Tên công trình: IUCN, 2002, Chiến lược tài chính bền vững Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Dự án PARC VIE/95/G31&031, Chính Phủ Việt Nam Cục Kiểm Lâm /UNOPS/UNDP/IUCN, Hà Nội Dự án t
Trang 1Dù ¸n tµi trî bëi UNDP VIE/95/G31&031 X©y dùng C¸c Khu b¶o tån nh»m B¶o vÖ Tµi nguyªn Thiªn nhiªn
trªn C¬ së Sinh th¸i C¶nh quan (PARC)
Hµ Néi, Th¸ng 7 N¨m 2002
Trang 2Báo cáo này trình Chính Phủ Việt Nam trong khuôn khổ dự án tài trợ bởi GEF và UNDP
VIE/95/G31&031 “Xây dựng Các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên trên Cơ sở Sinh thái Cảnh quan” (PARC) Báo cáo được viêt bởi IUCN – Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế
Tên công trình: IUCN, 2002, Chiến lược tài chính bền vững Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn, Dự án PARC VIE/95/G31&031, Chính Phủ Việt Nam (Cục Kiểm Lâm)
/UNOPS/UNDP/IUCN, Hà Nội
Dự án tài trợ bởi: Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Cơ quan chủ quản: Cục Kiểm Lâm
Cơ quan thực hiện: Văn Phòng Dịch Vụ Dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS)
IUCN – Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế
Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác giả
Bản tiếng Việt này được dịch từ nguyên bản tiếng Anh Do số lượng báo cáo của dự án quá lớn, công tác biên dịch có thể còn thiếu chính xác hoặc sai xót Nếu có nghi ngờ, xin tham khảo bản gốc tiếng Anh
Đây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, được xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án Báo cáo
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái mà
dự án sử dung Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã được thay đổi
so với thời điểm phiên bản này được xuất bản
ấn phẩm này được phép tái xuất bản cho mục đích giáo dục hoặc các mục đích phi thương mại khác không cần xin phép bản quyền với đIũu kiện phảI đảm bảo trích dẫn nguồn đầy đủ Nghiêm cấm tái xuất bản ấn phẩm này cho các mục đích thương mại khác mà không được sự cho phép bằng văn bản của cơ quan giữ bản quyền
Trang 3Mục Lục
1 Giới Thiệu 3
1.1 Cơ cấu báo cáo 3
1.2 Kết hợp các nội dung tài chính vào kế hoạch quản lý 4
2 Vườn Quốc gia Ba Bể 5
2.1 Những đặc điểm cơ bản 5
2.2 Thực trạng tài chính 5
2.3 Các mục tiêu tài chính 6
3 Các cơ chế tài chính 9
3.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái 9
3.2 Thu nhập từ phí hợp đồng kinh doanh du lịch: 10
3.3 áp dụng phí sử dụng nguồn nước 10
3.4 Hình thành Quỹ bản tồn Vườn QG Ba Bể 10
3.5 Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế) 10
4 Các biện pháp thực hiện 14
4.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái 14
4.2 áp dụng phí sử dụng nước (phí bảo tồn vùng đầu nguồn) 18
4.3 Hình thành quỹ bảo tồn Vườn QG Ba Bể 19
4.4 Chiến lược tương lai 21
5 Quy hoạch tài chính 22
5.1 Phân bổ và quản lý vốn 23
Trang 4Phần bổ sung
Vào cuối tháng Tư năm 2002, đúng vào thời điểm báo cáo này được xây dựng xong, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 51/QĐ-TTg trao quyền quản lý Vườn QG Ba Bể từ Bộ Nông nghiệp và PTNT cho UBND tỉnh Bắc Kạn Quy mô tác động của việc chuyển giao quyền quản lý đối với các vấn đề tài chính hiện vẫn chưa rõ
Tất cả các khuyến nghị ghi trong báo cáo đều tương thích như nhau đối với Vườn QG Ba Bể dưới quyền quản lý của UBND tỉnh Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở đây là:
• Vườn QG Ba Bể hiện tiếp nhận lượng ngân sách cao nhất so với các khu bảo tồn khác ở Việt Nam Điều quan trọng là UBND tỉnh Bắc Kạn vẫn duy trì ít nhất là mức cấp, phân bổ vốn này trong tương lai;
• Nếu nguồn vốn không được duy trì như mức trước đây, các nguồn tài chính bổ sung cần được huy động cho Vườn QG Ba Bể Các nguồn này bao gồm các khoản lệ phí
