ĐỀ TÀI 6 Hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia (tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại) được thể hiện như thế nào? Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam đang[.]
Trang 1ĐỀ TÀI 6 : Hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các
quốc gia (tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại) được thể hiện như thế nào? Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam đang được điều chỉnh theo xu hướng nào và giải thích
I NHỮNG XU HƯỚNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1 Xu hướng tự do hóa thương mại
1.1 Lý thuyết về xu hướng tự do hóa thương mại
Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh
vực trao đổi, buôn bán quốc tế Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hếtcác nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầumua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài
Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh
tế thế giới với những cấp độ khác nhau là toàn cầu hóa và khu vực hóa, lực lượng sản xuấtphát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công lao động quốc tế pháttriển cả về bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường, hầu hếtcác quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” với việc khai thác ngày càng triệt
để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước Tự do hóa thương mại đều đưa lại lợi ích chomỗi quốc gia và tạo điều kiện cho từng quốc gia có thể phát huy tối ưu các lợi thế so sánh
và lợi thế cạnh tranh của mình so với các quốc gia khác, dù trình độ phát triển có khác nhau
và nói phù hợp với xu thế phát triển chung của nên văn minh nhân loại
Xu hướng tự do hóa thương mại ra đời nhằm phát triển hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa, cụ thể là phát triển khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác đồng thời
mở rộng hoạt động nhập khẩu hàng hóa không có điều kiện để sản xuất hoặc sản xuất vớihiệu quả thấp; tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế nói chung giữa cácnước trên thế giới mà trước hết là quan hệ hợp tác đầu tư; tăng khả năng cạnh tranh cho cácdoanh nghiệp bằng cách tạo ra môi trường cạnh tranh tốt như tạo ra sự bình đẳng hơn giữadoanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài – là động lực quan trong để cácdoanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế
Tùy theo mức độ mở cửa thị trường, xu hướng tự do hóa thương mại gồm:
Trang 2- Tự do hóa thương mại hoàn toàn: Nhà nước mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa,không sử dụng bất kỳ công cụ hay biện pháp nào can thiệp vào hoạt động thươngmại quốc tế và thị trường thực sự điều tiết hoàn toàn bởi các quy luật thị trường.
- Tự do hóa thương mại có điều tiết: Nhà nước không mở cửa hoàn toàn thị trường nộiđịa mà sử dụng các công cụ và biện pháp nhằm điều tiết hoạt động thương mai quốc
tế có lợi cho nền kinh tế quốc gia mà biểu hiện ở một số điểm sau:
Nhà nước thực hiện thương mại tự do mở cửa thị trường nội địa với một sốnước trong quan hệ song phương, đa phương
Nhà nước thực hiện tự do thương mại chỉ với một số mặt hàng
Nhà nước thực hiện các công cụ và biện pháp điều tiết thương mại quốc tế
1.2 Biểu hiện của xu hướng tự do hóa thương mại
Xu hướng tự do hóa thương mại thể hiện thông qua việc:
- Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ biện pháp gây hạn chế cho hoạt độngthương mại quốc tế như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính nhằm tạo điềukiện thuận lợi để mở rộng phát triển quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa với nướckhác
- Hoạt động xuất nhập khẩu được tiến hành một cách tự do
Về mặt hàng, nhà nước đưa ra danh mục hàng hóa tự do là danh mục các loạihàng hóa có thể nhập khẩu không phải nộp thuế Hải quan hoặc những hànghóa không thuộc đối tượng phải có giấy phép nhập khẩu
Về thị trường, nhà nước mở cửa thị trường nội địa, dành cho các nhà kinhdoanh nước ngoài những ưu đãi về tiếp cận thị trường, được tự do kinh doanhtrên thị trường nội địa
- Nguyên tắc điều chỉnh thương mại quốc tế: không phân biệt đối xử
Từ thập kỷ 1990 đến nay tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế đã có bướcphát triển đột biến mạnh mẽ thể hiện trên các mặt: sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO); các khu thương mại tự do phát triển mạnh mẽ từ EU, NAFTA, AFTA đến cáckhối kinh tế khác ở hầu khắp các châu lục; các Hiệp nghị thương mại tự do song phươngphát triển chưa từng có giữa các quốc gia với nhau như Mỹ - Singapore, Mỹ - Thái Lan…đến các Hiệp nghị thương mại tự do giữa các khối thương mại tự do với các quốc gia nhưASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản…
Những cam kết giảm bỏ hàng rào bảo hộ đang là nội dung chủ yếu của các cuộc đàm
Trang 3phán đa phương và song phương hiện nay.
