Chương 4. Phân tích khả năng thanh toán
Trang 1Chương 4 Phân tích khả năng thanh toán
Mục tiêu:
- Ý nghĩa của phân tích khả năng thanh toán
- Phân biệt phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán dài hạn
- Nắm vững nguyên tắc và ưu, nhược điểm của các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích khả năng thanh toán
- Nhận diện mối liên hệ giữa hiệu quả quản lí, sử dụng vốn lưu động với khả năng thanh toán ngắn hạn doanh nghiệp
- Thực hành phân tích khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
4.1 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn (còn gọi là tính thanh khoản) là việc đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ có thời hạn trả trong vòng một năm của doanh nghiệp Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn bao gồm ba nội dung: (1) Phân tích cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, (2) Phân tích khả năng tạo tiền và (3) Phân tích chu kì vận động vốn
4.1.1 Phân tích tính cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trước tiên thể hiện ở tính cân đối giữa các tài sản
có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm (tài sản ngắn hạn) và khoản nợ doanh nghiệp có nghĩa
vụ hoàn trả trong vòng một năm (nợ ngắn hạn) Các chỉ tiêu thường sử dụng bao gồm:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toánh hiện thời – Current ratio =
Tổng tài sản ngắn hạn
(4-1)
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh
Quick ratio =
Tiền và các khoản tương đương tiền + đầu tư ngắn hạn + Nợ
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tổng tài sản ngắn hạn (4-3)
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hay còn gọi là hệ số khả năng thanh toán hiện thời – current ratio theo công thức (4-1) cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn sẵn sàng được bù đắp bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, vì vậy đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng các khoản nợ ngắn hạn sẽ được thanh toán kịp thời Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, tài sản ngắn hạn không đủ
để bù đắp cho nợ ngắn hạn (vốn hoạt động thuần <0) thể hiện doanh nghiệp đang gặp rủi ro, không có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Xét về lí thuyết chỉ tiêu này bằng 1 thể hiện tài sản ngắn hạn vừa đủ
để bù đắp các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, tuy nhiên trong thực tế nếu chỉ tiêu này chỉ ở mức 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp cũng rất mong manh Nhà phân tích cần so sánh độ lớn của chỉ tiêu này giữa các kì và với doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc trung bình ngành để đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp vì không có một mức chuẩn cho độ lớn của chỉ tiêu này
Trang 2Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán nhanh – quick ratio theo công thức (4-2) thể hiên khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền (tài sản nhanh) Tử số của công thức (4-2) chủ yếu chênh lệch với công thức (4-1) thành phần hàng tồn kho Các tài sản nhanh bao gồm (1) tiền và các khoản tương đương tiền ở trong trạng thái sẵn sàng được sử dụng để thanh toán nợ, (2) các khoản đầu tư ngắn hạn có thể chuyển nhượng nhanh chóng trên thị trường chứng khoán để có tiền thanh toán nợ và (3) nợ phải thu khách hàng cũng có thể sử dụng bao thanh toán của các ngân hàng thương mại để chuyển đổi nhanh chóng thành tiền
Bên cạnh đó, chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời theo công thức (4-3) thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện đang có tại doanh nghiệp Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính thanh khoản nên chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
Ngoài các chỉ tiêu tài chính được tính toán từ số liệu trên bảng cân đối kế toán, thông tin bổ sung trong thuyết minh báo cáo tài chính cũng rất có ích trong việc đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn Chẳng hạn như việc có các hạn mức tín dụng chưa dùng đến sẽ đảm bảo cho nguồn tiền vào để trang trải cho các khoản công nợ của doanh nghiệp, hoặc ngược lại, các khoản nợ tiềm tàng sẽ làm suy giảm tính thanh khoản của doanh nghiệp
