1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài kinh tế thương mại giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế nước ta

55 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Kinh Tế Thương Mại Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Nâng Cao Chất Lượng Tăng Trưởng Kinh Tế Nước Ta
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Thương Mại
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 198,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1, PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1 1/ Tốc độ tăng trưởng chung nền kinh tế Như chúng ta đã biết,tăng trưởng kinh tế là một trong những[.]

Trang 1

1, PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI

1.1/ Tốc độ tăng trưởng chung nền kinh tế

Như chúng ta đã biết,tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận

về phát triển kinh tế Đó là mục tiêu hàng ,đầu của tất cả các nước trên thế giới,là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia

Ở nước ta ,từ năm 1986 đến nay tăng trưởng của nền kinh tế có nhiều biến động,có sựtăng trưởng liên tục và với tốc độ cao,cụ thể như sau: 1986-1990 ( đạt xấp xỉ3,9%/năm),1991-1995(8,18%),1996-2000(6,95%),2001-2006(7,62%),2006-2010(7,01%),2011-2015(5,88%) Tính bình quân trong cả giai đoạn 1991-2006,tốc độ tăngtrưởng kinh tế đạt 7,59%/năm Đó là tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất so với cácnước và vùng lãnh thổ trên thế giới ,chỉ thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân củaTrung Quốc trong thời gian tương ứng

Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2015

Trang 2

Từ đồ thị trên ta thấy, giai đoạn 1986-1990 đến 1991-1995 tốc độ tăng trưởng trungbình của nền kinh tế tăng đáng kể từ 3,9% đến 8,18%,có chiều đi lên rõ rệt Tuy nhiênđến giai đoạn 1996-2000,tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều đi xuống Nguyên nhân là

do cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á xuất phát từ Thái Lan và lan rộng sangcác nước Đông Á khác,tạo nên sự giảm sút khá mạnh về thương mại và đầu tư Donguồn vốn đầu tư trực tiếp suy giảm và cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu ngày cànggay gắt gây ra những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế

Sau đó ,thời kỳ 2001-2006 nền kinh tế dần được phát triển trở lại,đưa tốc độ tăngtrưởng trung bình lên 7,59%/năm Có được sự khôi phục đó là nhờ các chương trìnhcải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế,tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhànước tăng lên

Từ năm 2006-2010 tốc độ tăng trưởng có chiều hướng đi xuống ,chỉ còn 7,01%.Nguyên nhân là do chịu tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu Cho đếnnay ,giai đoạn 2010-2015 đã có những biện pháp để khắc phục sự đi xuống đó,nhưngnhìn chung tốc độ tăng trưởng bình quân của thời kì này vẫn còn khá thấp,chỉ đạt5,88%

1.2/ Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành

 Nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9%/năm (2001-2005 ); 3,53%/năm (2006-2010), trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 3,72%; giai đoạn 2008-2010 tăng 3,09%; 3,05%/năm (2011-2015)

 Công nghiệp và xây dựng

Nhìn chung từ năm 1991 tới nay,tốc độ tăng trưởng nhóm ngành công nghiệp và xâydựng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP của cả nền kinh tế, bình quân cả thời kìtăng 10,9%/năm,tốc độ tăng khá nhanh và liên tục Giai đoạn 2001-2005 tăng8,7%/năm; thời kỳ 2006-2010 tăng 6,38%/năm, và tăng 6,92%/năm giai đoạn 2011-2015

 Dịch vụ

Trang 3

Dịch vụ là khu vực phản ánh rõ nhất sự biến đổi của kinh tế Việt Nam Trong thời kỳ2001-2005 tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,0%/năm Giai đoạn 2006-2010 đạt7,64%/năm và 6,32%/năm (2011-2015)

Bảng 1: tăng trưởng toàn nền kinh tế qua các giai đoạn,% so với cùng kỳ

Nguồn tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê

Nhìn chung cả 3 khu vực đều có sự thay đổi qua mỗi thời kỳ Trong thời kỳ 2001-2008,nông nghiệp gặp khó khăn do hạn hán kéo dài ,dịch cúm gia cầm lan rộng,bão lũ xảy

ra liên tục…,nhưng nhờ thủy sản vẫn tăng khá nên tăng trưởng chung của nhóm ngànhvẫn đạt khoảng bình quân 4%/năm Năm 2010 gặp một số khó khăn do hạn hán ,sâubệnh và mưa lũ tại một số địa phương nên tốc độ tăng trưởng có phần giảm sút ,chỉcòn ,1,82%/năm

Về công nghiệp,trong thời kì 1991-2008 tốc độ tăng trưởng đạt mức cao ở một sốngành như than,da,gỗ…Và trong những năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ của cácngành sản xuất và lắp ráp ô tô,xe máy,thết bị máy tính,điện…đã đóng góp đáng kể vàotăng trưởng chung của toàn ngành

Về dịch vụ,tổng thể tăng trưởng khá cao và ổn định Tuy nhiên,năm 2008 tốc độ tăngtrưởng giảm nhẹ còn 7,37% nguyên nhân do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế

1.3/ Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu vào

Trang 4

Các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân tố có tác động trực tiếpđến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao gồm vốn, lao động, tiến bộ côngnghệ và tài nguyên.