Cụ thể:
a) Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
WTO là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát cáchiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại Từ
23 thành viên sáng lập ban đầu trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương
mại (GATT - General Agreement of Tariffs and Trade) vào năm 1947 và tính đến năm
2016, WTO có 164 thành viên
WTO hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau:
- Không phân biệt đối xử:
Đãi ngộ quốc gia: Không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoàicũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức
độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước
Đãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành chomột thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trongWTO
- Tự do thương mại hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán
- Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: các quy định và quy chế thương mạiphải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định
- Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: giành những thuận lợi và ưu đãi hơn chocác thành viên là các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ các chỉ định củaWTO
- Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước thành viênCác thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề vềthương mại quốc tế Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải kí kết và phêchuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện
Mục tiêu hoạt động của WTO cho đến nay vẫn không đổi: xóa bỏ hoặc giảm thiểu ràocản thương mại và thúc đẩy các dòng thương mại mới giữa các quốc gia, qua đó phát huylợi ích của tăng trưởng kinh tế và phát triển trên quy mô rộng lớn hơn
b) Hiệp định thương mại tự do (FTA)
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốcgia Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan
Trang 4cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực thương mại tự do Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới có hơn 200 Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc
có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự doLiên minh châu Âu-Chi Lê, hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc
Một hiệp định thương mại tự do nổi tiếng được thành lập từ năm 1960, đó là Hiệp hộiThương mại Tự do Châu Âu Sau những bế tác của đàm phán tự do hóa thương mại đaphương trong khuôn khổ GATT, các hiệp định thương mại tự do song phương (giữa hainước) và khu vực xuất hiện ngày càng nhiều từ giữa thập niên 1990 Và trong số nhữngquốc gia hăng hái nhất trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương phải
kể đến Mexico, Singapore Những khu vực thương mại tự do nổi tiếng mới thành lập từthập niên 1990 điển hình là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (thành lập năm 1994),Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (hiệp định được ký kết vào năm 1992) Ngoài ra, còn
có những hiệp định thương mại tự do giữa một nước với cả một khối, như Hiệp định Khung
về Hợp tác Kinh tế ASEAN-Trung Quốc (ký kết vào năm 2002)
Do xóa bỏ gần như hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán đểthành lập một hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thương thảo.Những nước hăng hái với tự do hóa thương mại có thể thỏa thuận tiến hành chương trìnhgiảm thuế quan sớm (còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuếtrước khi đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập
FTA trong tương lai: Hiệp định tự do thương mại Mỹ - Liên minh châu Âu
Vào ngày 13/02/2013, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đã đồng ý là hai bên sẽ nhanhchóng mở các cuộc đàm phán về một hiệp định tự do thương mại song phương Thời điểmkhởi sự các vòng thương thuyết sẽ là trong nửa đầu năm 2013 này, tức là từ nay đến thángSáu Hiệp định tự do thương mại Mỹ-Liên minh châu Âu sẽ là một sự kiện mang tính lịch
sử, vì chi phối khoảng một nửa sản lượng của thế giới
Hiệp định tự do thương mại Mỹ-Liên minh châu Âu có thể cho phép châu Âu cộng thêmkhoảng 0,5% vào mức tăng trưởng của mình từ đây đến năm 2027, trong lúc Hoa Kỳ cũngđược thêm 0,4% Tính về thu nhập hàng năm, Liên minh châu Âu sẽ có thêm 86 tỷ euro vàHoa Kỳ 65 tỷ
Trang 52 Xu hướng bảo hộ thương mại
2.1 Lý thuyết về xu hướng bảo hộ thương mại
Bảo hộ thương mại là sự gia tăng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực
buôn bán quốc tế; nhưng sự gia tăng này theo hướng có “chọn lọc”, có địa chỉ rõ ràng và cóthời gian, khắc phục triệt để sự can thiệp phi lý của Nhà nước trái với thông lệ quốc tế, luậtpháp quốc tế và cam kết quốc tế
Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ sự phát triển không đều và sự khác
biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự chênh lệch về khả năng cạnh tranhgiữa các công ty trong nước với các công ty nước ngoài, cũng như do các nguyên nhân lịch
sử để lại Ở buổi đầu hình thành nền thương mại quốc tế, người ta thường quan tâm đếnviệc đẩy mạnh xuất khẩu để thu về kim khí quí, trong khi đó lại chủ trương hạn chế nhậpkhẩu để giảm bớt khả năng di chuyển của kim khí quí ra nước ngoài Bên cạnh đó, trongmột số trường hợp, các lý do về chính trị và xã hội cũng đưa đến yêu cầu phải bảo hộthương mại
Xu hướng bảo hộ thương mại ra đời nhằm:
- Bảo vệ nền công nghiệp non trẻ: Chính phủ cần bảo vệ những ngành công nghiệp
mới có tiềm năng của đất nước để giúp chúng lớn mạnh và trưởng thành có được khảnăng sáng tạo mới và sức cạnh tranh cao
- Tạo nên nguồn tài chính công cộng: Việc đánh thuế với hàng hóa nhập khẩu sẽ
giúp chính phủ có một khoản thu lớn phục vụ cho tài chính công cộng
- Khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp: Thông qua việc thực hiện thuế quan
bảo hộ, việc có những hàng rào bảo hộ sẽ giúp cho sản phẩm nước ngoài giá caohơn Nhờ vậy mà hàng trong nước phần nào có lợi thế hơn về giá so với hàng xuấtkhẩu Chính vì vậy, sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước qua đó khắc phục mộtphần tình trạng thất nghiệp
- Thực hiện phân phối lại thu nhập: Phân phối lại thu nhập xã hội là sự can thiệp
của Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật, các chính sách để vận động,thuyết phục những người có thu nhập cao đóng góp để cùng nhà nước giúp đỡ cộngđồng và những người có thu nhập thấp
- Bảo vệ việc làm và ngành công nghiệp: Khi thương mại tự do phát triển thì sẽ ngày
càng có nhiều hàng hóa đi vào thị trường nội địa của các quốc giá đó Điều này đãlàm ảnh hưởng cho các nhà sản xuất trong nước, làm cho hàng hóa trong nước phải
Trang 6cạnh tranh mạnh hơn với các hàng hóa nước ngoài Nếu hàng hóa trong nước không
đủ sức cạnh tranh và bị thất bại dẫn đến sản xuất giảm sút dẫn đến người lao độngtrong nước mất việc làm dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao Việc có hàng rào bảo hộ
sẽ giúp tăng lợi thế sản phẩm nội địa, qua đó bảo vệ được ngành công nghiệp trongnước, việc làm cũng được bảo vệ
- Bảo vệ an ninh quốc gia: Một số ngành công nghiệp đóng vai trò thiết yếu đối với
quốc gia chúng ta cũng phải ra sức bảo hộ Để bảo vệ những công nhân, các chínhphủ đã ban hành luật hạn chế các công ty có thể làm trong việc theo đuổi lợi nhuận ví
dụ như pháp luật liên quan đến: lao động trẻ em, thương lượng tập thể, cạnh tranh(chống độc quyền), bảo vệ môi trường, cơ hội bình đẳng, sở hữu trí tuệ, lương tốithiểu, an toàn lao động và sức khỏe…
- Trả đũa: Để trả đũa dằn mặt hàng hóa các quốc gia cũng áp dụng các chính sách bảo
vệ thương mại các hàng hóa của mình Đó là khi thực hiện thương mại tự do khôngcông bằng Khi một nước cho nước khác được tự do vào nước mình nhưng trong khi
đó nước đó lại thực hiện chính sách bảo hộ hàng hóa của họ không cho hàng hóa củamình vào nước họ thì dẫn đến nước đó cũng sẽ thực hiện chính sách bảo hộ nhằmbảo vệ ngành của họ
- Văn hóa: Các quốc gia hạn chế buôn bán hàng hóa và dịch vụ nhằm đạt được các
mục tiêu về văn hóa nhất là mục tiêu bảo về bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc.Văn hóa và tự do hóa thương mại đan quyện và tác động qua lại với nhau Văn hóamỗi quốc gia đều dần dần có sự thay đổi do có sự hiện diện của con người và sảnphẩm từ các nền văn hóa khác Những tác động ngoài mong muốn của văn hóa buộcchính phủ phải ngăn cản việc nhập khẩu những sản phẩm được coi là có hại
Tùy thuộc vào mức độ bảo hộ của nền sản xuất trong nước, xu hướng bảo hộ thương mại bao gồm:
- Xu hướng bảo hộ thương mại hoàn toàn: nhà nước đóng cửa hoàn toàn thị trường nộiđịa, cấm hẳn không cho phép cá nhà sản xuất – kinh doanh kinh doanh nước ngoài
và kinh doanh trên thị trường nội địa
- Xu hướng bảo hộ thương mại có giới hạn:
Nhà nước chỉ bảo hộ thương mại đối với một số mặt hàng, trên một số thịtrường khu vực
Trang 7 Nhà nước thực hiện các công cụ và biện pháp can thiệp vào hoạt động thươngmại quốc tế, gây khó khăn cho các nhà kinh doanh nước ngoài.