Lưu ý rằng, các chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh
và hệ số khả năng thanh toán tức thời có cơ sở số liệu là bảng cân đối kế toán nên mang tính thời điểm, thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh, điều này trái với giả định hoạt động liên tục của doanh nghiệp Khả năng thanh toán thực sự phải thể hiện ở sự cân đối giữa các khoản tiền thu với các khoản tiền chi của doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai trong khi các hạng mục tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán không thể thực hiện điều đó Chẳng hạn, trong chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh, nợ phải thu khách hàng được coi như nguồn tạo tiền của doanh nghiệp nhưng trên thực tế, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động, nếu thu được một khoản nợ phải thu này sẽ được thay thế bằng một khoản nợ phải thu khác; mức độ dư nợ phải thu khách hàng không thể hiện dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp Chính vì vậy, bên cạnh các chỉ tiêu này, nhà phân tích cần xem xét các chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo tiền của doanh nghiệp
4.1.2 Phân tích khả năng tạo tiền
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo tiền có cơ sở số liệu từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp Do doanh nghiệp phải dùng tiền để thanh toán nợ ngắn hạn nên việc so sánh giữa lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh với tổng nợ ngắn hạn rất có ý nghĩa Hệ số dòng tiền/nợ ngắn hạn – cash flow to current liabilities theo công thức (4-4)sẽ phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở trạng thái động do tử số phản ánh dòng tiền tạo ra trong kì (mà không phải là số dư tiền tại một thời điểm) Vì tử số của công thức (4-4) là dòng tiền thuần tạo ra trong một kì nên mẫu số là nợ ngắn hạn được tính bình quân trong kì đó (đầu kì cộng cuối kì chia đôi) Ngoài ra hệ số dòng tiền/nợ vay đến hạn trả - cash flow to maturing debt theo công thức (4-5) cho biết khả năng tạo tiền để thanh toán các khoản
nợ vay đến hạn trả của doanh nghiệp Công thức (4-5) có mẫu số thể hiện dòng tiền ra bắt buộc trong tương lai gần của hoạt động tài chính, tử số thể hiện số tiền sẽ được tạo ra từ hoạt động kinh doanh (nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì như kì hiện tại) vì vậy sẽ giúp nhà phân tích đánh giá khả năng hoàn trả nợ vay đến hạn từ bản thân hoạt động kinh doanh mà không có thêm các nguồn tài trợ khác của doanh nghiệp
Hệ số dòng tiền/ nợ ngắn hạn = Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (4-4)
Tổng nợ ngắn hạn bình quân
Trang 3Hệ số dòng tiền/ nợ vay đến hạn
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
(4-5)
Nợ vay đến hạn trả cuối kì
4.1.3 Phân tích chu kì vận động của vốn
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn còn thể hiện ở độ dài chu kì vận động của vốn (cash cycle, trade cycle hoặc operationg cycle) Một chu kì vận động của vốn tính từ lúc doanh nghiệp bắt đầu bỏ tiền vào hoạt động kinh doanh tới lúc thu được tiền về Hình 4-1 thể hiện quá trình vận động của vốn
Hình 4-1 Quá trình vận động của vốn
Hình 4-1 cho thấy thời điểm doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh là lúc mua hàng, nhưng thời điểm bắt đầu chu kì vận động của vốn là lúc thanh toán tiền mua hàng, trễ hơn so với thời điểm mua hàng do trong thực tiễn các doanh nghiệp thường hoạt động kinh doanh theo phương thức mua (bán) trả chậm Tương tự như vậy, thời điểm doanh nghiệp thu tiền bán hàng cũng thường trễ hơn so với thời điểm bán hàng và thời điểm kết thúc chu kì vận động của vốn phải là thời điểm thu tiền bán hàng
mà không phải là thời điểm bán hàng Thời gian từ lúc mua hàng tới lúc trả tiền mua hàng được gọi là kì trả tiền bình quân, thời gian từ lúc doanh nghiệp mua hàng tới lúc hàng được tiêu thụ được gọi là thời gian lưu kho hàng bình quân và thời gian từ lúc bán hàng tới lúc thu tiền bán hàng được gọi là kì thu tiền bình quân Từ Hình 4-1 chúng ta có thể xác định độ dài chu kì vận động của vốn theo công thức (4-6)
Độ dài chu kì vận động
của vốn =
Thời gian lưu kho hàng bình quân +
Kì thu tiền bình quân -
Kì trả tiền bình quân (4-6)
