ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN KHÁNH HUYỀN Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÒ, KHOA
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KHÁNH HUYỀN Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG,
PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ NUÔI
TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÒ, KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KHÁNH HUYỀN Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG,
PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ NUÔI
TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÒ, KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Thú y
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Mạnh Cường
Thái Nguyên, năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp đại học là một khóa học cần thiết và rất quan trọng
đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, nhằm rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ
Vận dụng kiến thức lý thuyết cơ bản và kiến thức chuyên môn đã học tích lũy
thêm kinh nghiệm và thực hành trên lớp cho công việc sau này
Đầu tiên, bằng những tình cảm chân thành và sâu sắc nhất,emrất biết
ơn đến thầy cô, bạn bè đã quan tâm, tạo điều kiện và đóng góp đã giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập tại trường và thực tập tại một số cơ sở giáo dục
Với lời cảm ơn chân thành nhất gửi đến các thầy cô giáo bộ môn Chăn
nuôiThú y đã dạy cho chúng em những kiến thức quý giá trong suốt thời gian
học tập tại trường Xin cảm ơn quý thầy cô đã chỉ bảo và giúp đỡ để khóa
luận tốt nghiệp của em có thể hoàn thành tốt
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn em là TS Nguyễn
Mạnh Cường, người đã dìu dắt em trong thời gian thực tập Thầy đã hướng
dẫn em, động viên em hoàn thành tốt nhiệm vụ.Em xin chân thành cảm ơn và
kính chúc thầy có sức khỏe và hạnh phúc
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo TS La Văn Công đã tạo điều kiện
và giúp em hoàn thành khóa thực tập của mình Tuy nhiên, bản thân em còn
nhiều hạn chế trong chuyên môn, không có nhiều kinh nghiệm nên bản báo
cáo còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo để giúp
cho bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin kính chúc quý thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong
sự nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Khánh Huyền
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thời gian phối giống thích hợp của bò 7
Bảng 2.2 Công thức phối trộn thức ăn tinh (tính cho 200 kg) 21
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của bê sau giai đoạn cai sữa đến hậu bị 32
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của đàn bò nuôi tại trại trong qua 3 năm 33
Bảng 4.2 Số lượng đàn bò trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại 34
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công việc vệ sinh phòng bệnh 36
Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng vaccine cho đàn bò của trại trong tháng 12 năm 2021 38
Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán một số bệnh cho đàn bò của trại 38
Bảng 4.6 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn bò của trại 40
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại 41
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
CP Charoen Pokphand
cs Cộng sự ĐVT Đơn vị tính
Nxb Nhà xuất bản
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện tự nhiên của trại bò khoa Chăn nuôi Thú y 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu thủy văn 3
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 4
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục ở bò cái 4
2.2.2 Khái quát về sinh lý sinh sản của bò cái 6
2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở bò 8
2.2.4 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng bò cái sinh sản 19
2.2.5 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho bò 21
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài hiện nay 24
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 24
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1 Đối tượng 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung tiến hành 30
Trang 73.4 Phương pháp thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tình hình chăn nuôi bò tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 33