bổ sung, phụ phí, thuế và các nguồn vốn quốc tế;
• Cơ chế Quỹ tín thác đề cập trong Phương án tài chính 3 có thể phụ thuôc vào sự
đóng góp của tỉnh, trung uơng và quốc tế Nếu nguồn vốn cấp cho Ba Bể không được duy trì như trước đây, khuyến nghị rằng quỹ tín thác và các nguồn thu từ quỹ cần được huy động
Trang 51 G i ớ i T h i ệ u
Mục tiêu của Dự án “ Xây dựng các Khu bảo tồn nhằm bảo vệ nguồn Tài nguyên sử dụng quan điểm sinh thái cảnh quan” PARC (1998-2003) là xây dựng và thực hiện thí điểm các phương pháp cải tiến nhằm bảo vệ các loài và môi trường sống độc đáo duy nhất đang bị đe doạ ở Việt Nam Dự án PARC được triển khai ở 3 khu bảo tồn (PA)- Vườn Quốc gia Ba Bể ở phía bắc tỉnh Bắc Kạn, Khu bảo tồn Thiên nhiên Na Hang ở tỉnh Tuyên Quang, và Vườn Quốc gia Yok Đôn ở Tây Nguyên thuộc tỉnh Đắc Lắc
Một nghiên cứu tài chính hiện đang được tiến hành qua 3 giai đoạn nhằm hoàn thành kết quả 1.6 của Dự án PARC, với mục tiêu “ xây dựng một cơ chế cung cấp nguồn tài chính dài hạn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng ở các vùng mục tiêu” Một phần của nghiên cứu này là tiến hành đánh giá hệ thống tài chính hiện đang được áp dụng cho công tác quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam, nhất là đối với các điểm thuộc dự án PARC Điều này tạo cơ sở cho việc xác định các phương pháp nâng cao hiệu quả tài chính, khám phá các phương án tài trợ, xây dựng các cơ chế tài trợ mới, với ưu tiên dành cho bảo tồn đa dạng sinh học và thừa nhận các nhu cầu phát triển cộng đồng địa phương ở các khu mục tiêu
Trên cơ sở những phát hiện của Giai đoạn 1, với việc đã xác định được phạm vi tổng thể của nghiên cứu tài chính này, Giai đoạn II xây dựng các Chiến lược Tài chính Bền vững cho từng
điểm dự án PARC Giai đoạn này sẽ gắn kết với Giai đoạn III, trong đó yêu cầu tiến hành áp dụng các cơ chế tài chính đã được đề xuất cho ít nhất là một điểm dự án và rút ra các bài học nhằm áp dụng cho các điểm dự án khác Giai đoạn II của Nghiên cứu đã xây dựng được 4 báo cáo dưới đây:
1 Báo cáo Tổng hợp Giai đoạn II Nghiên cứu Tài chính: Nhu cầu và Cơ hội xây dựng các cơ chế tài trợ bền vững cho Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang (IUCN, 2002a)
2 Tăng cường hỗ trợ ngân sách Tỉnh và Trung ương: Trường hợp Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn Thiên nhiên Na Hang (IUCN, 2002b)
3 Tiềm năng Du lịch Sinh thái nhằm cung cấp nguồn tài chính dài hạn cho Vườn Quốc gia
Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (IUCN, 2002c)
4 Các phương án xây dựng Quỹ Tín thác cho Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn Thiên nhiên Nà Hang (IUCN, 2002d)
1.1 Cơ cấu báo cáo
Các cơ chế tài chính bền vững cho các điểm dự án PARC cần phải có một danh mục chi tiết
về các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các khuyến nghị của nghiên cứu tài chính này Do
đó, báo cáo này sẽ trình bày chiến lược tài chính cho Vườn QG Ba Bể nhằm huy động và phân bổ thêm các nguồn lực tài chính cũng như sử dụng các nguồn lực tài chính hiện hành
có hiệu quả và hiệu lực hơn Báo cáo dựa trên kết quả các báo cáo và thông tin đã có (như là một phần của nghiên cứu này) và xây dựng các hướng dẫn thực tế, tác nghiệp cho Ban quản
lý Vườn QG Ba Bể về việc hình thành chiến lược tài chính cho Vườn Chiến lược Tài chính Bền vững (SFS) nhằm vào cả vùng đệm lẫn vùng lõi khu bảo tồn, qua đó trở thành điểm lồng ghép giúp tập hợp được tất cả các đối tượng thụ hưởng và các cơ quan khác nhau vào việc lập kế hoạch và quản lý cảnh quan Vườn QG Ba Bể