2.2 Biểu hiện của xu hướng bảo hộ thương mại
Xu hướng bảo hộ thương mại được thể hiện ở một số nội dung sau:
- Nhà nước sử dụng các công cụ và biện pháp can thiệp vào quá trình nhập khẩu, giảmsức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa Nhà nước thựchiện các biện pháp nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước có khả năng cạnh tranhđược với các nhà kinh doanh nước ngoài và mở rộng xuất khẩu ra thị trường nướcngoài
Biện pháp để thực hiện bảo hộ thương mại là sử dụng các công cụ thuế quan,phi thuế quan và đặt biệt là các “rào cản thương mại” để hạn chế những tácđộng xấu từ bên ngoài
Về mặt hàng, giới hạn số lượng hàng xuất nhập khẩu, đưa ra danh mục hànghóa không cho phép xuất nhập khẩu nhằm ngăn cản sự cạnh tranh của hànghóa nhập khẩu trên thị trường nội địa
Về thị trường, nhà nước cho phép hoặc hạn chế các nhà doanh nghiệp nướcngoài kinh doanh trên thị trường nội địa
- Nguyên tắc điều chỉnh thương mại quốc tế: là nguyên tắc có sự phân biệt đối xử giữacác nhà kinh doanh nước ngoài với nhà kinh doanh trong nước, gây khó khăn chocác nhà kinh doanh nước ngoài
Cụ thể
a) Trên thế giới
Hiện nay, hầu hết nền kinh tế các nước đều gặp phải nhiều khó khăn Ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn ám ảnh ở nhiều quốc qia, thêm vào đó khủng hoảng nợcông ở một số nước càng làm mậu dịch thế giới trở lên u ám và giảm sút Làn sóng bảo hộlại càng gia tăng sau Brexit và sự kiện Donald Trump đắc cử tổng thống
Trước áp lực phục hồi kinh tế, các quốc gia đã buộc phải áp dụng một loạt chính sáchmang tính bảo hộ (như thuế quan, trợ giá và bảo lãnh tài chính) nhằm bảo vệ sản xuất trongnước Vấn đề bảo hộ thương mại đang ngày càng nóng lên sau khi các nước đưa ra các góikích thích kinh tế lớn và khuyến khích dùng hàng nội để giảm bớt khó khăn cho các nhà sảnxuất Ngoài việc che chắn, bảo vệ cho nền sản xuất trong nước trước sức tấn công của hànghóa nhập khẩu, nhiều nước đang ra sức nâng đỡ các ngành công nghiệp yếu kém trong
Trang 8Theo nghiên cứu của tổ chức mang tên Global Trade Alert, trong năm 2016 các biệnpháp bảo hộ trên thế giới tăng 7 % Riêng WTO ghi nhận mỗi tháng trong năm 2016 có 22biện pháp bảo hộ được tung ra trên thế giới, thay vì 20 trong năm 2015 và 14 vào năm 2014
Mỹ không phải là quốc gia duy nhất gây trở ngại
Bruxelles tăng thuế nhập khẩu thép của Trung Quốc và Nga vào thị trường châu Âu.Bên cạnh đó là hàng loạt các biện pháp bảo hộ trá hình, chẳng hạn như thay đổi các chuẩnmực về y tế, an toàn thực phẩm, lao động … để loại bớt các công ty nước ngoài
Tại Đức, tỷ lệ ủng hộ tự do mậu dịch đang từ 88 % cách nay hai năm, rơi xuống còn