Nếu vốn của doanh nghiệp vận động (quay vòng) nhanh, hay nói cách khác là độ dài chu kì vận động của vốn ngắn sẽ làm giảm nhu cầu vốn lưu động và tăng cường khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Công thức (4-6) cho thấy, doanh nghiệp muốn rút ngắn độ dài chu kì vận động của vốn thì cần rút ngắn thời gian lưu kho hàng hóa, rút ngắn kì thu tiền và kéo dài kì trả tiền Thời gian lưu kho hàng hóa bình quân, kì thu tiền bình quân và kì trả tiền bình quân được xác định theo các công thức
Thời gian lưu kho hàng bình quân = Giá trị hàng tồn kho bình quân x Thời gian kì phân tích (4-7)
Giá vốn hàng bán
Trang 4Kì thu tiền bình quân = Nợ phải thu khách hàng bình quân x Thời gian kì phân tích (4-8)
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
Kì trả tiền bình quân = Nợ phải trả người bán bình quân x Thời gian kì phân tích (4-9)
Giá vốn hàng bán
Thời gian lưu kho hàng bình quân Hàng tồn kho thường chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng tài
sản ngắn hạn của các doanh nghiệp sản xuất và thương mại Dự trữ hàng tồn kho sẽ làm doanh nghiệp phát sinh chi phí bảo quản hàng tồn kho, có thể phải gánh chịu các thiệt hại hư hỏng, thất thoát hàng hóa trong quá trình dự trữ Đặc biệt là doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn,
do có một lượng vốn lớn bị đọng lại trong hàng tồn kho Mặc dù vậy, các doanh nghiệp thường vẫn dự trữ một mức hàng tồn kho nhất định nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng, không bị lỡ các cơ hội tạo doanh thu Thời gian lưu kho hàng bình quân, hay còn gọi là số ngày một vòng quay hàng tồn kho (days to sell inventory) được xác định theo công thức (4-6) Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết
để tiêu thụ số hàng tồn kho bình quân trong kì của doanh nghiệp Thời gian của kì phân tích một tháng
là 30 ngày, một quí là 90 ngày và một năm là 360 ngày (hoặc 365 ngày) Bên cạnh chỉ tiêu thời gian lưu kho hàng bình quân Chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho (inventory turnover) theo công thức (4-10)
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Chúng ta sử dụng giá vốn hàng bán để xác định thời gian lưu kho hàng hoặc số vòng quay hàng tồn kho để đảm bảo sự nhất quan giữa tử số và mẫu số của công thức tính do hàng tồn kho được trình bày trên bảng cân đối kế toán theo giá gốc Nếu thời gian lưu kho hàng ngắn, hay nói cách khác là tốc độ luân chuyển hàng tồn kho nhanh sẽ đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn, do đó làm tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
Kì thu tiền bình quân Phát sinh nợ phải thu khách hàng cũng là điều không thể tránh khỏi trong
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Doanh nghiệp bán hàng trả chậm là một trong các biện pháp để thu hút khác hàng, tăng cường doanh thu cho doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu khách hàng nợ nhiều trong thời gian dài sẽ chiếm dụng nhiều vốn của doanh nghiệp, vì vậy ảnh hưởng không tốt tới dòng tiền và suy giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Kì thu tiền bình quân, hay còn gọi là số ngày của một vòng quay nợ phải thu khách hàng (receivables collection period) được xác định theo công thức (4-8) Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để thu hồi nợ phải thu khách hàng bình quân trong kì của doanh nghiệp Bên cạnh chỉ tiêu kì thu tiền bình quân, chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu số vòng quay nợ phải thu khách hàng (accounts receivable turnover), được xác định theo công thức (4-11) Trong các công thức này chúng ta có thể sử dụng số dư nợ phải thu khác hàng chưa trừ dự phòng nợ phải thu khó đòi để loại trừ ảnh hưởng của mức
độ thận trọng của doanh nghiệp trong việc ước tính nợ phải thu khác hàng khó đòi Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ được sử dụng (mà không phải là giá vốn hàng bán) để nhất quán với nợ phải thu ở khách hàng (được trình bày theo giá bán) Về nguyên tắc, cơ sở số liệu chuẩn để xác định kì thu tiền bình quân hoặc số vòng quay nợ phải thu khác hàng phải là tổng tiền bán chịu trong kì mà không phải là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, số liệu về tổng tiền hàng bán chịu nên đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp khi xác định hai chỉ tiêu này sẽ sử dụng số