Bốn báo cáo (đã đề cập ở trên) cung cấp phân tích chi tiết về tình hình tài chính liên quan
đến các khu bảo tồn ở Việt nam và bức tranh toàn cảnh về từng điểm dự án PARC và tình hình tài chính của các điểm này Các báo cáo này cần được tham khảo thêm nhằm nắm
được các chi tiết khuyến nghị Đặc biệt, Báo cáo Tổng hợp đã tiến hành phân tích chi tiết về
Trang 6tình hình tài chính của từng khu bảo tồn, chỉ ra các nhu cầu về nguồn tài chính và ước tính các nguồn lực tiềm tàng có thể huy động được thông qua sử dụng từng cơ chế tìm nguồn tài chính chủ yếu đã được khuyến nghị Ba báo cáo khác có nêu lên các khuyến nghị chi tiết về từng cơ chế tài chính Do đó, nên đọc phần Chiến lược Tài chính bền vững (SFS) cùng với 4 báo cáo liên quan quan trọng này
Phần SFS chỉ tiến hành tóm tắt sơ bộ những thông tin cơ bản liên quan đến tình hình tài chính của Vườn QG Ba Bể và bao hàm các nội dung chính sau đây:
• Xây dựng chỉ tiêu tài chính thông qua đánh giá mức tài chính hiện hành của khu bảo tồn được huy động từ tất cả các nguồn, và so sánh mức tài chính này với mức tài chính mong muốn nhằm thực hiện kế hoạch hoạt động và bảo tồn gắn với phát triển cộng đồng;
• Thảo luận các cơ chế tài chính đã được khuyến nghị nhằm huy động được số tài chính còn thiếu và tiến hành phân tích SWOL (các ưu điểm, nhược điểm, các cơ hội
và hạn chế) cho các cơ chế này;
• Nêu lên các biện pháp cụ thể cần có để thực hiện các cơ chế tài chính cũng như quản
lý, phân bổ các nguồn lực nhất là ở cấp địa phương, và xác định một lộ trình cho tương lai; và
• Trình bày một mô hình dự báo luồng tiền mặt trên cơ sở các nguồn lực có khả năng huy động được nhờ vào việc sử dụng các cơ chế tài chính đã được đề xuất
Mục đích của Chiến lược Tài chính là đảm bảo sự bền vững tài chính dài hạn sau khi dự án PARC đã hoàn thành việc cung cấp hệ thống quản lý và cơ sở hạ tầng cơ bản
1.2 Kết hợp các nội dung tài chính vào kế hoạch quản lý
SFS (Chiến lược Tài chính bền vững) được xem như một phần không tách rời của kế hoạch hoạt động/quản lý Vườn QG Ba Bể Cho nên, nó chủ yếu liên quan đến các hoạt động và ngân sách như đã được nêu trong kế hoạch quản lý/hoạt động của Vườn QG Ba Bể và không
được trình bày như một tài liệu độc lập Tuy nhiên, trong khi tiến hành phân tích các nhu cầu ngân sách của khu bảo tồn thiên nhiên, SFS cũng nêu một vài khuyến nghị nhằm bổ sung số ngân sách đã được tính toán, như trường hợp về chi phí thường xuyên cho số nhân viên tăng thêm, các nguồn lực nhằm thực hiện các kế hoạch thí điểm sử dụng tài nguyên thôn bản, mua sắm thiết bị, vv và sau đó nêu chiến lược về việc đáp ứng các nhu cầu tài chính của khu bảo tồn thiên nhiên nhằm thực hiện được kế hoạch quản lý/hoạt động đề ra
Chiến lược Tài chính Bền vững (SFS) cần được định kỳ sửa đổi và đánh giá lại, tương tự như
kế hoạch quản lý/hoạt động của Vườn QG để luôn phù hợp và nhất quán với các nhu cầu tài chính và quản lý Chiến lược cũng cần được đưa vào quá trình báo cáo tài chính và lập ngân sách hàng năm Mối liên kết này giúp chỉ ra rõ ràng ngay từ đầu năm về số ngân sách cần
được huy động và huy động từ nguồn nào, bao gồm cả nguồn ngân sách mới và các nguồn tài chính phi truyền thống được SFS khuyến nghị Bên cạnh đó, kết quả thành công của các biện pháp tài chính theo SFS khuyến nghị cần được báo cáo vào dịp cuối năm qua báo cáo tài chính như một phần của báo cáo tiến độ năm của khu bảo tồn
Việc lồng ghép quá trình báo cáo và lập ngân sách hàng năm giúp đánh giá liên tục kết quả thực hiện, gồm cả xác định các hạn chế để có thể tiến hành các thay đổi phù hợp cho việc thực hiện các cơ chế tài chính Đánh giá hàng năm cũng chỉ ra vướng mắc trong khâu thực hiện và bản chất của các vướng mắc, từ đó có thể tiến hành các thay đổi cần thiết về hành chính, về quy định pháp luật hay các điều chỉnh nhằm khắc phục các khó khăn