56 % Báo cáo của Ngân Hàng Trung Ương Pháp (Banque de France) được công bố tháng9/2016, đưa ra con số bất lợi cho giao thương quốc tế : trong thời gian từ 2001 đến 2007,ngành công nghiệp Pháp đánh mất từ 90.000 đến 180.000 việc làm vì bị các công ty TrungQuốc cạnh tranh
Trong bối cảnh đó, ngày 20/01/2017 Donald Trump chính thức trở thành tổng thốngthứ 45 của Hoa Kỳ và trong bài diễn văn đầu tiên, tân chủ nhân Nhà Trắng đã nhắc lại ưutiên « bảo vệ quyền lợi, công ăn việc làm, ngành công nghiệp của Hoa Kỳ là trên hết »
b) Tình hình Việt Nam
Về trợ cấp, nhằm góp phần thúc đẩy xuất khẩu, Việt Nam đã áp dụng trợ cấp theo các
hình thức khác nhau cho những mặt hàng còn gặp khó khăn chưa tự đứng vững trên thịtrường trong nước cùng như thị trường quốc tế
Về rào cản kỹ thuật, Việt Nam cho tới nay chưa áp dụng được biện pháp này trong bảo
hộ thương mại của mình bởi thực tế nhiều chỉ tiêu kỹ thuật của Việt Nam vẫn còn thấp hơnnhiều so với mức chuẩn quốc tế nên hàng hóa nhập khẩu dễ dàng đáp ứng được các tiêuchuẩn kỹ thuật Việt Nam để ra do được sản xuất với trình độ công nghệ cao đặc biệt là hànghóa có xuất xứ từ những nước phát triển như: Mỹ, Nhật Rào cản kỹ thuật của Việt Namchủ yếu dùng để ngăn chặn những hàng hóa đã gây nguy hiểm và bị phát hiện từ nước ngoàinhư: sữa nhiễm chất melamine gây nguy hiểm cho thận hay rau quả của Nhật có nhiễmphóng xạ do động đất vừa qua…
3 Đánh giá về hai xu hướng
Xu hướng tự do thương mại và bảo hộ thương mại đều có những ưu nhược điểm nhấtđịnh Điều đó đòi hỏi khi áp dụng cần phải cân nhắc, tính toán một cách thận trọng, có luận
cứ khoa học, không áp đặt chủ quan, không can thiệp phi lý
Trang 9Những ưu điểm và nhược điểm chủ yếu:
Tự do hóa thương mại Bảo hộ thương mại
Tạo điều kiện cho các nhàsản xuất trong nước vươn ra nướcngoài
Làm suy yếu hoặc xóa bỏchính sách bảo hộ thương mại củacác nước khác, tạo cơ sở cho cácnhà kinh doanh nội địa dễ dàngthâm nhập và phát triển thị trườngmới
Giảm sức cạnhtranh của hàng hóa nhậpkhẩu
Bảo hộ các nhà sảnxuất kinh doanh trongnước giúp họ tăng cườngsức mạnh trên thị trườngnội địa
Giúp các nhà xuấtkhẩu tăng sức cạnh tranhthâm nhập thị trườngnước ngoài
Sử dụng hợp lýnguồn ngoại tệ, tạo sự cânbằng cán cân thanh toánquốc tế của quốc gia
Các nhà sản xuất kinh doanhtrong nước phát triển không đủmạnh thì dễ dàng bị phá sản trước
sự tấn công của hàng hóa nướcngoài
Kinh tế của đấtnước bị cô lập, đi ngượclại với xu thế của thời đạingày nay là toàn cầu hóakinh tế thế giới
Bảo hộ thương mạidẫn tới sự trì trệ và bảothủ của các nhà kinhdoanh nội địa, thiếu độnglực thú đẩy phát triển vàhoàn thiện kinh tế trongnước
Trang 10 Bảo hộ thương mạilàm thiệt thòi cho ngườitiêu dùng trong nước.
