các chi phí

thường xuyên, các hoạt động và chi phí văn phòng và các khoản dự phòng khác

Báo cáo Tổng hợp trình bày các mục tiêu huy động vốn ngắn hạn và trung hạn cho giai đoạn

thực hiện Kế hoạch Hoạt động tới năm 2005 và cho giai đoạn 5 năm tiếp theo từ 2006 đến

2010.Việc phân chia này dựa trên lập luận rằng ở giai đoạn đầu phát triển khu bảo tồn, chi

phí đầu tư cơ bản để xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ cao hơn Sau đó, trong vòng từ 20 đến 25

năm tiếp theo sẽ không cần phải đầu tư cao như vậy nữa, ngoại trừ phần chi bảo dưỡng hàng

năm và thay thế xe cộ, các thiết bị khảo sát hiện trường, thiết bị điện tử có thời hạn sử dụng 5

năm

Theo phân tích này, chỉ tiêu tài chính cho 2 giai đoạn trong và sau thời gian Kế hoạch Hoạt

động được tóm tắt ở Biểu 2 Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng Kế hoạch Hoạt động của

Khu BTTN Na Hang chưa đưa ra các dự toán ngân sách Dự toán được xây dựng bằng cách

ước tính mức chi phí cho tất cả các hạng mục ngân sách được nêu trong kế hoạch Như thế,

đây mới chỉ là các con số dự kiến và có thể sẽ phải được điều chỉnh tăng thêm khi tiến hành

tổng hợp các kế hoạch chi tiết của từng điểm dự án hiện đang được Dự án PARC chuẩn bị

cho từng trạm Kiểm lâm

Biểu 2: Chỉ tiêu tài chính năm cho quản lý vùng lõi Khu BTTN Na Hang

(Nguồn số liệu: IUCN 2002a)

Giai đoạn Kế hoạch Hoạt

động: 2001-2005 (triệu đồng)

Giai đoạn sau Kế hoạch Hoạt động: 2005-2010 (triệu đồng)

a Bao gồm ngân sách Kế hoạch Hoạt động (gồm cả phần xây dựng và cơ sở hạ tầng lớn), ngân sách thường

xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân sách thường xuyên, 5%

chi cho duy tu bảo dưỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng

b mức ngân sách Nhà nước trung bình hiện có

c Bao gồm ngân sách Kế hoạch Hoạt động theo tính toán (nhưng không bao gồm phần xây dựng và cơ sở hạ tầng

lớn), ngân sách thường xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân

sách thường xuyên cho con người, 5% chi duy tu bảo dưỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng

5

Trang 8

Khoản 8 của Nghị định 08/2001 hướng dẫn nhu cầu lập kế hoạch và lồng ghép công tác quản lý vùng đệm với quản lý vùng lõi để hỗ trợ công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ các khu rừng đặc dụng, và ổn định, nâng cao đời sống nhân dân Phương thức qui hoạch lồng ghép cho các hoạt động phát triển và bảo tồn như vậy cho phép tập hợp được các bên liên quan vào quản lý các nội dung cảnh quan khu BTTN Na Hang, gồm cả vùng lõi và vùng đệm Như đã nêu ở phần trên, hiện có khoảng 2.159 hộ với 11.233 nhân khẩu đang sống trong vùng lõi và 6.215 hộ với 25.302 nhân khẩu sống ở vùng đệm Khu BTTN Na Hang Khu BT

đang trong quá trình xây dựng Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên Thôn bản (VRUPs) nhằm giúp các cộng đồng địa phương và các đối tượng thụ hưởng sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có và bảo tồn đa dạng sinh học Do VRUPs chưa xây dựng dự toán ngân sách nên Báo cáo Tổng hợp (IUCN 2002a) đã tính toán ngân sách ở mức 0,5 triệu

đồng/hộ gia đình vùng lõi/năm và 0,3 triệu đồng/hộ gia đình vùng đệm/năm Trên cơ sở này, nhu cầu hàng năm về nguồn vốn sẽ lên tới 2.944 triệu đồng cho các hộ vùng lõi và vùng đệm

để có thể xây dựng được một môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học (Biểu 3)

Biểu 3 Nhu cầu vốn hàng năm thực hiện Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên thôn bản cho các hộ vùng lõi và vùng đệm

(Nguồn số liệu: IUCN, 2002a)

Triệu đồng

Mặc dầu các xã này đã được cấp một lượng vốn đáng kể nhằm thưc hiện các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, nhưng phần lớn số tiền này được dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng và không giúp cho tăng cường công tác bảo tồn Do vậy, cần phải thực hiện các hoạt động đề ra trong các Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên thôn bản