Tốt nhất, kế hoạch tài chính cần được xây dựng như một chương trong kế hoạch quản lý/kế hoạch hoạt động của khu bảo tồn nhằm thực hiện việc lồng ghép trên đây Và Chiến lược Tài chính cần được xây dựng theo mục tiêu bao trùm
Trang 7Các cộng đồng địa phương còn sống phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh Vườn QG Ba Bể Người dân sử dụng tài nguyên rừng nhằm thoả mãn nhu cầu củi đun,
gỗ và sản phẩm ngoài gỗ Bên cạnh đó các hoạt động săn bắt động vật hoang dã và đánh cá trên hồ, trong các sông, suối trong phạm vi Vườn còn là nguồn sinh kế bổ sung cho các cộng đồng này Uớc tính (IUCN, 2002a) tổng giá trị tài nguyên mà các cộng đồng này sử dụng trong vùng lõi và vùng đệm Vườn QG lên tới 6 tỷ đồng/năm Giá trị trung bình nguồn tài nguyên được sử dụng bởi một hộ là 3,2 triệu đồng/năm trong vùng lõi và 3,3 triệu trong vùng
đệm Du lịch liên quan đến hồ cũng tạo nhiều cơ hội việc làm cho người dân như lái thuyền, nhà nghỉ trong thôn bản và dịch vụ hướng dẫn viên
2.2 Thực trạng tài chính
Kế hoạch quản lý được xây dựng cho Vườn QG Ba Bể tại thời điểm thành lập Vườn có tổng mức đầu tư theo kế hoạch là 4.890 triệu đồng cho giai đoạn 10 năm 1991-2000 Năm 1997,
kế hoạch đầu tư được xây dựng cho Vườn QG Ba Bể mở rộng lên 23.340ha với tổng kinh phí
là 36.108 triệu đồng (tuy nhiên, hiện chưa được thông qua) Năm 2001 Dự án PARC đã xây dựng kế hoạch hoạt động cho Vườn trong giai đoạn 2001-2005 với tổng mức đầu tư là
79.320 triệu đồng chủ yếu dự trù cho đầu tư cơ bản Các mức đầu tư cho thấy sự tăng mạnh cho các năm từ 1991 đến 2005 (Biểu 1)
Biểu 1: Kế hoạch đầu tư ngân sách và cán bộ cho Vườn QG Ba Bể (1991-2005)
Gia đoạn Tổng đầu tư
1991-1992 879 1993-1995 2,110
Kế hoạch quản lý 1990 (UBND tỉnh Cao
Bằng (1990)
1996-2000 1,901
48 người
Kế hoạch hoạt động 2001 (MARD 2001) 2001-2005 79,320 65 người
Giá trị tính theo mức giá hiện hành
Phân tích (IUCN, 2002a) về nguồn đầu tư cho thấy phần lớn vốn là để hỗ trợ cho xây dựng cơ sở hạ tầng Trong khi đó chi tiêu thường xuyên dùng để trả lương cho cán bộ và hoạt động quản lý (thiết bị, quản lý, bảo dưỡng) được duy trì ở mức không thay đổi vì được căn cứ trên các định mức chi tiêu ngân sách theo quy định nhân với số lượng cán bộ trong biên chế Khi
so sánh lượng đầu tư theo đề xuất với mức phân bổ thực tế hàng năm cho Vườn QG (Biểu 2)
có thể thấy Vườn đã tiếp nhận một lượng đầu tư lớn mỗi năm Mặc dù còn thiếu sự phối kết hợp giữa công tác qui hoạch quản lý bảo tồn với qui hoạch ngân sách, việc tăng ngân sách cho VQG đã thể hiện rõ sự cam kết của Chính phủ Việt Nam chú ý đầu tư cho công tác bảo
Trang 8tồn tài nguyên đa dạng sinh học Vì vậy, công tác qui hoạch quản lý trung hạn (thông qua
Kế hoạch hoạt động 5 năm) cũng đòi hỏi phải chú trọng đến khía cạnh này nhằm đảm bảo
xây dựng được chiến lược quản lý thực tiễn và hiệu quả cho Vườn QG Ba Bể
Biểu 2: So sánh ngân sách đầu tư thực tế và theo đề xuất cho Vườn QG Ba Bể,
1997-2001
bổ (triệuVND)
Phân bổ thực tế (triệuVND)
Giá trị được tính theo thời giá năm 2001
Bên cạnh ngân sách cho đầu tư cơ bản, Vườn QG Ba Bể tiếp nhận ngân sách cho chi tiêu
thường xuyên, khoảng 1.702 triệu đồng/năm theo tỷ lệ trung bình là 16 triệu/năm cho một
cán bộ trong số 65 cán bộ thuộc diện biên chế Đầu tư cho hoạt động phát triển vùng lõi và
vùng đệm được cấp hàng năm theo Chương trình 135 qua các cấp trung ương và tỉnh
Trong năm 2001, ngân sách dành cho vùng lõi là 1.014 triệu đồng, cho vùng đệm là 5.696
