TIỂU LUẬN MÔN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI 3: HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN KẾ TOÁN
KIỂM TOÁN NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI 3:
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI
BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Lớp: Cao học 17A
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Quốc Thịnh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2016
Trang 2DANH SÁCH NHÓM VÀ BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM 2
1.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Kiểm soát nội bộ, Kiểm toán nội bộ tại các TCTD, NHTM Việt Nam 2
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 2
1.1.2 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ 2
1.2 Hệ thống Kiểm soát nội bộ 2
1.2.1 Khái niệm 2
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu 2
1.2.3 Mục tiêu 2
1.2.4 Nguyên tắc 2
1.2.5 Nội dung 2
1.3 Kiểm toán nội bộ 2
1.3.1 Khái niệm 2
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.3 Mục tiêu 2
1.3.4 Nguyên tắc 2
1.3.5 Nội dung 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM 3
2.1 Thực trạng triển khai 3
2.2 Những kết quả đạt được 3
2.3 Những hạn chế, bất cập 3
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM 3
3.1 Kinh nghiệm từ một số nước 3
3.2 Định hướng phát triển 3
Trang 4KẾT LUẬN 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa, thực hiện nền kinh tế thịtrường, kiểm toán độc lập đã trở nên quen thuộc đối với hầu hết các doanh nghiệp.Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn chỉ là một khái niệm mới ở Việt Nam mặc dù vẫntồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước lớn Thực tế rấtnhiều nhà quản lý chưa quen thuộc với khái niệm kiểm toán nội bộ và chưa nhậnthức được tầm quan trọng của bộ phận này Rất nhiều bộ phận kiểm toán nội bộ ởcác Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước đóng vai trò như một chức năng kiểm tra của
bộ phận kế toán Ngạc nhiên hơn, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước có xuhướng loại bỏ chức năng kiểm toán nội bộ và sử dụng kiểm toán độc lập như là một
sự đảm bảo góp phần cải thiện hoạt động của họ Chính vì vậy nhận thức về kiểmtoán nội bộ đang trở nên cần thiết không chỉ cho ban giám đốc, nhà quản lý mà cònchính cho bộ phận kiểm toán nội bộ và các bộ phận khác có liên quan
Thực tế cho thấy Việt Nam đang thiếu một cấu trúc, cơ cấu kiểm toán nội bộhiệu quả Ngoài ra hoạt động kiểm toán nội bộ còn thiếu và yếu về nguồn lực, kiếnthức Do đó việc xây dựng cấu trúc hiệu quả cũng như tăng cường vai trò của kiểmtoán nội bộ và kiến thức của họ sẽ góp phần đạt được mục tiêu kinh doanh của đơnvị
Thiết lập chức năng kiểm toán nội bộ trong các đơn vị bắt đầu từ việc xâydựng Điều lệ kiểm toán nội bộ, xây dựng cơ cấu tổ chức, xây dựng kế hoạch kiểmtoán (dựa trên định hướng rủi ro) và thiết lập các kỹ năng, kiến thức và trình độnghiệp vụ cho kiểm toán viên nội bộ
Trang 6CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM
1.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Kiểm soát nội bộ, Kiểm toán nội bộ tại các TCTD, NHTM Việt Nam
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trước năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ có một cấp Ngân hàngNhà nước (NHNN) Việt Nam và hệ thống chi nhánh từ trung ương đến địa phươngphân bố theo địa giới hành chính, vừa đảm nhận chức năng quản lý Nhà nước vềcác mặt hoạt động tiền tệ, ngân hàng, tín dụng và thanh toán vừa thực hiện chứcnăng kinh doanh của một ngân hàng thương mại (NHTM) Hoạt động của hệ thốngnày mang nặng tính hành chính bao cấp và hoạt động kiểm tra, kiểm soát do Banthanh tra ở Ngân hàng trung ương, các chi nhánh tỉnh, khu vực thực hiện và cũngkhông quy định rõ ràng cụ thể Có thể nói giai đoạn này vấn đề kiểm soát nội bộtrong ngân hàng chưa được đề cập đến phòng ngừa rủi ro
Pháp lệnh Ngân hàng ra đời năm 1990 đánh dấu sự nghiệp đổi mới toàn diệnhoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam: hình thành hệ thống ngân hàng haicấp, gồm ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng (TCTD) Trong đó NHNNlàm chức năng ngân hàng trung ương, quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tíndụng, ngân hàng; các tổ chức tín dụng là những NHTM, ngân hàng đầu tư và pháttriển, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ trên cơ sởnêu cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Hệ thống ngân hàng theo kiểu này gầngiống hệ thống ngân hàng có nền kinh tế thị trường, đã xoá bỏ được tính chất độcquyền Nhà nước trong hoạt động ngân hàng bằng cách cho phép thành lập ngânhàng thương mại thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau Trong đó có sự hiện diện