Trang 5liệu doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Số vòng quay nợ phải thu khách
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
(4-11)
Nợ phải thu khách hàng bình quân
Liên quan tới nợ phải thu khách hàng, chất lượng của nợ phải thu khác hàng cũng sẽ ảnh hưởng tới khả năng thu hồi nợ, do đó ảnh hưởng tới tính thanh khoản của doanh nghiệp Nhà phân tích có thể phân tích xu hướng biến động của tỉ lệ dự phòng nợ phải thu khó đòi/tổng số dư nợ phải thu khách hàng Tỉ lệ này tăng lên thể hiện khả năng thu hồi nợ phải thu khách hàng giảm đi, làm suy giảm dòng tiền, do đó giảm tính thanh khoản của doanh nghiệp và ngược lại
Error! Reference source not found. cho thấy DAC có kì thu tiền bình quân ngắn nhất (16 ngày) HPS mặc dù có kì thu tiền bình quân dài gấp 2,4 lần DAC (39 ngày) nhưng vẫn khá tốt trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế năm 2011 VCS có kì thu tiền bình quân dài nhất (71 ngày) thể hiện việc quản lí thu hồi công nợ của công ty kém hơn các doanh nghiệp khác trong ngành, khách hàng chiếm dụng nhiều vốn làm cho công ty khó khăn về dòng tiền dẫn tới tính thanh khoản kém
Kì trả tiền bình quân
Tương tự như khi bán hàng, doanh nghiệp thường bán trả chậm thì khi mua hàng doanh nghiệp cũng thường mua trả chậm Việc trả nợ cho người bán nhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng tới dòng tiền, do
đó sẽ ảnh hưởng tới chu kì vận động của vốn và tính thanh khoản của doanh nghiệp Kì trả tiền bình quân, hay còn gọi là số ngày của một vòng quay nợ phải trả người bán (average payable days outstanding) được xác định theo công thức (4-9) Bên cạnh đó, chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu số vòng vay nợ phải trả người bán (Accounts payable turnover) được xác định theo công thức (4-12)
Số vòng quay nợ phải thu khách
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
(4-12)
Nợ phải thu khách hàng bình quân
Về nguyên tắc, cơ sở số liệu chuẩn để xác định kì trả tiền bình quân hoặc số vòng quay nợ phải trả người bán phải là tổng tiền hàng mua chịu trong kì mà không phải là giá vốn hàng bán Tuy nhiên, số liệu về tổng tiền hàng mua chịu chỉ có trong nội bộ doanh nghiệp mà không có trên báo cáo tài chính, nên đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp khi xác định hai chỉ tiêu này sẽ sử dụng số liệu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Chúng ta cũng có thể sử dụng giá trị hàng mua trong kì) thay cho giá vốn hàng bán trong hai công thức đó Việc sử dụng số liệu nào không quan trọng, mà vấn đề quan trọng là phải sử dụng nhất quán các số liệu đó
4.2 Phân tích khả năng thanh toán dài hạn
4.2.1 Phân tích khả năng thanh toán gốc nợ vay dài hạn
Vay nợ dài hạn là một thành phần quan trọng trong các nguồn huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn gắn liền với cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thường sử dụng để phân tích khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn gắn liên với việc phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
Trang 6Tổng nguồn vốn
Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu = Tổng nợ phải trả (4-15)
Tổng vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ phải trả/tài sản đảm bảo = Tổng nợ phải trả (4-16)
Tổng tài sản – Tài sản vô hình + Quyền sử dụng đất
Hệ số thanh toán của tài sản dài
hạn đối với nợ dài hạn =
Tổng tài sản dài hạn
(4-17)
Tổng nợ dài hạn
Các chỉ tiêu hệ số nợ, hệ số tài trợ hay hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu đều thể hiện mức độ rủi ro tài chính mà các chủ nợ phải gánh chịu Nếu hệ số nợ và hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu cao (hệ số tài trợ thấp) thể hiện mức độ rủi ro tài chính lớn, vì vậy khả năng thanh toán gốc nợ vay dài hạn sẽ kém Bên cạnh việc thể hiện mức độ rủi ro tài chính, các chỉ tiêu này còn thể hiện khả năng bảo vệ cho các chủ nợ trong các trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (bị phá sản) Giả sử ngân hàng X cho hai doanh nghiệp A và B vay vốn Doanh nghiệp A có hệ số nợ 0,7 và doanh nghiệp B có hệ số nợ 0,8 Trong trường hợp cả hai doanh nghiệp A và B đều bị phá sản, khả năng ngân hàng X đòi lại được toàn bộ số nợ từ doanh nghiệp A sẽ cao hơn so với doanh nghiệp B
