MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CHUNG 2 I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 2 1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 2 2 Nội dung hoạt động quản lý dự án 3 3 Một số phương pháp[.]
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG 2
I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 2
1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 2
2 Nội dung hoạt động quản lý dự án 3
3 Một số phương pháp sơ đồ mạng trong hoạt động quản lý dự án 3
II PHƯƠNG PHÁP ĐƯỜNG GĂNG – CPM 4
1 Lịch sử hình thành 4
2 Phương pháp thực hiện 5
2.1 Các nguyên tắc bắt buộc khi lập sơ đồ mạng lưới 6
2.2 Đường găng 6
2.3 Thời gian sớm nhất, muộn nhất đạt tới các sự kiện và thời gian dự trữ của sự kiện 7
2.4 Thời gian sớm, thời gian muộn của các công việc và thời gian dự trữ của các công việc 8
3 Ưu, nhược điểm 9
3.1 Ưu điểm 9
3.2 Nhược điểm 9
III KỸ THUẬT TỔNG QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN – PERT 10
1 Lịch sử hình thành 10
2 Phương pháp thực hiện 11
2.1 Ước lượng thời gian hoàn thành công việc 11
2.2 Đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình 12
2.3 Phương sai thời gian sớm nhất đạt tới sự kiện 13
3 Ưu, nhược điểm 14
3.1 Ưu điểm: 14
CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT CPM – PERT 15
Trang 2I GIỐNG NHAU 15
1 Về phương pháp thực hiện: 15
2 Về khía cạnh ứng dụng: 15
II KHÁC NHAU 15
1 Về khái niệm 15
2 Về phương pháp thực hiện 15
3 Về khía cạnh ứng dụng 18
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG CỦA CPM – PERT TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN HIỆN NAY 20 PHẦN KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3sự thật là CPM khác với PERT theo nhiều khía cạnh khác nhau Ngay từ tên của hai phương pháp ta cũng có thể thấy được sự khác biệt cơ bản Để tìm
hiểu rõ hơn về những khác biệt này nhóm lựa chọn đề tài: “ Phân biệt
CPM và PERT”
Nội dung của bài gồm 3 phần:
Chương I: Lý luận chung
Chương II: Phân biệt CPM và PERT
Chương III: Ứng dụng của CPM – PERT trong quản lý dự án hiện nay.
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG
I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển.
Lịch sử phát triển các phương pháp quản lý dự án gắn liền với các kỳ quan của thế giới như Kim Tự Tháp Ai Cập hay Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc.
Với tư cách là một ngành khoa học, quản lý dự án phát triển từ những ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, kỹ thuật và quốc phòng Ở Hoa Kỳ, hai ông tổ của quản lý dự án là Henry Gantt, được gọi là cha đẻ của kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm soát, người đã sử dụng biểu đồ Gantt như là một công cụ quản lý dự án, và Henri Fayol người tìm ra 5 chức năng của quản lý, là cơ sở cho những kiến thức cốt lõi liên quan đến quản lý dự án và quản lý chương trình.
Quản lý dự án đã trải qua các thời kỳ chủ yếu gắn với sự ra đời của các
kỹ thuật quản lý chính sau đây:
- Trước những năm 1950: các dự án đã được quản lý trên một nền tảng đặc biệt bằng cách sử dụng chủ yếu là biểu đồ Gantt, cùng các kỹ thuật và các công cụ phi chính thức.
- Giai đoạn 1950 – 1960: đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên quản lý
dự án hiện đại Những năm 1950, ngành công nghiệp quân sự Mỹ đã
sử dụng kỹ thuật tổng quan và đánh giá dự án (PERT) và phân tách công việc (WBS) để quản lý dự án phát triển hệ thống tên lửa Cùng thời gian đó ngành công nghiệp xây dựng Mỹ cũng sáng lập ra phương pháp đường găng CPM để quản lý các dự án xây dựng.
- Giai đoạn 1970 – 1980: quản lý dự án tiếp tục phát triển và trở thành một nghề với công cụ và kỹ thuật ngày càng hiện đại, tiên tiến.