1.3.1, Đầu tư và tích lũy vốn

Đầu tư và vốn là yếu tố đầu vào có vai trò quan trọng,có những tác động trực tiếp đếntăng trưởng của nền kinh tế Về vốn: Vốn gồm có vốn sản xuất và vốn đầu tư Trong

đó vốn sản xuất được hiểu là vốn vật chất,đó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũylại của nền kinh tế ,gồm: nhà máy,thiết bị,máy móc,nhà xưởng… Vốn đẩu tư đượchình thành từ nhều nguồn khác nhau nhưng tổng vốn đầu tư toàn xã hội phụ thuộcnhiều vào đầu tư nước ngoài và nguồn vốn đầu tư huy động chưa hợp lí vì tỉ trọng vốndầu tư nước ngoài đã tăng lên rất nhanh trong thời kì 1990-1996 ,trong khi tỉ trọng vốncủa khu vực dân cư và tư nhân lại liên tục giảm, mà đây chính là nguồn vốn có hiệuquả kinh tế cao nhất và là nguồn vốn nội lực quan trọng nhất của Việt Nam

Vốn được đánh giá vai trò khá cao trong sự góp phần vào bước đầu của sự phát triểnđất nước

1.3.2, Yếu tố lao động

Lao động là một trong những yếu tố không thể thiếu của sản xuất Lao động bao gồmnhững yếu tố vật chất và phi vật chất Đó là số lượng lao động của đất nước Về khíacạnh phi vật chất ,là vốn con người,là lao động có kỹ năng sản xuất ,lao động có thểvận hành máy móc,thiết bị phức tạp…Nhắc đến lao động là nhắc đến con người,nhữngcon người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chứcchặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững

Trang 5

1.3.3,Đóng góp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế

Bảng 2: số liệu về sự đống góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư, số lượng lao động

và của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)

độ tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷtrọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay

Điều đó cũng chứng tỏ, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đi theo hướng tăng trưởng về

số lượng, chưa chuyển sang tăng trưởng về chất lượng, vẫn chủ yếu phát triển theochiều rộng, chưa chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

1.4/ Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu ra

1.4.1, Tiêu dùng cuối cùng

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng Do quy mô GDP củaViệt Nam còn thấp, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng hiện đang chiếm tỷ trọng lớntrong GDP (trên dưới 70%); mức tiêu dùng bình quân đầu người trong nhiều năm cònthấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm liên tục tăng trên 7%, gầnbằng với tốc độ tăng của GDP)

Tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường ngày một chiếm tỷ trọng lớn,

do tốc độ tăng qua các năm gần đây liên tục tăng hai chữ số (năm 2002 tăng 11,2%,

Trang 6

năm 2003 tăng 15,2%, năm 2004 tăng 10,8%, năm 2005 tăng 11,3%, năm 2006 tăng12,5%, năm 2007 tăng 11,4%) Khi tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thịtrường tăng nhanh và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế thì một mặt nó hấp dẫncác nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác tạo áp lực tăng cung tiền tệ, tạo áp lực lạm phát.

Bảng 3:Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Ước tính tháng 12 năm 2015 (Tỷ đồng)

Ước tính năm 2015

Ước tính tháng 12năm 2015 (Tỷ đồng)

Tổng mức(Tỷ đồng)

Cơ cấu(%)

Trang 7

1997-1998 giảm xuống đạt 1,2%/năm năm 1999 Từ năm 2000 đến nay tốc độ tăngtrưởng đầu tư đã tăng trở lại và đạt bình quân 10,5%/năm.

Đầu tư là một nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao củaViệt Nam

1.4.3, Chi tiêu chính phủ

Các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng, trong một số trường hợp sự cắt giảmquy mô chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trườnghợp khác sự gia tăng chi tiêu chính phủ lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế Cụ thể, cácnghiên cứu đã chỉ rõ ra rằng nếu chi tiêu chính phủ bằng không sẽ dẫn đến tăng trưởngkinh tế rất thấp, bởi vì việc thực thi các hợp đồng kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản,phát triển cơ sở hạ tầng… sẽ rất khó khăn nếu không có chính phủ Tuy nhiên, chi tiêuchính phủ - một khi đã vượt quá ngưỡng cần thiết sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế do gây

ra sự phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả Tuy các nhà kinh tế còn bất đồng

về con số chính xác nhưng về cơ bản họ thống nhất với nhau rằng, mức chi tiêu chínhphủ tối ưu tối với tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng từ 15 đến 25% GDP

1.4.4, Xuất khẩu ròng

Xuất khẩu ròng là sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khảu Việt Nam đã trải qua

giai đoạn thâm hụt thương mại triền miên Mức độ thâm hụt lên đến mức đỉnh 18 tỷ đô

la, bằng 20% GDP vào năm 2008 Cán cân thương mại được cải thiện dần từ đó, vàđến năm 2012, Việt Nam đã công bố thặng dư – lần đầu tiên kể từ 1992 - nhờ tăngtrưởng xuất khẩu mạnh mẽ và nhập khẩu giảm Trong khi tổng thể nền kinh tế đangchịu thâm hụt thương mại, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ghi nhận thặng dư.Khi mà nhập khẩu bắt đầu phục hồi trong nửa đầu của năm 2013, dự kiến thặng dư

1.5/ Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kì đổi mới

1.5.1, Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a, Cơ cấu nhóm ngành kinh tế

Trang 8

Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có

sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nôngnghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000;20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP

đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDPchưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi

Bảng 4: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 1991-2014

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê  

b, Cơ cấu thành phần kinh tế

Trang 9

Cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển biến khá rõ rệt Kinh tế tư nhân được pháttriển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà phápluật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạothuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, baocấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụngcác nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Tỉ trọng vốnđầu tư từ khu vực nhà nước có xu hướng giảm dần từ năm 2001 đến nay,tỉ trọng vốn

từ khu vực ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng,từ 20,6% lên 40,0% (2001-2008)

Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm trong các năm 2003-2004,tuy nhiênnăm 2008 đã đánh dấu sự gia tăng trở lại của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,với tốc

độ tăng trưởng 17,8%/năm

Bảng 5: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần

kinh tế(%)

2011TỔNG SỐ 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00Phân theo thành

phần kinh tế

Kinh tế Nhà nước 38,40 35,93 35,54 35,14 33,74 33,03Kinh tế ngoài

Nhà nước 45,61 46,11 46,03 46,53 47,54 48,00Kinh tế tập thể 6,81 6,21 5,66 5,45 5,35 5,22Kinh tế tư nhân 8,89 10,18 10,50 11,02 11,33 11,57Kinh tế cá thể 29,91 29,72 29,87 30,06 30,86 31,21Khu vực có vốn

đầu tư nước ngoài 15,99 17,96 18,43 18,33 18,72 18,97

Nguồn : Tổng cục thống kê 1.5.2, Đánh giá hiệu quả kinh tế

a, Năng suất lao động của nền kinh tế

Trang 10

Năng suất lao động xã hội của nước ta còn rất thấp so với những nước trong khu vực.