triệu đồng Tuy nhiên, đầu tư cho vùng đệm không được phân bổ thông qua ban quản lý
Vườn QG và vì vậy không được ưu tiên cấp cho các hoạt động bảo tồn Vì vậy đề nghị cần
trích một phần ngân sách đầu tư cho vùng đệm để thực hiện các hoạt động phối hợp bảo
tồn với ban quản lý vườn
Vườn QG Ba Bể cũng tạo nguồn thu từ dịch vụ nhà nghỉ, nhà hàng cà phê và karaokê được
giao khoán cho một số cá nhân Năm 2001, Vườn thu được 200 triệu đồng từ các dịch vụ này
sau khi dành 25% để trả thuế Số còn lại được tái đầu tư cho các hoạt động của Vườn
2.3 Các mục tiêu tài chính
Báo cáo Tổng hợp của Nghiên Cứu Tài Chính Dự án PARC pha II (xem IUCN 2002a để biết
thêm chi tiết) bao gồm phần đánh giá các nhu cầu vốn cho Vườn QG Ba Bể Đánh giá này
được căn cứ trên nguồn vốn tiếp nhận từ các nguồn so với nhu cầu theo đề xuất của Nghiên
cứu Tài chính theo Kế hoạch Hoạt động 5 năm Các yêu cầu về nguồn vốn bổ sung cũng đã
được tính toán cho việc thực hiện các Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên Thôn bản (VRUP) ở các
xã vùng lõi và đệm, cho các chi phí thường xuyên, các hoạt động và chi phí văn phòng và
các khoản dự phòng khác
Báo cáo Tổng hợp trình bày các mục tiêu huy động vốn ngắn hạn và trung hạn cho giai đoạn
thực hiện Kế hoạch Hoạt động tới năm 2005 và cho giai đoạn 5 năm tiếp theo từ 2006 đến
2010.Việc phân chia này dựa trên lập luận rằng ở giai đoạn đầu phát triển khu bảo tồn, chi
phí đầu tư cơ bản để xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ cao hơn Sau đó, trong vòng từ 20 đến 25
năm tiếp theo sẽ không cần phải đầu tư cao như vậy nữa, ngoại trừ phần chi bảo dưỡng hàng
năm và thay thế xe cộ, các thiết bị khảo sát hiện trường, thiết bị điện tử có thời hạn sử dụng 5
năm
Theo phân tích này, chỉ tiêu tài chính cho 2 giai đoạn trong và sau thời gian Kế hoạch Hoạt
động được tóm tắt ở Biểu 3 Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng Ngân sách trong Kế hoạch
Hoạt động mới chỉ là các con số dự kiến và có thể sẽ phải được điều chỉnh tăng thêm khi tiến
hành tổng hợp các kế hoạch chi tiết của từng điểm dự án hiện đang được Dự án PARC chuẩn
Trang 9bị cho từng trạm Kiểm lâm Bên cạnh đó, ngân sách cũng không tính đến lượng vốn theo yêu
cầu trong trường hợp Vườn được mở rộng lên 23.340 ha
Biểu 3: Chỉ tiêu tài chính năm cho hoạt động quản lý vùng lõi Vườn QG Ba Bể
Giai đoạn Kế hoạch Hoạt động: 2001-2005 (triệu đồng)
Giai đoạn sau Kế hoạch Hoạt động: 2005-2010 (triệu đồng) Nhu cầu trung bình hàng năma
(Nguồn số liệu: IUCN 2002a)
a Bao gồm ngân sách Kế hoạch Hoạt động (gồm cả phần xây dựng và cơ sở hạ tầng lớn), ngân sách thường
xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân sách thường xuyên, 5%
chi cho duy tu bảo dưỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng
b mức ngân sách Nhà nước trung bình hiện có và tổng nguồn thu có được
c Bao gồm ngân sách dự án PARC trong tổng số 885 triệu/năm đến năm 2003 Do vậy ngân sách do dự án cấp
trước khi kết thúc là 10.361 triệu đồng
d Gồm ngân sách trong Kế hoạch Hoạt động (không bao hàm chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng), ngân sách thường
xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân sách thường xuyên cho
con người, 5% chi duy tu bảo dưỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng
e Dựa trên giả thuyết ngân sách hàng năm đảm bảo tương ứng với nhu cầu
Khoản 8 của Nghị định 08/2001 hướng dẫn nhu cầu lập kế hoạch và lồng ghép công tác
quản lý vùng đệm với quản lý vùng lõi để hỗ trợ công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ các khu