Về mặt nguyên tắc, hai xu hướng trên đối nghịch nhau và chúng gây nên tác động ngượcchiều nhau đến hoạt động thương mại quốc tế Nhưng, chúng không bài trừ nhau mà trái lạithống nhất với nhau Trong thực tế, hai xu hướng cơ bản này song song tồn tại và chúngđược các quốc gia sử dụng và khéo léo kết hợp ở những mức độ khác nhau tùy theo trình độphát triển kinh tế của mỗi nước
II CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Xu hướng thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay là “Đẩy mạnh tự do hóa thương mại” Theo đó nhà nước tăng cường áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu các trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện càng thuận lợi hơn cho các hoạt động thương mại quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu Các biện pháp đó là việc điều chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần và theo bước đi phù hợp trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phương đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế Cụ thể, đó là việc thực hiện các biện pháp cắt giảm thuế quan và nới lỏng hoặc rỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về chất lượng môi trường, về nhãn mác hàng hóa…
1 Tư tưởng, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước khuyến khích, đẩy mạnh tự do hóa
thương mại
Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6, Đảng ta nhận định: “ Xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta” từ
đó, Đảng chủ trương đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệthống xã hộ chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhânnước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006) Đảng ta nêu quan điểm: Thực hiện nhấtquán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển; chính sách đốingoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Đồng thời đề ra chủ
trương: “ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp”
Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan
Trang 11hệ quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996), đến Đại hội
X (năm 2006) được bổ sung, phát triển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế, hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển
2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
2.1 Giai đoạn 1995-2000
Đây được xem là giai đoạn sơ khởi, tạo nền tảng cho quá trình tự do thương mại quốc tếcủa Việt Nam Giai đoạn này bắt đầu bằng việc Việt Nam gia nhập ASEAN (năm 1995)cho đến khi trước khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (năm2001)
Trong giai đoạn này, Việt Nam đã có thỏa thuận mở cửa thương mại đầu tiên và cho đếnthời điểm này (2014) vẫn là “tự do” nhất của mình: Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lựcchung (CEPT) nhằm thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA) (năm 1996).Trên thực tế, Việt Nam chỉ thực sự cắt giảm thuế quan từ năm 1999 khi nhóm các mặt hàngđầu tiên được cắt giảm thuế quan theo cam kết trong CEPT của Việt Nam.Tuy nhiên, thamgia CEPT/AFTA, Việt Nam lại được hưởng các ưu đãi thuế quan theo CEPT/AFTA khixuất khẩu vào các nước trong khu vực (6 nước ban đầu của ASEAN) ngay khi gia nhập.Điều này đã thực sự mang lại những bước chuyển đặc biệt tích cực cho thành tích hội nhập
và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn này Cần phải thừa nhận rằng việc tham giacủa Việt Nam vào CEPT/AFTA khá thụ động, như một bước tiếp theo của việc gia nhậpASEAN một năm trước đó và vì vậy không thực sự là một bước hội nhập được tính toánđầy đủ Mức độ cam kết cũng như lộ trình mở cửa của Việt Nam trong CEPT/AFTA cũngtương đối hạn chế so với các đối tác khác trong khu vực Mặc dù vậy, bài kiểm tra cho tự dohóa thương mại đầu tiên của Việt Nam trên thực tế may mắn diễn ra một cách suôn sẻ, mức
độ mở cửa và cam kết mở cửa cho đến nay vẫn là mạnh nhất và vì vậy là một bàn đạp tốtcho các bước tiếp theo của quá trình hội nhập sau này Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam
đã thực hiện những chuẩn bị đầu tiên cho các giai đoạn hội nhập tiếp theo: nộp Đơn gianhập WTO năm 1995, đàm phán và ký kết các Hiệp định bảo hộ đầu tư, thương mại songphương đầu tiên, bắt đầu đàm phán Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ(BTA) năm 1996… Trong số này, đáng kể là quá trình đàm phán BTA Việt Nam – Hoa Kỳvới những tác động sâu và những bài học kinh nghiệm quan trọng cho các giai đoạn hộinhập tiếp theo của Việt Nam Sau 11 Vòng đàm phán trong suốt 4 năm, với những nội dungđàm phán rộng, phức tạp mà lần đầu tiên Việt Nam biết đến, với một đối tác kinh tế hàng