So sánh năng suất lao động Việt Nam và các nước ASEAN. Năm 2013 NSLĐ của Việt

Nam, tính theo sức mua tương đương của đồng đô la Mỹ tại thời điểm 2005 ($PPP,2005) là 5.440 USD, cao hơn của Myanma (2.828), Campuchia (3.989) và Lào (5.396USD); thấp hơn của các nước còn lại trong khối ASEAN: Indonesia (9.848 USD),Philipine (10.026), Thái Lan (14.754), Malaxia (35.751), và Singapore (98.072 USD)

Về tốc độ, thời kỳ 2006-2012, tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam đạt 3,6%, cao hơnmức trung bình chung của ASEAN (2,84%), Việt Nam thuộc nhóm nước có tốc tăngNSLĐ ở mức trung bình (thấp hơn của Trung Quốc (8,48%), Ấn Độ (5,99%), nhưngcao hơn Malaysia (1,4%), Thái Lan (2,2%) Mặc dù, năng suất lao động của Việt Namvẫn còn thấp nhưng xét về khoảng cách năng suất lao động giữa Việt Nam với cácquốc gia có năng suất lao động cao thì đang có sự thu hẹp khoảng cách tích cực còn1.98 lần

b, Hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế

Hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam còn thấp,giảm mạnh Chỉ số ICOR tăng mạnhtrong giai đoạn 1991-2008 Nếu như trong năm 1991,hệ số ICOR là 2,9,thì năm2008,hệ số này là 6,66,đây là sự sụt giảm nghiêm trọng Trong 17 năm (1991-2008),hệ

số ICOR tăng 2,3 lần So với các nước trong khu vực ,ICOR của Việt Nam gần gấpđôi,tức hiệu suất đầu tư của ta chỉ bằng một nửa Việc có hiệu quả sử dụng nguồn vốnkém cỏi không chỉ khiến Việt Nam đánh mất cơ hội phát triển, mà còn tạo ra nhữnghậu quả nghiêm trọng đem lại những tác động rất xấu về lâu dài Một trong số đó làgánh nặng nợ công sẽ ngày càng gia tăng Nợ công Việt Nam hiện nay đang ở mứctrên 62% GDP và sắp chạm ngưỡng giới hạn là 65% GDP, tuy nhiên nếu thống kê cáccon số chi tiết thì sẽ khiến không ít người phải lo ngại

c, Tỉ lệ chi phí trung gian

Để phát triển kinh tế bền vững, chúng ta cần giảm thiểu chi phí trung gian đến mứcthấp nhất Nhìn chung, chi phí trung gian tăng lên thường xuyên qua các năm diễn ra ởngành công nghiệp, đây là dấu hiệu của quá trình sản xuất kém hiệu quả Sự gia tăngcủa chi phí trung gian thể hiện sử dụng lãng phí vật tư sản xuất Bởi vì phải chi ra ngày

Trang 11

một nhiều hơn chi phí vật chất và dịch vụ để làm ra một đơn vị sản phẩm Nếu tìnhtrạng này cứ tái diễn sẽ phá vỡ tính bền vững của sản xuất Công nghiệp là lĩnh vực sửdụng nhiều tài nguyên không thể tái tạo được Nếu sử dụng kém hiệu quả thì trongtương lai sẽ không còn nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất Vì thế tiết kiệm nguyênliệu không có khả năng tái tạo là điều vô cùng quan trọng để đảm bảo cho sự phát triểnbền vững trong tương lai.

1.5.3, Đánh giá sức cạnh tranh của nền kinh tế

a,Năng lực cạnh tranh của các doanh ngiệp sản xuất trong nước

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu

tố đóng vai trò quyết định Sau 5 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam đã được cải thiện Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sốlượng và chất lượng doanh nghiệp Việt Nam ngày càng được tăng lên Tốc độ tăngkim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm 2007-2011 là 19,25%/năm, cao hơn mức18,1%/năm của thời kỳ 5 năm 2001-2005 trước khi nước ta gia nhập WTO Kim ngạchxuất khẩu bình quân theo đầu người năm 2010 đạt 914,4 USD/người so với 559,2USD/người của năm 2006, tăng gấp gần 2 lần Thị trường tiêu thụ hàng hóa của ViệtNam ngày càng được mở rộng, giá nhiều mặt hàng xuất khẩu cũng tăng hơn trước.Không chỉ tăng về lượng, mà cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng cónhững thay đổi theo hướng tích cực Có thêm nhiều mặt hàng xuất khẩu mới, như tráicây, hoa, rau Quy mô thị trường cũng được mở rộng, đến năm 2010 đã có 19 thịtrường Việt Nam xuất khẩu đạt từ 1 tỉ USD trở lên

Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một công việc khôngđơn giản Thực tế cho thấy, trong 5 năm qua, sức cạnh tranh của doanh nghiệp ViệtNam trên thị trường thế giới chưa được cải thiện đáng kể, sức cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO vẫn còn thấp, độ ổn định chưa cao Đa sốcác doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, thị phần hạn hẹp, tiềm lực khoa học -công nghệ yếu, chưa có thương hiệu nổi tiếng; sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu làmgia công, nên phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào; chất lượng nhân lực

Trang 12

của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ người lao động qua đàotạo thấp…

b, Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước

Hiện nay sản phẩm của Việt Nam được chia thành ba nhóm: nhóm các sản phẩm cóthế mạnh xuất khẩu; nhóm các sản phẩm có thế cạnh tranh trong tương lai,nhưng hiệnvẫn cần được bảo hộ; nhóm các sản phẩm không thể cạnh tranh quốc tế

Nhóm thứ nhất gồm gạo, cà phê, hạt tiêu, dầu thô, dệt may…là những mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực quan trọng của Việt Nam

Nhóm thứ hai gồm những ngành như sản xuất bánh kẹo,phân bón… đang trong tìnhtrạng cạnh tranh mạnh với hàng nhập khẩu, cần được nhà nước bảo hộ ,nếu không dễ

bị phá sản

Nhóm thứ ba gồm các sản phẩm như sắt, thép, giấy… không phải là lợi thế cạnh tranhcủa Việt Nam, hầu hết do các các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cung cấp

c, Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung

Nhìn chung năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam không được khả quan Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thực hiện tại 140 nước cho thấy,Việt Nam đứng thứ 56 trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn 2015– 2016, tăng 12 bậc so với vị trí 68 trong giai đoạn 2014-2015

Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn 2015 – 2016 của WEF.