Chỉ tiêu hệ số nợ phải trả/tài sản đảm bảo theo công thức (4-16) phản ánh sát thực và thận trọng hơn khả năng bảo vệ của các chủ nợ trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Trong thực tế, không phải tất cả các tài sản của doanh nghiệp đều có thể sử dụng để thanh toán nợ khi doanh nghiệp phá sản Khi đang hoạt động các tài sản vô hình rất có giá trị đối với doanh nghiệp, nhưng khi phá sản hầu hết các tài sản vô hình đều trở nên vô nghĩa, như phần mềm kế toán, thương hiệu, lợi thế thương mại… ngoại trừ quyền sử dụng đất Chính vì vậy, khi doanh nghiệp phá sản, các tài sản được sử dụng để trang trải công nợ là tài sản hữu hình (tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, tài sản cố định…) và quyền sử dụng đất của doanh nghiệp Các tài sản này được gọi là tài sản đảm bảo (cho các chủ nợ) Nếu hệ số nợ/tài sản bảo đảm càng cao thì khả năng bảo vệ cho các chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản càng kém và ngược lại
Chỉ tiêu hệ số thanh toán của tài sản dài hạn đối với theo công thức (4-17) có ý nghĩa tương tự, thể hiện khả năng bù đắp cho các chủ nợ dài hạn từ các tài sản dài hạn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao, thể hiện các khoản nợ dài hạn càng được đảm bảo an toàn Để thận trọng hơn trong việc đánh giá khả năng bù đắp cho các khoản nợ từ tài sản dài hạn, chúng ta có thể loại bỏ các tài sản vô hình sẽ không còn giá trị khi doanh nghiệp phá sản giống như chỉ tiêu Hế số nợ/tài sản bảo đảm
Lưu ý rằng, các chỉ tiêu này có thể không phản ánh đúng khả năng bù đắp cho các chủ nợ trong trường hợp doanh nghiệp phá sản do cơ sở số liệu phản ánh theo giá gốc, mà không phải là giá thị trường; trong khi giá thị trường mới là cơ sở hợp lí để đánh giá khả năng bù đắp cho các chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản Phân tích khả năng thanh toán lãi vay
Trang 7Để có thể thanh toán lãi vay cho các nhà cung cấp tín dụng, doanh nghiệp cần sử dụng vốn vay có hiệu quả, chính vì vậy chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích khả năng thanh toán lãi vay là hệ số khả năng thanh toán lãi vay – times interest earned theo công thức (4-18) Chỉ tiêu này thể hiện mức độ lợi nhuận bảo đảm cho khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp: mỗi đồng chi phí lãi vay sẵn sàng được
bù đắp bằng bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế là lãi vay của doanh nghiệp: mỗi đồng chi phí lãi vay sẵn sàng được bù đắp bằng bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT – Earnings before interest and taxes) Chỉ tiêu này càng cao thể hiện khả năng bù đắp chi phí lãi vay càng tốt Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán lãi vay tốt và ổn định qua các kì, các nhà cung cấp tín dụng sẽ sẵn sàng tiếp tục cung cấp vốn cho doanh nghiệp khi số gốc vay nợ đến hạn thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (4-18)
Chi phí lãi vay
Bên cạnh chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán lãi vay, chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán chi phí tài trợ cố định – Fixed charge coverage hoặc Earnings to fixed charges theo công thức (4-19) Trong thực tế ngoài chi phí lãi vay, doanh nghiệp còn phải chi trả một số khoản khác
có bản chất giống như chi phí lãi vay, đó là tiền lãi cho các tài sản cố định thuê tài chính hoặc cổ tức cho
cổ phần ưu đãi
Hệ số khả năng thanh toán chi phí
tài trợ cố định =
EBIT + Chi phí tài trợ cố định khác
(4-19)
Chi phí lãi vay + Chi phí tài trợ cố định khác
Trang 8Chương 5 Phân tích hiệu quả kinh doanh
Mục tiêu:
- Hiểu rõ về khái niệm hiệu quả kinh doanh
- Nhận diện ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh
- Nắm vững nguyên tắc xác định và công dụng của các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh doanh
- Thực hành phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
5.1 Phân tích khái quát hiệu quả kinh doanh
5.1.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh chung
