Khảo sát kiến thức thái độ của người nhà bệnh nhân tâm thần phân liệt
Trang 1MỞ ĐẦU
Tâm thần phân biệt là một bệnh loạn thần nặng có khuynh hướng tiến triểnmạn tính Bệnh có thể tái phát nhiều lần và làm mất sức lao động nghiêm trọng, lànỗi lo và gánh nặng cho gia đình và xã hội, đặc biệt là thầy thuốc trực tiếp chămsóc cho bệnh nhân tâm thần phân liệt
Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt hết sức phong phú các triệu chứngkết hợp với nhau thành hội chứng tiến triển theo những quy luật nhất định và hìnhthành những thể lâm sàng riêng biệt bệnh có thể tiến triển liên tục, hoặc tiến triểntheo chu kỳ hay tiến triển liên tục từng cơn [ 7 ]
Các nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt trong cộng đồng còn nhiều hạnchế Thân nhân và gia đình người bệnh tâm thần phân liệt còn mặc cảm, dấu diếm
và cố né tránh, do vậy đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt không được đưa đikhám bệnh định kỳ tại cơ sở y tế
Để hạn chế sự tiến triển của bệnh cũng như tránh sự sa sút tâm thần củangười bệnh, giảm tối đa các hậu quả do người bệnh gây ra, những người mắcbệnh tâm thần phân liệt cần được phát hiện sớm đưa vào điều trị chăm sóc, quản
lý kịp thời Sau khi điều trị ổn định người bệnh cần phải được điều trị chăm sócphục hồi chức năng tại cộng đồng tạo điều kiện cho họ tái hoà nhập xã hội
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới thì tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phânliệt trên thế giới chiếm từ 0,3 % - 1% dân số Ở Việt Nam theo thống kê của việnsức khoẻ Tâm thần Trung ương tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm 0,3 % -0,7 % dân số Các bệnh nhân tâm thần phân liệt vào viện điều trị lần đầu ở cácbệnh viện chuyên khoa khoảng 25%, do thời gian nằm viện kéo dài của các bệnhnhân tâm thần phân liệt trong các bệnh viện chuyên khoa vượt quá 50% [ 9 ] Đâychính là vấn đề cần được quan tâm đầy mạnh công tác quản lý, chăm sóc và điềutrị bệnh nhân tâm thần phân liệt tại cộng đồng để giảm tái phát cho bệnh nhân
Vai trò của gia đình đối với người bệnh tâm thần phân liệt rất quan trọng.Chính các thành viên trong gia đình phải là những người có kiến thức cơ bản vềbệnh tâm thần phân liệt Thuốc được quản lý tại gia đình và NCSC cho NB uốngthuốc hàng ngày Trong gia đình, NCSC phải xác định việc CSNBTTPL khôngchỉ có thuốc mà cần được chăm sóc toàn diện, đặc biệt là về tâm lý đểPHCNTLXH, phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường để thông báo cho cán bộ
y tế, nhờ đó kịp thời ngăn ngừa tái phát hoặc diễn biến những cơn bùng phát cấptính
Việc nghiên cứu về nhận thức của người chăm sóc bệnh nhân tâm thầnphân liệt về bệnh tâm thần phân liệt sẽ chỉ ra được những mặt kiến thức còn thiếucủa người chăm sóc, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp để nâng cao nhận thứccủa người chăm sóc về bệnh tâm thần phân liệt cũng như cách chăm sóc bệnhnhân tâm thần phân liệt tại nhà Vì yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh nhân tâmthần phân liệt là bệnh nhân được trở về hòa nhập với gia đình, với cộng đồng
Trang 2Bản thân những người chăm sóc cũng có những kiến thức khác nhau Khingười thân của mình được chẩn đoán là tâm thần phân liệt, nhiều người tìm cáchcúng lễ để trị bệnh và khi cúng lễ vẫn không làm giảm tình trạng của bệnh ngườinhà mới tìm tới các cơ sở y tế để mong được giúp đỡ Điều này chứng tỏ nhậnthức của người chăm sóc về bệnh tâm thần phân liệt vẫn còn hạn chế Sự hạn chếnày cũng do nhiều khó khăn gây ra, đó là tài liệu về các bệnh tâm thần chưa đượcphổ biến tới người dân
Hầu hết những người bệnh đến điều trị đều ở giai đoạn muộn sau 2 - 3 năm
và ở nhà họ đã tự chữa bằng nhiều phương pháp không khoa học như cúng bái,xiềng xích, nhốt hoặc không duy trì chế độ điều trị gây tốn kém và bệnh ngàymột nặng hơn [ 2 ] Vì vậy việc đánh giá sự hiểu biết về bệnh của người dân đặcbiệt của người nhà người bệnh là rất quan trọng Trong khi đó người dân rất kỳthị với những người mắc bệnh tâm thần Đó là một trở ngại không nhỏ đối vớicông tác phát hiện chăm sóc và chữa trị bệnh cũng như điều trị lâu dài Do đó cácbiện pháp tuyên truyền về bệnh tâm thần và giáo dục sức khỏe khi nằm viện cũngnhư khi người bệnh ra viện là rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏecho người dân
Tại Việt Nam ngày 10/10/1998 , ngày Sức khoẻ tâm thần Thế giới lần thứVII , Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập chương trình mục tiêuQuốc gia “ Chương trình Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng ” Từ năm 2006đến nay tại huyện Phú Ninh , tỉnh Quảng Nam đã có 08 / 36 xã , thị trấn được đưavào chương trình quốc gia quản lý , điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt dựa vàocộng đồng và hy vọng trong thời gian không xa , chương trình chăm sóc sức khoẻtâm thần cộng đồng sẽ được bao phủ đến toàn bộ các xã trên toàn tính một cáchđầy đủ và toàn diện Vấn đề đặt ra là cần rà soát và xem xét lại công tác quản lý ,điều trị và sự chăm sóc tâm thần phân liệt này là một nhu cầu cần thiết và đâycũng là cơ sở để nhân rộng hiệu quả cho các vùng có điều kiện tương tự
Đến nay, những nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của ngườichăm sóc NBTTPL tại nhà còn rất ít Những tổn thương mà người chăm sóc gặpphải; thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL
Chính từ việc yêu cầu của xã hội ngày một gia tăng và những tồn tại trên
Chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Khảo sát kiến thức thái độ của người nhà bệnh nhân tâm thần phân liệt ” nhằm đề xuất một số biện pháp giúp nâng cao
nhận thức cho người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại gia đình
1 Mục đích của nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu kiến thức củangười nhà bệnh nhân tâm thần phân liệt, tìm hiểu thái độ của người nhà đối vớibệnh nhân tâm thần phân liệt Đồng thời đánh giá sự tương quan giữa các yếu tốnhân chủng học, kiến thức và thái độ của người nhà bệnh nhân
2 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 3- Các yếu tố nhân khẩu học của người nhà bệnh nhân tâm thần phân liệt làgì?
- Thái độ của người nhà bệnh nhân đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt làgì?
- Kiến thức của người nhà bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt là gì?
- Mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học, kiến thức, thái độ của ngườinhà bệnh nhân là gì?
3 Khung nghiên cứu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.1.1 Định nghĩa
Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về bệnh tâm thần phân liệt.Nhưng tựu chung lại thì có những cách hiểu thông thường về bệnh tâm thần phânliệt như sau:
Trong cuốn bệnh tâm thần phân liệt của Bùi Quang Huy, ông cũng đưa rakhái niệm tương tự: Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng và phổ biến,căn nguyên chưa rõ ràng Bệnh làm biến đổi người bệnh theo kiểu phân liệt:Người bệnh tách khỏi cộng đồng, thu dần vào thế giới bên trong làm cho tình cảmcủa họ khô lạnh Khả năng làm việc của bệnh nhân ngày càng sút kém và cónhững hành vi lập dị, khó hiểu [5]
Một định nghĩa khác cho rằng: Tâm thần phân liệt là tình trạng não bộ bịrối loạn nghiêm trọng, người bị bệnh sẽ đối diện với thực tại một cách bất thường.Tâm thần phân liệt có thể dẫn đến sự kết hợp của ảo giác, hoang tưởng, tư duy và
Thái độ đối với người bệnh tâm thần phân liệt
Người nhà chăm sóc bệnh nhân tâm thân phân liệt
Kiến thức
về bệnh tâm thần phân liệt
Yếu tố nhân chủng học
Trang 4hành vi vô cùng mất trật tự Trái lại với những gì mọi người nghĩ, tâm thần phânliệt không phải là một nhân cách hoặc đa nhân cách Từ “tâm thần phân liệt” cónghĩa là “chia tâm”, đề cập đến sự gián đoạn đến tình trạng cân bằng trong cảmxúc và suy nghĩ bình thường Tâm thần phân liệt là bệnh mãn tính, đòi hỏi phảiđiều trị suốt đời [4].
Tác giả Cao Tiến Đức (2015) cho rằng tâm thần phân liệt là một rối loạntâm thần nặng, khá phổ biến, có tính chất tiến triển với những rối loạn đặc trưng
về tư duy, tri giác và cảm xúc, dẫn đến những rối loạn cơ bản về tâm thần và nhâncách theo kiểu phân liệt, nghĩa là mất dần tính hài hoà thống nhất giữa các hoạtđộng tâm thần, gây chia cắt rời rạc các mặt hoạt động tâm thần Trong tiếng Anh,chữ Schizophrenia bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: "schizo" có nghĩa là chia tách,phân rời và "phrenia" có nghĩa là tâm hồn, tâm thần [4]
Theo bảng phân loại thống kê Quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe
có liên quan phiên bản lần thứ 10 (ICD-10), định nghĩa “Tâm thần phân liệt làmột bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hướng mãn tính, căn nguyênhiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài,thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng họctập, làm việc ngày một sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu” [1]
Theo DSM-5, rối loạn phổ tâm thần phân liệt hay các rối loạn tâm thầnkhác bao gồm tâm thần phần liệt, rối loạn tâm thần khác và chứng rối loạn tâmtrạng được xác định bởi những bất thường, bao gồm 1 hoặc nhiều lĩnh vực trong 5lĩnh vực sau: Các hoang tưởng; các ảo giác; ngôn ngữ thanh xuân; hành vi thanhxuân hoặc hành vi căng trương lực; các triệu chứng âm tính [11]
Qua các định nghĩa về tâm thần phân liệt, trong đề tài nghiên cứu này,
chúng tôi hiểu: “Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, phổ biến và căn
nguyên chưa rõ ràng Bệnh có xu hướng tiến triển mãn tính và gây ra những rối loạn trong các mặt hoạt động tâm thần như tư duy, tri giác, cảm xúc, trí nhớ, nhân cách”
1.1.2 Độ tuổi khởi phát và tỉ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt.
Theo số liệu đã được thống kê, người ta ước tính có khoảng 2,2 triệungười ở Hoa Kỳ mắc bệnh tâm thần phân liệt Tỷ lệ mắc mới được chẩn đoán daođộng từ 11 đến 70 trên 100.000 người Nguy cơ phát triển tâm thần phân liệt đượccho là khoảng 1% đối với dân số nói chung và không có sự khác nhau giữa nam
và nữ
Theo số liệu điều tra của Ngành Tâm thần Việt Nam (2002), tỉ lệ mắc bệnhtâm thần phân liệt là 0,47% và 90% bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trịtrong độ tuổi từ 15-54 tuổi Tỉ lệ mắc bệnh ở cả hai giới tương đương nhau, song
nữ có xu hướng khởi phát muộn hơn (ở nam từ 15-25 tuổi, trung bình là 20 tuổi; ở
nữ 25-35 tuổi, trung bình là 30 tuổi) Tại các bệnh viện tâm thần, bệnh nhân tâmthần phân liệt nhập viện lần đầu tiên chiếm khoảng 25% Bệnh nhân tâm thần
Trang 5phân liệt có tỉ lệ tự sát cao (50% bệnh nhân có ý định tự sát, 10% tự sát thànhcông) [3]
Theo nguyên tắc chung, bệnh tâm thần phân liệt thường xuất hiện ở độ tuổi
từ 15 đến 24 cho cả nam và nữ (Eaton & Chen, 2006) Mặc dù số số ca mắc mới ởnam giới có giảm dần sau tuổi 25 còn với nữ thì độ tuổi khởi phát có thể muộnhơn và giảm dần sau tuổi 45 Sự khác nhau này có thể là do sự mất estrogen nhưmột yếu tố bảo vệ các tế bào thần kinh dopaminergic
Mặc dù hầu hết những người mắc chứng tâm thần phân liệt đều có triệuchứng ở tuổi thanh thiếu niên độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi Có một số bệnh nhânkhông có triệu chứng cho đến sau tuổi 40 hoặc thậm chí là 65 tuổi Bệnh tâm thầnphân liệt khởi phát muôn được cho là khác biệt so với loại khởi phát sớm và đãđược đặt tên là "giai đoạn muộn" Bệnh tâm thần phân liệt khởi phát muộn phổbiến ở phụ nữ, và có bằng chứng về chức năng hoạt động xã hội, giáo dục và nghềnghiệp tốt hơn so với bệnh tâm thần phân liệt khởi phát sớm Bệnh tâm thần phânliệt muộn có nhiều khả năng xuất hiện những triệu chứng dương tính hơn so vớitriệu chứng âm tính hoặc sự mất tổ chức Do đó, điều quan trọng cần nhấn mạnhcác triệu chứng của tâm thần phân liệt có thể phát sinh tại bất kỳ điểm nào trong
cuộc đời và là một 1.1.3 Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của bệnh tâm thần phân liệt
Các nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt rất khác nhau
Từ khi P.E Bleuler nêu ra quan điểm tâm thần phân liệt là một nhóm bệnh, vấn
đề về bệnh sinh của tâm thần phân liệt ngày càng được quan tâm hơn Tuy nhiênbệnh sinh của tâm thần phân liệt diễn ra theo những cơ chế hết sức phức tạp vàchưa được làm sáng tỏ, chưa có một giả thuyết nào có thể giải thích được cáchkhởi phát đa dạng và sự dao động lớn các triệu chứng lâm sàng của bệnh
*Yếu tố di truyền trong tâm thần phân liệt
Các nghiên cứu về vai trò của di truyền trong tâm thần phân liệt thườngđược thực hiện theo hai hướng: nghiên cứu phả hệ và di truyền học phân tử
Để xác định vai trò của yếu tố di truyền, các nhà nghiên cứu thường thựchiện những nghiên cứu so sánh giữa các nhóm khác nhau, có liên quan về mặt ditruyền như: Nghiên cứu so sánh các cặp sinh đôi cùng trứng và sinh đôi kháctrứng; Những người họ hàng cấp 1 với bệnh nhân: cha, mẹ, anh chị em ruột, conruột; Những người họ hàng cấp 2
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều nước khác nhau,với cỡ mẫu lớn, từ 3.000 đến 14.000 người trong gia đình và có quan hệ họ hàngcủa bệnh nhân tâm thần phân liệt, Kaplan và Sadock đưa ra một tỉ lệ nguy cơ mắctâm thần phân liệt ở những người có quan hệ huyết thốngvới bệnh nhân tâm thầnphân liệt như sau: Nguy cơ mắc bệnh tâm thần phần liệt là 1% cho cả cộng đồng;2,4% cho những người có anh, em họ cấp I (con của bác, chú, dì) mắc bệnh tâmthần phân liệt; 2,4% cho những người có chú, dì mắc bệnh tâm thần phân liệt;3,0% cho những người có cháu họ (con của anh, chị em ruột) mắc bệnh tâm thần
Trang 6phân liệt; 3,7% những người là cháu ruột của bệnh nhân tâm thần phân liệt; 4,2%
có anh em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha mắc tâm thần phân liệt;5,6% có cha hoặc mẹ mắc tâm thần phân liệt; 10,1% có anh, chị em ruột mắcbệnh tâm thần phân liệt; 12,8% khi có cha hoặc mẹ mắc tâm thần phân liệt và45,3% khi có cả cha và mẹ mắc bệnh tâm thần phân liệt [12]
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những đứa trẻ sinh ra có mẹ bịtâm thần phân liệt được nuôi dưỡng trong các gia đình có mức độ xáo trộn cao thìnguy cơ cao mắc bệnh tâm thần phân liệt hay rối loạn tâm thần khác (46%) hơn
so với trẻ có mẹ mắc tâm thần phân liệt nhưng sống trong gia đình có mức độ xáotrộn thấp (5%) Những trẻ em không có mẹ mắc tâm thần phân liệt nhưng sốngtrong gia đình có sự xáo trộn cao thì nguy cơ mắc tâm thần phân liệt cũng cao hơnnhững đứa trẻ sống trong gia đình có sự xáo trộn thấp với tỉ lệ lần lượt là 24% và3% Nghiên cứu này làm tăng khả năng phát triển bệnh tâm thần phân liệt như làkết quả của sự tương tác giữa yếu tố nguy cơ về mặt sinh học và căng thẳng trongmôi trường nuôi dưỡng
Có thể thấy, trong cơ chế bệnh sinh của tâm thần phân liệt hiện nay rất khógiải thích được là yếu tố nào đóng vai trò quyết định di truyền mẫu gen của bệnhtâm thần phân liêt Người ta hy vọng rằng trên cơ sở bản đồ gen đã được xác lập,vấn đề di truyền trong tâm thần phân liệt sẽ được làm sáng tỏ Tuy nhiên sự kếthợp giữa yếu tố di truyền và yếu tố từ môi trường bên ngoài có vẻ như là hợp lýnhất khi giải thích về sự khởi phát của bệnh tâm thần phân liệt [15]
* Giả thuyết về phát triển tâm thần:
Các nghiên cứu trong nửa cuối thế kỷ XX đã xác nhận, yếu tố phát triểntâm thần có liên quan tới cơ chế bệnh sinh của bệnh tâm thần phân liệt Các yếu
tố nguy cơ trong thời kỳ mang thai, mùa sinh, dinh dưỡng, biến chứng sản khoađóng một vai trò quan trọng trong việc phát sinh bệnh tâm thần phân liệt TheoMurray (2006), mẹ bị cúm hoặc nhiễm trùng trong khi mang thai, mẹ bị dị tật ở tửcung, tiểu đường trong thai kỳ, trẻ sinh nhẹ cân, bị ngạt trong khi sinh và các biếnchứng sản khoa khác làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt [15]
*Giả thuyết về tâm lý, xã hội và văn hóa:
Các trắc nghiệm tâm lý cho thấy có sự bất thường rõ rệt ở người bệnh tâmthần phân liệt và cả ở một số họ hàng chưa có biểu hiện lâm sàng của tâm thầnphân liệt Giả thuyết tác động qua lại trong gia đình là các yếu tố bệnh sinh quantrọng của bệnh tâm thần phân liệt, nhưng việc tăng nhanh các dữ liệu sinh học củatâm thần phân liệt đã nhanh chóng phủ nhận giả thuyết này
Việc giáo dục trong gia đình có khả năng làm thay đổi cảm xúc và tạo mộtcuộc sống ít stress hơn có tác dụng phòng bệnh tâm thần phân liệt Văn hóa giữacác khu vực công nghiệp và nông nghiệp liên quan đến bệnh tâm thần phân liệt đãđược nghiên cứu và giải thích rất khác nhau, nhưng yếu tố kinh tế đã làm ảnhhưởng đến yếu tố dinh dưỡng, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhândân chứ không phải là khác biệt về mặt văn hóa [21]
Trang 7* Giả thuyết về mặt sinh học:
Các nghiên cứu sinh học và hóa sinh về cơ chế của bệnh tâm thần phân liệt
đã có nhiều kết quả triển vọng Nhờ sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, người ta đã
sử dụng phương pháp CT-Scan để nghiên cứu hình thái bệnh học hệ thần kinhtrung ương trong tâm thần phân liệt Theo Th.Z Craig, Z Bregman (1998),40,6% bệnh nhân tâm thần phân liệt khởi phát có liên quan đến thực thể não, đa
số bệnh nhân có teo võ não và giãn rộng các não thất Năm 1980, T.J Crownghiên cứu lâm sàng và giải phẫu bệnh não của bệnh nhân tâm thần phân liệt đãchia thành 2 type: Type 1: Khởi phát cấp tính, biểu hiện chủ yếu là các triệuchứng dương tính, cấu trúc não hoàn toàn bình thường, dung nạp điều trị tốt; type2: Khởi phát từ từ, biểu hiện các triệu chứng âm tính là chủ yếu và có nhiều bấtthường trong cấu trúc não, hiệu quả điều trị kém [13]
Chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter) dopamine ảnh hưởng đếnngôn ngữ, hành vi, học tập, và cảm xúc Là chất khiến bạn cảm thấy hưng phấn
và vui vẻ Thuyết Dopamine là thuyết có ảnh hưởng nhất trong số các thuyết vềchất dẫn truyền thần kinh và tâm thần phân liệt, thuyết này cho rằng các triệuchứng tích cực của bệnh là sản phẩm từ lượng dopamine và cơ quan thụ cảm, haycửa tiếp nhận dopamine quá nhiều (mỗi chất dẫn truyền thần kinh có một cửariêng biệt), dẫn đến người bệnh bị ảo giác Tất cả những loại thuốc chữa trị tâmthần phân liệt ngày nay có cơ chế hoạt động chủ yếu là chặn cơ quan thụ cảm D2,ngăn cản cơ quan này tiếp nhận chất dopamine [13]
1.1.4 Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt
Triệu chứng trong bệnh tâm thần phân liệt rất là đa dạng, phong phú, phứctạp và luôn luôn biến đổi Những triệu chứng đặc trưng của bệnh tâm thần phânliệt liên quan đến việc mất khả năng vận hành tổ hợp của nhận thức và cảm xúc,bao gồm nhận biết, suy luận, ngôn ngữ, giao tiếp, điều khiển hành vi, sự lưu loát,kết quả từ những suy nghĩ, năng lực nói, ý muốn và dục vọng Một bệnh nhân, để
bị coi là mắc chứng tâm thần phân liệt, bệnh nhân phải có những triệu chứng của
tổ hợp các triệu chứng trên chứ không phải là một trong số đó, không phải chỉđơn lẻ một dấu hiệu mà là một tập hợp Việc chẩn đoán bệnh lý thường bao gồmnhận biết nhóm dấu hiệu, và triệu chứng liên quan đến mất khả năng lý giải vàhoạt động thường ngày
Các triệu chứng của tâm thần phân liệt được chia làm ba phương diện:dương tính (positive symptoms), âm tính (negative symptoms), rối loạn tổ chức
+ Triệu chứng dương tính (còn gọi là triệu chứng loạn tinh thần)
Triệu chứng dương tính là những triệu chứng xuất hiện trong quá trình bịbệnh Triệu chứng dương tính rất đa dạng và phong phú, luôn luôn biến đổi, xuấthiện nhất thời và mất đi hoặc thay thế bằng những triệu chứng dương tính khác
- Ảo giác: Một trong những triệu chứng phổ biến nhất và dễ thấy nhấtchính là ảo giác Mặc dù ảo giác có thể xảy ra với bất kỳ giác quan nào, nhưng
Trang 8thông thường, người mắc tâm thần phân liệt trải nghiệm nó dưới dạng ảo nghe thấy giọng nói không có thật Nhiều bệnh nhân nghe thấy giọng nói bên tainhận xét về hành vi của họ hay ra lệnh cho họ Người khác thì nghe thấy nhiềugiọng nói đang cãi lộn với nhau ảo thanh bình phẩm về hành vi của bệnh nhânhoặc thảo luận với nhau và phê phán bệnh nhân, có thể đe doạ cưỡng bức hay ralệnh cho bệnh nhân.
thanh-Các loại ảo giác như ảo thị, ảo khứu, ảo giác, xúc giác có thể xuất hiệnnhưng hiếm gặp hơn Một số bệnh nhân có những rối loạn cảm giác trong cơ thể,nhất là trong cơ quan nội tạng (loạn cảm giác bản thể) hoặc có cảm giác biến đổicác cơ quan như không có tim phổi, chân tay dài ra hay ngắn lại, cảm xúc, suynghĩ và tác phong đã biến đổi
- Hoang tưởng: Nhiều bệnh nhân tâm thần phân liệt mắc chứng hoangtưởng, hoặc có những niềm tin kỳ quái như họ nghĩ họ có tài năng và quyền lựcđặc biệt có thể điều khiển được thế giới; cho rằng những cảm giác, những ý nghĩ
và hành vi sâu kín nhất bị những người khác biết hay lấy mất Người bệnh thườngnói đến hiện tượng bị chi phối bằng các máy móc như máy vô tuyến điện, máyghi âm, máy điều khiển từ xa v.v Có những trường hợp cảm thấy bị chi phốibằng phù phép, bằng thôi miên, bằng một sức mạnh siêu nhiên nào đó
+ Triệu chứng âm tính:
Triệu chứng âm tính thể hiện sự tiêu hao, mất mát các hoạt động tâm thầnsẵn có Nó thể hiện sự mất tính chất toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâmthần Nó cũng thường ổn định qua thời gian hơn là triệu chứng dương tính vì triệuchứng dương tính biến đổi nghiêm trọng khi bệnh nhân ở trong và ở ngoài chu kỳloạn tinh thần Theo quan điểm của P.E Bleuler triệu chứng âm tính là nền tảngcủa quá trình phân liệt Triệu chứng âm tính gồm:
Cùn mòn cảm xúc: là giảm mức độ biểu hiện tình cảm, bao gồm cả biểuhiện trên khuôn mặt, giọng điệu giọng nói, ánh mắt, và ngôn ngữ cơ thể Nét mặtđơn điệu, không sinh động Bệnh nhân thường mất khả năng chăm sóc bản thân, ởbẩn,ăn mặc rách rưới, lười tắm rửa v.v
Ngôn ngữ nghèo nàn hoặc là giảm sự lưu loát ngôn ngữ, suy nghĩ chậmchạp hoặc tư duy bị ứ đọng và thường biểu hiện như nói ít, trả lời các câu hỏi cộclốc, trống rỗng
Mất ý chí: giảm, khó khăn, hay mất khả năng khởi động các hoạt động cóđịnh hướng Bệnh nhân mất hết sáng kiến, mất động cơ, mất ý chí và hoạt độngkhông hiệu quả Các thói quen nghề nghiệp mất dần, bệnh nhân ngại đi ra ngoài,
ít giao tiếp với bạn bè, người thân
Ngoài ra còn có các triệu chứng như thu rút cảm xúc, thiếu hòa hợp, thụđộng, bàng quan, thờ ơ, thiếu tự giác, mất hứng thú, giảm chú ý, giảm trí nhớ
+ Rối loạn tổ chức:
Trang 9Một số triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt khó có thể phân loại vàotích cực hay tiêu cực Vì thế mà nhiễu loạn suy nghĩ và hành vi kỳ quặc thể hiệnkhía cạnh thứ ba của bệnh này, và được gọi bằng cái tên rối loạn tổ chức(Disorganization).
Một triệu chứng quan trọng trong tập hợp các triệu chứng của tâm thầnphân liệt là ngôn ngữ vô tổ chức (disorganized speech) Nó liên quan đến xuhướng những gì bệnh nhân nói không có lý hoặc không có nghĩa gì cả Dấu hiệucủa ngôn ngữ vô tổ chức chính là trả lời những câu không liên quan gì đến câuhỏi, ý tưởng rời rạc không kết nối và dùng từ ngữ theo kiểu khác thường Triệuchứng này cũng được gọi là “rối loạn suy nghĩ” Những đặc điểm thường gặp ởngôn ngữ vô tổ chức chính là chuyển đổi chủ đề trò chuyện quá đột ngột, trả lờichẳng ăn nhập gì với câu hỏi, hoặc lặp đi lặp lại một từ hoặc một cụm từ liên tục.Ngoài ra cảm xúc của họ cũng bị rối loạn, đối ngược, họ có thể cười vào đám tangv.v.Bên cạnh đó họ cũng có những hành vi kỳ quái như mặc nhiều lớp quần áo, lahét vào mặt người khác, lẩm bẩm hoặc nói chuyện với chính mình
Những chuyển động cơ thể bất thường, người mắc bệnh tâm thần phân liệtcòn bị cứng chi hay cứng cơ dẫn đến di chuyển không được bình thường Trongnhững trường hợp nặng nhất, người bệnh có thể giữ nguyên tư thế bất thường,cứng ngắc khi đứng hoặc khi ngồi trong khoảng thời gian dài Ví dụ, một số bệnhnhân sẽ nằm thẳng lưng nhưng gồng người lại, đầu nâng lên một chút như thể họđang gối đầu vậy Người bệnh mắc chứng này thường không chịu đổi tư thế khác
dù cho giữ nguyên tư thế này sẽ khiến họ cực kỳ khó chịu và đau đớn
Để được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, người bệnh phải có ítnhất hai trong những triệu chứng bên trên, và phát tác ít nhất một tháng Đồngthời, cuộc
sống, công việc và các mối quan hệ cá nhân của người đó phải bị ảnhhưởng nặng nề so với trước khi phát bệnh Và các triệu chứng phải phát tác trongkhoảng vắng của bệnh trầm cảm và hưng cảm thì mới được coi là mắc tâm thầnphân liệt
* Diễn biến của bệnh tâm thần phân liệt
Thông thường bệnh tâm thần phân liệt thường tiến triển qua 3 giai đoạn:báo trước, toàn phát và di chứng
+ Giai đoạn báo trước:
Thời kì đầu thường biểu hiện chủ yếu các triệu chứng suy nhược như:Chóng mệt mỏi, khó chịu, đau đầu, mất ngủ, cảm giác khó khăn trong học tập vàcông tác, khó tiếp thu cái mới, đầu óc mù mờ như có màn sương che phủ, khó suynghĩ, cảm xúc lạnh nhạt, khó thích ứng với ngoại cảnh, giảm dần các thích thútrước kia, bồn chồn, lo lắng vô duyên vô cớ, dễ nổi khùng và tiếp theo là cảm giác
bị động, dường như đuối sức trước cuộc sống, không theo kịp những thay đổixung quanh Một số bệnh nhân khác lại cảm thấy có những biến đổi là lạ trong
Trang 10người, thay đổi nét mặt hoặc màu da, cũng có bệnh nhân tự nhiên trở nên say sưađọc các loại sách triết học, lý luận viển vông không phù hợp với thực tế [13].
+Giai đoạn toàn phát:
Các triệu chứng khởi đầu cứ tăng dần và xuất hiện các triệu chứng loạnthần ngày càng rầm rộ, phong phú như: ảo giác, hoang tưởng hoặc thiếu hòa hợp.Tùy các triệu chứng và hội chứng chứng chiếm ưu thế mà người ta chia ra từngthể lâm sàng khác nhau Theo ICD-10, bệnh tâm thần phân liệt gồm những thểsau: Tâm thần phân liệt thể paranoid (F20.0); Tâm thần phân liệt thể thanh xuân(F20.1); Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2); Tâm thần phân liệt thểkhông biệt định (F20.3); Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4);Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5); Tâm thần phân liệt thể đơn thuần(F20.6) [13]
+Giai đoạn di chứng
Đây một giai đoạn tiến triển mãn tính, các triệu chứng dương tính của giaiđoạn toàn phát mờ nhạt không ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi Những triệuchứng âm tính nổi bật lên hàng đầu, biểu hiện bằng hoạt động kém, cảm xúc cùnmòn, bị động trong cuộc sống, thiếu sáng kiến, ngôn ngữ nghèo nàn, không quantâm chăm sóc bản thân và hoạt động xã hội và không mất trí
Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt là nội dung mà người chăm sócnắm rõ hơn cả bởi triệu chứng là cái thể hiện ra bên ngoài mà người chăm sóc dễdàng có thể nhận thức được
1.2 ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.2.1 Điều trị hóa dược:
Hóa dược là liệu pháp thông dụng và có hiệu quả nhất trong điều trị bệnhtâm thần phân liệt Bởi vì các nguyên nhân gây ra tâm thần phân liệt nặng về phần
di truyền và sinh lý nên việc chữa trị chủ yếu dựa vào thuốc Tâm thần phân liệtkhông thể được chữa khỏi hoàn toàn, người bệnh bắt buộc phải dùng thuốc đúngliều và đều đặn, nếu không bệnh có thể sẽ tái phát nặng hơn, sẽ tổn hại đến não bộnhiều hơn
Một số thuốc đời đầu như Thorazine và Hadol có để lại tác dụng phụ nhưcứng cơ miệng và cơ mặt; lưỡi thè ra ngoài, môi nhăn lại, tứ chi và chân tay cothắt Ngoài ra còn có thể ảnh hưởng lên hệ thần kinh khiến cơ thể run rẩy, cứng
cơ, kích động, hoặc có những dáng điệu kỳ dị mà người bệnh không thể khốngchế được [3]
Những loại thuốc đời hai như Clorazil, Risperdal, Zyprexa, Seroqul vàSolian thì có ít tác dụng phụ hơn nhưng vẫn giữ được hiệu quả như thuốc đời đầu
và có tác dụng trong việc ngăn ngừa bệnh tái phát Một nghiên cứu cho thấy chỉ
có 13% những người bệnh dùng thuốc đời hai là bị tác dụng phụ cứng cơ và cothắt, trong khi tỷ lệ đó là 32% đối với những người dùng thuốc đời đầu Tuy
Trang 11nhiên, những loại thuốc đời hai này không có hiệu quả nhiều trong việc chữa trịnhững triệu chứng âm tính, ngoài ra tác dụng phụ của nó còn khá nguy hiểm như
có thể khiến cho bệnh nhân tăng cân và béo phì, tăng nguy cơ mắc các bệnh khácnhư huyết áp cao, tiểu đường, và các bệnh về tim mạch Những tác dụng phụ này
có thể khiến cho bệnh nhân ngưng thuốc và dẫn đến tình trạng bệnh tái phát nặnghơn [3]
1.2.2 Liệu pháp sốc điện:
Sốc điện cũng là một liệu pháp được sử dụng trong điều trị cho bệnh nhântâm thần phân liệt song ngày nay các chỉ định của liệu pháp sốc điện đã thu hẹpmột cách đáng kể, một số bệnh tâm thần phân liệt vẫn được chỉ định trong cáctrường hợp như: tâm thần phân liệt thể căng trương lực; Trạng thái kích độngmạnh của tâm thần phân liệt; Các bệnh nhân có hành vi tự sát; Các trường hợpkháng điều trị nói chung
Nếu như sốc điện cổ điển có những hạn chế của nó như tỉ lệ tử vong là2/100.000 người, có biến chứng ngừng thở; sai khớp; gãy xương; sau cơn mất ýthức; bệnh nhân đau mỏi cơ khớp; lú lẫn; lo sợ v.v thì hiện nay phương pháp sốcđiện tiền gây mê đã giúp tránh được các hạn chế này Đây là phương pháp có tiền
mê với thuốc tiêm tĩnh mạnh, phóng điện từ trong khoảng từ 0,8-1,2 giây tùy từngbệnh nhân Với phương pháp này, bệnh nhân chỉ có cơn nhai nhẹ ở vùng mặt chứkhông có những cơn co giật kiểu động kinh Khi tiền mê, bệnh nhân không mất ýthức hoàn toàn; sau tiêm thuốc 2 phút là có thể sốc điện
1.2.3 Liệu pháp tâm lý-xã hội:
Trước 1960, do tác dụng hạn chế của các liệu pháp tâm lý cá nhân nên việc
sử dụng liệu pháp tâm lý xã hội đối với tâm thần phân liệt không được chú ýnhiều Vào những năm 1980, cùng với hiệu quả của việc sử dụng thuốc chốngtâm thần, nhiều nhà lâm sàng xem liệu pháp tâm lý-xã hội như là phương tiện hỗtrợ dễ chịu Điều trị, tư vấn tâm lý giúp cải thiện đời sống của bệnh nhân mắc tâmthần phân liệt Các chuyên viên tư vấn giúp đỡ bệnh nhân cải thiện những vấn đềcuộc sống mà họ gặp phải khi mắc bệnh Đồng thời huấn luyện những kỹ năngsống cần thiết để quản lý bệnh hiệu quả [3]
Về cơ bản, liệu pháp tâm lý – xã hội đối với bệnh nhân tâm thần phân liệtđược chia thành 3 dạng: Can thiệp gia đình; Luyện tập kỹ năng; Phục hồi nhậnthức
Can thiệp gia đình đã được nghiên cứu và sử dụng có hiệu quả cả ở thời kỳđầu và thời kỳ sau Luyện tập kỹ năng xã hội cũng có nhiều hứa hẹn Riêng lợiích của phục hồi nhận thức thì chưa rõ ràng
Cho đến nay, nhiều tác giả đã khẳng định: Các liệu pháp tâm lý xã hội giúpkéo dài thời gian ổn định, hạn chế số lần tái phát cũng như mức độ cấp tính vàgiảm liều củng cố ngoại trú đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt
+ Liệu pháp phục hồi chức năng và tái thích ứng xã hội
Trang 12Bệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của người bệnh
và làm cho họ mất đi khả năng sinh hoạt bình thường Mặt khác, phần lớn ngườibệnh bắt đầu bị bệnh khi còn trẻ và bệnh tâm thần phân liệt được coi như mộtbệnh mãn tính làm cho họ mất đi hoặc suy yếu những khả năng sinh hoạt như:Suy nghĩ, học hỏi, giao tiếp xã hội, làm việc, tình cảm, các mối quan hệ cá nhâncũng như quan hệ xã hội Phần khó khăn nhất trong điều trị bệnh tâm thần phânliệt là làm sao giúp người bệnh giảm bớt mức độ suy giảm chức năng về mặt tâmthần và có thể sống một cuộc sống tương đối bình thường trong thời gian sau cơnbệnh
Trái với những thay đổi mau chóng và rõ rệt trong việc dùng thuốc điều trị
và kiềm chế những triệu chứng nổi, việc chăm sóc, phục hồi sinh hoạt cho ngườibệnh chỉ mang lại những thay đổi chậm và nhỏ Tuy nhiên để giảm bớt những tànphế và cải thiện cuộc sống của người bệnh là hai vấn đề quan trọng trong chămsóc người bệnh tâm thần phân liệt Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt khi
họ đã tương đối ổn định, không còn các rối loạn tinh thần nữa cũng là vấn đềquan trọng trong điều trị cho bệnh nhân tâm thần phân liệt, bao gồm các vấn đềsau:
- Khả năng sống còn, tức là giúp đỡ người bệnh biết cách tự chăm sóc bảnthân, biết cách ăn uống lành mạnh hợp với tình trạng sức khỏe, biết cách nấu ăn,mua sắm, giữ gìn vệ sinh thân thể, thu xếp chỗ ăn chỗ ở, biết sử dụng các phươngtiện công cộng để đi lại
- Khả năng giao tiếp xã hội, người bệnh sẽ được hướng dẫn để dần dần lấylại và tăng cường lòng tự tin, sự tự trọng, biết cách giao tiếp và đối thoại vớingười khác, biết cách giải quyết những khúc mắc, bất đồng ý kiến với người khácmột cách thỏa đáng
- Khả năng thích nghi, đối phó với những khó khăn hằng ngày, người bệnhđược hướng dẫn trong việc sắp xếp tổ chức cuộc sống hằng ngày sao cho có nềnếp, thành một thông lệ, có giờ giấc, biết sử dụng thời gian rảnh một cách hữuích, thoải mái
- Khả năng làm việc, làm việc cũng giúp bệnh nhân cảm thấy mình làngười có ích, thỏa mãn vì mình làm được một điều gì đó, tự tin vào khả năng củamình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạocho con người cơ hội để giao tiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảmlành mạnh
Việc điều trị bằng thuốc không thể phục hồi được những khả năng này mộtcách toàn vẹn mặc dù hiện nay đã có một số thuốc có khả năng cải thiện tư duy vànhận thức Một số người bệnh đã từng nằm điều trị trong các bệnh viện tâm thầnnhiều năm và đã quen với sự giúp đỡ, chỉ dẫn của các bác sĩ, nhân viên y tế trongmọi chuyện; họ thường không phải lo lắng đến việc ăn ở cho bản thân cũng nhưkhông phải lo cho gia đình Sau nhiều năm sống như vậy, nghị lực, tinh thần, ócsáng tạo, khả năng tháo vát, ứng biến với cuộc sống ngoài xã hội của họ bị ảnh
Trang 13hưởng nặng nề, cho đến khi họ trở về với cuộc sống với gia đình, họ trở thànhgánh nặng của gia đình Nếu họ không được có cơ hội để làm lại cuộc đời họ sẽtiếp tục là gánh nặng cho gia đình và xã hội Chăm sóc, phục hồi chức năng chobệnh nhân tâm thần phân liệt chính là cơ hội để họ có thể làm lại cuộc đời, sốngmột cuộc sống ổn định hơn.
1.2.4 Chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt
Người bệnh tâm thần phân liệt ổn định chủ yếu là sống tại gia đình vì vậy
để người bệnh được chăm sóc tốt nhất thì gia đình người bệnh phải có kiến thức
về bệnh tâm thần phân liệt, về chăm sóc để người bệnh tái hòa nhập cộng đồngmột cách tốt nhất Những quan điểm sai lệch về bệnh tâm thần phân liệt sẽ ảnhhưởng đến việc chăm sóc người bệnh, và đây cũng là con đường đẩy người bệnh
xa rời cuộc sống cộng đồng, bị mọi người xa lánh
Chính vì vậy gia đình có vai trò vô cùng quan trọng trong chăm sóc ngườibệnh tâm thần phân liệt:
-Gia đình quản lý thuốc và cho bệnh nhân uống thuốc theo đúng quy địnhcủa bác sĩ chuyên khoa để tránh tái phát bệnh và duy trì cuộc sống bình thườngcủa bệnh nhân và tuyệt đối không được tự ý ngừng thuốc
- Khi gia đình phát hiện các biểu hiện bất thường của bệnh nhân cần đưabệnh nhân đi tái khám và tư vấn tâm lý từ bác sĩ chuyên khoa Gia đình phảithường xuyên thông tin chính xác, đúng sự thật cho các bác sĩ về biểu hiện bấtthường của bệnh nhân và những tiến triển tốt Phát hiện sớm và điều trị tích cựcchính là phương châm chính của chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng
- Khuyến khích bệnh nhân làm một số công việc cho gia đình, hoặc tạo cho
họ có việc làm mới phù hợp với khả năng của bệnh nhân Không để bệnh nhânngồi không, cần kiên trì giúp đỡ bệnh nhân, không bi quan chán nản Khôngcưỡng ép, giận dữ, nên dịu dàng hướng dẫn bệnh nhân trong khi xử sự và giaotiếp Không nên phê bình ngay khi bệnh nhân sai trái, tránh tranh cãi, lý lẽ, trừngphạt mà nên dịu dàng khuyên bảo từ từ
- Nếu bệnh nhân sa sút không tự phục vụ được thì gia đình nên đôn đốc,giúp đỡ bệnh nhân những công việc: ăn uống, vệ sinh cá nhân, mặc quần áo, đi lạitrong làng, ngoài phố, uống thuốc theo y lệnh của bác sĩ
- Vấn đề dinh dưỡng, người bệnh tâm thần cũng phải cần ăn uống đầy đủ ítnhất 3 bữa/ngày và ít nhất 2 bát/bữa, đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơthể Trong chừng mực nào đó gia đình có thể hỗ trợ bệnh nhân như đi chợ giúphoặc nấu cơm giúp Tuy nhiên gia đình cũng nên khuyến khích người bệnh chủđộng tham gia nấu cơm và tự lấy cơm ăn Người bệnh trong giai đoạn ổn địnhhoàn toàn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện các công việc như nấu cơm,rửa bát Gia đình không nên để người bệnh thụ động, không tham gia hoặc hỗ trợhoàn toàn người bệnh
Trang 14- Lao động, phục hồi chức năng tâm lý cho người bệnh Về lao động, ngườichăm sóc cần khuyến khích bệnh nhân tham gia lao động, khi người bệnh làmđược việc gì dù là việc nhỏ cũng nên động viên, làm việc giúp bệnh nhân cảmthấy mình là người có ích, thỏa mãn vì mình làm được một điều gì đó, tự tin vàokhả năng của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc sống xã hội.Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giao tiếp với người khác, có bạn bèquan hệ tình cảm lành
mạnh
- Về giao tiếp, muốn phục hồi chức năng tâm lý cho người bệnh thì phảiphục hồi khả năng giao tiếp của người bệnh, muốn vậy thì người chăm sóc cũngnhư gia đình người bệnh phải hiểu rõ và tích cực giao tiếp để người bệnh bớt mặccảm, tự tin hơn Một trong những cách giúp cho người bệnh giao tiếp trở lại giađình là nên để người bệnh ăn cơm cùng gia đình Việc cho người bệnh ăn cơmcùng gia đình sẽ làm cho người bệnh không cảm thấy mình bị kỳ thị, trong bữa ănmọi người sẽ cởi mở và dễ nói chuyện hơn
- Tham gia tập luyện thể dục thể thao: Tập thể dục và nghỉ ngơi hợp lýcũng rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần của người bênh Đây cũng làphương pháp tốt để người bệnh tái hòa nhập xã hội Do đó gia đình nên khuyếnkhích và động viên để người bệnh chủ động tham gia
- Tái khám định kỳ, người bệnh tâm thần phân liệt cần được tái khám định
kì ít nhất 6 tháng một lần, tốt nhất là hàng tháng gia đình nên đưa bệnh nhân đikiểm tra và lĩnh thuốc Việc khám định kỳ sẽ giúp bác sĩ biết được tình trạng củabệnh nhân, điều chỉnh thuốc theo từng giai đoạn bệnh nhằm ngăn ngừa bệnh táiphát Gia đình không nên để người bệnh có dấu hiệu tái phát bệnh trở lại mới đưa
đi khám