Trang 13

Theo đánh giá của WEF ,Việt Nam còn rất yếu kém về đổi mới công nghệ và chậm trễtrong cải cách thể chế và hành chính Nước ta đã chính thức trở thành thành viên của

Tổ chức Thương mại Thế giới nên sẽ phải đương đầu vói những sức ép cạnh tranhmạnh hơn, vì vậy cần kịp thời cải thiện các tiêu chí về cạnh tranh nếu không sẽ gâykhó khăn trở ngại rất lớn cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế

1.5.4, Đánh giá về giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động

Theo số liệu báo cáo của Trung ương, trong giai đoạn từ năm 2012- 2015, mặc dù nềnkinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng cả nước vẫn đạt các mục tiêu và chỉ tiêu về lao động

và việc làm Cụ thể, cả nước đã giải quyết việc làm cho khoảng 6,26 triệu lao động,bình quân mỗi năm có khoảng 1,6 triệu lao động được giải quyết việc làm Riêng trong

5 tháng đầu năm 2015, đã giải quyết việc làm cho khoảng 597 ngàn lao động Tronggiai đoạn từ 2012-2014, đã có 274 ngàn lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,bình quân mỗi năm đưa được trên 91 ngàn lao động ra nước ngoài làm việc, tức bằng0,55% tổng số lao động được giải quyết việc làm Đến cuối năm 2014, tổng số laođộng làm việc trong các ngành kinh tế đạt 53,44 triệu người, tăng 1,04 lần so với năm

2012, bình quân mỗi năm tăng 1,9% Trong đó, lao động trong độ tuổi đang làm việctrong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thủy sản chiếm 46,6%; công nghiệp và xâydựng chiếm 21,4% và dịch vụ chiếm 32% Tỷ lệ thất nghiệp chung và tỷ lệ thiếu việclàm của lao động trong độ tuổi tiếp tục giảm, tương ứng là 2,08% và 2,45% (năm 2012

là 2,18% và 2,74%). Có những dấu hiệu khả quan cho vấn đề giải quyết việc làm,tuynhiên đây vẫn là một vấn đề nan giải của Việt Nam

1.5.5, Đánh giá về xóa đói giảm nghèo

Trong những năm qua, Việt Nam được thế giới chú ý bởi những thành tựu trong côngtác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân Chương trình quốc gia

về xóa đói giảm nghèo và việc làm là hoàn thành việc phát triển kết cấu hạ tầng chocác xã nghèo vào năm 2010; nâng cao mức thu nhập và mức sống của người nghèo,giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10%-11% vào năm 2010, góp phần đạt được mục tiêuPhát triển Thiên niên kỷ Theo tổng kết của Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc(UNDP), trong điều kiện kinh tế - xã hội của mình, so với các nước có cùng tổng sảnphẩm quốc nội (GDP), Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có được một cách hiệu

Trang 14

quả vào công tác nâng cao mức sống người dân, trình độ dân trí, tuổi thọ,…Tuy vậy,bên cạnh đó, công tác xóa đói, giảm nghèo vẫn còn nhiều bất cập làm ảnh hưởngkhông nhỏ tới mục tiêu công bằng xã hội trong tiến trình phát triển bền vững của ViệtNam Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008, số liệu điều tra hộ gia đình năm 2006khẳng định xu hướng giảm nghèo ở Việt Nam đang tiếp tục diễn ra, với tỷ lệ hộ giađình sống dưới ngưỡng nghèo chỉ còn 16%, so với 28,9% năm 2002, và 58,1% năm

1993 Dựa vào thước đo theo chi phí cho một rổ hàng hóa như đã đề cập ở trên, theoước tính, trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã giảm nghèo cho hơn 42% dân số,tương đương với 35 triệu người

1.5.6, Đánh giá về nâng cao phúc lợi xã hội

a, Giáo dục đào tạo

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước

về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quantrọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từmầm non đến đại học Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt vàtừng bước hiện đại hóa Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dụcđại học và giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ Đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấungày càng hợp lý Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngânsách nhà nước Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạongoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xãhội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định

Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dụcmầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn Cơhội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và cácđối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Trang 15

 Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất làgiáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả.Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹthuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

b, Những tiến bộ về y tế và chăm sóc sức khỏe

Việt Nam đã được Cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đánh giá là một trongcác nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP), cụ thể:Các chỉ số về tình trạng sức khỏe của người dân đều đạt mức tương đương hoặc tốthơn các quốc gia có cùng mức phát triển kinh tế Công tác chăm sóc sức khỏe nhândân đã hướng tới việc phục vụ người bệnh với số lượng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn,hiệu quả và công bằng hơn Y học dự phòng đã hoàn toàn chủ động kiểm soát tốt cácdịch bệnh nguy hiểm mới nổi; Công tác khám, chữa bệnh đã phát triển được nhiềucông nghệ kỹ thuật cao, ngang tầm khu vực Nhiều phương pháp phẫu thuật mang