Trang 5Nhiều tổ chức, hiệp hội về đào tạo quản lý dự án được thành lập như: Hiệp hội quản lý dự án Mỹ PMI,
- Giai đoạn 1990 đến nay: do quá trình cạnh tranh các công ty đã hình thành nên phương pháp “ quản lý bằng các dự án” Thời kỳ này, phương pháp “quản lý chất lượng toàn diện” cũng được áp dụng trong lĩnh vực quản lý dự án.
2 Nội dung hoạt động quản lý dự án.
Quản lý dự án là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, điều phối, tổ chức điều phối thực hiện kế hoạch và quản lý, giám sát quá trình phát triển dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và cho phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định Thách thức chính của quản lý dự án là phải đạt được các mục tiêu đề
ra trong điều kiện bị khống chế bởi phạm vi công việc (khối lượng và các yếu cầu kỹ thuật), thời gian hoàn thành (tiến đọ thực hiện) và ngân sách (mức vốn đầu tư) cho phép
3 Một số phương pháp sơ đồ mạng trong hoạt động quản lý dự
án.
Trong lịch sử phát triển của kỹ thuật lập kế hoạch tiến độ dự án, có nhiều loại phương pháp sơ đồ mạng đã được phát triển, mỗi loại có thể kế thừa các kỹ thuật của loại khác và phát triển thêm kỹ thuật riêng theo các hướng khác nhau:
- Sơ đồ mạng CPM (phương pháp đường găng): là phương pháp mà cốt lõi là dùng lý thuyết đồ thị có hướng để xác định đường đi trong mạng, từ thời điểm khởi công dự án đến thời điểm kết thúc dự án, qua một một số các công việc và các mối quan hệ giữa các công việc
Trang 6này, có chiều dài lớn nhất Chiều dài đường găng chính là tổng thời gian thực hiện toàn bộ dự án.
- Sơ đồ mạng PERT (kỹ thuật tổng quan và đánh giá dự án): là phương pháp áp dụng kết hợp giữa lý thuyết xác suất thống kê (để ước tính thời lượng công việc trong các dự án mà công việc có thời lượng không xác định trước), với dạng sơ đồ mạng đường găng sử dụng lý thuyết đồ thị.
- Sơ đồ mạng MPM (sơ đồ mạng nút công việc): là phương pháp sơ
đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, quan hệ bằng mũi tên (cũng là lý tuyết mạng đồ thị có định hướng), được phát triển độc lập bởi ngừưoi Pháp vào năm 1958 cùng lúc với PERT.
- Sơ đồ mạng PMD (phương pháp sơ đồ mạng theo quan hệ, hay phương pháp sơ đồ mạng nút): là phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, được người Hoa Kỳ phát triển trên cơ
sở cải tiến phương pháp CPM và phương pháp MPM Phương pháp này chú trọng việc thể hiện được tất cả các kiểu mối quan hệ trong thực tế giữa các công việc mà phương pháp sơ đồ mạng ADM không thể hiện được.
- Sơ đồ mạng CCPM (sơ đồ mạng chuỗi găng hay quản lý dự án theo dây chuyền găng).
II PHƯƠNG PHÁP ĐƯỜNG GĂNG – CPM
1 Lịch sử hình thành
Phương pháp đường găng CPM được liên doanh giữa công ty Dupont
và công ty Remington Rand phát triển nhằm quản lý các dự án bảo vveej thực vật và hóa dầu Ở Mỹ phương pháp được phát triển vào năm 1959 gần như đồng thời với phương pháp PERT (năm 1958) Đầu tiên được gắn với dạng thể hiện công việc trên mũi tên (phương pháp ADM), nên thường được đồng nhất với phương pháp sơ đồ mạng ADM.
Trang 7Ngay sau đó người Mỹ đã ứng dụng phương pháp Đường găng CPM vào sơ đồ mạng PERT (tức là Kỹ thuật ước lượng và đánh giá chương trình, hay Kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự án), kết hợp với lý thuyết xác suất thống kê, (để ước tính thời lượng công việc trong các dự án mà công việc có thời lượng không xác định trước).
Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, gần như đồng thời với người Mỹ, người Pháp cũng dựa trên thuật toán của lý thuyết đồ thị để phát triển một kỹ thuật lập tiến độ khác theo phương pháp đường găng, độc lập với người
Mỹ là sơ đồ mạng MPM, chỉ khác với dạng thể hiện sơ đồ mạng CPM của người Mỹ lúc đó ở chỗ: sơ đồ mạng MPM dùng nút thể hiện công việc thay
vì mũi tên, còn mũi tên chỉ mối quan hệ tuần tự giữa các công việc sau trong sơ đồ mạng.
trước-Người đầu tiên đưa phương pháp Đường găng, cùng lý thuyết về sơ đồ mạng (một phần của hệ thống lý thuyết toán học là lý thuyết đồ thị) vào Việt Nam là giáo sư Hoàng Tụy (vào khoảng năm 1961-1966), ban đầu dưới dạng sơ đồ mạng PERT Nên ở Việt Nam sơ đồ mạng được gọi với tên gọi là sơ đồ PERT, thậm chí đến ngày nay.
Về sau, người Mỹ đã tiến hành kết hợp dạng sơ đồ mạng nút MPM của người Pháp, cải tiến nó theo hướng đưa thêm các dạng thể hiện mối quan
hệ giữa các công việc theo đúng logic thực tế (tuần tự, song song) thành dạng sơ đồ mạng theo quan hệ PDM, thay thế cho cả hai dạng sơ đồ mũi tên ADM lẫn dạng sơ đồ nút MPM trong việc thể hiện phương pháp đường găng CPM Đồng thời đưa phương pháp Đường găng thể hiện bằng sơ đồ mạng PDM vào phần mềm quản lý dự án Microsoft Project.
2 Phương pháp thực hiện
Khi mô hình của mạng đã được thiết lập, người ta sẽ tính được thời gian của từng công việc trên cơ sở xác định về mức lao động Tuy nhiên, thời gian hoàn thành dự án là bao nhiêu, thì cần phải có một phương pháp
Trang 8tính toán để xác định Muốn tính được cần phải biết các thông số thời gian sau:
- Thời điểm sớm và muộn của từng sự kiện (hay thời gian sớm nhất và muộn nhất đạt tới các sự kiện)
- Thời điểm bắt đầu sớm nhất và muộn nhất của từng công việc.
- Thời điểm kết thúc sớm nhất và muộn nhất của từng công việc.
- Đường găng.
Có 6 bước cơ bản được áp dụng cho cả PERT và CPM:
1 Xác định các công việc (nhiệm vụ) cần thực hiện của dự án.
2 Xác định mối quan hệ và trình tự thực hiện các công việc.
3 Vẽ sơ đồ mạng công việc.
4 Tính toán thời gian và chi phí cho từng công việc dự án.
5 Xác định thời gian dự trữ của các công việc và sự kiện.
6 Xác định đường găng.
2.1 Các nguyên tắc bắt buộc khi lập sơ đồ mạng lưới
- Tất cả mỗi tên công việc từ trái đến phải về phía sơ đồ phát triển đến
đã được đánh số.
- Trong sơ đồ lớn hơn nếu một nhóm công việc có liên hệ với nhau mà khi biểu diễn trong sơ đồ mạng nó trở thành một mạng gộp lại thành dạng công việc thời gian thực hiện một công việc gộp lại lấy bằng khoảng thời gian dài nhất từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện cuối cùng.
Trang 9- Nếu một nhóm có công việc có tính chất như nhau cùng làm song song thì gộp chúng lại thành một việc duy nhất biểu thj bằng mọt cung.
- Nếu công việc có tính chất khác nhau cùng làm song song có chung
sự kiện khởi công và kết thúc thì phải thêm các sự kiện phụ thuộc và công việc giả.
Trong quản lý dự án, xác định đường găng trên cơ sở tính toán, tức là tìm ra trong số những công việc phải hoàn thành, những công việc nào quan trọng, là then chốt mà nếu hoàn thành được nó thì toàn bộ kế hoạch
dẹ án cũng được hoàn thành.