Hiệu quả kinh doanh thể hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh thường có dạng như công thức (5-1) Trong công thức này, kết quả kinh doanh thường là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó nhà phân tích có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp) Phương tiện tạo ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận) Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũng như phương tiện tạo ra kết quả kinh doanh đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu đó sẽ
có một mức ý nghĩa nhất định Các công thức (5-2), (5-3), (5-4), (5-5), (5-6) thể hiện các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phương tiện tạo ra kết quả
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Tài sản bình quân
Tỉ suất sinh lời của tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế (5-5)
Tài sản bình quân
Tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở
Lợi nhuận sau thuế
(5-6)
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 9Chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận thuần – net profit margin ratio (còn được gọi là tỉ suất doanh lợi hoặc tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu) thể hiện khả năng sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tỉ suất lợi nhuận thuần cao thể hiện lợi thế cạnh tranh trong việc kiểm soát chi phí so với các doanh nghiệp khác Hầu hết các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính đều quan tâm tới chỉ tiêu này Chỉ tiêu này giúp ích cho các chủ sở hữu hiện tại cũng như các chủ sở hữu tiềm năng đánh giá về khả năng sinh lời, từ đó đánh giá về triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai Chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận thuần cũng là một yếu tố quan trọng nhằm giúp các nhà cung cấp tín dụng đánh giá hiệu quả vốn vay, từ đó đánh giá về khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cũng được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm do thể hiện trực tiếp vấn đề kiểm soát chi phí – kết quả của các quyết định quản
lí
Chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận gộp – gross margin ratio thể hiên khoản cách chênh lệch giữa giá bán và giá vốn của sản phẩm, dịch vụ kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này thể hiện nhiều về đặc thù ngành kinh doanh và cơ cấu mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp hơn là vấn đề về kiểm soát chi phí
do mỗi ngành nghề và mặt hàng kinh doanh thường có khoảng cách chênh lệch giữa giá vốn và giá bán khác nhau Ví dụ, tỉ suất lợi nhuận gộp của ngành kinh doanh thực phẩm sẽ khác so với tỉ suất lợi nhuận gộp của ngành xây dựng Trong ngành kinh doanh thực phẩm đông lạnh thì các mặt hàng tôm, cá ba sa hay mực đông lạnh cũng có tỉ suất lợi nhuận gộp khác nhau Chính vì vậy chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, nhằm giúp họ điều chỉnh cơ cấu mặt hàng kinh doanh sao cho tối ưu hóa tỉ suất lợi nhuận gộp bình quân, từ đó tối ưu hóa tỉ suất lợi nhuận thuần Tuy nhiên, nhà phân tích cần thận trọng trong việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới tỉ suất lợi nhuần thuần và tỉ suất lợi nhuận gộp, vì ngoài các yếu tố thông thường về cơ cấu mặt hàng khinh doanh và việc kiểm soát chi phí, những đột biến trong các chỉ tiêu này có thể là do các nguyên nhân khác quan hoặc do sự biến động
về hàng tồn kho của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất, sự biến động của hàng tồn kho
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận gộp Khi doanh nghiệp sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu thụ sẽ làm hàng tồn kho tăng, có một phần chi phí sản xuất cố định (khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị, chi phí điện nước, lương nhân viên quản lí sản xuất…) được giữ lại trong giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối
kế toán, làm cho giá vốn hàng bán thấp dẫn đến tỉ suất lợi nhuận gộp cao Trường hợp này tỉ suất lợi nhuận gộp cao nhưng không phải là do doanh nghiệp đã kiểm soát tốt chi phí hoặc đã thay đổi cơ cấu mặt hàng kinh doanh theo hướng tích cực, làm tăng khả năng sinh lời chung cho cả doanh nghiệp mà là doanh nghiệp tồn đọng nhiều hàng tồn kho