“nhãn hiệu Việt Nam” được ứng dụng sáng tạo, tiết kiệm chi phí mà hiệu quả cao,được các bác sĩ nước ngoài đến học hỏi và đồng nghiệp quốc tế đánh giá cao Mặc dùchuyên ngành ghép tạng của Việt Nam ra đời muộn hơn nhưng hiện nay kỹ thuật ghéptạng, ghép nối các bộ phận trên cơ thể người của các bác sỹ Việt Nam không thua kémbất cứ một nước nào trên thế giới, khiến bạn bè quốc tế thán phục Ngoài ra, Việt Namcòn là một trong số rất ít quốc gia trong khu vực có thể tự sản xuất được vắc xin đểphòng chống dịch bệnh, ngày 22/6/2015 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viênthứ 37 được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận đạt tiêu chuẩn cơ quan quản lýquốc gia về văcxin (NRA)

Thống kê các đơn vị đào tạo cho ngành khoa học sức khỏe, cho thấy, Việt Nam hiện

có hơn 20 trường ĐH đào tạo nhân lực y tế với các chuyên ngành bác sĩ, điều dưỡng,dược sĩ 35 trường CĐ y, dược đào tạo điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ , cùng 44trường trung cấp và 16 viện, bệnh viện đào tạo sau ĐH mỗi năm nước ta đào tạo được6.500 bác sĩ, 2.800 dược sĩ, 5.000 cử nhân điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng

và 5.100 cán bộ y tế có trình độ sau đại học Chỉ tính riêng số cán bộ y tế trình độ ĐHđược đào tạo theo địa chỉ tăng liên tục: Năm 2008 có 1.775 người; năm 2009 là 2.305người; năm 2010 là 3.617 người và năm 2012 là 3.642 người Tuy nhiên, Bộ Y tế cũngthừa nhận: Chất lượng đào tạo nhân lực y tế còn nhiều bất cập Sinh viên, học sinh

Trang 16

ngành y ra trường chưa có khả năng làm việc độc lập, chất lượng sản phẩm đào tạo cáctrường cũng khác nhau  

Theo số liệu chung về nhân lực của hệ thống y tế hiện cả nước có khoảng 345.000nhân viên y tế, trong đó số lượng bác sĩ là trên 55 nghìn người tương đương với tỷ lệ

16,1% tổng số nhân viên y tế và tương ứng với tỷ lệ 7,2 bác sĩ/ 1 vạn dân Nhìn chung

tỷ lệ nhân viện y tế trên vạn dân của Việt Nam cũng được xếp vào nhóm có tỷ lệ caotrên thế giới Tuy nhiên, vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực như Thái Lan,Singapore, Malayxia, Phillippines và tương đương với Indonexia. 

Số lượng nhân viên y tế ở địa phương chiếm tỷ lệ: 78,6%; tuyến trung ương: 11,6% và

y tế ngành: 9,7% của tổng số nhân viên y tế trên cả nước Số nhân viên y tế có trình độcao chủ yếu tập trung ở tuyến trung ương cụ thể: Số nhân viên có trình độ tiến sĩ y ởtuyến trung ương chiếm 70,1%; tiến sĩ dược chiếm 96,3%; thạc sĩ y chiếm 40,1%, thạc

sĩ dược chiếm 62,7%, trình độ điều dưỡng - kỹ thuật viên - hộ sinh đại học chiếm25,4%. 

 Về số lượng nhân viên y tế ở các bệnh viện đạt tỷ lệ thấp so với quy định chung vềđịnh mức biên chế Tại các bệnh viện lớn, cũng chỉ đạt khoảng 60 - 70% như bệnhviện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh với 1300 giường bệnh cần 296 bác sĩ, nhưngchỉ có 178 bác sĩ đạt 60%; bệnh viện Nhi đồng 1 số bác sĩ chỉ đạt 67% so với nhu cầu

c, Các chi số đánh giá mức phát triển con người

- Chỉ số phát triển con người HDI

Chỉ số phát triển con người là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biếtchữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới

Trong những năm qua chỉ số HDI ở nước ta có tăng nhưng HDI của nước ta trongnhững năm gần đây đang ở tình trạng có các chỉ số thành phần vận động không đềugiữa chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục và chỉ số kinh tế Chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế

có tăng lên song trong giai đoạn 2001-2005 chỉ số giáo dục giảm đi bằng 3/5 mức tăngcủa chỉ số kinh tế.Theo HDR năm 2013 của UNDP: HDI của Việt Nam đã tăng 41%trong vòng hai thập kỷ qua Năm 2012, Việt Nam đứng thứ 127/187 quốc gia

- Chỉ số nghèo về con người đối với những nước đang phát triển HPI

Trang 17

HPI là chỉ số đo lường mức độ nghèo khổ của con người trên ba phương diện cơ bản:tuổi thọ, hiểu biết và mức sống Liên hợp Quốc sử dụng HPI-1 cho các nước đang pháttriển Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếuthông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng nhữngnhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩnnghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều doChính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá làthấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫnnằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còncao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.

Từ 1997 đến nay, chỉ số HPI của Việt Nam và vị trí xếp hạng của Việt Nam trong sốcác nước đang phát triển được tính HPI-1 đã có những thay đổi tích cực: năm 1999Việt Nam xếp thứ 51 trong số 92 nước đang phát triển được tính HPI-1; năm 2000Việt Nam xếp thứ 47/85; năm 2001 Việt Nam xếp thứ 45/90 Trong Báo cáo Phát triểncon người của UNDP năm 2003 (HDR 2003), với giá trị là 19,9%, Việt Nam đứng thứ39/94 trong bảng xếp hạng HPI-1 Trong HDR 2004, với giá trị là 20,0%, Việt Namđứng thứ 41/95 trong bảng xếp hạng HPI-1.( Trong thành phần chỉ số HPI-1, tỷ lệ dânkhông được sử dụng các nguồn nước sạch ở Việt Nam đã giảm từ 57% năm 1997xuống còn 44% năm 2001, 23% năm 2003 và 23% năm 2004 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổisuy dinh dưỡng cũng giảm từ 45% năm 1997 xuống còn 41% năm 1999, 41% năm