rừng đặc dụng, và ổn định, nâng cao đời sống nhân dân Phương thức qui hoạch lồng ghép
cho các hoạt động phát triển và bảo tồn như vậy cho phép tập hợp được các bên liên quan
vào quản lý các nội dung cảnh quan VQG Ba bể , gồm cả vùng lõi và vùng đệm
Theo ước tính, hiện có khoảng 524 hộ với 3.200 nhân khẩu đang sống trong vùng lõi và
6.215 hộ với 5.590 nhân khẩu sống ở vùng đệm Vườn QG Ba Bể Vườn QG đang trong quá
trình xây dựng Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên Thôn bản (VRUPs) nhằm giúp các cộng đồng
địa phương và các đối tượng thụ hưởng sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn tài nguyên
sẵn có và bảo tồn đa dạng sinh học Do VRUPs chưa xây dựng dự toán ngân sách nên Báo
cáo Tổng hợp (IUCN 2002a) đã tính toán ngân sách ở mức 0,5 triệu đồng/hộ gia đình vùng
lõi/năm và 0,3 triệu đồng/hộ gia đình vùng đệm/năm Trên cơ sở này, nhu cầu hàng năm về
nguồn vốn sẽ lên tới 511 triệu đồng cho các hộ vùng lõi và vùng đệm để có thể xây dựng
được một môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học (Biểu 4)
Biểu 4 Nhu cầu vốn hàng năm thực hiện Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên thôn bản cho
các hộ vùng lõi và vùng đệm
(Nguồn số liệu: IUCN, 2002a)
Mặc dầu các xã này đã được cấp một lượng ngân sách đáng kể nhằm thực hiện các hoạt
động phát triển kinh tế-xã hội, nhưng phần lớn số tiền này được dành cho xây dựng cơ sở hạ
tầng và không giúp cho tăng cường công tác bảo tồn Nguồn đầu tư này gồm vốn từ Chương
Trang 10trình quốc gia 135, Chương trình 5 triệu ha rừng và ngân sách cho chi tiêu từ tỉnh Do vậy, cần phải thực hiện các hoạt động đề ra trong các Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên thôn bản Nói tóm lại, chỉ tiêu tài chính cho quản lý vùng lõi Vườn QG Ba Bể trong giai đoạn Kế hoạch Hoạt động sẽ vào khoảng 11,25 tỷ đồng/năm (không kể phần đầu tư dự án PARC) Đối với giai đoạn sau Kế hoạch Hoạt động (2006-2010), chỉ tiêu tài chính sẽ vào khoảng 2.557 triệu
đồng/năm và có thể sẽ còn cao hơn, tuỳ theo nhu cầu mở rộng Vườn được thông qua Để thực hiện hoạt động VRUPs ở các xã vùng lõi và vùng đệm, nguồn vốn sẽ vào khoảng 511 triệu đồng/năm, cùng với mức đầu tư phát triển kinh tế xã hội hiện nay Do đó, cần xây dựng các cơ chế tìm nguồn tài chính thích hợp để có thể đáp ứng được các nhu cầu này
Trang 11• áp dụng cơ chế “phí người sử dụng” đối với các cơ quan, xí nghiệp của nhà nước được hưởng lợi từ hoặc gây tác động đến khu bảo tồn, để có thể thu được nguồn tài chính chuyển giao chi trả cho việc sử dụng nguồn nước, cung cấp nước sạch, thuỷ lợi, thuỷ
điện, ngư nghiệp, các lợi ích du lịch,vv
• ưu tiên xây dựng một chương trình quốc gia thích hợp cho các khu bảo tồn và vùng
đệm nhằm bảo đảm phát triển bền vững các cộng đồng địa phương và củng cố công tác bảo tồn
• Xây dựng chương trình quốc gia cho các khu bảo tồn với cam kết dài hạn của chính phủ về phân bổ ngân sách và bảo đảm phân bổ hợp lý, cân bằng về nguồn vốn cho toàn bộ hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam;
• Hình thành quỹ bảo tồn quốc gia cho các khu bảo tồn với nguồn vốn được bổ sung liên tục theo mô hình của Ngân hàng Thế giới/quỹ môi trường toàn cầu GEF trong khuôn khổ Dự án Phát triển Ngành Lâm nghiệp
Về cơ chế tài chính cấp cơ sở, Nghiên cứu Tài chính đề nghị chú ý tới các nguồn sau đây
được coi là phù hợp nhất đối với Vườn QG Ba Bể:
• Tăng nguồn thu từ du lịch sinh tháI
• áp dụng tính phí sử dụng nước (phí bảo tồn vùng đầu nguồn)
• Thành lập quỹ tín thác
Báo cáo Tổng hợp về Nghiên cứu Cơ chế tài chính (IUCN 2002a) cân nhắc 3 phương án huy
