1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá khả năng cấp chứng chỉ rừng của Dự án lâm ngihệp xã hội sông Đà

54 687 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng cấp chứng chỉ rừng của Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà
Tác giả Eleonore Schmidt
Trường học Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Tổ chức hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ
Chuyên ngành Quản lý rừng và bảo vệ môi trường
Thể loại Báo cáo tư vấn
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điều đáng chú ý là kế hoạch quản lý rừng phụ lục 3, điều tra lập địa rừng hay đánh giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm trữ lượng hiện trạng trên thực địa, đưa ra những ước

Trang 1

Hợp tác kỹ thuật Việt Nam – CHLB Đức

D Ự Á N P H Á T T R I Ể N L Â M N G H I Ệ P X Ã H Ộ I S Ô N G Đ À

Bộ NN&PTNT - Tổ chức hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ

Đánh giá khả năng cấp chứng chỉ trong chiến lược quản lý rừng cộng đồng

của dự án phát triển LNXH Sông Đà

Báo cáo tư vấn quốc tế số 29 Eleonore Schmidt

Tháng 1/2003

Trang 2

Nội dung

Tóm tắt sơ lược 1

Sự công nhận 3

1 Giới thiệu dự án và chuyến tư vấn ngắn hạn 4

2 Giới thiệu về việc cấp chứng chỉ rừng 5

3 Phương pháp 7

4 Kết quả đạt được 7

4.1 Những lợi ích tiềm năng đối với các chủ quản lý rừng đơn lẻ 7

4.2 Vai trò và trách nhiệm của các bên đương lợi trong quá trình cấp chứng chỉ 8

4.3 Đánh giá các kế hoạch quản lý rừng hiện tại với khả năng phù hợp cho việc cấp giấy chứng nhận 10

4.4 Những điểm mạnh và điểm yếu của mô hình quy hoạch quản lý rừng SFDP theo nguyên tắc FSC 14

4.5 Các điều khoản hỗ trợ việc cấp chứng chỉ rừng trong tương lai 18

4.6 Các hoạt động được đề xuất thêm đối với việc cấp chứng chỉ rừng 19

4.7 Những cân nhắc, xem xét chung đối với Việt Nam 20

5 Kết luận 21

5.1 Nhìn chung 21

5.2 Lợi ích của việc cấp chứng chỉ 21

5.3 Khả năng có thể cấp chứng chỉ cho việc thiết kế dự án lâm nghiệp cộng đồng 21 5.4 Các kế hoạch quản lý 22

6 Kiến nghị 23

7 Tài liệu (được lựa chọn) 24

Phụ lục 1 Đề cương công việc

Phụ lục 2 Lịch trình làm việc

Phụ lục 3 Kế hoạch quản lý

Phụ lục 4 Tiêu chuẩn chứng chỉ theo nhóm

Trang 3

Tóm tắt sơ lược

Bản báo cáo này thảo luận về những khả năng có thể để áp dụng chứng chỉ rừng trong mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng được đề xuất bởi Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà Chuyên gia tư vấn đã đánh giá những chi phí và lợi ích của chứng chỉ rừng cũng như các yêu cầu kỹ thuật và đặc biệt là cho các kế hoạch trong công tác quản lý Công tác tư vấn được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 11 đến ngày 02 tháng 12 năm 2002

Mục tiêu phát triển của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà là cải thiện điều kiện sống của cư dân địa phương trong khu vực Sông Đà cùng với sự ổn định sinh thái Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà đã xây dựng và thử nghiệm một

số phương pháp luận phát triển lâm nghiệp cộng đồng tại 02 tỉnh Sơn La và Lai Châu từ năm 1993 Cho đến nay, các phương pháp luận đã được thử nghiệm riêng rẽ ở những khu vực khác nhau và phù hợp với những điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau

Kể từ năm 2002, SFDP Sông Đà đã lựa chọn 02 xã làm khu vực mô hình thực hiện khái niệm quản lý rừng cộng đồng SFDP Sông Đà tại cấp hành chính xã Các xã mô hình được lựa chọn bao gồm khu vực xã Chiềng Hạc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La và xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu Hiện tại, dự án đang trong pha 04 cũng là pha cuối (01/2002 – 12/2004)