2000, 39% năm 2001, 33% năm 2003, 2004 và 2005

1.5.7, Thực trạng tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

Qua gần 25 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trongviệc thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội.Điểm quan trọng là đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế vàtiến bộ, công bằng xã hội Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể đãchuyển sang tinh thần năng động, chủ động và tích cực xã hội của tất cả các tầng lớpdân cư Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu tượng;thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân,

(

Trang 18

cào bằng, đã từng bước thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quảkinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sảnxuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Nhờ vậy, công bằng xã hội được thểhiện ngày một rõ hơn Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách kinh tế

đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem trình độ phát triểnkinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xãhội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế đi đôi vớibảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Từ chỗ Nhànước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sangthiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động tham gia tạoviệc làm Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyếnkhích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, coi việcmột bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Từ chỗ muốn nhanhchóng xây dựng một cơ cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn giai cấp công nhân, giai cấpnông dân tập thể và tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm về việc xây dựng một cộngđồng xã hội đa dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyềnlợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh Đãcoi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu

để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Thực hiện công bằng xãhội trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện để ai cũng được họchành; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo

Nhờ đổi mới tư duy về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xãhội nên kinh tế tăng trưởng khá nhanh và liên tục trong nhiều năm Trong điều kiệnkhủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 - 2008, Việt Nam vẫn là nước có tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá và là một trong số ít nước có tăng trưởng kinh tế dương trong năm

2009 Việt Nam sớm khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế và có nhiều triển vọng tiếptục tăng trưởng kinh tế khá cao trong những năm tiếp theo

Nhìn chung, sau gần 25 năm đổi mới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với pháttriển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải quyết mộtcách khá hiệu quả Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế,

Trang 19

mọi tầng lớp dân cư Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệthống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chínhtrị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trườngquốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều,tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp Những thànhtựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thựctiễn Việt Nam.

1.5.8, Thực trạng tăng trưởng và bảo vệ môi trường

Trong thời gian qua Việt Nam có sự phát triển tăng trưởng cao,tuy nhiên chính sự pháttriển đó tiềm ẩn những hủy hoại về môi trường sinh thái Hiện tượng sử dụng và khaithác bừa bãi, lãng phí tài nguyên thiên nhiên đã gây suy thoái môi trường nặng nề Tuycác hoạt động bảo về môi trường đã có những tiến bộ đáng kể, như diện tích rừng chephủ ( từ 27,2% năm 1990 lên 37,4% năm 2005), bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạngsinh học, số hộ được sử dụng nước sạch ở nông thôn tăng (từ 18% năm 1993 lên 62%năm 2005)…nhưng mức độ ô nhiêm ,mức độ suy thoái đang tiếp tục gia tăng, ảnhhưởng rất lớn đến sức khỏe con người Công nghệ lạc hâu, yếu kém được sử dụngtrong nền kinh tế hiện nay là một nguyên nhân dẫn đến hao phí và thất thoát tàinguyên, bên cạnh đó còn do cư dân khai thác bừa bãi

Mặc dù Việt Nam đạt được những tành tựu rất đáng khích lệ trong hơn 15 năm qua,với tốc độ tăng trưởng cao và giảm nghèo bền vững, mối quan hệ giữa tăng trưởng vàphát triển, giữa tăng trưởng và tiến bộ y tế và chăm sóc sức khỏe nhìn chung đã đượcgiải quyết một cách tích cực Tuy nhiên Việt Nam cần có những thay đổi để tăngtrưởng kinh tế mạnh mẽ gắn liền với môi trường xanh, sạch, đẹp

2, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NƯỚC TA

2.1/ Cơ hội và thách thức đối với tăng trưởng kinh tế nước ta trong những năm tới

2.1.1, Cơ hội trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Trang 20

Năm 2016, nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi khi các hiệp định mới đã hìnhthành, đang ký kết nói chung sẽ mở ra cơ hội lớn trong việc huy động vốn, mở ra khảnăng xuất khẩu, giải quyết thị trường lao động Từ đó sẽ tạo ra những điều kiện rất tốt

để chúng ta hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn, sức cạnh tranh của chúng ta được cảithiện tốt hơn, góp phần tăng thêm thu nhập cho người lao động Đây cũng là dịp đểchúng ta nâng vị trí của mình thêm một bước trên trường quốc tế

Một thuận lợi khác là qua nhiều năm bị khủng hoảng tài chính tiền tệ, kinh tế, doanhnghiệp đi xuống, rời thị trường nhiều, nhưng trong năm 2015 nền kinh tế đã phục hồi.Kết quả chỉ tiêu của năm 2015 tương đối toàn diện, doanh nghiệp đã bắt đầu hồi sức,trở lại thị trường nhanh hơn, tốt hơn Bên cạnh đó chúng ta đã một bước hoàn thành hệthống thể chế, giải quyết được những vấn đề tồn tại, giải phóng sức lao động, tạo sựvươn lên của doanh nghiệp Quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp, ngân hàng, đã cónhững kết quả ban đầu, cách điều hành tập trung hơn, những khó khăn của doanhnghiệp đã dần được tháo gỡ

Ngoài ra, năm 2016 chúng ta còn tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, sẽchọn lựa được đội ngũ lãnh đạo mới, góp phần tạo ra động lực phấn đấu hơn Đó lànhững thuận lợi cơ bản để chúng ta vững tin bước vào năm 2016

2.1.2, Thách thức trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bên cạnh những thuận lợi nền kinh tế Việt Nam cũng đang đứng trước những tháchthức rất lớn, thậm chí còn lớn hơn cả năm 2015 Tình hình biến đổi khí hậu đã và đanghoành hành, biểu hiện rất rõ, ảnh hưởng rất lớn đến nền nông nghiệp Rồi khó khăn từvòng xoáy của giá nông sản, thực phẩm đang giảm trên phạm vi toàn thế giới Mặtkhác chúng ta cũng bị ảnh hưởng do tác động của nền kinh tế thế giới phục hồi khôngđều

Trong bối cảnh đó, việc Mỹ tăng lãi suất cho vay, dòng vốn thế giới sẽ hút về nhữngnước phát triển như Mỹ, làm đồng tiền đô la mạnh lên, các đồng tiền khác thay đổi.Chúng ta cũng phải thay đổi thông qua tỷ giá, làm đảo lộn tình hình sản xuất kinhdoanh Hay thị trường chứng khoán, bảo hiểm cũng đang khó khăn, tuy phục hồinhưng chưa thực sự vững chắc

Trang 21

Ngay cả khi đã kiện toàn Đại hội ở cấp trung ương và địa phương, các cán bộ được lựachọn vẫn chưa quen và mới đang bắt đầu thâm nhập làm quen dần Khi hội nhập thịtrường theo những diễn biến của thế giới, kéo theo những tiêu cực về thủ tục hànhchính, tham nhũng, gây ra những tác động không tích cực, tạo thách thức lớn.