động vốn sau đây: (i) từ ngân sách và nguồn thu hiện có của khu bảo tồn; (ii) ngân sách hiện có và nguồn thu bổ sung; và (iii) áp dụng phương án (ii) cùng với việc hình thành một quỹ tín thác thí điểm Chiến lược Tài chính bền vững này được xây dựng để thực hiện phương
án (iii)
Cần lưu ý rằng tất cả các phương án huy động vốn đều dựa trên cơ sở bảo đảm cung cấp nguồn vốn ổn định cho quản lý khu bảo tồn Các phương án cũng giúp thiết lập các cơ chế bảo đảm việc cung cấp bổ sung vốn liên tục Mặc dù báo cáo chỉ đưa ra các dự báo tài chính trung hạn (trong giai đoạn Kế hoạch hoạt động), điều cần nhấn mạnh rằng các cơ hội về nguồn tài chính này về bản chất là dài hạn, áp dụng cả sau giai đoạn Kế hoạch hoạt động Nghiên cứu Tài chính có ý nghĩa đặc biệt đối với Khoản 11 trong Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định rằng các ban quản lý bảo tồn hoạt động như những “đơn vị sự nghiệp có thu ” Ngoài ra, Điều 11 trong Quyết định 10/2002 ngày 16/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị có thu cũng khuyến khích các ban quản lý tăng cường các nguồn thu của mình
3.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái
Vườn QG Ba Bể có tiềm năng tạo nguồn thu từ các hoạt động du lịch sinh thái và sử dụng các nguồn thu cho mục tiêu quản lý bảo tồn Khi đưa ra khuyến nghị nguồn thu này như là một cơ chế huy động tài chính, báo cáo mới chỉ xem xét đến các chi phí trực tiếp mà du
Trang 12khách phải trả ở cấp khu bảo tồn chứ chưa xem xét đến những chi phí họ phải thanh toán ở cấp huyện và tỉnh Ba nguồn thu sau đây đã được xem xét:
Chia sẻ nguồn thu từ phí tham quan và thu nhập du lịch: Hiện nay, chưa có nguồn thu
nào đóng góp cho Ban quản lý Vườn QG Ba Bể từ các nguồn thu đối với khách tham quan, các nguồn này do UBND huyện thu và quản lý Tương tự, một số nguồn thu từ thuế và lệ phí liên quan đến dịch vụ thuyền trên hồ, nhà nghỉ trong thôn bản được các đơn vị xã, huyện và tỉnh quản lý Báo cáo khuyến nghị cần dành một phần nguồn thu này chuyển cho Ban QL Vườn QG Ba Bể để đầu tư cho công tác bảo tồn
3.2 Thu nhập từ phí hợp đồng kinh doanh du lịch:
Nghiên cứu Du lịch sinh thái (IUCN, 2002c) đề xuất hình thành cơ sở dịch vụ và tiện nghi phục vụ du lịch sinh thái cộng đồng, uỷ quyền (đấu thầu) cho các đối tượng được hoạt động
có nghĩa vụ trả phí theo hợp đồng Việc đầu tư cho các thiết bị, tiện nghi này được thực hiện bằng nguồn vốn vay Mỗi năm, một cơ sở dịch vụ như vậy có thể được thầu (cho phép) hoạt
động theo giai đoạn 3 năm và số tiền tăng từ hợp đồng thầu khoán sẽ được thanh toán hàng năm cho Vườn QG
Phí bảo tồn tự nguyện: Hiện nay, có qui định thống nhất về mức lệ phí tham quan áp dụng
cho du khách quốc tế và trong nước tới thăm các khu bảo tồn ở Việt Nam, trong đó khách quốc tế có thể “trả theo thiện chí” ở mức cao hơn nếuhọ muốn đóng góp trực tiếp cho công tác bảo tồn những khu vực này Theo giả thuyết này, Nghiên cứu Tài chính khuyến nghị thiết lập cơ chế “phí bảo tồn tự nguyện” cho khách du lịch cả quốc tế và trong nước
3.3 áp dụng phí sử dụng nguồn nước
Nghiên cứu Tài chính đề xuất áp dụng qui định thu phí sử dụng nguồn nước đối với các đối tượng sử dụng mang mục đích thương mại/công nghiệp được hưởng lợi tài nguyên nước ở Vườn QG Ba Bể, phù hợp với các qui định của Sắc lệnh Chủ tịch nước số 32/2001 về Ban hành Qui định thu các khoản lệ phí, phụ phí Các đối tượng hưởng lợi gồm người sử dụng nước ở vùng hạ du cho tưới tiêu thuỷ lợi, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, nước sinh hoạt, đánh bắt cá v.v
3.4 Hình thành Quỹ bản tồn Vườn QG Ba Bể
Hình thành quỹ bảo tồn cho VQG Ba Bể là nhằm tạo ra cơ chế tiếp nhận, quản lý và tạo nguồn thu Quỹ này sẽ được Ban QL Vườn QG Ba Bể quản lý và tiếp nhận các nguồn thu