Việc cấp chứng chỉ rừng đã chứng tỏ là công cụ hữu ích nhằm hướng dẫn các nhà quản lý rừng đạt được quản lý rừng bền vững Hiểu biết về các yêu cầu tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận, nhà quản lý rừng có khả năng đánh giá việc quản lý của mình và đạt được những định hướng cũng như những hướng dẫn rõ ràng về các khía cạnh quản lý rừng mà nhất thiết cần có sự cải thiện Việc cấp giấy chứng nhận cũng mang đến cho các nhà chức trách một công cụ theo dõi có giá trị nhằm đảm bảo rằng cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên được quản lý bền vững và trong lúc đó cũng đảm bảo được rằng sức sản xuất ngày càng cao hơn của rừng

Đánh giá của dự án cho thấy rằng, đối với các hộ quản lý rừng đơn lẻ, đánh giá bên ngoài

do các nhà cấp chứng chỉ rừng đã được công nhận chính thức tiến hành thì các lợi ích có được không đủ bù đắp các chi phí Các chi phí trả thêm chỉ được chi trả cho lâm sản trong thị trường quốc tế và các sản phẩm cũng như các khối lượng được sản xuất chỉ dành cho những mục đích sử dụng không đáng kể, việc sử dụng tự cung tự cấp hay chỉ cho thị trường địa phương Tình thế này không thể thay đổi chỉ trong một vài năm Ngoài ra, các khu vực được quản lý là quá nhỏ (<10.000 ha) và do đó các chi phí đánh giá trên một đơn

vị sản xuất là tương đối cao

Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận mang đến một công cụ cho việc theo dõi và cải thiện việc quản lý rừng và được dùng là một hướng dẫn để đạt được việc quản lý rừng bền vững Điều này mang lại cho các bên liên quan sự đảm bảo chắc chắn rằng việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn mang lại lợi ích bền vững và đạt kết quả tối ưu nhất Và dường

Trang 4

b) đưa ra một khuôn khổ làm việc để quyết định và theo dõi tính bền vững của các can thiệp

Trong điều kiện của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà, cụ thể là việc cấp chứng chỉ rừng cho phép chứng minh rằng các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ có khả năng quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, và điều này sẽ mở đường hơn nữa cho công tác giao đất và các nguồn tài nguyên Ngoài ra, cũng được nhận thấy rằng ở những vùng nằm trong diện quản lý các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ cũng vẫn cần có thêm

sự trợ giúp

Một đánh giá bên ngoài theo hình thức dựa theo việc cấp chứng chỉ sẽ cho phép dự án chứng minh rằng “mô hình quản lý quản lý rừng cấp xã” đáp ứng được việc quản lý rừng bền vững của các đơn vị quản rừng đơn lẻ Bằng chứng là những người dân thôn bản có thể tiến hành việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững đã được giao cho chính

họ và điều đó đã có thể hình thành cơ sở cho việc giao đất ở cấp thôn bản

Cơ cấu thiết kế dự án là đầy đủ và đưa ra việc hoàn thiện các yêu cầu cấp chứng chỉ giấy theo hệ thống FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng) Bây giờ khuôn khổ đã được xác định và sẽ là cần thiết để chi tiết và thực hiện các quy trình của các khía cạnh còn lại quá trình lập kế hoạch quản lý rừng của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà Những điều đáng chú ý là kế hoạch quản lý rừng (phụ lục 3), điều tra lập địa rừng hay đánh giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên (bao gồm trữ lượng hiện trạng trên thực địa, đưa

ra những ước tính sản lượng, tỷ lệ tăng trưởng và các yếu tố vô sinh quyết định trạng thái trong tương lai), những hướng dẫn về khai thác và các hoạt động lâm nghiệp khác (bao gồm các kỹ thuật khai thác, tỉa thưa, và sức khoẻ và an toàn) và hệ thống theo dõi để quyết định tác động của các hoạt động vào hiện trạng rừng)

Ngoài ra, biểu đồ tiến độ trách nhiệm như đã được thảo luận với đối tác địa phương cần được các cơ quan chức năng thông qua đảm bảo sự hỗ trợ không ngừng cho những người dân thôn bản theo thời gian hoạt động của dự án và cho phép các đối tác chuẩn bị tốt hơn cho chính mình đối với nhiệm vụ của mình