Năm 2016, thời cơ rất lớn nhưng khó khăn cũng rất nhiều, trong đó khó khăn đã hiệnhữu rồi nhưng thời cơ thì vẫn còn đang ở dạng lý thuyết Vì vậy, chúng ta cần biếnthách thức thành cơ hội, để hiện thực hóa điều này, đòi hỏi phải có vai trò chỉ đạo vàlinh hoạt trong chỉ đạo điều hành, có phân cấp, phân quyền để tạo cho người dân vàdoanh nghiệp làm chủ thực sự Con người đóng vai trò quyết định, nếu chúng ta dũngcảm nhìn thẳng vào những sai lầm để sửa chữa, có quyết tâm lớn cộng với sự ý thứccủa người dân chắc chắn chúng ta sẽ tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức đểvươn lên trong năm 2016

2.2/ Mục tiêu và định hướng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

2.2.1, Mục tiêu chủ yếu về tăng trưởng phát triển kinh tế, xã hội, môi trường ở nước ta a) Về kinh tế

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 8%/năm GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDPbình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD

-Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp,dịch vụ hiện đại, hiệu quả Tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng85% trong GDP Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệcao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếmkhoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Nông nghiệp có bước phát triểntheo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỉ lệ lao động nôngnghiệp khoảng 30 - 35% lao động xã hội

Trang 22

Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%; giảm tiêu haonăng lượng tính trên GDP 2,5 - 3%/năm Thực hành tiết kiệm trong sử dụng mọinguồn lực.

Kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại Tỉ lệ đô thị hoá đạttrên 45% Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%

b) Về xã hội

Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh Đến năm 2020,chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăngdân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ và 26giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạođạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm bìnhquân 1,5 - 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồngđược bảo đảm Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thuhẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư Xoá nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà

ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân

Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học vàcông nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại Số sinh viên đạt 450 trên mộtvạn dân

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnhphúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ýthức công dân, tuân thủ pháp luật

c) Về môi trường

Cải thiện chất lượng môi trường Đến năm 2020, tỉ lệ che phủ rừng đạt 45% Hầu hếtdân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh Các cơ sở sảnxuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bịgiảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêuchuẩn về môi trường Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu

Trang 23

chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung 95% chất thải rắn thông thường, 85%chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn Cải thiện và phụchồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ độngứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng.

2.2.2, Định hướng thúc đẩy tăng trưởng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hìnhthành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển đổi môhình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữachiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệuquả, tính bền vững Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngànhsản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điềuchỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnhtranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức.Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh

- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn địnhkinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

- Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng

và sức cạnh tranh

- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững

- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn

và có sức cạnh tranh

- Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông

- Phát triển hài hoà, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới

- Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế

- Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻnhân dân

Trang 24

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục

2.3/ Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao chất lượng kinh tế nước ta trong những năm tới

2.3.1, Huy động các nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế

a, Huy động vốn trong nước

Trong những năm tới, cần tăng nhanh tỉ lệ tiết kiệm dành cho đầu tư, coi tiết kiệm làquốc sách, có những biện pháp tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng ở tất cả các khuvực Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình để dồn vốn cho phát triển sản xuất Đa dạnghoá các hình thức huy động vốn, nhất là hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ, mởrộng và phát triển các tổ chức tài chính trung gian như: Hệ thống các công ty tàichính , các doanh nghiệp bảo hiểm Song song với việc huy động vốn ngắn hạn, cầntăng tỉ trọng huy động vốn trung- dài hạn Mục tiêu phấn đấu là phải huy động đượctrên 60% tổng nhu cầu vốn đầu tư từ các nguồn trong nước

b, Huy động vốn nước ngoài

Trong các nguốn vốn đầu tư nước ngoài, tập trung thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vì

nó không chỉ tạo vốn phát triển kinh tế mà còn tạo cơ hội để trực tiếp đưa kỹ thuật,công nghệ từ bên ngoài vào, giải quyết công ăn việc làm cho cho lao động trong nước,tạo ra sản phẩm cho tiêu dùng và cho xuất khẩu Cần tập trung vào khai thác các khoảnviện trợ phát triển chính thức (ODA), nhưng cần hoàn tất sớm các công việc chuẩn bị

để tiếp nhận nhanh nguồn vốn này Việc phát hành trái phiếu quốc tế cần cân nhắc kỹ

Trang 25

các điều kiện vay và khả năng trả nợ Không vay thương mại để đầu tư cho cơ sở hạtầng và những công trình không mang lại lợi nhuận.

c, Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Mục tiêu đặt ra: Trong vòng 10 năm chúng ta phải đẩy mạnh huy động vốn từ 6-8 tỷ $

từ nguồn ODA và nguồn tài trợ đa phương của các tổ chức Quốc tế Nguồn vốn ODA

6 tháng đầu năm 2000 được chính thức hoá bằng các hiệp định ký kết với các nhà tàitrợ đạt 1.068,8 triệu $ (gồm 906 triệu $ vốn vay và 104,8 triệu $ vốn viện trợ khônghoàn lại) Số vốn giải ngân ước đạt 785 triệu $, đạt 46,3% kế hoạch năm (trong đó vốnvay 655 triệu $, vốn viện trợ không hoàn lại 130 triệu $)

d, Nguồn viện trợ nước ngoài

Từ năm 1990 viện trợ của các tổ chức Liên hiệp quốc cho Việt Nam khoảng 50-60triệu $/năm

e, Các nguồn vốn khác

Trong thời gian qua chúng ta đã có chính sách, cơ chế huy động vốn thích hợp, gópphần tạo điều kiện khai thác những nguồn vốn trong nước và nước ngoài một cách cóhiệu quả Nhờ đó chúng ta đã huy động được một lượng vốn lớn để bù đắp thiếu hụtNSNN và để đầu tư phát triển kinh tế, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, kiềm chếlạm phát Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì trong thời gian qua côngtác huy động vốn của ta còn nhiều hạn chế Để khắc phục những tồn tại và nâng caohiệu quả huy động vốn, cần có những chính sách, giải pháp hữu hiệu hợp lý hơn

f, Các kênh thu hút nguồn vốn

Để tăng cường công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển, phục vụ sự công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tế cần chú trọng huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế quốcdân huy động vốn ngoài nước

2.3.2, Nâng cao hiệu quả đầu tư

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới, cần quán triệt một số nguyên tắc sau:

Trang 26

Thứ nhất, phối hợp bố trí vốn đầu tư công trên cơ sở quy hoạch đầu tư công được xây

dựng bảo đảm chất lượng cao và ổn định Một mặt, cần coi trọng nâng cao chất lượng

và giữ ổn định các quy hoạch đầu tư phát triển các loại được lập cả ở cấp quốc gia, ngành, cũng như địa phương, coi đây như một căn cứ chủ yếu định hướng đầu tư công,hạn chế và tiến tới không đầu tư công ngồi quy hoạch, phá vỡ quy hoạch hay bất chấp quy hoạch Mặt khác, sự điều chỉnh và hồn thiện các quy hoạch đầu tư đã lập cũng là cần thiết, cần được tiến hành nghiêm túc, có căn cứ xác đáng, có quy trình và thời giannhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại cho các bên liên quan. 

Thứ hai, phối hợp hài hòa các mục tiêu, lợi ích và tính đến tác động hai mặt của dự án

đầu tư công Cần xây dựng bộ tiêu thức phù hợp và chuẩn hóa để tạo căn cứ lựa chọn

và thông qua các dự án đầu tư công theo lĩnh vực và yêu cầu đầu tư, mục tiêu kinh tế -

xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích của quốc gia và địa phương, ngành, ngắn hạn

và dài hạn; có phân biệt hai loại mục tiêu và hai loại tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công - đầu tư vì lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận…

Thứ ba, phối hợp tăng cường tái cơ cấu đầu tư công, phân cấp và đa dạng hóa phương

thức, nguồn vốn đầu tư theo yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội Về dài hạn, cần chủ động giảm thiểu dần đầu tư công, tăng đầu tư ngồi ngân sách nhà nước trong tổng đầu tư xã hội; tiết giảm việc cấp vốn ngân sách cho nhu cầu đầu tư của khối các tổng công ty, tập đồn kinh tế nhà nước và chuyển trọng tâm đầu tư công ra ngồi lĩnh vực kinh tế, để tập trung vào phát triển các lĩnh vực hạ tầng và xã hội Khuyến khích các chủ đầu tư huy động vốn ngồi ngân sách nhà nước để đầu tư theo phương thức “chìa khóa trao tay”, có đặt cọc bảo hành, bảo đảm chất lượng công trình

Thứ tư, phối hợp tuân thủ các quy chuẩn về thủ tục và quy trình đầu tư, thực hiện đấu

thầu thực chất và rộng rãi cho mọi thành  phần kinh tế với các nguồn đầu tư công, tăngcường giám sát, phản biện và kiểm tra, tố giác, xử lý kịp thời và nghiêm khắc các vi phạm đầu tư công bằng các công cụ chế tài về tài chính và hành chính. 

Về tổng thể, cần giảm quy mô đầu tư và đầu tư công cho phù hợp với khả năng của nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và giacông sản xuất, chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu Tái cơ cấu thu, chi ngânsách, thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh” và đồng thời tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi” Đổi mới phân

Trang 27

bổ đầu tư công, gắn với tài chính công, và tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu từ chính sách tài khóa Điều quan trọng nhất là kỷ luật tài khóa và việc nâng cao chất lượng công tác quy hoạch trên cơ sở tôn trọng tính tự phát triển của địa phương, nhưng cũng cần hướng về sự phát triển tổng thể nền kinh tế, tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ.

2.3.3, Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trong thời gian tới, tình hình thế giới [và khu vực] còn nhiều diễn biến phức tạp, quátrình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Các quốc gia tham giangày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Xuất hiện nhiều hình thứcliên kết kinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định songphương, đa phương thế hệ mới Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ cáccam kết trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại

tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạntrước Do vậy, trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hơn nữatrong việc tận dụng các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, vuợt qua các khókhăn thách thức, giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập

Về các giải pháp cụ thể

Một là, các Bộ, ngành và địa phương cần chủ động xây dựng các chương trình, kế

hoạch toàn diện và cụ thể thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW trong bối cảnh thế giớicũng như trong nước có nhiều thay đổi lớn Đồng thời, cần quán triệt chủ trương đúngđắn và kịp thời của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong từng giai đoạn vềhội nhập quốc tế, xác định vai trò trọng tâm của hội nhập kinh tế quốc tế trong tiếntrình hội nhập trong quan điểm, nhận thức và hành động của tất cả các các cấp, cácngành, các ngành, địa phương, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp; cần có sự thốngnhất mục tiêu hội nhập từ trung ương đến địa phương

Hai là, gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với đẩy mạnh cải cách trong nước,

chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế trong tổng thể phát triểnkinh tế - xã hôi đất nước; nhằm bảo đảm tầm nhìn dài hạn về các mục tiêu phát triển

Ngày đăng: 21/03/2023, 16:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w