Tóm lại, chỉ tiêu tài chính cần có thêm cho quản lý vùng lõi Khu BTTN Na Hang trong giai

đoạn Kế hoạch Hoạt động (đến năm 2005) sẽ vào khoảng 3.208 triệu đồng/năm (không kể phần đầu tư của dự án PARC) Đối với giai đoạn sau Kế hoạch Hoạt động (2006-2010), chỉ tiêu tài chính sẽ vào khoảng 2.557 triệu đồng/năm và có thể sẽ còn cao hơn, tuỳ theo nhu cầu được xác định trong quá trình lập kế hoạch để chuẩn bị kế hoạch hoạt động của 5 năm tiếp theo Để thực hiện hoạt động VRUPs ở các xã vùng lõi và vùng đệm, nguồn vốn sẽ vào khoảng 2.944 triệu đồng/năm, cùng với mức đầu tư phát triển kinh tế xã hội hiện nay Do đó, cần xây dựng các cơ chế tìm nguồn tài chính thích hợp để có thể đáp ứng được các nhu cầu này

6

Trang 9

3 Các cơ chế tài chính

Nghiên cứu Tài chính khuyến nghị một số cơ chế có thể giúp tăng nguồn lực tài chính cho Khu BTTN Na Hang Chi tiết các khuyến nghị được nêu trong các báo cáo IUCN, 2002b, 2002c và 2002d Các khuyến nghị được xây dựng theo 2 cấp: cấp trung ương và cấp hiện trường Các khuyến nghị chính cấp trung ương, không chỉ dành cho Khu BTTN Na Hang mà

được áp dụng cho các khu bảo tồn khác ở Việt nam, bao gồm:

• áp dụng cơ chế “ phí người sử dụng ” đối với các cơ quan, xí nghiệp, cá nhân được hưởng lợi từ hoặc gây tác động đến khu bảo tồn, để có thể thu được nguồn tài chính chuyển giao chi trả cho việc sử dụng nguồn nước, cung cấp nước sạch, thuỷ lợi, thuỷ

điện, ngư nghiệp, các lợi ích du lịch,vv

• ưu tiên xây dựng các chương trình quốc gia thích hợp cho các khu bảo tồn và vùng

đệm nhằm bảo đảm phát triển bền vững các cộng đồng địa phương và củng cố công tác bảo tồn

• Xây dựng chương trình quốc gia cho các khu bảo tồn nhằm có được cam kết dài hạn

về nguồn vốn của chính phủ và bảo đảm cho sự phân bổ hợp lý, cân bằng về nguồn vốn cho toàn bộ hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam;

• Hình thành quỹ bảo tồn quốc gia cho các khu bảo tồn được bổ sung liên tục nguồn vốn, theo mô hình của Ngân hàng Thế giới/GEF trong khuôn khổ Dự án Phát triển Ngành Lâm nghiệp

Trong số các cơ chế tài chính tại cấp cơ sở, Nghiên cứu Tài chính cân nhắc các nội dung sau

đây được coi là phù hợp nhất đối với Khu BTTN Na Hang:

Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái

• Thanh toán từ ngành thuỷ điện

• áp dụng tính phí sử dụng nước (phí bảo tồn vùng đầu nguồn)

• Thành lập quỹ tín thác

Báo cáo Tổng hợp (IUCN 2002a) cân nhắc 3 phương án huy động vốn sau đây: (i) từ ngân sách và nguồn thu hiện có của khu bảo tồn; (ii) ngân sách hiện có và nguồn thu bổ sung; và (iii) áp dụng phương án (ii) cùng với việc hình thành một quỹ tín thác thí điểm Chiến lược Tài chính bền vững này được xây dựng để thực hiện phương án (iii)

Cần lưu ý rằng tất cả các phương án huy động vốn đều dựa trên cơ sở bảo đảm cung cấp nguồn vốn ổn định cho quản lý khu bảo tồn Các phương án cũng giúp thiết lập các cơ chế bảo đảm việc cung cấp vốn liên tục Mặc dù báo cáo chỉ đưa ra các dự báo tài chính trung hạn (trong giai đoạn Kế hoạch hoạt động), điều cần nhấn mạnh rằng các cơ hội về nguồn tài chính này về bản chất là dài hạn, áp dụng cả sau giai đoạn Kế hoạch hoạt động