Theo như xem xét thì khuôn khổ thời gian sẵn có hiện tại để xây dựng các hệ thống kỹ thuật để thực thi các hoạt động này là đầy đủ Tuy nhiên, thao tác luận sẽ phụ thuộc vào việc chấp thuận cũng như việc thể chế hoá các hệ thống đã được đề xuất bởi các bên khác nhau Tốc độ với những gì hệ thống được công nhận hoàn toàn có thể hoạt động được sẽ quyết định liệu mô hình quản lý rừng cấp xã có thể hoàn toàn hoạt động được trước khi kết thúc thời gian hoạt động của dự án Các chuyên gia tư vấn cho rằng việc thể chế hoá ở cấp địa phương là có thể thực hiện được trong giai đoạn hoạt động của dự án và được xem như

là sự mở cửa cũng như cống hiến của đối tác

Việc rà soát hệ thống lập kế hoạch quản lý được đề xuất cho thấy rằng hệ thống này là rất thích ứng với cho việc sử dụng của các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ Chuyên gia tư vấn nhận thấy rằng kế hoạch quản lý không thể được xem xét một cách tách biệt với một hệ thống theo dõi đầy đủ mà hệ thống này phản ánh rõ các dữ liệu trong việc xây dựng kế hoạch quản lý Bởi vậy, điều chủ chốt là một hệ thống theo dõi đầy đủ đang được xây dựng để theo dõi các hoạt động lâm nghiệp và việc đánh giá các nguồn tài nguyên diễn ra trước khi xây dựng kế hoạch quản lý

Trang 5

Những điểm khác vẫn cần sự cải thiện trong kế hoạch quản lý là: việc miêu tả rõ hệ thống lâm sinh cùng với những hướng dẫn dựa trên những xem xét về sinh thái cũng như cân nhắc xem làm thế nào để các giá trị sinh thái của rừng vẫn có thể được giữ vững và cải thiện tốt hơn

Chuyên gia tư vấn khuyến nghị dự án nên tiến hành hình thức làm theo chứng chỉ cho đến khi dự án kết thúc và như là một cách chứng minh các mục tiêu của dự án được đảm bảo

và cũng như làm một ví dụ để thấy làm thế nào việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng có thể hoạt động ở Việt Nam Mong đợi rằng sẽ có sự chấp thuận và do đó sự mô phỏng “mô hình quản lý rừng cấp xã” sẽ được tăng cường cao nhất nếu dự án có thể chứng minh rằng

“mô hình quản lý rừng cấp xã” của dự án đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống chứng chỉ rừng đã được quốc tế công nhận

Những tiêu chuẩn sẵn có được quốc gia chấp thuận là yếu tố chủ chốt cho việc giới thiệu nhanh chứng chỉ như một công cụ đối với việc quản lý rừng bền vững tại Việt Nam Có kiến nghị rằng để hỗ trợ cho việc tiếp cận trong tương lai vào thị trường quốc tế thì các tiêu chuẩn được công nhận của Việt Nam cần phải phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn đã được quốc tế công nhận, ví dụ như của FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng)

Do đó, có một khuyến nghị mạnh mẽ là tất cả những người trong cuộc của ngành lâm nghiệp Việt Nam cần có những đóng góp theo khả năng của mình (ví dụ như đưa ra những đóng góp đầu vào cho những tiêu chuẩn dựa trên cơ sở kinh nghiệm của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà) cho nhóm làm việc Việt Nam những thành viên đang xây dựng một tiêu chuẩn đáp ứng theo những yêu cầu của FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng)

Đối với việc thực hiện hệ thống theo dõi cấp quốc gia/khu vực có hiệu quả dựa trên cơ sở các yêu cầu tiêu chuẩn về chứng chỉ thì việc thiết lập cơ chế theo dõi nội bộ nhất là trong khuôn khổ các cơ chế hiện tại là rất lý tưởng