và hoạt động của ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài gópphần hỗ trợ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như truyền bá công nghệngân hàng hiện đại vào Việt Nam Hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ lúc này rất mới mẻ do chưa có tiền lệ, thời kỳ đầu chủ yếu là làm công việc kiểmsoát các chứng từ kế toán phát sinh trong ngày giao dịch, chưa phải là sự độc lập
Trang 7của kiểm soát nội bộ đúng nghĩa Nhìn chung, thời kỳ này, các quy định về hoạt
động kiểm tra, kiểm soát nội bộ có những đặc điểm sau:
- Mới chỉ dừng lại ở chủ trương, việc triển khai kém hiệu quả (do KSNB,KTNB chưa được quan tâm thực hiện);
- Mô hình tổ chức không rõ ràng, còn lúng túng trong tên gọi, bố trí cácphòng chức năng, thẩm quyền tiếp nhận, mối quan hệ nội bộ;
- Chưa quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, đặc biệt nhiệm vụ kiểm soát tuânthủ, kiểm soát quy trình tác nghiệp, kiểm soát hệ thống vận hành chưa được coitrọng, chưa đề cao đánh giá rủi ro trong kinh doanh;
- Chưa quy định về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt độngKSNB, KTNB
Nền tảng pháp lý đầu tiên cho việc hình thành hệ thống kiểm tra, kiểm soátnội bộ ngân hàng chính là Luật các TCTD số 07/1997/QH10 ngày 12/12/1997, cóhiệu lực thi hành từ 01/10/1998 (sửa đổi bổ sung vào năm 2004) và Quyết định03/1998/QĐ-NHNN3 ngày 03/01/1998 về việc ban hành Quy chế mẫu về tổ chức
và hoạt động kiểm tra, KTNB trong các TCTD hoạt động tại Việt Nam, có hiệu lựcthi hành từ 18/01/1998
Điều 41, 42, 43 luật các TCTD năm 1997 quy định về hệ thống kiểm tra,
kiểm toán nội bộ của NHTM như sau:
- Các NHTM phải lập hệ thống kiểm tra, KTNB thuộc bộ máy điều hành,giúp Tổng giám đốc (Giám đốc) điều hành thông suốt, an toàn và đúng pháp luậtmọi hoạt động nghiệp vụ của TCTD
- Các NHTM phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật và cácquy định nội bộ, trực tiếp kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ trên tất cả các lĩnh vựctại sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện và các công ty trực thuộc
- Các NHTM phải kiểm toán hoạt động nghiệp vụ từng thời kỳ, từng lĩnhvực nhằm đánh giá chính xác kết quả hoạt động kinh doanh và thực trạng tài chínhcủa mình
Đồng thời Quyết định 03/1998/QĐ-NHNN3 cũng yêu cầu các TCTD phảithành lập bộ máy kiểm tra nội bộ chuyên trách trực thuộc Tổng giám đốc có chức
Trang 8năng kiểm tra thường xuyên hoạt động ngân hàngvà kiểm toán các mặt nghiệp vụ
kinh doanh theo định kỳ, đảm bảo chế độ phối hợp công tác, chế độ thông tin và các
quy định về quyền và nghĩa vụ, chế độ đãi ngộ cho nhân viên làm công tác kiểm tranội bộ
Trong thời kỳ này, hầu hết các NHTM đã thiết lập một bộ phận chuyên tráchvới tên gọi khác nhau (Ban kiểm tra nội bộ, Phòng kiểm tra nội bộ, Phòng kiểm tra,kiểm soát nội bộ) chịu sự quản lý, điều hành của Tổng giám đốc (Giám đốc) theo hệthống ngành dọc từ trụ sở chính (Phòng, Ban) tới các chi nhánh (Phòng, tổ kiểm tra,kiểm soát hoặc bố trí một cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, KTNB) Vềthực chất, bộ phận này làm chức năng kiểm toán và chịu sự quản lý, điều hành củaTổng giám đốc (Giám đốc), do vậy các kết quả kiểm tra, kiểm toán không mangtính độc lập, khách quan Bên cạnh đó, chức năng kiểm soát nội bộ chưa được phânđịnh rõ với chức năng kiểm toán nội bộ và mới chỉ dừng lại ở công tác hậu kiểmdưới hình thức tổ chức từng đợt kiểm tra
Trước sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, một loạt các quyếtđịnh, sửa đổi luật ra đời đáp ứng khuôn khổ hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ,kiểm toán nội bộ trong lĩnh vực ngân hàng như:
- Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 về việc ban hành quychế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của TCTD và Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNNngày 01/08/2006 về việc ban hành quy chế KTNB của TCTD;
- Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, có hiệu lực từ01/01/2011;
- Thông tư số 16/2011/TT-NHNN ngày 17/8/2011 Quy định về kiểm soátnội bộ, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực từ ngày01/10/2011;
- Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 Quy định về hệ thốngKSNB và kiểm toán nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệulực từ 12/02/2012 (thay thế Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN và Quyết định số37/2006/QĐ-NHNN)
Trang 9Luật các TCTD năm 2010 và Thông tư 44/2011/TT-NHNN ra đời đã đánhdấu bước tiến rõ rệt với sự tách bạch, phân định rõ ràng giữa chức năng kiểm soátnội bộ và chức năng kiểm toán nội bộ của TCTD, thể hiện xu hướng hội nhập vớithông lệ quốc tế về hệ thống KSNB.
1.1.2 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ
Ngày nay, khi môi trường kinh tế ngày càng phát triển thì mức độ biến độngphức tạp và sự cạnh tranh của thị trường ngày càng cao, kèm theo những rủi ro ngàycàng tăng dần Vấn đề rủi ro dần được quan tâm và chú trọng trên toàn thế giới Để
có thể nhận diện, định lượng, phòng ngừa và khắc phục rủi ro đòi hỏi phải có chiếnlược quản trị phù hợp Mà trong đó, việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội
bộ được xem như những tuyến phòng thủ cơ bản và quan trọng nhất đối với mỗiđơn vị Do đó, hoạt động kiểm tra, kiểm soát là một nhu cầu tất yếu, khách quan,giúp các nhà lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt việc lãnh đạo, điều hành đơn vị theođúng hành lang pháp lý, tôn chỉ, mục đích và chiến lược phát triển của đơn vị, gópphần làm cho hoạt động của đơn vị tốt hơn, hiệu quả hơn
Kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động tổng hợp, liên quan trựctiếp quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế, tiềm ẩnnhiều rủi ro mà các sai phạm của nhân viên ngân hàng có thể gây thiệt hại cho tàisản của nhà nước, nhân dân và gây ảnh hưởng mang tính dây chuyền lên toàn bộ hệthống ngân hàng và cả nền kinh tế Để đảm bảo cho mỗi hoạt động và việc làmđược đúng đắn, đều cần có sự kiểm tra, kiểm soát lại Do đó bên cạnh việc quản lýcủa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì hoạt động kiểm tra, kiểm soát và kiểmtoán nội bộ của chính các ngân hàng càng có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trongviệc bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển lành mạnh của từng ngân hàng và cả hệthống
Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích Đây làcông cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý củadoanh nghiệp Thông qua công cụ này, ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể
Trang 10kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt được các mụctiêu kinh doanh Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin củacác cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây.Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường
có báo cáo đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khảnăng gian lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với cáccông ty không có phòng kiểm toán nội bộ
Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết cáclợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi ích đó Nhiều doanh nghiệptheo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắtbuộc của phát triển bền vững Đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát Kết quả làtam giác ba mục tiêu này không thực sự mở rộng ở cả ba góc trong quá trình tăngtrưởng một cách đồng bộ Thay vào đó là bị co méo ở hai góc kia, tăng trưởng tuy
có đạt, nhưng hiệu quả và kiểm soát lại giảm sút hoặc không ngang tầm với sự tăngtrưởng
Để phát triển bền vững, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng cả bamục tiêu trên Đây là bài toán thực sự của quản trị Doanh nghiệp nào xem nhẹ mộttrong ba mục tiêu trên thì sớm muộn cũng phải trả giá
1.2 Hệ thống Kiểm soát nội bộ
1.2.1 Khái niệm
Theo thông tư 44/2011/TT-NHNN: Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các
cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tưnày và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thờirủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu
1.2.3 Mục tiêu
Theo thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011của NHNN “Quy định
về hộ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, Chi nhánh
Trang 11ngân hàng nước ngoài”: Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụngđược thiết lập nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu, chính sách lớn của tổ chức tíndụng, thông qua việc thực hiện các mục tiêu cụ thể, chủ yếu sau đây:
- Hiệu quả và an toàn trong hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản vàcác nguồn lực một cách kinh tế, an toàn, có hiệu quả
- Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp
- Các rủi ro có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt độngcủa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được nhận dạng, đolường, đánh giá thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biệnpháp quản lý rủi ro thích hợp Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm,dịch vụ và hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quytrình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp
- Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời cáchoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Kiểmsoát nội bộ được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp
vụ tại tất cả các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài dưới nhiều hình thức như:
+ Phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; bảo đảm tách bạch nhiệm vụ, quyềnhạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài;
+ Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việcthực hiện giao dịch;
Trang 12+ Quy trình thẩm định, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện giao dịch; bảođảm một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia, một ngườithực hiện giao dịch và một người kiểm soát giao dịch, không có cá nhân nào
có thể một mình thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giaodịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho phép phù hợp với quy định của phápluật
- Phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện hợp lý, cụ thể, rõ ràng,tránh xung đột lợi ích; bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc nhữngcương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau;đảm bảo mọi cán bộ trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không
có điều kiện để thao túng hoạt động, không minh bạch thông tin phục vụ cho mụcđích cá nhân hoặc che giấu hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội
bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Bảo đảm chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có hệthống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong tổchức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tình hình kinh tế, thị trường bênngoài hợp lý, tin cậy, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành hiệuquả
- Hệ thống thông tin, công nghệ thông tin của tổ chức tín dụng, chi nhánhngân hàng nước ngoài phải được giám sát, bảo vệ hợp lý, an toàn và phải có cơ chếquản lý dự phòng độc lập nhằm xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ, bao gồm
cả thiên tai, cháy, nổ, hệ thống bị xâm nhập, đảm bảo tuân thủ các quy định về antoàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin của ngành ngân hàng, đảm bảo hoạtđộng kinh doanh thường xuyên, liên tục của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài
- Bảo đảm cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài đều phải hiểu được tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát nội bộ; vaitrò của từng cá nhân trong quá trình kiểm soát nội bộ có liên quan đến chức năng,nhiệm vụ được giao và phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định, quy trình kiểmsoát nội bộ liên quan
Trang 13- Người điều hành bộ phận, đơn vị nghiệp vụ và cá nhân có liên quan phảithường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soátnội bộ; các tồn tại, bất cập của hệ thống kiểm soát nội bộ phải được báo cáo kịp thờivới cấp quản lý trực tiếp; các tồn tại, bất cập lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơrủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổng giám đốc (Giám đốc), Hội đồng quản trị,Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát.
- Cá nhân, bộ phận ở các cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện cácquy định, quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thựchiện hoạt động nghiệp vụ được giao trước tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài và trước pháp luật
- Lãnh đạo đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài phải báo cáo về kết quả tự đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vịmình; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạocấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất, theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản
lý trực tiếp
1.2.5 Nội dung
- Ban hành và thường xuyên rà soát các văn bản để sửa đổi, bổ sung kịpthời các quy chế, quy trình nghiệp vụ, quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm củatừng cán bộ trong điều hành và xử lý công việc Duy trì công tác kiểm soát nội bộtrong từng phòng, ban, nhằm kiểm soát toàn diện hoạt động của đơn vị
- Phổ biến thường xuyên, kịp thời, đầy đủ các văn bản chế độ của Nhà nướcliên quan đến hoạt động ngân hàng, cơ chế, quy chế và quy trình nghiệp vụ củaNgân hàng Nhà nước đến tất cả cán bộ, nhân viên trong đơn vị
- Đảm bảo chấp hành chế độ hạch toán kế toán và đảm bảo hệ thống thôngtin nội bộ về tài chính, tình hình tuân thủ trong đơn vị một cách kịp thời nhằm phục
vụ cho công tác quản trị, điều hành có hiệu quả
- Hệ thống thông tin, tin học của đơn vị phải được giám sát, bảo vệ mộtcách hợp lý, an toàn và phải có cơ chế quản lý dự phòng độc lập (back-up) nhằm xử
lý kịp thời những tình huống bất ngờ như thiên tai, cháy nổ để đảm bảo hoạt độngthường xuyên, liên tục của đơn vị
Trang 14- Tất cả các cá nhân, các bộ phận của đơn vị phải thường xuyên, liên tụckiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ cóliên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ củamình trước lãnh đạo đơn vị và pháp luật.