Nghiên cứu Tài chính có ý nghĩa đặc biệt đối với Khoản 11 trong Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định rằng các ban quản lý bảo tồn hoạt động như những “đơn vị sự nghiệp có thu ” Ngoài ra, Điều 11 trong Quyết định 10/2002 ngày 16/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị có thu cũng khuyến khích các ban quản lý tăng cường các nguồn thu của mình

08/2001/QĐ-7

Trang 10

3.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái

Khu BTTN Na Hang có tiềm năng tạo nguồn thu từ các hoạt động du lịch sinh thái và sử dụng các nguồn thu cho mục tiêu quản lý bảo tồn Khi đưa ra khuyến nghị nguồn thu này như

là một cơ chế huy động tài chính, báo cáo mới chỉ xem xét đến các chi phí trực tiếp mà du khách phải trả trực tiếp cho khu bảo tồn chứ chưa xem xét đến những chi phí họ phải thanh toán ở cấp huyện và tỉnh Ba nguồn thu sau đây đã được xem xét:

Chia sẻ nguồn thu từ phí tham quan và thu nhập du lịch: Hiện nay, chưa có nguồn thu

nào nộp cho Ban quản lý Khu BTTN Na Hang từ các thanh toán đối với khách du lịch đến tham quan khu bảo tồn vì chưa có qui định thu phí tham quan Phí tham quan được áp dụng cho điểm du lịch Thác Mơ và nguồn thu này do huyện quản lý Tương tự, một số nguồn thu từ dịch vụ nhà nghỉ, bán thực phẩm ăn uống, hàng lưu niệm cũng được chuyển vào ngân sách huyện Khuyến nghị rằng một phần nguồn thu này được chuyển cho Ban QL Khu BTTN Na Hang để đầu tư cho công tác bảo tồn

Thu nhập từ phí hợp đồng kinh doanh du lịch: Nghiên cứu Du lịch sinh thái (IUCN, 2002c) đề xuất hình thành cơ sở dịch vụ và tiện nghi phục vụ du lịch sinh thái cộng đồng, uỷ quyền sử dụng cho các đối tượng có nghĩa vụ trả phí theo hợp đồng Việc đầu tư cho các thiết bị, tiện nghi này được thực hiện bằng nguồn vốn vay Mỗi năm, một cơ sở dịch vụ như vậy được đề xuất thiết lập theo giai đoạn 3 năm và số tiền tăng từ hợp đồng thầu khoán sẽ được thành toán hàng năm cho khu bảo tồn

Phí bảo tồn tự nguyện: Hiện nay, có qui định thống nhất về mức lệ phí tham quan áp dụng

cho du khách quốc tế và trong nước tới thăm các khu bảo tồn ở Việt Nam, trong đó khách quốc tế có thể “trả theo thiện chí” ở mức cao hơn nếu họ muốn đóng góp trực tiếp cho công tác bảo tồn những khu vực này Theo giả thuyết này, Nghiên cứu Tài chính khuyến nghị thiết lập “phí bảo tồn tự nguyện” cho cả khách quốc tế và trong nước

3.2 Thanh toán từ ngành điện năng

Chính phủ Việt Nam phê duyệt việc xây dựng một công trình thuỷ điện lớn thuộc phạm vi bên trong Khu BTTN Na Hang Việc thi công công trình đập đã là điều chắc chắn và Nghiên cứu Tài chính coi đây là cơ hội cấp vốn thực hiện một chương trình giảm thiểu các tác động lên môi trường và bảo tồn và đóng góp cho việc tăng cường quản lý khu bảo tồn thiên nhiên theo các qui định hiện hành

3.3 áp dụng phí sử dụng nguồn nước

Nghiên cứu Tài chính đề xuất áp dụng qui định thu phí sử dụng nguồn nước đối với các đối tượng sử dụng mang mục đích thương mại/công nghiệp được hưởng lợi tài nguyên nước ở Khu BTTN Na Hang, phù hợp với các qui định của Sắc lệnh Chủ tịch nước số 32/2001 về Ban hành Qui định thu các khoản lệ phí, phụ phí Các đối tượng hưởng lợi gồm người sử dụng vùng hạ du cho tưới tiêu thuỷ lợi, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, nước sinh hoạt,

đánh bắt cá v.v

3.4 Hình thành quỹ bản tồn Khu BTTN Na Hang

Hình thành quỹ bảo tồn cho Khu BTTN Na Hang là nhằm cung cấp cơ chế tiếp nhận, quản lý

và tạo nguồn thu Quỹ này sẽ được Ban QL Khu BTTN Na Hang quản lý và tiếp nhận các

nguồn thu của địa phương, trong nước và quốc tế Lưu ý rằng quỹ cần nhất quán với cơ chế

cấp vốn hiện nay cũng như trong tương lai cho các khu bảo tồn ở Việt Nam Quỹ giúp bổ sung cho (và dựa trên) lượng ngân sách của chính phủ và có tiềm năng cùng phối hợp hoạt

