Danh sách nhóm 1 Hoàng Thị Lan Anh MSV 11140130 2 Phạm Thị Ngọc Anh MSV 11150335 3 Hồ Thị Hồng MSV 11151768 4 Lưu Khánh Linh MSV 11152480 5 Hà Thị Mỹ Linh MSV 11152433 6 Lương Thị Mỹ Linh MSV 11152476[.]
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
An toàn thực phẩm rất quan trọng với sức khỏe của con người, không chỉ ViệtNam mà toàn thế giới quan tâm Rau không thể thiếu trong bữa ăn, là thực phẩm sửdụng hàng ngày và tiêu thụ trong ngày với số lượng lớn Người tiêu dùng quan tâm
an toàn thực phẩm với rau chủ yếu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), trong
đó phụ thuộc phần lớn vào kiến thức kỹ năng canh tác, phòng trừ sâu bệnh, sử dụngthuốc BVTV của người sản xuất
Vì vậy, trong bài thuyết trình này, nhóm chúng em xin trình bày lại “Đề án sảnxuất và tiêu thụ rau an toàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2009 - 2015” và điều chỉnh,
bổ sung một số nội dung trong đề án tại Quyết định số 5975/QĐ-UBND ngày26/12/2011 và Quyết định số 3085/QĐ-UBND ngày 02/7/2015 nhằm thúc đẩy pháttriển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn (RAT) trên địa bàn Thành phố Hà Nội, vớinhững nội dung cụ thể như sau:
Trang 3MỤC LỤC
I SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 5
1 Sự cần thiết xây dựng đề án 5
2 Căn cứ pháp lý xây dựng đề án 5
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, SƠ CHẾ, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ RAU VÀ RAT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 7
1 Về sản xuất rau, rau an toàn (RAT) 7
2 Về hiện trạng sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xúc tiến thương mại RAT 7
3 Công tác quản lý chất lượng về sản xuất và tiêu thụ RAT 8
4 Tình hình cung cấp rau của địa phương khác vào thành phố Hà Nội 8
5 Đánh giá chung 8
5.1 Những kết quả đạt được: 8
5.2 Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ rau, RAT: 9
III MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 10
1 Mục tiêu 10
1.1 Mục tiêu chung 10
1.2 Mục tiêu cụ thể: 10
2 Nhiệm vụ 10
2.1.Lập quy hoạch các vùng sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ RAT: 10
3 Giải pháp 12
3.1 Lập quy hoạch các vùng sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ RAT: 12
3.2 Hỗ trợ đầu tư xây dựng hình thành các vùng sản xuất RAT tập trung và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất RAT: 13
3.3 Xây dựng, phát triển cơ sở sơ chế, chợ đầu mối và mạng lưới tiêu thụ RAT: 15
3.4 Tăng cường công tác quản lý chất lượng RAT: 16
3.5 Tuyên truyền, xúc tiến thương mại thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ RAT: 16
3.6 Xây dựng và phát triển các HTX, các hiệp hội sản xuất, tiêu thụ RAT: 17
3.7 Phối hợp, hỗ trợ các tỉnh chỉ đạo quản lý RAT cung cấp cho Hà Nội: 17
3.8 Vốn đầu tư: 17
IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 18
1 UBND Thành phố 18
2 Sở Nông nghiệp và PTNT 18
3 Các sở, ban, ngành, đoàn thể của Thành phố 19
Trang 43.1 Sở Công thương: 19
3.2 Sở Y tế: 19
3.3 Sở Quy hoạch Kiến trúc: 19
3.3 Sở Tài nguyên và Môi trường: 19
3.4 Sở Kế hoạch và Đầu tư: 20
3.5 Sở Tài chính: 20
3.6 Các tổ chức xã hội, đoàn thể: 20
4 UBND các quận, huyện, thành phố trực thuộc: 20
V ĐÁNH GIÁ THÀNH CÔNG CỦA ĐỀ ÁN 21
1 Kết quả đạt được 21
2 Những hạn chế và chưa thành công của dự án 21
Trang 5I SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1 Sự cần thiết xây dựng đề án
Trong những năm gần đây, tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng gia tăng đã