4.2 Số lượng bò trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y 33
4.3 Kết quả công tác phòng và trị bệnh cho đàn bò tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 36
4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 36
4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vaccine cho đàn bò tại trại 37
4.4 Thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho đàn bò tại trại 38
4.4.1 Kết quả chẩn đoán một số bệnh cho đàn bò 38
4.4.2 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn bò nuôi tại trại 39
4.5 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại 40
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 424 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chăn nuôi luôn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng của nông nghiệp
và là nhân tố chính của nền kinh tế nước ta Ngành chăn nuôi của nước ta có
từ lâu đời và đã có nhiều đóng góp vào cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân trong nhiều năm qua Hiện nay, trong quá trình chuyển đổi kinh tế, chăn nuôi của nước ta cũng có nhịp độ phát triển kinh tế mới và trở lại
Trong số đó, có ngành chăn nuôi bò mang lại lợi nhuận khổng lồ cho người chăn nuôi Chăn nuôi cung cấp thịt, sức kéo, phân bón, cung cấp nguyên liệu cho một số ngành nghề thủ công Chăn nuôi bò sinh sản đang thực sự tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân nông dân, đồng thời cung cấp thịt cho nhu cầu thực phẩm hàng ngày ngày càng nhiều người tiêu dùng
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ thịt bò trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt
là sự cạnh tranh về chất lượng và giá cả của các loại thịt bò và các sản phẩm khác rất gay gắt Sự phát triển của đàn bò ở Việt Nam không ổn định và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Khoa Chăn nuôi Thú y đã mở một trang trại bò
để phục vụ cho nghiên cứu và học các kỹ năng tiêm truyền, chăm sóc nuôi dưỡng đàn bò, giúp cho sinh viên rèn luyện thêm nhiều kỹ năng thao tác trong việc chăn nuôi bò Phân bò là loại phân hữu cơ có khối lượng đáng
kể, nó đáp ứng một phần rất lớn cho nông nghiệp hiện nay và được sử dụng
để làm chất đốt
Trang 9Trại chăn nuôi bò trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã và đang phát triển với quy mô rộng hơn và tăng số lượng bò trong quá trình chăn nuôi Việc chăn nuôi bò của Khoa Chăn nuôi Thú y có thể coi là nhà máy sinh học với nguyên liệu là cây cỏ vafd sẩn phẩm là thịt, sữa, sức kéo, phân bón kèm theo phụ phẩm khác Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò cho phép khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong Khoa Chăn nuôi Thú y, tạo ra những sản phẩm có giá trị cao trong xã hội
Xuất phát từ những nhu cầu trong ngành chăn nuôi bò, để giúp Khoa Chăn nuôi Thú y thúc đẩy chăn nuôi Bò - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, em thực hiện quy trình “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn bò nuôi tại trại chăn nuôi bò, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Học hỏi và áp dụng một số biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn
bò tại trại
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh và cách phòng trị một số bệnh trên đàn bò nuôi tại cơ sở
- Học tập, rèn luyện và củng cố kiến thức đã học Tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế nhằm nâng cao kỹ năng chuyên môn cùng với trải nghiệm kiến thức thực tiễn trong 6 tháng thực tập tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn bò tại trại
- Biết cách chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh cho đàn bò tại trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên của trại bò khoa Chăn nuôi Thú y
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại nằm trong khu Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 6 km về phía Tây Ranh giới trang trại bò của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên như sau:
+ Phía Đông giáp khoa Công nghệ Sinh học
+ Phía Tây giáp trang trại chăn nuôi gia cầm của trường khoa Chăn nuôi Thú y
+ Phía Nam giáp khu nuôi trồng thủy sản
+ Phía Bắc giáp phường Quán Triều
Tổng diện tích trại là 8000 m2 Diện tích chuồng là 50 m2 Trang trại gồm có bãi thả cho bò với diện tích 70 m2, phần đất còn lại đã được quy hoạch trồng cỏ chăn nuôi gia súc.Trong vườn cỏ ở trang trại có hai loại cỏ là VA06 và cỏ bách xù làm thức ăn cho bò
2.1.2 Điều kiện khí hậu thủy văn