2.3 Thời gian sớm nhất, muộn nhất đạt tới các sự kiện và thời gian dự trữ của sự kiện.
Ký hiệu:
t ij : thời gian thực hiện công việc kéo dài từ sự kiện i tới sự kiện j.
E ij : thời gian sớm nhất để đạt tới sự kiện j tính từ khi bắt đầu dư án.
L ij :thời gian chậm nhất sự kiện j phải xuất hiện mà không làm chậm trễ việc hoàn thành dự án.
Ta có công thức tổng quát:
E j = Max i ( E i + t ịj ) với E i = 0
L j =Min j (L j -t i j ) Với L cuối cùng = Độ dài thời gian thực hiện
S i : thời gian dự trữ của một sự kiện: là thời gian sự kiện đó kéo dài thêm mà không làm ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành dự án.
Trang 10S i = L i – E i
Nếu dự trữ của sự kiện i không có hay S i = 0 ta gọi đó là sự kiện găng.
Ta có, định nghĩa thứ hai về đường găng: là đường đi qua các sự kiện găng Các công việc găng phải bao gồm hai sự kiện đầu và cuối đều găng, nhưng đây chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ vì nhiều khi nối hai sự kiện găng lại nhưng chưa chắc đã được một công việc găng Tương tự, đường găng sẽ đi qua tất cả các sự kiện găng nhưng ngược lại sẽ không đúng, nghĩa là nếu nối tất cả các sự kiện găng ta chưa chắc thu được đường găng Vì vậy, khi tìm đường găng ta phải có quy tắc để đảm bảo cả điều kiện cần và đủ.
2.4 Thời gian sớm, thời gian muộn của các công việc và thời gian dự trữ của các công việc
Trong quản lý dự án, việc quản lý thời gian, đặc biệt là thời gian dự trữ của các công việc quan trọng Trên cơ sở thong tin về thời gian dự trữ của các công việc, cán bộ quản lý dự án có thể bố trí lại trình tự thực hiện các công việc theo mục tiêu giảm bớt chi phí mà vẫn đảm bảo thực hiện dự án đúng thời hạn.
Thời gian dự trữ toàn phần của một công việc là khoảng thời gian công việc này có thể kéo dài nhưng không làm chậm ngày kết thúc dự án.
Thời gian tự do là thời gian mà một công việc nào đó có thể kéo dài thêm nhưng không làm chậm ngày bắt đầu của công việc tiếp sau.
Ký hiệu:
ES (a) : thời gian bắt đầu sớm của công việc a
EF (a) : thời gian kết thúc sớm của công việc a
LS (a) : thời gian bắt đầu muộn của công việc a
LF (a) : thời gian kết thúc muộn của công việc a
t (a) : độ dài thời gian thực hiện công việc a
Ta có: EF (a) = ES (a) +t (a)
ES (a) = Max (EF j ) (j là các công việc trước a)
Trang 11LF (a) = Min (LS j ) (j là các công việc sau a)
LS (a) = LF (a) – t (a)
Thời gian dự trữ toàn phần= LS (a) – ES (a)
Thời gian dự trữ tự do của các công việc a = Min (ES của tất cả các công việc sau a) – EF (a)
Như vậy, ta có định nghĩa thứ ba về đường găng: đường găng là đường nối các công việc găng – đó là những công việc có thời gian dự trữ bằng 0 Những công việc găng nằm trên đường găng phải hoàn thành đúng thwoif hạn đã định, nghĩa là phải bắt đầu và kết thúc đúng thời điểm đã được xác định Nếu vì lý do nào đó mà một công việc găng bị chậm chễ thì đường găng sẽ bị kéo dài thêm, tức là thời gian hoàn thành dự án cũng bị kéo dài Điều này có nghĩa là muốn rút ngắn thời gian hoàn thành dự án thì phải rút ngắn thời gian của các công việc găng.
3 Ưu, nhược điểm
- Đây là công cụ hữu hiệu để xây dựng lịch thực hiện chung cho
toàn bộ dự án, cũng như cho từng công việc cụ thể, chi tiết.