và đang được được đề cập đến như một mối nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến sứckhỏe cộng đồng Nhiều cảnh báo về tình trạng không đảm bảo an toàn vệ sinh thựcphẩm của các phương tiện thông tin đại chúng đã cho thấy, chúng ta đang sốngtrong một môi trường đầy những mối nguy: ăn bún, phở thì sợ formol; ăn miến, chảlụa, bánh giò thì sợ Borax; ăn cá thì sợ ướp Urê, ăn thịt thì sợ ướp Nitrat/Nitrit; ănnghêu sò thì sợ độc tố liệt thần kinh, giảm trí nhơ; ăn chè và nước giải khát thì sợđường hóa học; ăn thịt bò thì sợ bệnh bò điên; ăn thịt gà thịt vịt thì sợ bệnh cúm giacầm H5N1….và đặc biệt là ăn rau quả lại sợ ngộ độc bởi kim loại nặng, Nitrat, visinh và thuốc trừ sâu.Sở dĩ ngộ độc thực phẩm trên rau được xếp vào hàng đặc biệtbởi vì Rau là loại thực phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày nhưng cũng chính rau
là loại nông sản dễ bị ô nhiễm nhất Nếu người tiêu dùng ăn phải rau không an toànthì có thể dẫn tới ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính, gây tác động xấu đến sự phát triểncủa hệ thần kinh, tế bào máu, gây vô sinh, quái thai, ung thư , làm yếu đi chức nănggan thận Sử dụng rau an toàn chính là giải pháp tốt nhất để bữa ăn gia đình luônluôn là một niềm vui cho tất cả mọi nhà
Trước thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát tốt như hiệnnay, nỗi sợ hãi của người dân đang ngày càng một lớn hơn rất nhiều, vì thế mà việclựa chọn rau đảm bảo chất lượng cũng ngày một nhiều hơn Lượng rau an toàn ởcác chợ truyền thống và siêu thị đang được tiêu thụ ngày một gia tăng Vậy nên rausạch đã trở thành một nhu cầu rất cấp bách nhằm đảm bảo sức khỏe cho người tiêudùng
Để từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế, tạo động lực thúc đẩy phát triểnsản xuất và tiêu thụ RAT trong những năm tới, đưa công tác quản lý sản xuất và tiêuthụ RAT của Thành phố dần đi vào nề nếp, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm RAT chonhân dân Thủ đô; việc xây dựng Đề án “Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn thành phố
Hà Nội, giai đoạn 2009 - 2015” là rất cần thiết
2 Căn cứ pháp lý xây dựng đề án
Chỉ thị 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việctriển khai các biện pháp cấp bách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 6 Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ngày 30/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè antoàn đến năm 2015
Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ Nông nghiệp vàPTNT ban hành “Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn”
Chương trình 02/Ctr-TU ngày 31/10/2008 của Thành ủy Hà Nội về việc thựchiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7(khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Chỉ thị số 25/2007/CT-UBND ngày 4/12/2007 của UBND Thành phố về việc
“Tăng cường công tác quản lý sản xuất, kinh doanh tiêu thụ RAT trên địa bàn HàNội”
Quyết định 7215/QĐ-UB ngày 01/11/2005 của UBND Thành phố phê duyệt
đề cương đề án thực hiện chương trình “Quản lý và chỉ đạo sản xuất RAT diện rộngtại các xã vùng rau ngoại thành Hà Nội”
Trang 7II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, SƠ CHẾ, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ RAU VÀ RAT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1 Về sản xuất rau, rau an toàn (RAT)