Chuyên gia tư vấn nhận thấy chứng chỉ theo nhóm là thích hợp nhất đối với đơn vị quản lý rừng đơn lẻ nếu như trữ lượng thương mại trở nên có sẵn Chứng chỉ thực tại của các đơn

vị quản lý rừng đơn lẻ là một hoạt động vượt quá lịch hoạt động của dự án Có gợi ý rằng nên đưa ra một vai trò chủ đạo cho nhóm làm việc Việt Nam để giúp đỡ xây dựng kế hoạch sắp xếp chứng chỉ theo nhóm cho phù hợp đối với tỉnh trong vùng dự án, cũng như các đối tác quan tâm khác tại Việt Nam

Ghi nhận

Chuyên gia tư vấn chân thành gửi lời cám ơn tới toàn thể cán bộ và các đối tác của Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà đã hết lòng giúp đỡ chuyên gia trong suốt thời gian hoàn thành công tác, cũng như những giải đáp hết sức hữu ích và cởi mở đối với những câu hỏi được đặt ra Chuyên gia tư vấn rất biết ơn sự hợp tác thiện chí của Ông

Trang 6

1 Giới thiệu dự án và chuyến tư vấn ngắn hạn

Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà có mục tiêu là cải thiện điều kiện sống của cư dân địa phương trong khu vực lưu vực Sông Đà phù hợp với sự ổn định về sinh thái SFDP đã xây dựng và thử nghiệm một số phương pháp luận để phát triển lâm nghiệp cộng đồng tại hai tỉnh Sơn La và Lai Châu kể từ năm 1993 Cho đến nay, các phương pháp luận đã được thử nghiệm tách biệt tại những khu vực khác nhau và phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội

Kể từ năm 2002, SFDP đã lựa chọn hai xã làm khu vực thí điểm để thực thi khái niệm quản lý rừng cộng đồng dự án ở cấp hành chính là cấp xã Những xã mô hình được lựa chọn bao gồm khu vực xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La và xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu Dự án hiện tại đang trong pha 04 và cũng là pha cuối cùng (1/2002 – 12/2004)

Chuyên gia đã được mời trợ giúp dự án đánh giá những yêu cầu kỹ thuật, chi phí và lợi ích khi áp dụng chứng chỉ rừng trong bối cảnh quản lý rừng dựa vào cộng đồng như SFDP đã

đề xuất

Là một phần của đề cương công việc chi tiết, có một số nhiệm vụ sau được xác định rõ:

1 Tìm ra những lợi ích tiềm năng của việc cấp chứng chỉ cho những đơn vị quản lý rừng đơn lẻ

2 Giới thiệu và thảo luận các tiêu chí cho việc cấp chứng chỉ đối với các cơ quan chính quyền liên quan và các bên có quyền lợi liên quan, và xác định rõ vai trò và trách nhiệm cần được hoàn thành trong khuôn khổ của toàn bộ quá trình

3 Đánh giá các kế hoạch quản lý hiện tại đối với tình trạng thích hợp hiện tại của họ đối với việc cấp chứng chỉ

4 Đánh giá khuôn khổ chính sách hiện tại, các khía cạnh về kỹ thuật và tổ chức để thực hiện việc kinh doanh thành công các sản phẩm đã được cấp chứng chỉ

5 Đánh giá các chi phí liên quan, nhu cầu đào tạo và đầu vào nhân lực cho các hoạt động

bổ sung cần thiết đối với việc cấp chứng chỉ rừng

Xem phần phụ lục 1, đề cương công việc chi tiết của chuyên gia

Trang 7

2 Giới thiệu về việc cấp chứng chỉ rừng

Mặc dù việc cấp chứng chỉ rừng về bản chất không phải là một hiện tượng mới nhưng việc cấp chứng chỉ cho việc quản lý rừng chỉ đã và đang tồn tại kể từ bắt đầu những năm 90 Vào thời điểm đó, công chúng nói chung đã nhận thức được rằng thông qua việc tiêu thụ sản phẩm gỗ của mình, họ đang làm cạn kiệt nguồn rừng Do đó, càng ngày càng có nhiều người bắt đầu yêu cầu những sản phẩm có nguồn gốc từ những khu rừng được quản lý tốt Đáp ứng theo nhu cầu này có nhiều nhãn mác xuất hiện trên các lâm sản và nhiều trong số những yêu cầu đòi hỏi này đã trở nên không phù hợp hay lệch lạc