của địa phương, trong nước và quốc tế Lưu ý rằng quỹ cần phù hợp với cơ chế cấp vốn hiện
nay cũng như trong tương lai cho các khu bảo tồn ở Việt Nam Quỹ giúp bổ sung cho (và dựa trên) lượng ngân sách của chính phủ và có tiềm năng cùng phối hợp hoạt động với quỹ bảo tồn của Ngân hàng Thế giới/GEF và xây dựng mô hình vận hành loại quỹ này ở khu bảo tồn
3.5 Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế)
Phân tích thế mạnh, các yếu điểm, cơ hội và hạn chế (gọi tắt là SWOL) của các cơ chế tài chính cấp nhà nước và cấp cơ sở được trình bày tại Biểu 5 Kết quả phân tích khẳng định rằng các nguồn tài chính còn phụ thuộc nhiều vào ngân sách của chính phủ và để tạo ra sự thay đổi phương thức huy động, quản lý và phân bổ nguồn vốn phù hợp, cần có sự thảo luận sâu rộng và thay đổi về chính sách kể cả khung pháp lý, và các qui định hỗ trợ hiện hành
Du lịch sinh thái, một ngành đang được phát triển ở Việt Nam, có khả năng cung cấp các nguồn vốn lớn cho các khu bảo tồn nếu được tổ chức và quản lý hợp lý Quỹ tín thác địa
phương có thể tạo cơ chế cần thiết cho việc tiếp nhận, quản lý và tăng cường các nguồn vốn
bổ sung và đóng vai trò làm cầu nối liên kết quản lý với quy hoạch cảnh quan các khu bảo tồn Phần tiếp theo sẽ phân tích sâu hơn các cơ chế tài chính cụ thể được khuyến nghị bởi Nghiên cứu Tài chính Vườn QG Ba Bể
Trang 13Biểu 5: Phân tích các điểm Mạnh, Yếu, Cơ hội và Hạn chế (SWOL)
Cơ chế tài chính Mạnh Yếu Cơ hội Hạn chế
Chính phủ chú trọng trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bảo tồn Phản ánh cam kết lâu dài của chính phủ
Sử dụng nguồn lực của chính phủ, tăng cường tính tự chủ Giúp tập trung nguồn vốn vào các khu bảo tồn và tỉnh gặp khó khăn về ngân sách
Phân bổ phụ thuộc vào lượng ngân sách hàng năm
Chậm phân bổ dẫn đến chậm trễ trong triển khai
Hầu hết các tỉnh không có khả
năng phân bổ đủ ngân sách nhằm quản lý có hiệu quả khu bảo tồn
áp dụng tiêu chuẩn không thống nhất cho hạch toán chi tiêu thường xuyên giữa khu bảo tồn do Bộ và khu bảo tồn do tỉnh quản lý, dẫn đến chất lượng quản lý khác nhau Chuyển ngân sách trực tiếp sẽ không được các bên hưởng lợi ủng hộ
Phí và lệ phí bổ sung sẽ tăng
áp lực lên các đối tượng tiêu dùng, tăng chi phí giao dịch và các thủ tục liên quan
Cơ sở pháp lý đảm bảo sự hỗ trợ dài hạn của chính phủ đối với các
kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt cho khu bảo tồn
Liên kết ngân sách liên ngành dựa trên nguyên tắc “phí người sử dụng” có thể giúp tăng cường công tác bản tồn
Cán bộ quản lý bảo tồn tuân thủ theo kế hoạch và có thể điều phối hiệu quả nguồn ngân sách của chính phủ cấp cho khu bảo tồn ở cả vùng đệm và vùng lõi
Dưới đây là một số văn kiện pháp
lý và qui định liên quan:
Quyết định 531/QĐ năm 1996 (được bổ sung bởi QĐ 38/2000) qui định các tiêu chí và thủ tục xây dựng một chương trình quốc gia
Nghị định 08/2001 về quản lý rừng đặc dụng;
Sắc lệnh 32/2001 qui định thu phí, phụ phí;
Nghị định 175/CP năm 1994 cho phép sử dụng phí, lệ phí cho quản
lý bảo tồn;
Sắc lệnh Thuế Tài nguyên Thiên
Liên kết liên ngành là hoạt
động không dễ dàng vì lợi ích của từng ngành
Đối với khu bảo tồn do trung
ương quản lý, quyền qui hoạch và quản lý vùng đệm
được trao cho tỉnh và địa phương Sự phối hợp và hợp tác giữa các bên do vậy rất hạn chế
Các ban quản lý khu bảo tồn không có đại diện chính của các bên liên quan nhằm xây dựng được kế hoạch tài chính tổng thể để giải quyết những vấn đề ưu tiên
Đòi hỏi có sự tham khảo sâu rộng và đàm phán kỹ trước khi thống nhất và đưa vào thực hiện các cơ chế chia sẻ ngân sách