Thành phố Hà Nội có diện tích sản xuất rau trên 11.650 ha; phân bố ở 22 quận,huyện, thành phố trực thuộc; trong đó diện tích chuyên rau là 5.048 ha (hệ số quayvòng bình quân 3,5 vụ/năm), diện tích rau không chuyên là 6.602 ha (hệ số quayvòng bình quân 1,5 vụ/năm) Hiện tại, diện tích sản xuất rau theo Quy trình RATcủa Thành phố (Quyết định số 1934/QĐ-SKHCN&MT và số 1938/QĐ-SKHCN&MT của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường), có cán bộ kỹ thuật củaChi cục bảo vệ thực vật Hà Nội chỉ đạo, giám sát là 2.105 ha (đạt 18%)
Hiện tại, chủng loại rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội khoảng trên 40 loại.Năng suất rau đại trà bình quân đạt 20,5 tấn/ha/vụ; năng suất rau được sản xuất theoquy trình sản xuất RAT đạt 19,5 tấn/ha/vụ Tổng sản lượng rau của toàn Thành phốđạt xấp xỉ 569.802 tấn/năm; có khả năng đáp ứng được 60% nhu cầu rau xanh(trong đó sản lượng rau được sản xuất theo quy trình sản xuất RAT đạt 131.770tấn/năm, đáp ứng được 14% nhu cầu) Còn 40% lượng rau từ các địa phương kháccung ứng
Toàn Thành phố có 22 mô hình sản xuất gắn với tiêu thụ với tổng diện tích 90ha; trong đó một số mô hình đạt hiệu quả cao và đang phát triển tốt như: mô hình tại
xã Vân Nội (Đông Anh), xã Lĩnh Nam (Thanh Trì), xã Giang Biên (Long Biên).Hiệu quả sản xuất rau từng bước được cải thiện Giá trị thu được bình quân từsản xuất rau theo quy trình sản xuất rau an toàn đạt 200 – 250 triệu đồng/ha/năm, lãitrung bình 80 – 100 triệu đồng/ha/năm Một số vùng được đầu tư hạ tầng khép kín
và ứng dụng khoa học kỹ thuật, mức lãi đạt cao hơn từ 150 – 200 triệuđồng/ha/năm; cá biệt một số ít diện tích sản xuất rau ăn lá ngắn ngày và rau cao cấpđạt mức lãi cao hơn, khoảng 300 – 350 triệu đồng/ha/năm (xã Lĩnh Nam, xã VânNội)
2 Về hiện trạng sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xúc tiến thương mại RAT
Toàn Thành phố có 25 cơ sở sơ chế, 03 cơ sở chế biến rau công suất nhỏ (từ 100– 1.000 kg/cơ sở/ngày) Có 122 cửa hàng bán RAT (đã được cấp giấy chứng nhận
Trang 8đủ điều kiện kinh doanh RAT); 08 chợ đầu mối bán buôn rau (trong đó có 1 chợ cóngăn khu vực bán RAT); 395 chợ dân sinh (trong đó có 102 chợ nội thành).
Hoạt động xúc tiến thương mại bước đầu đã triển khai, nhưng chưa đáp ứng đượcyêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng
3 Công tác quản lý chất lượng về sản xuất và tiêu thụ RAT
Sở Nông nghiệp và PTNT đã cấp 42 giấy chứng nhận “Đủ điều kiện sản xuấtRAT” và 11 giấy chứng nhận “Cơ sở sơ chế RAT” Sở Công Thương đã cấp 122giấy chứng nhận “Đủ điều kiện kinh doanh RAT”
Chi cục bảo vệ thực vật Hà Nội cử cán bộ kỹ thuật bám sát cơ sở để hướng dẫn
và giám sát nông dân sản xuất rau theo quy trình sản xuất RAT tại 50/415 xã,phường
Công tác thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh rau đã được tăng cường, đãphát hiện 100 – 200 trường hợp vi phạm/năm, đã xử lý các vi phạm theo quy địnhhiện hành của Nhà nước
4 Tình hình cung cấp rau của địa phương khác vào thành phố Hà Nội
Ngoài lượng rau Hà Nội sản xuất còn có 5 tỉnh (Bắc Ninh, Hưng Yên, HảiDương, Hải Phòng, Vĩnh Phúc) cung cấp cho Hà Nội chiếm gần 40% nhu cầu Cáctỉnh trên chưa có hệ thống quản lý, chỉ đạo giám sát việc sản xuất sản xuất RAT cònhạn chế
5 Đánh giá chung
5.1 Những kết quả đạt được:
Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, sự chỉ đạo của HĐND, UBND Thành phố, việcphối hợp của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng của nhân dân, trong những nămqua việc sản xuất và tiêu thụ rau, RAT của Hà Nội đã có những bước phát triển vàđạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Các vùng sản xuất rau, đặc biệt cácvùng rau tập trung đã được đầu tư Sản lượng rau của Thành phố sản xuất đã đápứng được 60% nhu cầu, trong đó rau sản xuất theo quy trình sản xuất rau an toàn đãđáp ứng được 14% nhu cầu Hiệu quả sản xuất rau của nông dân đã được cải thiệnvới giá trị thu được từ sản xuất rau bình quân đạt 200 – 250 triệu đồng/ha/năm.Mạng lưới tiêu thụ RAT đã bước đầu hình thành và phát triển, từng bước đáp ứngđược nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 95.2 Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ rau, RAT:
Sản xuất rau chưa có quy hoạch; quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún trong khi diệntích có thể sản xuất rau trên địa bàn Thành phố rất lớn, nhất là các vùng bãi vensông Hồng, sông Đáy
Cơ sở hạ tầng cho vùng sản xuất rau còn thiếu và chưa đồng bộ
Vướng mắc về quy hoạch chung của Thủ đô trong quá trình xây dựng
Số lượng cơ sở sơ chế, chế biến rau ít và nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu củasản xuất hàng hóa nên giá trị sản phẩm rau thấp
Nhận thức của một bộ phận người sản xuất còn hạn chế, nên một số hộ nông dânchưa tuân thủ quy trình sản xuất RAT, chất lượng rau chưa đảm bảo, nên chưachiếm được lòng tin của người tiêu dùng
Sản xuất, kinh doanh rau gặp rủi ro cao
Sản lượng rau tiêu thụ qua hệ thống cửa hàng RAT thấp Các doanh nghiệp đầu
tư vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh rau hạn chế hoặc quy mô nhỏ, thiếu bềnvững
Chưa hình thành mối liên kết giữa sản xuất và kinh doanh RAT
Công tác quản lý nhà nước về sản xuất, tiêu thụ rau hạn chế
Trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng rau còn thiếu.Việc quản lý chỉ dừng ở mức chứng nhận vùng, cơ sở đủ điều kiện sản xuất, sơ chế,kinh doanh RAT, sản phẩm rau đến người tiêu dùng thì chưa được chứng nhận.Công tác tuyên truyền về sản xuất, tiêu thụ rau còn hạn chế
Hệ thống cơ chế, chính sách còn thiếu và chưa phù hợp để khuyến khích pháttriển sản xuất và tiêu thụ RAT
Trang 10III MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Mục tiêu đến năm 2015:
Tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích rau lên 12.000 – 12.500 ha Phát triển diệntích RAT ở các vùng sản xuất tập trung, phấn đấu đạt 5.000 – 5.500 ha, năng suấttrung bình 20 tấn/ha/vụ, sản lượng 320.000 – 325.000 tấn/năm, có khả năng đápứng 35% nhu cầu của người tiêu dùng Diện tích rau còn lại sẽ được thực hiện bằngcác biện pháp kỹ thuật và phân công cán bộ quản lý, giám sát theo quy trình sảnxuất RAT
2 Nhiệm vụ
2.1.Lập quy hoạch các vùng sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ RAT:
Xây dựng tiêu chí RAT Hà Nội: Làm căn cứ quản lý, chỉ đạo và hỗ trợ đầu tư cần
có tiêu chí cụ thể cho RAT Hà Nội
Quy hoạch các vùng sản xuất RAT
Trang 11Các căn cứ lập quy hoạch:
+ Định hướng quy hoạch Thủ đô của Thủ tướng Chính phủ
+ Đặc điểm, điều kiện tự nhiên của các vùng sản xuất rau
+ Kết quả điều tra thực trạng các vùng sản xuất rau trên địa bàn Thành phố.+ Nhu cầu của các địa phương về quy hoạch vùng sản xuất RAT
Định hướng quy hoạch:
+ Đến năm 2015, dự kiến quy hoạch 110 – 120 vùng sản xuất RAT tập trung, vớitổng diện tích trên 5.000 ha; ưu tiên các vùng ven sông Hồng, sông Đuống, sôngĐáy, sông Tích Trong đó lựa chọn một số vùng quy mô lớn, thuộc các huyện:Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm, Chương Mỹ, Đan Phượng, Phúc Thọ, Ba Vì để đầu
tư khép kín tạo thành các vùng RAT trọng điểm
+ Quy hoạch 80 -90 vùng RAT có quy mô từ 20 – 50 ha để đầu tư nâng cấp;đồng thời tiếp tục quản lý, hướng dẫn, giám sát sản xuất ở các vùng phân tán còn lại
có đủ điều kiện sản xuất RAT
Quy hoạch các cơ sở sơ chế, chế biến và hệ thống tiêu thụ RAT
Căn cứ quy hoạch:
+ Quy hoạch các vùng sản xuất RAT tập trung
+ Thực trạng hệ thống cơ sở sơ chế, chế biến và mạng lưới tiêu thụ hiện tại
Định hướng quy hoạch:
+ Tiến hành quy hoạch, xây dựng các cơ sở sơ chế RAT gắn với các vùng sảnxuất RAT tập trung, các chợ đầu mối Từ nay đến năm 2015 hình thành 12 – 15 cơ
sở sơ chế RAT được nhà nước hỗ trợ
+ Từng bước hình thành các cơ sở chế biến ở các vùng sản xuất tập trung và cáckhu công nghiệp
+ Thực hiện quy hoạch các chợ đầu mối RAT gắn với các vùng sản xuất lớn vàcác trục đường giao thông chính (bán kính từ 20 – 30 km tính từ trung tâm Thànhphố) Dự kiến quy hoạch 4 – 6 chợ đầu mối RAT theo các trục đường lớn, các nútgiao thông chính cửa ngõ vào Thủ đô để phục vụ tiêu thụ rau cho các vùng sản xuấtlớn và thu hút nguồn rau từ các tỉnh khác như: trục quốc lộ 1, trục quốc lộ 5, trụcđường 32, trục đường Thăng Long – Nội Bài,… Ngoài ra duy trì và xây dựng một
số chợ quy mô nhỏ để thuận tiện phục vụ tiêu thụ rau cho các vùng sản xuất rau lớnnằm xa chợ đầu mối
Trang 12+ Cải tạo, nâng cấp và phát triển mạng lưới tiêu thụ RAT bao gồm các cửa hàngRAT tại các khu dân cư, quầy RAT tại các chợ và gian hàng RAT tại các siêu thị.+ Thời gian tiến độ thực hiện quy hoạch trong năm 2009.
Đưa ra hướng dẫn kỹ thuật sản xuất RAT:
Xây dựng quy trình sản xuất RAT để hướng dẫn người nông dân thực hiện.Hướng dẫn các địa phương tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho vùng RATtập trung nhằm phát huy hiệu quả sau đầu tư và phát triển bền vững
Đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ kỹ thuật có đủ trình độ chuyên môn, năng lựcquản lý chỉ đạo sản xuất – tiêu thụ RAT
Tập huấn kỹ thuật sản xuất RAT cho nông dân dưới nhiều hình thức như: lớphuấn luyện IPM rau gắn với thực hành nông nghiệp tốt – VIETGAP, tập huấn ngắnhạn bổ sung và nâng cao về sản xuất RAT; xây dựng các nhóm nông dân sản xuấtRAT tự quản để nâng cao tính tự chủ, tăng cường liên kết hợp tác và ý thức tráchnhiệm của nông dân trong sản xuất RAT,…
Thử nghiệm và chuyển giao TBKT mới vào sản xuất RAT (che phủ nilon, giốngmới, phân bón mới, tưới nhỏ giọt, thuốc BVTV mới,…)
3 Giải pháp
3.1 Lập quy hoạch các vùng sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ RAT:
Xây dựng tiêu chí RAT Hà Nội: Làm căn cứ quản lý, chỉ đạo và hỗ trợ đầu
tư cần có tiêu chí cụ thể cho RAT Hà Nội,
Quy hoạch các vùng sản xuất RAT:
Các căn cứ lập quy hoạch:
Định hướng quy hoạch Thủ đô của Thủ tướng Chính phủ;
Đặc điểm, điều kiện tự nhiên của các vùng sản xuất rau
Kết quả điều tra thực trạng các vùng sản xuất rau trên địa bàn Thành phố
Nhu cầu của các địa phương về quy hoạch vùng sản xuất RAT
Định hướng quy hoạch:
Đến năm 2015, dự kiến quy hoạch 110 – 120 vùng sản xuất RAT tập trung, vớitổng diện tích trên 5.000 ha; ưu tiên các vùng ven sông Hồng, sông Đuống, sôngĐáy, sông Tích Trong đó lựa chọn một số vùng quy mô lớn, thuộc các huyện:Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm, Chương Mỹ, Đan Phượng, Phúc Thọ, Ba Vì để đầu
tư khép kín tạo thành các vùng RAT trọng điểm