Trang trại chăn nuôi bò sinh sản của khoa Chăn nuôi Thú y nằm trong khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tại thị trấn Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh miền núi miền Trung nằm ở phía Đông Bắc nước ta
Thời tiết được chia thành 4 mùa khác nhau: Xuân, Hạ, Thu, Đông Nhưng chủ yếu có hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô
- Mùa mưa thường kéo dài từ cuối tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 24oC - 29oC, độ ẩm trung bình trên 80% Trong
Trang 11điều kiện khí hậu như vậy, chúng ta cần chú trọng phòng chống một số dịch bệnh theo mùa cho vật nuôi
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, những tháng này khô và lạnh, ít mưa Nhiệt độ từ khoảng 13oC đến 26oC và độ ẩm từ 76% đến 87% Thường
có gió mùa Đông Bắc vào mùa đông, làm mát thời tiết và gây lạnh và sương giá vào ban đêm Nhiều ngày nhiệt độ xuống sâu chỉ từ 6oC đến 10oC trở xuống gây hại cho cây trồng, vật nuôi
Trang trại bò của Khoa Chăn nuôi Thú y nằm trong vùng có khí hậu ôn hòa thích hợp cho sự phát triển của bò
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục ở bò cái
2.2.1.1 Cơ quan sinh dục bên ngoài:
Cấu tạo cơ quan sinh dục ngoài của bò là bộ phận có thể nhìn, sờ, quan sát được bằng mắt, bao gồm: âm hộ, âm vật, tiền đình
Âm hộ (vulvae): Âm hộ hay còn gọi là âm môn nằm bên dưới hậu
môn Bên ngoài âm hộ có hai môi, được nối với nhau bằng hai mép Môi âm
hộ bên ngoài có tế bào hắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến
mồ hôi
- Âm vật (clitoris): Âm vật giống như dương vật bị thu nhỏ lại, trên âm
vật có các nếp da tạo thành mũ âm vật, phần giữa âm vật cong xuống Nơi đây tập trung của các mút thần kinh
- Tiền đình (vestibulum): Là nơi tiếp giáp giữa âm hộ và âm đạo, gồm
có màng trinh Màng trinh ở phía trước âm đạo và phía sau là âm hộ Niệu đạo nằm sau màng trinh, tiền đình có nhiều tuyến đối nhau Mặt của âm hộ
2.2.1.2 Cơ quan sinh dục bên trong:
Bao gồm: ống dẫn trứng, buồng trứng, âm đạo và tử cung
Trang 12- Buồng trứng (ovanrium): có chức năng nội tiết (tiết hoocmôn sinh
sản; oestrogen, progesteron ) và chức năng ngoại tiết (sản xuất tế bào trứng) Bầu nhụy hình bầu dục, con non mới sinh nặng khoảng 0,3g, lúc trưởng thành bầu noãn dài 0,8 - 1,5 x 2 - 3 cm Khi bò còn nhỏ, buồng trứng bên trái nhỏ hơn buồng trứng bên phải, nhưng khi chúng lớn lên thì ngược lại Trong thời kỳ nhiệt, buồng trứng lớn hơn bình thường Khi chưa có thai, buồng trứng nằm trong hố chậu, cách âm hộ khoảng 20 - 30 cm, bên cạnh sừng tử cung Một con
bê cái 3 - 4 tháng tuổi có khoảng 75.000 tế bào trứng, nhưng đến 1,5 - 3 tuổi chỉ còn lại 21.000 tế bào trứng
- Ống dẫn trứng (oviductus): Là một ống nhỏ quanh co nằm ở mạc treo
của buồng trứng Cấu tạo của ống dẫn trứng được chia làm 3 lớp: lớp ngoài là các sợi cơ liên kết, lớp giữa là lớp cơ, lớp trong là lớp niêm mạc
Lớp niêm mạc có các tế bào biểu bì với nhung mao, và khi tế bào trứng xâm nhập vào chuông và di chuyển xuống, điều này là do sự co lại của các lớp nhung mao và cơ Trứng di chuyển qua ống dẫn trứng từ 3 đến 10 ngày, tại đây tế bào trứng bị tắc do ống dẫn trứng bị hẹp lại
- Tử cung (uterus): Có cấu tạo rất phù hợp với chức năng phát triển và
dinh dưỡng của thai nhi Trứng được thụ tinh ở 1/3 trên của ống dẫn trứng và sau đó quay trở lại tử cung để làm tổ
Trứng được thụ tinh sẽ phát triển từ các chất dinh dưỡng trong cơ thể
mẹ thông qua niêm mạc tử cung Quá trình sinh nở được đẩy ra ngoài nhờ lớp
cơ của tử cung
Lớp cơ trơn: Giúp đẩy thai nhi ra ngoài và là lớp chắc nhất của cơ thể Bên trong lớp cơ trơn là các sợi cơ liên kết đàn hồi đan xen vào nhau giúp tử cung chắc khỏe và đàn hồi tốt Bên ngoài cơ trơn là một lớp mô sợi liên kết mỏng, trong tử cung có các tuyến tiết ra chất nhờn Chất nhầy được đẩy về phía cổ tử cung bằng cách làm rung các nhung mao Tử cung bò gồm các bộ
Trang 13phận sau: cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung Tử cung nằm trong khung chậu, với trực tràng ở trên và bàng quang ở dưới
- Âm đạo (vagina): Mặt trước của âm đạo là cổ tử cung, mặt sau là tiền
đình, màng trinh che kín cửa âm đạo Âm đạo có hình dạng như một ống tròn
là nơi chứa các cơ quan sinh dục của nam giới trong quá trình giao hợp và cũng là bộ phận mà thai nhi chui ra trong quá trình sinh nở
Âm đạo có các cấu trúc sau:
+ Màng nhầy: gồm các tế bào tiền bì dẹt, có dạng hình trụ, tiết, không
có tuyến Trong thời kỳ động dục, các tế bào này cũng thay đổi
+ Màng ngoài: Được tạo thành từ nhiều mô liên kết, nhiều mạch máu
và dây thần kinh
+ Lớp cơ, gồm 2 lớp cơ vòng và cơ dọc
Âm đạo là một cơ quan âm đạo dài khoảng 20 - 30cm Bên trong âm đạo có nhiều dịch nhờn chảy ra từ tế bào giúp quá trình sinh nở diễn ra dễ dàng hơn
2.2.2 Khái quát về sinh lý sinh sản của bò cái
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [12], thành thục sinh dục là thời điểm con vật bắt đầu có những biểu hiện về hoạt động sinh dục, động dục và rụng trứng Trên thực tế, bò sữa đạt thành thục sinh dục sớm hơn nhiều so với thành thục về thể chất Tuổi mà bò cái tơ thành thục về mặt sinh dục phụ thuộc vào các yếu tố sau: giống, mức độ dinh dưỡng, khí hậu và mùa vụ, và cách quản lý
* Tính toán chu kỳ và thời gian thụ tinh thích hợp cho bò
- Chu kỳ tính
Thời gian động dục trung bình của bò sữa là 21 ngày, dao động từ
18-24 ngày Chia làm 4 giai đoạn: Tiền động dục (proestrus), động dục (oestrus), hậu động dục (metoestrus) và yên tĩnh (dioestrus)
Trang 14+ Giai đoạn tiền động dục: bò cái có dấu hiệu chú ý đến xung quanh Quá sức ăn uống kém, bỏ ăn, la hét, đi tiểu hoặc nhảy lên lưng con khác nhưng không chịu đực
+ Giai đoạn động dục: Giai đoạn này rất thú vị và là thời gian kiên nhẫn Con đực của bò cái dao động trong khoảng 6 - 30 giờ, lúc này chất nhầy chảy
ra Nhiều khi lúc đầu loãng, trong, cuối cùng có màu trắng đục như nước hồ sền sệt, đến độ keo cao Bò có khả năng chịu đực cao độ
+ Giai đoạn hậu động dục: Từ khi bò cái ngừng sinh đực cho đến khi bộ phận sinh dục trở lại bình thường (khoảng 5 ngày) Bò ăn, uống và đi lại bình thường Sự rụng trứng xảy ra 10 - 12 giờ sau khi một người đàn ông thức dậy
+ Giai đoạn yên tĩnh: thời gian dài nhất trong khoảng thời gian tính toán là giữa hai thời điểm động dục là do sự hiện diện của hoàng thể Nếu bạn không rụng trứng sau 8 ngày Sự thụ tinh Nếu là trứng, thời kỳ này sẽ được thay thế bằng thời kỳ mang thai Sự thụ tinh
- Thời gian phối giống chính xác: Trên thực tế, sản lượng thịt bò của nước tôi rất khó xác định chính xác Thời điểm động dục, kiểm tra xem bò cái có ít bị điều kiện không Nói chung phải dựa trên trải nghiệm AM-PM và PM-AM
Bảng 2.1 Thời gian phối giống thích hợp của bò Thời gian phát
8 giờ sáng hôm sau trở đi
Buổi chiều và tối Sáng và trưa hôm sau Chiều hôm sau
(Nguồn : Kỹ thuật trại)
Trang 15* Mang thai và sinh đẻ
Sự phát triển của một bào thai bò mất khoảng 280 ngày, chia thành 3 thời kỳ:
- Giai đoạn phôi nang (ngày 1 đến ngày 34): Trong giai đoạn này, phôi phát triển mạnh mẽ Âm lượng đã tăng lên khoảng 600 lần
- Thời kỳ tiền thai đầu tiên (35 - 60 ngày): Hình thành và phát triển các
cơ quan nội tạng, mô, dây thần kinh, sụn, tuyến vú
- Thời kỳ bào thai (từ ngày 61 đến khi sinh): Trong 2 tháng qua, Cân nặng thai kỳ 2 tháng cuối khoảng 13 - 14kg, khoảng 2/3 đến 3/4 trọng lượng sơ sinh
Mỗi giai đoạn có một kế hoạch chăm sóc khác nhau Đặc biệt trong 2 tuần cuối cùng là chế độ dinh dưỡng và chăm sóc phải hợp lý
một số bệnh truyền nhiễm do truyền nhiễm phá thai, bệnh do Trichomonas,
Streptococcus gây ra
Theo các tác giả Nguyễn Văn Thanh và (2016) [10]: Viêm tử cung khi chuyển dạ, đặc biệt là sản phụ cần can thiệp thủ công hoặc dụng cụ để đóng niêm mạc đường sinh dục cái
Do liên tiếp xảy ra một số bệnh lý như sát nhau mà không được can thiệp kịp thời, nhau thai bị phân hủy và thối rữa trong tử cung, gây nhiễm trùng tử cung
Trang 16Do không được vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ như nơi đẻ, nền chuồng, dụng cụ sinh không được tiệt trùng
Tất cả những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào tử cung, sau đó xâm nhập qua các vết xước trên nội mạc tử cung, sinh sôi, tăng số lượng, tăng độc lực và gây viêm nhiễm Vi khuẩn thường gặp
trong nhiễm trùng tử cung là Streptococcus, Staphylococcus và E.coli
* Triệu chứng
Bệnh làm cho bò mệt mỏi, ít ăn, sốt cao 40 - 40,50C trong giai đoạn đầu của bệnh Âm đạo tiết dịch nhầy, có mùi tanh, mủ có lẫn máu thối trong trường hợp nặng Nó chạm vào tử cung qua trực tràng, to, giống quả mọng và nóng hơn các cơ quan khác các khu vực khác
* Điều trị
Biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung - âm đạo hiệu quả nhất là:
- Thụt rửa nhiều lần bằng dung dịch thuốc tím 0,1% liều lượng
3000 - 5000ml
- Dùng kháng sinhAmoxinject tiêm bắp liều 1ml/10kg thể trọng, tiêm nhắc
lại sau 48 giờ, kết hợp tiêm với Oxytoxine1-2ml/con, dùng trong 2 - 3 ngày
kỳ mang thai
Trang 17Theo Nguyễn Văn Thanh (2016) [10], các bệnh có mối liên hệ chặt chẽ với nhau do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do hai nguyên nhân sau:
- Sau khi mang thai, các cơn co tử cung yếu, cơ xô của mẹ cũng yếu dần, do mẹ lười vận động khi mang thai, nhất là giai đoạn sau của thai kỳ, chế
độ ăn uống thiếu khoáng chất, đặc biệt là canxi Gia súc quá gầy hoặc quá béo không thể sinh đôi (đối với động vật một con) hoặc quá nhiều con (đối với động vật đẻ nhiều con) Thai nhi quá lớn, sản dịch ra nhiều khiến cổ tử cung căng quá mức, giảm khả năng đàn hồi và co bóp Ngoài ra, các trường hợp nhau bong non đều ảnh hưởng đến quá trình co bóp tử cung, làm giảm lực đẩy của mẹ, khiến nhau thai không thể tách khỏi niêm mạc tử cung của mẹ
- Nhau thai và bánh nhau bị dính: viêm nội mạc tử cung, viêm phúc mạc, nhau thai và bánh nhau của mẹ bị dính vào nhau nên dù tử cung co bóp bình thường nhưng nhau thai và bánh nhau vẫn bị dính vào nhau, không tách
ra được mẹ Ngoài ra, khi một con bò bị nhiễm bệnh brucella hoặc bệnh vibrosis, nhau thai và bánh nhau thường dính vào nhau Đặc biệt ở trâu, bò sữa, do cấu tạo của nhau thai mẹ và nhau thai con rất đặc biệt, lại có quan hệ mật thiết với nhau theo kiểu hình răng lược nên sau khi chửa bao lâu, cơn co
tử cung còn yếu thì rất dễ để gây ung thư
Có hai loại là sát nhau toàn phần và sát nhau một phần Bò đẻ mà có biểu hiện sát nhau phải can thiệp ngay nếu không sẽ thối, gây trúng độc toàn thân, chết hoặc mất sữa
* Triệu chứng
Bệnh ở bò có triệu chứng gần, tùy theo mức độ bệnh mà toàn bộ bánh nhau vẫn nằm trong tử cung hoặc một phần màng ối, nhau thai con đã tách khỏi nhau thai mẹ bị đẩy ra ngoài và bám lỏng lẻo mép âm hộ, đôi khi một phần của màng ối đã được tiếp xúc hoàn toàn sắp tới
Trang 18Trâu, bò sữa bị đau, bứt rứt, khó chịu khi bị kích thích, cong lưng và cong đuôi Sau 2 - 3 ngày của thai kỳ, nếu nhau thai không được đẩy ra ngoài,
vi khuẩn có thể sinh sôi trong tử cung, làm cho bánh nhau bị thối và chảy ra
từ bộ phận sinh dục, bao gồm dịch thai, máu, mủ, chất nhầy, các mô vụn, tế bào bị phân hủy có mùi hôi, khó chịu
Càng về sau, mức độ thay đổi của nhau thai càng ngày càng nặng và ngày càng nặng mùi hơn Lúc này mẹ có những biểu hiện toàn thân rõ rệt: thân nhiệt tăng, ăn vào giảm, tiết sữa giảm Con vật có thể chết nếu tiếp tục
mà không can thiệp khi tình trạng con vật xấu đi: bỏ ăn, bỏ nhai, chướng bụng, đầy hơi, ngừng tiết sữa, nhiễm trùng huyết hoặc chảy mủ
* Điều trị
Biện pháp điều trị bệnh sát nhau trước tiên ở bò hiệu quả nhất là áp dụng phương pháp bóc nhau: Thụt nước muối ấm 1% (4 - 6 lít) vào tử cung sau đó vuốt ra Sau khi bóc nhau xong tiến hành thụt các dung dịch: Lugol 1%, rivanol 1% hoặc dung dịch thuốc tím 0,1% từ 3- 5 lít Sau đó chờ để dung dịch thuốc sát trùng chảy ra hết, tiến hành đặt vào đường sinh dục của
bò bằng một số loại thuốc kháng sinh để chống viêm tử cung
Các loại kháng sinh thường dùng: Dùng penicillin 2000000 UI + streptomycin 1g + 20ml lít nước cất Tiêm oxytocin 30 - 40 UI liều 6- 8ml Tiếp tục thụt rửa và sử dụng kháng sinh 5 ngày cho đến khi sạch viêm Kết hợp sử dụng trợ sức, trợ lực: Cafein
2.2.3.3 Bệnh bại liệt sau đẻ
* Nguyên nhân
Theo Nguyễn Văn Thanh (2016) [10], bệnh bại liệt sau sinh hay bệnh sốt sữa là bệnh nguy hiểm đối với vật nuôi Bệnh tấn công đột ngột và nhanh chóng Bệnh đặc trưng bởi mất cảm giác, tê bì chân, ruột, họng và suy giảm mọi phản xạ dù có điều kiện hay không Nó thường xảy ra đột ngột ở bò cái
Trang 19đẻ từ lứa thứ 3 đến thứ 6, bò cái có sản lượng sữa cao trong 3-5 ngày đầu sau khi đẻ Khi bị bệnh, bò thường có biểu hiện kích động Một số con bò còn có các triệu chứng về thần kinh như run và co giật, sau đó mất ý thức ở 4 chân và bị liệt Nguyên nhân chính của bệnh tật là không rõ ràng Khó xác định Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân của bệnh là do giảm lượng canxi trong máu, xảy ra khi một lượng lớn máu tụ lại ở vú sau khi sinh con, và thành phần của sữa có chứa một lượng lớn canxi Hạ canxi máu
là hậu quả của rối loạn chức năng của các tuyến cận giáp, bị tắc nghẽn trong quá trình chuyển dạ
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [12], bệnh bại liệt sau sinh có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, nhất là giai đoạn cuối, bò không cung cấp đủ canxi photphat nhưng giai đoạn này phát triển xương thai rất nhanh, cần lượng canxi lớn các muối Sau khi đẻ, bò tiết ra một lượng lớn sữa, trong đó
có nhiều muối canxi của bò chuyển vào sữa làm cho nồng độ canxi trong máu của bò giảm dẫn đến bại liệt
* Triệu chứng
Bạch Đăng Phong và Nguyễn Hữu Ninh (2000) [7], các triệu chứng của bệnh là: chán ăn, biếng ăn, giảm nhu động dạ cỏ, không nhai lại được, không đại tiện được, chướng bụng nhẹ, giảm tiết sữa Bò thở dốc, hoảng loạn, thân nhiệt đột ngột tăng cao 41 - 42oC Đối với bò nhiễm bệnh vài giờ sau khi đẻ, 60% bò nhiễm bệnh sẽ chết nếu không được điều trị sau 12 - 48 giờ
Bệnh tiến triển rất nhanh, các triệu chứng điển hình xuất hiện trong vòng chưa đầy 12 giờ Con vật giảm hoặc bỏ ăn, ngừng nhai Sau đó, con vật trong trạng thái kích động, chân loạng choạng, đi giật lùi và run cơ Đôi khi con vật sẽ xuất hiện trạng thái phấn khích thần kinh và kêu la, biểu hiện một
số triệu chứng của thần kinh nên đổ mồ hôi trộm Khi bệnh phát triển, gia súc
bỏ ăn hoàn toàn, nhu động dạ cỏ, nhai lại và đại tiện biến mất hoàn toàn
Trang 20Khám trực tràng thấy bàng quang căng to, chứa đầy nước tiểu, con vật hơi chướng, giảm tiết sữa Thân nhiệt giai đoạn cuối không thay đổi nhiều và chỉ tăng cao khi con vật hưng phấn
Sau đó, nhiệt độ sẽ giảm dần, có thể còn 35 - 36 oC Đầu, sừng, tai, da, bàn chân đều lạnh Con vật thở sâu và chậm, thở hổn hển vì lưỡi và hầu bị tê liệt và nước bọt đọng lại trong miệng Con vật luôn thè lưỡi và chảy nước dãi Mạch yếu khó phát hiện Trường hợp đặc biệt, bò bị bệnh khi chuyển dạ, tử cung ngừng co, mẹ ngừng rặn đẻ, chuyển dạ khó Cuối cùng, hai chân sau của con vật bị liệt và không thể đứng vững Con vật hôn mê, phản xạ mắt rất yếu hoặc hoàn toàn không có, đồng tử mắt mở to, không phản ứng với ánh sáng vào mắt Con vật nằm sấp, bằng bốn chân dưới bụng, đầu cúi xuống và đầu quay sang một bên Khi dùng tay duỗi thẳng đầu con vật, buông tay ra và đầu quay về phía ngực Có em nằm nghiêng, cả 4 chân duỗi thẳng, run lẩy bẩy
Nếu bệnh xảy ra ở thể nhẹ, ngoài tình trạng tê liệt, con vật sẽ xuất hiện một số triệu chứng cụ thể khác Đặc biệt nhất là tư thế nằm của con vật: đầu,
cổ, vai và lưng của con vật cong hình chữ S, con vật ủ rũ, bồn chồn, mắt đờ đẫn, cơ run, đôi khi cả cơ thượng chân tay run rẩy, cơ thể lắc đầu Nhiệt độ
cơ thể nói chung là bình thường hoặc có thể giảm nhẹ Con vật bỏ ăn, giảm tiết sữa, không muốn đi lại, run chân sau, đứng khó, đi không vững
Trang 212.2.3.4 Bệnh rặn đẻ quá yếu
* Nguyên nhân
Có nhiều lý do khiến bò quá yếu, không thể đẩy lên được: Giai đoạn đầu bê đẻ quá yếu, nguyên nhân chủ yếu do khẩu phần ăn chưa đủ, cho bú không hợp lý, lười vận động Dịch thai ra quá nhiều hoặc thai nhi quá lớn khiến cho thành tử cung bị căng ra quá mức Hoặc có thể do phù thũng xoang bụng, nơi các cơ thành bụng bị dãn ra
Nguyên nhân chủ yếu là do vị trí thai nhi bất thường, đường sinh dục hẹp, thai nhi quá lớn không thể lọt vào khung chậu
Ở gia súc thường xảy ra hiện tượng đa thai với tuổi thai quá lớn
Do dị dạng tử cung, dị sản tử cung, hoặc rối loạn chức năng nội tiết tố sau tuyến yên Lực thứ hai quá yếu, xảy ra sau khi tử cung và thành bụng co bóp bình thường, nhưng vẫn không có tác dụng chuyển dạ
* Triệu chứng
Xác định theo thời gian của quá trình sinh nở
+ Bò cái chửa đủ ngày, đủ tháng Sau nhiều lần rặn đẻ, một số triệu chứng sắp sinh đã xuất hiện nhưng thai vẫn không thể ra ngoài, kéo dài
+ Khám âm đạo, cổ tử cung giãn, hoa nở mềm, thai nằm trước cổ tử cung nhưng thai không qua được
+ Nếu phát hiện muộn và không được điều trị kịp thời, thai nhi có thể
bị chết lưu và diễn biến bệnh lý ngày càng nghiêm trọng
+ Nếu lực đẩy quá yếu, đầu tiên là tử cung và thành bụng co bóp, mẹ đẩy vẫn bình thường, một số thai bị đẩy ra ngoài (đa thai) Sau đó là những cơn co thắt quá yếu, và cơn chuyển dạ dừng lại Khám âm đạo, trực tràng hoặc quan sát bên ngoài (ở động vật nhỏ) sẽ cho thấy thai nhi vẫn còn trong bụng mẹ
Trang 22+ Bệnh này có thể gây chết thai, liệt mẹ sau sinh, sa tử cung và tử cung không phục hồi hoàn toàn
* Điều trị
- Dùng các thuốc có công dụng kicfhs thích co bóp tử cung :
+ Ergotin: Ngựa 10 - 12ml, Bò 15 - 20ml, Lợn 3 - 5ml
+ Oxytocin: 6 - 8ml gia súc lớn, 2 - 5ml gia súc nhỏ
+ Hoặc dùng Pitiutri, Sinestrol
+ Trợ sức trợ lực cho bò bằng dung dịch Glucose 5 – 30 tiêm tĩnh mạch
* Lưu ý: Rằng cổ tử cung phải được giãn ra hoàn toàn trong khi dùng
thuốc, vị trí và hướng của thai nhi phải bình thường
Phương pháp tiến hành: Khi kéo thai, phương pháp kéo thai ra khỏi tử cung
mẹ cần chú ý:
- Các dụng cụ phải được vô trùng và được bôi trơn bằng dầu bôi trơn hoặc glycerin, dầu thực vật để tránh nhiễm trùng và tổn thương cơ quan sinh sản
- Hướng và vị trí của thai nhi phải bình thường
- Lựa chọn thiết bị kéo phù hợp khi thai còn sống hoặc đã chết
- Khi kéo thai lưu ý kết hợp lực đẩy của mẹ và kéo từ trực theo đúng hướng trục xương chậu
Phương pháp phẫu thuật: Các phương pháp điều trị nêu trên được sử dụng, nếu không có tác dụng thì cuối cùng áp dụng phương pháp phẫu thuật Cưa thai để lấy ra từng mảng nhỏ Hoặc phẫu thuật trên cơ thể người mẹ để loại bỏ thai nhi (mổ lấy thai)
2.2.3.5 Bệnh rặn đẻ quá mạnh
* Nguyên nhân
Chủ yếu là do bất thường về hướng và vị trí của thai nhi, thai nhi quá lớn và không tương xứng với kích thước của đường sinh sản Có thể dùng sai
Trang 23liều lượng thuốc kích thích co bóp tử cung khiến tử cung co bóp dữ dội Có thể do mẹ tiết ra nhiều acetylcholin
* Triệu chứng
Bò rặn mạnh liên tục, giữa các lần rặn có khoảng cách ngắn Nếu hướng và
vị trí của thai nhi bình thường, thai nhi sẽ nhanh chóng được đẩy ra ngoài
Ngược lại, nếu bất thường về hướng và vị trí của thai có thể dẫn đến rách, vỡ tử cung, sa âm đạo, ngạt thai và chảy máu tử cung
Trong trường hợp tử cung vẫn còn co bóp nhiều sau khi hút thai mà mẹ vẫn tiếp tục rặn đẻ thì có thể tử cung bị lộn ngược
* Điều trị
Để gia súc đúng hoặc nằm trên nền chuồng phía đầu thấp hơn đuôi để giảm áp lực xoang chậu
Giảm và ức chế hiện tượng co bóp của tử cung
Dùng các loại thuốc giảm đau, cho uống cồn 30˚ hoặc rượu trắng
2.2.3.6 Viêm nội mạc tử cung
* Nguyên nhân
Có các nguyên nhân gây viêm nội mạc tử cung sau:
- Do trong quá trình sinh đẻ niêm mạc tử cung bị tổn thương và bị nhiễm khuẩn
- Bị nhiễm vi khuẩn khi giao phối hoặc gia súc đực bị viêm cơ quan sinh dục
- Thụ tinh nhân tạo hoặc can thiệp đẻ khó không đảm bảo vô trùng và không đúng kỹ thuật
- Kế phát của bệnh sát nhau, viêm âm đạo
* Triệu chứng
Có hai thể xảy ra ở viêm nội mạc tử cung là cấp tính và mãn tính:
Trang 24- Thể cấp tính: Con vật sốt, giảm ăn, giảm tiết sữa, âm hộ sưng đỏ, biểu hiện bồn chồn Tiết dịch nhầy màu trắng đục từ bộ phận sinh dục Phát hiện rõ ràng nhất là động vật nằm vào ban đêm hoặc sáng sớm Xung quanh âm hộ, gốc đuôi và hai bên mông chảy nhiều dịch viêm, sau khi khô sẽ chuyển thành vảy khô màu trắng xám
- Thể mãn tính: không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng đôi khi chảy
mủ Khám âm đạo thấy cổ tử cung giãn rộng, có mủ chảy ra Khám trực tràng thấy sừng tử cung to ra và thành tử cung dày, mềm hơn bình thường
- Chăn thả bò vào lúc thời tiết giá rét, sương muối
Vào mùa khô lượng thức ăn xanh ít, bò ăn rơm, cỏ khô nhiều hơn nên
hệ vi sinh trong dạ cỏ chưa kịp thích nghi với thức ăn khác nên hệ miễn dịch
và sức khoẻ bị giảm sút
* Triệu chứng
Đầy hơi trong dạ cỏ làm cho bụng của động vật bị đau và căng phồng,
bò thì không Đứng hoặc nằm yên và di chuyển xung quanh
- Dùng tay gõ vào hõm hông trái và nghe âm thanh giống như tiếng trống, bò sẽ có cảm giác căng thẳng, giống như đưa tay lên quả bóng cao Nếu dùng tay ấn vào vùng dạ cỏ, bên trong cao su sẽ chứa hơi nước
Trang 25- Nếu lắng nghe kỹ khu vực dạ cỏ sẽ có âm thanh của nhu động dạ cỏ Đầu tiên âm thanh đập mạnh, sau đó giảm dần về cường độ, sau đó biến mất, đôi khi chỉ nghe âm thanh tanh tách
* Điều trị
- Tăng cường thoát hơi ra khỏi dạ cỏ bằng các loại thuốc sau:
+ Bôi muối MgSO4 và Na2SO4 và niêm mạc miệng (phần má trong) + Vặt 2 nắm to lá thị, giã nát ra rồi lọc lấy nước cho vật nuôi uống, phần bã còn lại chà sát vào hậu môn
- Để đẩy hết thức ăn ra khỏi dạ cỏ có thể dùng một trong các loại thuốc sau:
+ Cho uống 1 liều duy nhất với liều lượng 300 -500g MgSO4 hoặc Na2SO4+ Tiêm dung dịch MgSO4 20%với liều lượng 1ml/10kg thể trọng
- Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng:
- Do Fasciola grandis và Fasciola hepatica gây ra:
+ Sống trong đường mật, đẻ trứng, sau đó đi theo đường mật xuống ruột và thải ra ngoài theo phân
+ Cói sẽ biến thành ấu trùng trong điều kiện lý tưởng (nóng ẩm, có nước) + Ấu trùng hoạt động trong nước, ký sinh ở ao, hồ, mương, ruộng và lòng đất, vật chủ trung gian là ốc
+ Trong cơ thể, ống phát triển thành ấu trùng và chui ra khỏi ốc
+ Ấu trùng ra ngoài tự nhiên, đuôi biến thành kén Kén bám vào thực vật thủy sinh, trôi nổi trong nước, sau đó xâm nhập vào vật nuôi bằng đường
ăn uống
Trang 26+ Khi vào cơ thể, màng kén bị vỡ, giải phóng ấu trùng Ấu trùng sống trong đường mật, nơi chúng phát triển thành con trưởng thành (có thể sống từ
3 đến 11 năm)
* Triệu chứng
- Do sán sống trong gan nên con vật thường gặp một số triệu chứng sau:
- Viêm gan và tổn thương mô gan
- Con vật gầy, mô mỡ và bắp thịt teo dần
- Niêm mạc nhợt nhạt, thiếu máu, da vàng
- Phù ở vùng hầu, yếm và dưới hàm
- Con vật ăn kém, tiêu hóa kém và phân nát
* Điều trị
Có thể dùng:
- Han-deptil B cho uống 1viên/50kgP
- Tolzan F cho uống với liều 1viên/100kgP
- Cần tăng cường hộ lý và chăm sóc cho con vật bệnh kỹ càng hơn
2.2.4 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng bò cái sinh sản
Bò trong giai đoạn trước, giữa và sau sinh sản cần được chăm sóc cẩn thận, chẳng hạn như vệ sinh chuồng đẻ, đảm bảo những điều sau: Vệ sinh tốt các phương tiện chăm sóc và nuôi dưỡng để ngăn ngừa các biến chứng khi sinh nở Gia súc sau sinh nên rửa tử cung bằng dung dịch rivanol 0,1%
Trong trường hợp chuyển dạ bị cản trở, sót nhau thai hoặc nhiễm trùng sinh dục, chúng ta cần được can thiệp và điều trị kịp thời Ngoài việc chăm sóc bò tốt, cũng cần chú ý phát hiện động dục kịp thời để cho bò phối giống trực tiếp hoặc thụ tinh nhân tạo đúng thời điểm
Theo Nguyễn Văn Tuyên (2012) [11], có quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng bò sinh sản:
* Chăm sóc bò cái chửa
Trang 27Bò mang thai cần được cho ăn đầy đủ, mỗi ngày 30 - 35 kg cỏ tươi, 2 kg Rơm ủ, 1 kg thức ăn tinh (ngô, cám .) 30 - 40g muối, 30 - 40g bột xương, không bắt gia súc làm những công việc nặng nhọc như cày, xới Tránh xô đẩy, rượt đuổi gia súc mạnh vào các tháng thứ ba, thứ tư, thứ bảy, thứ tám và thứ chín của thai kỳ
* Hộ sinh bò
Thời gian mang thai trung bình của bò sữa là 281 ngày Bò sắp đẻ có hiện tượng sụt mông, đầu vú căng, núm vú sang hai bên, lỏng nhầy quanh viền âm hộ, đau bụng, nằm, đi lại đi tiểu thường xuyên, rặn mạnh,túi ối nhô ra khỏi mép âm hộ
Đối với bò đẻ bình thường, không can thiệp hoặc chỉ bế bò và dùng tay kéo nhẹ thai nhi ra ngoài Khi bò cái sinh nở, nước ối bị vỡ Cắt dây rốn dài khoảng 10-12 cm (dây rốn không cần buộc) được sát trùng bằng Iod 5% Nếu
bò mẹ không liếm được, thì phải lấy khăn khô lau người cho bê tước móng
để không bịtrơn trượt khi tập đi Rửa sạch vùng thân và bầu vú bò, thêm chút muối, cám và nước ấm vào nước ối của bò rồi cho bò mẹ uống Bê con bú sữa
mẹ, ghi chép sổ sách theo dõi bò mẹ, bê
Trường hợp khó đẻ: co tử cung khi sức rặn của bò quá yếu, thai không
ra được, phải xé màng ối và dùng dây sản khoa quây vào tay người đỡ đẻ đưa vào đường sinh dục buộc hai chân của thai, lúc này người phụ việc kéo thai
ra, còn người đỡ đẻ cho tay vào đường sinh dục dùng ngón tay móc vào miệng thai và nắm chặt hàm dưới của thai, từ từ kéo thai ra
* Chăm sóc, nuôi dưỡng bò đẻ và bê con
- Đối với bò mẹ:
Từ 15 - 20 ngày đầu sau khi đẻ cho bò ăn cháo với 30 - 40 g muối, 30 -
40 g bột xương và đủ cỏ non (-1 kg thức ăn tinh / con / ngày)
Những ngày tiếp theo, trong thời kỳ tiết sữa, mỗi ngày cho bò ăn 30 kg
cỏ tươi, 2 - 3 kg rơm, 1 - 2 kg cám hoặc thức ăn hỗn hợp để bò phục hồi sức khỏe và nhanh động dục trở lại
Trang 28- Đối với bê con:
Từ sơ sinh đến 30 ngày, nuôi tại nhà với mẹ trong 1 tháng luôn giữ ấm cho bê, tránh chăn thả và lau khô bê Cùng mẹ chăn thả ngoài sân gần chuồng, tập cho bê ăn thức ăn tinh
Từ 3 đến 6 tháng tuổi cho ăn 5 - 10 kg cỏ tươi và kg thức ăn tinh hỗn hợp Tập cho bê ăn cỏ khô Bê con nên được cai sữa vào khoảng 6 tháng tuổi
Từ 6-24 tháng tuổi chủ yếu chăn thả, mỗi ngày cho ăn 10 - 20 kg cỏ tươi, búp mía, ngô non Vào mùa thiếu cỏ, mỗi ngày cho ăn 2 - 4 kg cỏ khô
- Vỗ béo bò:
Trước khi giết mổ bò phải được vỗ béo, thời gian vỗ béo từ 60-90 ngày Chăn thả từ 7-8 giờ/ngày, cỏ xanh chiếm 10% trọng lượng cơ thể trong một ngày Bổ sung đá liếm 0,07kg/con/ngày Thức ăn tinh đủ 2kg/ngày, bổ sung thêm rơm ủ ure 4%
* Lưu ý: Cho bò ăn từ từ để quen thức ăn Tẩy giun sán trước khi vỗ béo và bổ sung nước uống đầy đủ cho bò
* Phối trộn thức ăn tinh vỗ béo bò
Bảng 2.2 Công thức phối trộn thức ăn tinh (tính cho 200 kg)