Chỉ tiêu số vòng quay tổng tài sản – assets turnover thể hiện hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu số vòng quay tài sản nhiều sẽ thể hiện tốc độ luân chuyển tài sản nhanh và huy động tốt công suất sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Nhà đầu tư và nhà cung cấp tín dụng đều quan tâm tới chỉ tiêu số vòng quay tổng tài sản do chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ tới hiệu quả sử dụng đồng vốn đầu tư của họ vào doanh nghiệp Chính vì vậy, nhà quản lí thường được giao nhiệm vụ tìm kiếm các biện pháp kinh doanh, làm tăng số vòng quay tổng tài sản, tức là tối đa hóa doanh thu trên
cơ sở mức tài sản được giao quản lí và sử dụng
Chỉ tiêu tỉ suất sinh lời của tài sản – return on total assets (ROA) thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh Đây là một chỉ tiêu khá toàn diện trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, thể hiện mỗi đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Độ lớn của chỉ tiêu này cao thể hiện hiệu quả cáo trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp Tỉ suất sinh lời trên tài sản thường được coi là một tiêu chí đánh giá sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bằng cách nhân cả tử số và mẫu số của công thức (5-5) với doanh thu thuần, chúng ta
có thể xác định tỉ suất sinh lời của tài sản theo công thức (5-7) có thể thấy chỉ tiêu tỉ suất sinh lời trên tài sản chịu tác động bởi hai nhân tố: khả năng sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản Các doanh nghiệp đều muốn đạt tỉ suất sinh lời của tài sản cao Tuy nhiên, trong thực tế một doanh nghiệp nếu đạt khả năng sinh lời trên doanh thu cao thường có hiệu suất sử dụng tài sản thấp và ngược lại
Trang 10Nguyên nhân là do nếu cả hai yếu tố khả năng sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản cùng cao thì tỉ suất sinh lời trên tài sản sẽ rất cao, tức là ngành kinh doanh rất hấp dẫn, từ đó có thể lôi cuốn nhiều doanh nghiệp khác cùng kinh doanh, làm mức cạnh tranh tăng cao, vì vậy sẽ kéo một trong hai yếu tố khả năng sinh lời trên doanh thu hoặc hiệu suất sử dụng tài sản giảm xuống
Tỉ suất sinh lời của tài sản
Lợi nhuận sau thuế
x Doanh thu thuần Doanh thu thuần Tài sản bình quân
Tỉ suất sinh lời của tài sản
(ROA) = Tỉ suất lợi nhuận thuần x Số vòng quay tổng tài sản (5-7)
Khi phân tích tỉ suất sinh lời trên tài sản của một doanh nghiệp, chúng ta có thể đánh giá được vị trí của doanh nghiệp đó trong ngành cùng các chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đó đang theo đuổi Hình 5-1 cho thấy các doanh nghiệp ở nhóm 1 là các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược cạnh tranh nhờ qui mô, các doanh nghiệp này sẽ tăng cường mức sản xuất và tiêu thụ nên sẽ có hiệu suất sử dụng tài sản cao (số vòng quay tài sản nhiều) nhưng giá bán sản phẩm có thể thấp nên khả năng sinh lời thấp (tỉ suất lợi nhuận thuần thấp) Ngược lại các doanh nghiệp ở nhóm 3 là các doanh nghiệp theo đuổi chính sách giá cao (tỉ suất lợi nhuận thuần cao) nhưng mức tiêu thụ có thể không nhiều nên hiệu suất sử dụng tài sản không cao (số vòng quay tài sản ít) Các doanh nghiệp ở nhóm 2 là các doanh nghiệp giữ vị trí thống trị trong ngành Các doanh nghiệp này vừa có khả năng sinh lời cao, vừa có hiệu suất sử dụng tài sản cao Đối nghịch với các doanh nghiệp nhóm 2, các doanh nghiệp nhóm 4 có hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp trong ngành Các doanh nghiệp này đang có vấn đề cả về hiệu suất sử dụng tài sản và khả năng sinh lời Nếu không có các biện pháp cải thiện tình hình, các doanh nghiệp nhóm 4 có thể phải rút lui khỏi thị trường
Hình 5-1 ROA trong mối liên hệ với tỉ suất lợi nhuận thuần và số vòng quay tổng tài sản
Chỉ tiêu tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – return on equity ratio (ROE) thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được các chủ sở hữu (các nhà đầu tư) đặc biệt quan tâm do phản ánh trực tiêp mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Do đó, các chủ sở hữu khi thuê các nhà quản lí trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường đưa ra các điều khoản cụ thể yêu cầu duy trì hoặc tăng trưởng tỉ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu