TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN DUY HIẾU Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN CỦA ÔNG VŨ
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đối tượng
- Đàn lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ
Địa điểm thực tập và thời gian
- Địa điểm: Trang trại lợn của ông Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc
- Thời gian thực tập: từ ngày 19/06/2021 đến ngày 20/12/2021.
Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trại lợn trong 3 năm gần đây
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
- Theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn
- Chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ tại trại
Các chỉ tiêu và phương pháp tiến hành
- Số lượng, cơ cấu đàn vật nuôi tại thời gian thực tập
- Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ
- Kết quả thực hiện phòng bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ bằng vệ sinh chuồng trại và sử dụng vắc xin để phòng bệnh
- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Để có thể đánh giá một cách chi tiết nhất về kết quả chăn nuôi của trang trại, ta cần thu thập thông tin từ các nguồn: chủ trang trại, các cán bộ quản lý, lỹ thuật cũng như sổ ghi chép số liệu của trang trại Kèm theo đó là kết quả thu được từ quá trình thực tập thực tế với thời gian theo dõi tại trang trại
3.4.2.2 Quy trình phòng bệnh tại cơ sở
* Công tác vệ sinh hằng ngày
Em đã tham gia vào công tác ngăn ngừa, phòng chống dịch bệnh cũng như làm tăng năng xuất, hiệu quả chăn nuôi của trang trại đúng quy định như sau:
- Trước khi di chuyển vào chuồng, qua phòng tắm sát trùng, thay quần áo bảo hộ và đi ủng
- Tiến hành đánh thức lợn mẹ, dọn vệ sinh tránh bị đè phân
- Dọn dẹp đường đi sau khi rắc vôi
- Lau sàn, lau mông bằng nước sát trùng và lau bầu vú lợn mẹ
- Lau,rửa máng ăn, máng uống của lợn mẹ và lợn con
- 2 ngày xả rãnh, xịt gầm một lần
- Mỗi 2 ngày sẽ tiến hành phun sát trùng, rắc vôi bột ở cửa ra vào của chuồng nuôi
Tiến hành tháo dỡ và vệ sinh đối với các ô chuồng đã trống lợn, vệ sinh các tấm đan sạch sẽ Ô chuồng, khung được xịt bằng dung dịch NaOH 5% Gầm chuồng được xịt sạch sẽ và tiêu độc khử trùng bằng vôi Sau khi tất cả đã sạch sẽ và khô ráo thì tiến hành lắp tấm đan, dội vôi lần 2 và để khô đợi nhận lợn chờ đẻ Trước khi nhận lợn nái, ta lau lại sàn tránh vôi làm hỏng bầu vú lợn mẹ
Trước khi vào trại tiến hành thực hiện quá trình sát trùng và mặc đồ bảo hộ chuyên dùng Tránh tình trạng mầm bệnh từ ngoài môi trường xâm nhập vào trang trại
Sau mỗi buổi trước khi về, tiến hành dọn dẹp chuồng 1 lần nữa, thu dọn dụng cụ và thay quần áo, ủng trước khi về
Bảng 3.1 Lịch sát trùng tại trại
Chuồng nái chửa Chuồng đẻ Chuồng thịt
Phun sát trùng toàn bộ Thứ 3
Rắc vôi xung quanh cổng ra vào trại
Cắt cỏ quanh chuồng Thứ 5 Đổ nước vôi Đổ nước vôi Đổ nước vôi
Phun sát trùng Phun sát trùng
Thứ 7 Cắt cỏ xung quanh chuồng Chủ nhật
Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh bằng vắc xin cho lợn Đối tượng Tuổi Tác dụng phòng bệnh
Sản phẩm sử dụng Đường đưa thuốc
1 - 3 ngày Thiếu sắt RTD-FE +
7- 10 ngày Suyễn Hyogen Tiêm bắp 2
14-16 ngày Còi cọc Circo Tiêm bắp 2
24 tuần Khô thai PV Tiêm bắp 2
25 tuần Dịch tả SF Tiêm bắp 2
26 tuần Giả dại AD Tiêm bắp 2
27 tuần LMLM FMD Tiêm bắp 2
28 tuần Khô thai PV Tiêm bắp 2
29 tuần Khô Thai PV Tiêm bắp 2
30 tuần Suyễn Hyogen Tiêm bắp 2
10 tuần chửa Dịch tả SF Tiêm bắp 2
12 tuần chửa LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
12 tuần chửa Giả dại Neocolipor Tiêm bắp 2
Lợn nái sau sinh 2 ngày ta bắt đầu tăng lượng thức ăn thêm từ 0,5kg đến 1kg Ta có thể tăng thêm 2kg/1 con/ngày nếu nái nuôi nhiều con hoặc quá gầy
* Chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
Lợn con sau 12 - 24 giờ sinh ra sẽ được mài nanh, cắt đuôi, bổ sung sắt Khi lợn con 3 ngày tiểu ta cho uống thuốc phòng cầu trùng (Diacoxin 5%) Tiến hành thiến lợn con vào ngày tuổi từ 5 – 7 ngày tuổi tùy thể trạng lợn con
Cho lợn con tập ăn từ ngày thứ 4 – 7 tùy đàn, sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dành cho lợn con (APOLO 1912)
Tiến hành tiêm vắc xin phòng xuyễn và còi cọc vào ngày tuổi thứ 14 (Circumvent PCV M)
Cai sữa cho lợn con 21 – 22 ngày tuổi
3.4.2.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại
* Quy trình chăm sóc nái đẻ và nuôi con
Thực hiện quá trình vệ sinh thú y sạch sẽ, đảm bảo các yếu tố về trang thiết bị trước khi nhận lợn
Giảm lượng thức ăn, sử dụng thức ăn của nái đẻ cho lợn nái ăn trước 1 tuần Tắm rửa sạch sẽ cho lợn nái và chuyển sang chuồng đẻ trước 7 ngày Cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần cho quá trình chăm sóc và đỡ đẻ: dụng cụ sát trùng, dụng cụ hỗ trợ…
Vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái trước khi chuyển qua chuồng đẻ trước 7 – 10 ngày
Chuẩn bị ô úm, tạo điều kiện tốt nhất cho lợn mẹ và lợn con sau khi đẻ
* Khẩu phần ăn cho nái đẻ và nuôi con
Sử dụng loại thức ăn của nái nuôi con thay cho thức ăn nái bầu trước 3 ngày đẻ dự kiến, khối lượng giảm dần 0,5kg một ngày Đến ngày thứ 2 sau đẻ, ta tăng lượng thức ăn thêm 0,5kg đến 1kg tùy con Đối với nái có thể hình gầy ta có thể tăng thêm lượng thức ăn sao cho phù hợp
Bảng 3.3 Khẩu phần ăn của nái mang thai: Đối tượng Giai đoạn Thức ăn
- Lợn mẹ sau khi đẻ xong tiêm 20 ml kháng sinh (Amox LA) hoặc 20ml CEFTOCIL và 2 ml oxytoxin Ngày thứ 2 cũng tiêm giống như vậy Cách ngày thứ 3, ngày thứ 4 tiêm tương tự ngày 1 và 2
Nếu lợn mẹ có biểu hiện viêm tử cung ta tiêm tương tự thêm 2 ngày
- Biểu hiện của lợn mẹ: đứng ngồi không yên, có biểu hiện cào ổ đẻ, ỉa đái vặt trước khi đẻ, bầu vú tiết sữa trước khoảng 1h
- Người đỡ đẻ: vệ sinh bàn tay và cánh tay sạch sẽ, chuẩn bị tất cả dụng cụ đỡ đẻ cần thiết
- Khi đã đỡ được lợn con, dung tay phải giữ chắc lợn con, tay trái tiến hành dung khan lau sạch dịch nhờn ở mũi, mồm, làm sạch toàn thân
- Sau đó ta cho lợn con vào trong lồng úm với nhiệt độ 33 đến 35 độ C
- Trước khi cho bú phải lau sạch bầu vú lợn mẹ tránh bẩn gây tiêu chảy
- Theo dõi liên tục cả quá trình đẻ, khi đẻ song và lợn mẹ cho con bú mới thôi
- Chỉ can thiệp khi lợn mẹ rặn đẻ lâu hơn bình thường hoặc khó đẻ, nếu đẻ bình thường thì để nguyên
3.4.3 Chẩn đoán và điều trị tại trại
Từ quá trình theo dõi biểu hiện của lợn nái đẻ để ta có thể đưa ra những chẩn đoán chính xác, kịp thời Để đưa ra biện pháp điều trị sớm giúp làm tăng hiệu quả điều trị, giảm ảnh hưởng của bệnh cũng như di chứng đối với lợn mẹ và lợn con Để đạt được điều đó, ta phải kiểm tra mỗi sáng khi vào chuồng, theo dõi đàn lợn và phát hiện những biểu hiện bất thường trên đàn vật nuôi
- Phát hiện nái động dục:
+ Có sự có mặt của lợn đực giống hoặc bị đè trên lưng thì lợn nái đứng yên
+ Âm hộ sung huyết, đỏ hồng, căng bóng, sau đó bớt sưng, chuyển sang màu hồng nhạt rồi thâm, nhăn, tai vểnh lên
+ Dịch nhờn chảy ra ngoài âm hộ lỏng, trong và chưa keo dính sau đó chuyển sang trạng thái keo dính
- Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái:
+ Bước 1: Thời điểm tiến hành phối giống: đối với lợn nái hậu bị thì tiến hành phối giống lần đầu ngay sau khi chịu đực, phối lại lần 2 sau 12 giờ Với lợn nái đã sinh sản ta cần cách thời gian chịu đực 12 giờ mới tiến hành phối giống lần đầu, sau 12 giờ phối lần thứ 2
+ Bước 2: Sử dụng lợn đực giống để kích thích lợn nái đứng yên trong lúc phối giống
+ Bước 3: Vệ sinh sạch sẽ cơ quan sinh dục của lợn nái, khu vực phối
+ Bước 4: Bôi que phối bằng gel bôi trơn, chếch 45 độ luồn vào âm hộ dọc theo sống lưng Ta ngồi trên lưng lái, khi có cảm giác kịch thì dừng lại
Mở liều tinh và nối vào que phối
+ Bước 5: Khi tinh dịch đã vào tử cung, ta cắt một lỗ nhỏ ở cuối liều tinh để dễ thực hiện, khi liều tinh đã hết tinh, ta rút liều tinh khỏi que phối, đóng nút, ta để từ 5 đến 10 phút, xoa bụng lợn nái tránh tình trạng tinh dịch chảy ngược ra ngoài
+ Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ
- Mài nanh, cắt đuôi, bổ sung sắt: Lợn con sau sinh từ 12 giờ đến 24 giờ, tùy tình trạng mà ta tiến hành mài nanh và cắt đuôi, sát trùng rốn và tiêm 2ml RTD-FE + B12 để bổ sung sắt
- Phòng bệnh cầu trùng: Cho lợn con uống thuốc cầu trùng vào ngày thứ tuổi thứ 3
- Thiến lợn: Lợn con được 5 đến 7 ngày tuổi, tùy vào tình trạng mà ta tiến hành thiến
3.4.5 Công thức tính và phương pháp sử lý số liệu
- Tỉ lệ lợn mắc bệnh:
Tỷ lệ lợn mắc bệnh(%) ∑ số lợn mắc bệnh x100
- Tỷ lệ lợn khỏi bệnh:
Tỷ lệ lợn khỏi (%) = ∑ số con khỏi bệnh x 100
- Dữ liệu được sử lý bằng công thức tính toán thông thường
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Vũ Hoàng Lân
Từ những thông tin thu được từ số liệu ghi chép của trại và thời gian thực tập, em đã tổng kết tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm từ năm 2019 đến 12 năm 2021 như sau:
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi qua 3 năm 2019 – 12/2021
STT Chỉ tiêu khảo sát ĐVT
Thời gian Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
3 Lợn nái sinh sản Con 138 126 154
(*) Nguồn: Sổ ghi chép số liệu thống kê của trang trại
Từ những số liệu của bảng 4.1 đã cho thấy đàn vật nuôi tại trang trại của ông Vũ Hoàng Lân đã tăng về số lượng lợn nái sinh sản là 154 con năm 2021 so với 138 con năm 2019 Lợn con năm 2021 đạt 4.173 con Nhưng số lượng lợn hậu bị năm 2021 là 40 con giảm 20 con so với năm 2020 và lợn đực giống là 2 con giữ nguyên so với năm 2020 nhưng giảm so với năm 2019
Tính từ năm 2019 đến 2021 thì số lượng lợn của trang trại đã tăng lên đáng kể Với số lượng thay đổi cao nhất là lợn con từ 3.130 con năm 2019 đã tăng lên 4.173 con năm 2021 Tuy trại vẫn có sự loại thải lợn nái hàng tháng những con sinh sản kém, không đạt tiêu chuẩn nhưng số lượng lợn nái sinh sản năm 2021 vẫn cao hơn năm 2019 và năm 2020 Toàn bộ thông tin của lợn nái sinh sản được ghi chép và đánh dấu cẩn thận trên từng thẻ số gắn tai.
Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
Qua thời gian thực tập 6 tháng tại trại, để có thể đưa ra những đánh giá chính xác nhất về kết quả chăm sóc nuôi dưỡng của trang trại thì ngoài thu thập thông tin đã có, việc tham gia trực tiếp vào quá trình chăm sóc nuôi dưỡng của trang trại là rất quan trọng Sau đây là bảng kết quả thu được sau khi em tham gia vào quá trình chăm sóc nuôi dưỡng:
Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng qua các tháng
Số nái theo dõi (con)
Số con đẻ ra (con)
Trong thời gian thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng và theo dõi đàn lợn nái sinh sản tại trại, em đã được trực tiếp chăm sóc 161 con lợn nái đẻ và 1952 con lợn con Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng theo dõi từ lúc nhận lợn từ chuồng bầu đến cai sữa Hàng ngày em đã thực hiện những công việc: dọn dẹp vệ sinh và cho lợn mẹ ăn đúng khẩu phần ăn quy định, tăng giảm khẩu phần ăn một cách hợp lý Chăm sóc lợn con, theo dõi nhiệt độ ở các ô úm, bóng úm, chú ý để lợn không bị đè Vệ sinh khu vực chăm sóc nuôi nhốt và toàn bộ khu vực xung quanh, vệ sinh lợn nái đẻ cũng như lợn con, trang thiết bị dụng cụ…
Từ quá trình chăm sóc nuôi dưỡng thực tế, em đã rút ra được nhiều kinh nghiệm và có thêm nhiều bài học thực tế cũng như những lưu ý trong quá trình chăm sóc Đối với lợn nái đẻ thì cần chú ý đến khẩu phần ăn, dinh dưỡng trước và sau khi đẻ, cần được đảm bảo các quy trình vệ sinh sát trùng và quy trình chẩn đoán điều trị sử dụng thuốc Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thú y luôn phải đặt được lên hàng đầu
Lợn con sau khi sinh cần được vệ sinh sạch sẽ để lợn con có thể hô hấp dễ hơn, cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt Bổ sung sắt bằng cách tiêm chế phẩm RTD-FE + B12 cho lợn con vào 3 ngày tuổi Tập ăn sớm cho lợn con khi được 4 - 7 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp 1912-APOLO FEED của công ty Cargill Thức ăn cho lợn con phải giàu đạm và năng lượng để phù hợp với nhu cầu phát triển qua từng giai đoạn
Theo dõi thường xuyên những biểu hiện của lợn mẹ và lợn con để có thể chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời Khu vực chăn nuôi sản xuất cần được đảm bảo vệ sinh thú y, tạo những điều kiện thuận lợi để vật nuôi có thể phát triển tốt.
Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của đàn lợn nái trong thời gian thực tập
Qua quá trình trực tiếp chăm sóc, em đã thu được kết quả theo dõi đàn lợn nái sinh sản của trại
Kết quả Bảng 4.3 cho thấy: Trong 161 nái em được trực tiếp theo dõi có
156 nái đẻ bình thường chiếm tỷ lệ 96,9%, có 5 nái đẻ khó phải can thiệp chiếm tỷ lệ 3,1%
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái
Nái đẻ bình thường Nái đẻ khó phải can thiệp
Thông qua việc theo dõi lợn mẹ trong quá trình đẻ, bản thân em đã củng cố được những kiến thức đã được học từ môn Bệnh sản khoa Thú y, cũng như tích lũy được những kinh nghiệm thực tế trong quá trình phải can thiệp cho lợn nái đẻ khó
Trong quá trình đỡ đẻ em rút ra được một số kiến thức: Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng, khẩu phần ăn ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đỡ đẻ và mang thai, đối với lợn nái quá béo cần giảm khẩu phần ăn, đối với nái lưa đầu cần điều chỉnh khẩu phần ăn hợp lý tránh tình trạng lợn con quá to dẫn đến đẻ khó, cần loại thải những nái quá già đẻ nhiều lứa không đạt tiêu chuẩn Cần trông đến khi lợn mẹ đẻ xong, nếu có biểu hiện đẻ khó cần sử lý kịp thời
Kỹ năng cần nắm chắc là điều chỉnh khẩu phần ăn hợp lý, năm rõ quy trình đỡ đẻ và cách can thiệp nếu gặp trường hợp đẻ khó.
Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại
4.4.1 Kết quả công tác phòng bệnh bằng vệ sinh chuồng trại
Kết quả công tác vệ sinh tại trại đem lại nhiều kết quả tích cực cho trại như tỷ lệ mắc bệnh thấp, chi phí thuốc thú y thấp đem lại hiệu quả cao hơn cho trang trại trong công tác phòng bệnh Kết quả được trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4 Kết quả vệ sinh chuồng trại
Kết quả đã thực hiện
Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 150 150 100
Quét và rắc vôi đường đi trong chuồng 150 150 100
Quét và rắc vôi ngoài chuồng 20 20 100
Qua bảng kết quả 4.4 ta thấy công tác vệ sinh chuồng trại được thực hiện từng ngày Em đã thực hiện công tác vệ sinh chuồng trại mỗi ngày một lần như: rắc vôi và quét dọn đường đi, vệ sinh ô chuồng, Tại trại, một tuần tiến hành phun sát trùng 3 lần, thực hiện vệ sinh khu vực quanh chuồng trại một tuần hai lần Trong quá trình đó em đã tham gia vệ sinh chuồng trại hàng ngày, quét và rắc vôi đường đi trong chuồng 150 lần, phun sát trùng chuồng nuôi và khu vực xung quanh 60, rắc vôi ngoài chuồng 20 lần với tỷ lệ 100% Trong quá trình thực hiện vệ sinh sát trùng chuồng trại em đã nắm được quy trình sát trùng vệ sinh hợp lý, liều lượng hợp lý và những lưu ý khi vệ sinh sát trùng Đặc biệt, trong quá trình thực tập em đã tìm hiểu lý do vì sao trại lợn lại sử dụng vôi bột để phòng chống dịch tả lợn Châu phi Vệ sinh tiêu độc khử trùng bằng vôi bột được các hộ chăn nuôi, trang trại chăn nuôi lựa chọn sử dụng vì giá thành rẻ, đạt hiệu quả cao, dễ dàng sử dụng Virus Dịch tả lợn Châu Phi và các virus khác đều có khả năng bị tiêu diệt khi pH trong môi trường có nồng độ pH < 3,9 và pH > 11,5 Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao trong phòng, chống Dịch tả lợn Châu Phi, nên sử dụng vôi bột để khử trùng môi trường đều đặn hàng tuần và lượng vôi bột đủ dày để đủ sát khuẩn môi trường theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn Cụ thể, rắc vôi bột xung quanh chuồng, đặc biệt cần phủ kín bề mặt lối ra vào chuồng trại Ở các tuyến đường đi lại phải rắc lượng vôi bột dày, đủ chiều dài để vòng quay của bánh xe được vôi bột phủ kín
4.4.2 Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, công tác phòng bệnh cho đàn lợn là hết sức cần thiết, luôn phải quan tâm hàng đầu và quan trọng nhất Tại trang trại công tác này cũng luôn được thực hiện một cách tích cực và chủ động
Tất cả lịch vắc xin tại trại để phòng bệnh cho lợn luôn được thực hiện nghiêm ngặt, đầy đủ và đúng kĩ thuật
Muốn có kết quả phòng bệnh tốt nhất thì ngoài loại vắc xin sử dụng, cách sử dụng Còn phải phụ thuộc vào sức khỏe hiện tại của đàn lợn Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin tại trang trại được trình bày ở bảng 4.5
Bảng 4.5 Kết quả sử dụng vắc xin phòng bệnh cho lợn con
Số lợn an toàn (con)
Hội chứng còi cọc và
Kết quả bảng 4.5 cho thấy: đây chỉ là số liệu là em được trực tiếp làm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn con Trong thời gian thực tập em đã được trực tiếp làm vắc xin để phòng Hội chứng còi cọc cho lợn con và phòng bệnh Suyễn; Dịch tả lợn cổ điển cho lợn con theo mẹ Trong quá trình thực hiện việc tiêm phòng vắc xin cho lợn em đã rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân cũng như cũng cố lại được kiến thức về sử dụng vắc xin hiệu quả
Trong quá trình tiêm cần tuân thủ nguyên tắc 3 đúng: đúng đối tượng, đúng liều lượng, đúng vị trí Dụng cụ tiêm phòng (bơm tiêm, kim tiêm, panh) phải đảm bảo tiệt trùng Cùng đó, chuẩn bị đảm bảo đầy đủ bảo hộ Không dùng cồn để sát trùng bơm kim tiêm khi tiêm vắc xin, không được tiêm vắc xin cho động vật đang mắc bệnh, nghi mắc bệnh, động vật quá gầy yếu, quá non, con mẹ mới đẻ, động vật mới thiến chưa lành vết thương, những con có nhiều ký sinh trùng và động vật mang thai ở kỳ cuối, những con đang sử dụng thuốc kháng viêm… Vắc xin phải được lắc đều khi tiêm, không vứt bừa bãi chai lọ, kim tiêm; cần theo dõi các biểu hiện bất thường của vật nuôi sau khi sử dụng vắc xin.