- Cung cấp mối quan hệ tương hỗ giữa các hoạt động và lịch
trình sử dụng kinh phí và các nguồn lực khác.
- Đòi hỏi có những mô tả rõ mối quan hệ giữa các hoạt động.
3.2 Nhược điểm
Phương pháp CPM, sử dụng thời gian tất định Điều đó trong thực
tế chưa hẳn đã đúng Bởi trên thực tế có rát nhiều dự án bị chi phối
Trang 12bởi các điều kiện khách quan cũng như chủ quan, khiến cho thời gian cũng như nhiều yếu tố khác của dự án không cố định Ta chỉ có thể ước lượng nó trong khoảng nào đó họp lý Vì vậy, phương pháp CPM được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu của quản lý dự án vì tính hiệu quả, đơn giản, song giai đoạn sau người ta kết họp cả PERT để quản lý dự án một cách chính xác hiệu quả hơn.
Trang 13III KỸ THUẬT TỔNG QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN – PERT
1 Lịch sử hình thành
"Kỹ thuật đánh giá và xem xét chương trình (dự án)" (Program Evaluation and Review Technique hay viết tắt là PERT), được phát triển bởi hãng Booz-Allen & Hamilton thuộc thành phần của Hải quân Hoa Kỳ (họp tác cùng với công ty Lockheed) trong chương trình chế tạo tên lửa xuyên lục địa Polaris trang bị cho tàu ngầm năm 1958 Tham gia chương trình có khoảng 200 nhà cung ứng, 9000 nhà thầu, hàng ngàn nhà bác học
và công nhân kỹ thuật bậc cao Dự kiến thực hiện chương trình trong 7 năm, nhưng nhờ áp dụng kỹ thuật quản lý dự án nên thời gian thực hiện
dự án đã giảm xuống còn 4 năm Sau đó kỹ thuật quản lý này đã lan rộng một cách nhanh chóng sang nhiều doanh nghiệp tư nhân.
Mục tiêu chính của phương pháp là đánh giá khả năng hoàn thành dự
án trong thời hạn định trước
- Thời hạn sớm nhất để hoàn thành toàn bộ dự án
- Thời gian bắt đầu sớm nhất và muộn nhất của mỗi việc sao cho toàn
bộ dự án được hoàn thành đúng kế hoạch
- Thời điểm kết thúc sớm nhất và muộn nhất của mỗi việc sao cho toàn
bộ dự án được hoàn thành dúng kế hoach
- Thời gian dự trữ cho mỗi việc, nghĩa là khoảng thời gian mà có thể bắt đầu muộn hoặc kết thúc muộn mà không ảnh hưởng tới toàn bộ
dự án
Trang 152 Phương pháp thực hiện
2.1 Ước lượng thời gian hoàn thành công việc
Có hai phương pháp chính để dự tính : phương pháp tất định và phương pháp ngẫu nhiên Phương pháp tất định bỏ qua những yếu tố bất định trong khi phương pháp ngẫu nhiên tính đến sự tác động của các nhân
tố ngẫu nhiên khi dự tính thời hạn thực hiện các công việc.
Trên thực tế, có rất nhiều dự án mà công việc chưa có định mức hoặc định mức chưa phù họp với thực tiễn Theo như phương pháp ngẫu nhiên
mà cụ thể là áp dụng trong sơ đồ PERT, khi lập kế hoạch thi công, người ta dựa trên kinh nghiệm để ước lượng thời gian hoàn thành công việc Vì vậy, thời gian đó không xác định, ta phải lấy thời gian trung bình mong muốn ( Te ) kèm theo một đại lượng đo sự không xác định của thời gian này làm thời gian thực hiện công việc Sự không xác định đó có thể biểu thị bằng độ lệch tiêu chuẩn (σ) hoặc phương sai (V) của thời gian Ta phải dùng hàm phân phối xác suất để xác định số liệu mỗi công việc.
Có 3 ước lượng thời gian được đặt ra và được nằm trong đường cong
Thời gian trung bình mong muốn Te ( trong toán học gọi là “kỳ vọng” ) được tính theo công thức thực nghiệm:
Te= a+4 m+b6