1.3 Kiểm toán nội bộ
1.3.1 Khái niệm
Theo Thông tư số 44/2011/TT-NHNN: “Kiểm toán nội bộ là việc rà soát,đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập vềtính thích hợp và tuân thủ quy định chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã đượcthiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổchức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Bên cạnh đó, việc thực hiện kiểm toán nội bộ cũng giúp tổ chức phát hiệnkịp thời và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý,điều hành và hoạt động của ngân hàng; đảm bảo an toàn bảo mật thông tin và hoạtđộng liên tục của hệ thống thông tin hoạt động nghiệp vụ
Trang 15Cuối cùng, dựa trên những kết quả kiểm toán nội bộ, đây sẽ là cơ sở để đưa
ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, gópphần bảo đảm cho các ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.1.3.4 Nguyên tắc
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận có chức năng đánh giá độc lập được doanhnghiệp thiết lập để đánh giá và kiểm tra các chức năng, hoạt động khác của doanhnghiệp nhằm mục đích giảm hiểu rủi ro Do đó, để thực hiện chức năng, nhiệm vụmột cách hữu hiệu và đạt được mục tiêu đề ra, hoạt động kiểm toán nội bộ cần phảituân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, tính độc lập: Tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ độc lập
với đơn vị, bộ phận điều hành, tác nghiệp của ngân hàng, cán bộ làm công tác kiểmtoán nội bộ không được đồng thời đảm nhận các công việc thuộc đối tượng củakiểm toán nội bộ; các ngân hàng phải đảm bảo rằng kiểm toán nội bộ không chịubất cứ sự can thiệp nào khi thực hiện việc báo cáo và đánh giá
Thứ hai, tính khách quan: Bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nội bộ
phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến
Thứ ba, tính chuyên nghiệp: Kiểm toán viên nội bộ phải là người có kiến
thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương
vị, các công việc chuyên môn khác của ngân hàng; có đủ kiến thức để xác địnhđược các dấu hiệu gian lận, có kiến thức về rủi ro trong hoạt động ngân hàng và cácbiện pháp kiểm soát công nghệ thông tin để thực hiện công việc được giao Bộ phậnkiểm toán nội bộ phải có ít nhất một kiểm toán viên đủ kiến thức, trình độ, kỹ năngthực hiện kiểm soát công nghệ thông tin then chốt và kỹ thuật kiểm toán công nghệcao
Ngoài ra, các ngân hàng phải đảm bảo chất lượng hoạt động kiểm toán nội
bộ Điều này có nghĩa là các ngân hàng phải có quy trình theo dõi và đánh giá chất
lượng của công tác kiểm toán nội bộ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài phải tiến hành đánh giá nội bộ đối với hoạt động của kiểm toán nội bộ để đảmbảo chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ Đánh giá nội bộ đối với hoạt động kiểmtoán nội bộ là việc tự đánh giá lại hoạt động kiểm toán nội bộ vào cuối cuộc kiểmtoán và việc tự đánh giá lại hằng năm về tổng thể hoạt động kiểm toán nội bộ do
Trang 16chính bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt độngkiểm toán nội bộ Kết quả đánh giá nội bộ hằng năm phải được báo cáo cho Bankiểm soát và được ghi nhận trong báo cáo kiểm toán nội bộ thường niên.
Phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồm:
- Kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các đơn vị, bộphận của tổ chức tín dụng;
- Kiểm toán đột xuất và tư vấn theo yêu cầu của Hội đồng quản trị, Hộiđồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc)
1.3.5 Nội dung
Nội dung chính của hoạt động kiểm toán nội bộ là đánh giá tính đầy đủ, hiệulực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, tùy theo quy mô, mức độrủi ro cũng như yêu cầu cụ thể của từng ngân hàng, kiểm toán nội bộ rà soát, đánhgiá những nội dung sau:
- Mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ;
- Việc áp dụng, tính hiệu lực, hiệu quả của việc triển khai các chính sách vàquy trình quản lý rủi ro của các ngân hàng bao gồm cả các quy trình được thực hiệnbằng hệ thống công nghệ thông tin;
- Tính đầy đủ, chính xác và an toàn của hệ thống thông tin quản lý và hệthống thông tin tài chính, bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngânhàng điện tử;
- Tính đầy đủ, kịp thời, trung thực, hợp lý và mức độ chính xác của hệthống hạch toán kế toán và các báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
- Tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định về các tỷ lệ bảo đảm antoàn trong hoạt động của ngân hàng, quy định nội bộ, quy trình, quy tắc tác nghiệp,quy tắc đạo đức nghề nghiệp;
- Các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức củangân hàng;
- Các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản Đưa ra các kiến nghị nhằm nângcao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm ngân hànghoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật;
Trang 17- Đánh giá tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động, của việc sử dụng cácnguồn lực, qua đó xác định mức độ phù hợp giữa kết quả hoạt động đạt được vàmục tiêu hoạt động đề ra;
- Thực hiện các nội dung khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ củakiểm toán nội bộ theo yêu cầu của Ban kiểm soát và của Hội đồng quản trị, Hộiđồng thành viên;
Ngoài ra, đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện kiểm toán nội
bộ phải tuân theo quy định của ngân hàng mẹ và đảm bảo phù hợp với quy định củaViệt Nam
Như vậy chúng ta có thể thấy kiểm toán nội bộ thực hiện nhiệm vụ đánh giá
hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ của ngân hàng, kiểm toán nội bộ sẽ không thựchiện một số công việc can thiệp đến phòng kiểm soát nội bộ như: rà soát, đánh giálại phương pháp, chương trình kiểm tra của phòng kiểm soát nội bộ, chọn mẫu kiểmtoán lại công việc của phòng kiểm soát nội bộ Kiểm toán nội bộ phải được tách biệtvới kiểm soát nội bộ Kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quanđối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủquy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong ngân hàng;đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, gópphần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
Kiểm toán nội bộ tiến hành cả 03 loại hình kiểm toán: Kiểm toán hoạt động,kiểm toán tuân thủ, và kiểm toán Báo cáo tài chính Như vậy phạm vi công việc củakiểm toán nội bộ không chỉ bao hàm chức năng của kiểm toán tuân thủ mà còn đánhgiá toàn hệ thống thông qua kiểm toán hoạt động và kiểm toán báo cáo tài chính
Việc đầu tư vào phát triển một bộ phận kiểm toán nội bộ chuyên nghiệp làtheo đúng xu thế quốc tế về xây dựng mô hình quản trị ngân hàng hiện đại Với cácchức năng, phạm vi hoạt động, cộng với tính chuyên nghiệp và độc lập cao, kiểmtoán nội bộ sẽ giúp đánh giá toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng,nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống Công tác kiểm toánnội bộ thực sự là công cụ hữu hiệu giúp Hội đồng quản trị và ban điều hành đảmbảo thực hiện cân đối 3 mục tiêu: tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát Nhận thức
Trang 18được tầm quan trọng của vấn đề này, các ngân hàng đã và đang xây dựng cho mìnhmột hệ thống kiểm toán nội bộ một cách tối ưu nhất.
Trang 19CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM
TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TCTD, NHTM VIỆT NAM
2.1 Thực trạng triển khai
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ tạicác ngân hàng, vai trò của kiểm toán nội bộ thể hiện cụ thể trong quy trình và hệthống quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng Ngày nay, một trong những hệ thống quảntrị rủi ro được áp dụng thành công tại các NHTM hiện đại và được các chuyên giakhuyến nghị Việt Nam nên vận dụng là mô hình 3 lớp phòng vệ Trong đó, tuyếnphòng vệ thứ nhất là các bộ phận kinh doanh, tuyến phòng vệ thứ hai là Bộ phậnquản lý rủi ro, tuyến phòng vệ thứ 3 là Bộ phận kiểm toán nội bộ Đặc trưng của môhình này nhấn mạnh tính độc lập của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ tại cácngân hàng thương mai Nhìn chung, một số NHTM Việt Nam như: Vietinbank,BIDV, ACB… đã và đang áp dụng mô hình trên khá bài bản và chuyên nghiệp, cóthể cụ thể hóa mô hình cơ cấu tổ chức tổng quát của các NHTM Việt Nam như sau:
Trong mô hình trên, vai trò và chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ đượctách bạch độc lập hoàn toàn với hoạt động điều hành và kinh doanh của ngân hàng,
từ đó giúp kiểm toán nội bộ có những đánh giá khách quan trong việc phát hiện rủi