động với quỹ bảo tồn của Ngân hàng Thế giới/GEF và xây dựng mô hình vận hành loại quỹ này ở khu bảo tồn

8

Trang 11

3.5 Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế)

Phân tích thế mạnh, các yếu điểm, cơ hội và hạn chế (gọi tắt là SWOL) của các cơ chế tài chính cấp nhà nước và hiện trường được trình bày tại Biểu 4 Kết quả phân tích khẳng định rằng Khu BTTN Nà hang còn phụ thuộc cao vào các nguồn ngân sách của chính phủ và để tạo ra sự thay đổi phương thức huy động, quản lý và phân bổ nguồn vốn phù hợp, cần có sự thảo luận sâu rộng và đổi mói về chính sách, thậm chí cả khung pháp lý, và các qui định

hỗ trợ cho vấn đề này đang tồn tại Điều này càng cần thiết khi các thanh toán bằng chuyển khoản sẽ có hiệu lực từ các ngành liên quan

Du lịch sinh thái, một ngành đang được phát triển ở Việt Nam, có khả năng cung cấp các nguồn vốn lớn cho các khu bảo tồn nếu được tổ chức và quản lý hợp lý Quỹ tín thác địa phương có thể tạo cơ chế cần thiết cho việc tiếp nhận, quản lý và tăng cường các nguồn vốn

bổ sung và đóng vai trò làm cầu nối liên kết quản lý với quy hoạch cảnh quan các khu bảo tồn

Phần tiếp theo sẽ phân tích sâu hơn các cơ chế tài chính cụ thể được khuyến nghị bởi Nghiên cứu Tài chính Khu BTTN Na Hang

9

Trang 12

Biểu 4: Phân tích các điểm Mạnh, Yếu, Cơ hội và Hạn chế (SWOL)

Chính phủ chú trọng trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bảo tồn Phản ánh cam kết lâu dài của chính phủ

Sử dụng nguồn lực của chính phủ, tăng cường tính tự chủ Giúp tập trung nguồn vốn vào các khu bảo tồn và tỉnh gặp khó khăn về ngân sách

Phân bổ phụ thuộc vào lượng ngân sách hàng năm

Chậm phân bổ dẫn đến chậm trễ trong triển khai

Hầu hết các tỉnh không có khả

năng phân bổ đủ ngân sách nhằm quản lý có hiệu quả khu bảo tồn

áp dụng tiêu chuẩn không thống nhất cho hạch toán chi tiêu thường xuyên giữa khu bảo tồn do Bộ và khu bảo tồn

do tỉnh quản lý, dẫn đến chất lượng quản lý khác nhau Chuyển ngân sách trực tiếp sẽ không được các bên hưởng lợi ủng hộ

Phí và lệ phí bổ sung sẽ tăng

áp lực lên các đối tượng tiêu dùng, tăng chi phí giao dịch và các thủ tục liên quan

Cơ sở pháp lý đảm bảo sự hỗ trợ dài hạn của chính phủ đối với các kế hoạch đầu tư đã

được phê duyệt cho khu bảo tồn

Liên kết ngân sách liên ngành dựa trên nguyên tắc “phí người

sử dụng” có thể giúp tăng cường công tác bản tồn

Cán bộ quản lý bảo tồn tuân thủ theo kế hoạch và có thể

điều phối hiệu quả nguồn ngân sách của chính phủ cấp cho khu bảo tồn ở cả vùng

đệm và vùng lõi

Dưới đây là một số văn kiện pháp lý và qui định liên quan:

Quyết định 531/QĐ năm 1996 (được bổ sung bởi QĐ

38/2000) qui định các tiêu chí

và thủ tục xây dựng một chương trình quốc gia

Nghị định 08/2001 về quản lý rừng đặc dụng;

Sắc lệnh 32/2001 qui định thu phí, phụ phí;

Nghị định 175/CP năm 1994 cho phép sử dụng phí, lệ phí cho quản lý bảo tồn;

Sắc lệnh Thuế Tài nguyên

Liên kết liên ngành là hoạt

động không dễ dàng vì lợi ích của từng ngành

Đối với khu bảo tồn do trung

ương quản lý, quyền qui hoạch

và quản lý vùng đệm được trao cho tỉnh và địa phương

Sự phối hợp và hợp tác giữa các bên do vậy rất hạn chế Các ban quản lý khu bảo tồn không có đại diện chính của các bên liên quan nhằm xây dựng được kế hoạch tài chính tổng thể để giải quyết những vấn đề ưu tiên

Đòi hỏi có sự tham khảo sâu rộng và đàm phán kỹ trước khi thống nhất và đưa vào thực hiện các cơ chế chia sẻ ngân sách

10

Trang 13

Thiên nhiên năm 1990 (sau đó

được điều chỉnh tại QĐ

05/1998/PL-UBTVQH10 ngày 16/4/1998; và

Bổ sung vào nguồn ngân sách

hỗ trợ của chính phủ Cung cấp vốn đầu tư cho phát triển du lịch sinh thái, sự tham gia của cộng đồng địa phương

và mở rộng quan hệ với các

đối tác địa phương

Nếu được quản lý hiệu quả có thể tạo thu nhập bền vững cho cộng đồng

Sự tăng trưởng không có qui hoạch có thể gây tác động lên các giá trị khu bảo tồn – Nguy cơ của thương mại hoá quá

mức Không đủ để cung cấp nguồn vốn thiết yếu cho khu bảo tồn Không phải tất cả nguồn thu

được dành cho khu bảo tồn vì

chúng được chia sẻ với cộng

đồng địa phương và khối tư

nhân tuỳ theo phương thức tổ chức du lịch sinh thái tại một

địa bàn cụ thể Nếu chỉ được tổ chức và quản

lý bởi ban quản lý khu bảo tồn,

có nguy cơ làm cho cán bộ buông lỏng chức năng bảo tồn

Tạo cơ hội liên kết với khối tư

nhân và giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách của chính phủ Nhu cầu có được các hướng dẫn, chính sách rõ về quyền

sở hữu của địa phương, về cơ

chế phân bổ và sử dụng nguồn thu từ du lịch sinh thái

và đơn giản hoá các qui định hiện hành

Tạo cơ hội tiết kiệm chi phí bằng cách tránh đầu tư vào cơ

sở hạ tầng và tiện nghi du lịch sinh thái từ ngân sách của chính phủ

Các nguồn thu được tạo ra thông qua hệ thống thu phí hợp đồng kinh doanh du lịch nhằm cho phép khối tư nhân thiết lập và vận hành các tiện nghi du lịch

Không phải tất cả các khu bảo tồn đều có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái như nhau Phát triển du lịch sinh thái cũng phụ thuộc vào điều kiện sẵn có về tiện nghi cơ sở hạ tầng như đường sá, đường xe lửa và đường hàng không để

du khách tiếp cận

Các yếu tố trong nước, khu vực và quốc tế có thể tác động

đến số lượng khách tham quan tới khu bảo tồn

Sự dao động về lượng khách theo mùa có thể ảnh hưởng tới nguồn thu theo kế hoạch

Nguồn vốn tài trợ

quốc tế

Nguồn tài trợ thường gắn với

dự án trong giai đoạn từ 3-5 năm, giúp tạo nguồn cấp vốn

ổn định Một lượng vốn đáng kể đóng góp cho đầu tư cơ bản và thực hiện thí điểm các chiến lược quản lý cải tiến

Gây ra tình trạng phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài Bảo đảm tính bền vững các hoạt động sau khi dự án kết thúc luôn là sự quan tâm lớn Chính phủ có thể sử dụng các nguồn lực quốc tế nhằm bổ

Cung cấp cơ chế bồi hoàn các

đóng góp dành cho bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu

Có thể thống nhất được các ưu tiên của chính phủ và nhà tài trợ về bảo tồn và phát triển bền vững

Chuyển dịch các ưu tiên của nhà tài trợ và cắt giảm ngân sách có thể tác động tiêu cực

đến qui hoạch bảo tồn dài hạn Các dòng và chu kỳ chuyển vốn có thể không đáp ứng các qui tắc ngân sách của chính phủ

11

Ngày đăng: 10/04/2014, 10:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Du lịch sinh thái – Chia sẻ các nguồn thu - Chiến lược tài chính bền vững Khu bảo tồn Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Hình 1 Du lịch sinh thái – Chia sẻ các nguồn thu (Trang 17)
Hình 2: Du lịch sinh thái: Những lợi ích cộng đồng - Chiến lược tài chính bền vững Khu bảo tồn Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Hình 2 Du lịch sinh thái: Những lợi ích cộng đồng (Trang 19)
Hình 3: Thanh toán từ ngành thuỷ điện - Chiến lược tài chính bền vững Khu bảo tồn Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Hình 3 Thanh toán từ ngành thuỷ điện (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w