Tiến trình ngăn chặn việc phá rừng phát triển chậm bởi các quy trình liên chính phủ khác nhau, nên một nhóm những người sử dụng gỗ, các nhà buôn, và các đại diện của các tổ chức môi trường và quyền con người quyết định cùng đưa ra những nỗ lực cũng như những quan tâm để cải thiện việc bảo tồn rừng Họ đã khẳng định nhu cầu về một hệ thống trung thực và đáng tin cậy để xác định rõ những khu rừng được quản lý tốt như là những nguồn lâm sản có thể chấp nhận được Những cuộc họp được tổ chức đã đưa ra được nền tảng hình thành FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng) tại Mê-hi-cô vào năm 1993 Vào năm 1994, một chuỗi các nguyên tắc có tính xác định và các tiêu chí cho việc quản lý rừng đã được các thành viên thông qua

Trong khoảng thời gian đầu tiên, ba yếu tố cần thiết cho việc cấp chứng chỉ là sự công nhận, hệ thống đánh giá, và tiêu chuẩn đã được chuyển đổi thành hệ thống có thể hoạt động được Tiêu chuẩn đã chỉ rõ các yêu cầu của việc quản lý rừng, hay nói một cách khác người quản lý rừng phải làm gì Hệ thống đánh giá xác định việc đánh giá phải được tiến hành như thế nào và quyết định các kết quả của việc đánh giá tiêu chuẩn phải được hiểu như thế nào để quyết định rừng đã đạt được hay không đạt được trong lần kiểm tra Việc đánh giá được các nhà cấp chứng chỉ rừng tiến hành Mức cao nhất là sự công nhận nơi nào mà các quy luật và các thủ tục nào sẽ được các nhà cấp chứng chỉ rừng đưa ra những quyết định Việc cấp chứng chỉ này không chỉ trở thành một công cụ quyết định tính hữu hiệu, tính bền vững của việc quản lý rừng mà nó còn bao gồm cả các khía cạnh về môi trường, kinh tế và xã hội

Ngày nay, một sự chấp nhận rộng rãi những nét đặc trưng chính của kế hoạch cấp chứng chỉ là:

- Sự tự nguyện, độc lập hay có sự tham gia của bên thứ ba

- Tính kiên định về kỹ thuật và

- Không kỳ thị

Sự khởi xướng chính và áp lực định hướng phía sau việc cấp chứng chỉ rừng là việc sử dụng nhãn mác giúp cho những chủ rừng đã được cấp chứng chỉ một lợi thế cạnh tranh trong các thị trường quốc tế với giá hời tại Bắc Mỹ và Đông Âu Ở đây, những chỉ số cầu

về gỗ được cấp chứng chỉ cao hơn chỉ số cung và điều này mang lại giá bán cao hơn và/hoặc những điều kiện hợp đồng tốt hơn Tuy nhiên, còn có những lợi ích khác tương đối hấp dẫn, có viễn cảnh tiếp cận với nguồn tài chính công hay tư và khả năng theo dõi nội

Trang 8

chuẩn được mọi người hay một tổ chức đang thực hiện và quan tâm vào việc quản lý rừng như là vấn đề con người trong doanh nghiệp lâm nghiệp, khách hàng của họ hay cơ quan tài chính của họ

Quan điểm nhìn nhận bên trong giúp việc quản lý rừng có thể đánh giá tình hình hiện tại

và quyết định những gì vẫn cần phải làm để đạt được việc quản lý rừng bền vững Nó giống như là “một danh sách các nhiệm vụ” với các hoạt động đã được làm thì được đánh dấu Quan điểm nhìn nhận bên trong dựa trên cơ sở một tiêu chuẩn được quốc tế công nhận cho phép doanh nghiệp rừng chuẩn bị cho một chứng chỉ rừng thương mại trong tương lai

Do đó quan điểm nhìn nhận bên trong như vậy giống như một công cụ cải tiến và theo dõi việc quản lý rừng và quyết định khả năng bền vững của việc thiết kế và phương pháp luận của dự án

Trong nhiều trường hợp nơi mà việc sản xuất nhằm vào việc tự cung hay các thị trường địa phương hay tại nơi mà không có một mong đợi nào về những trữ lượng có ý nghĩa trong một tương lai gần, một bên có thể tiết kiệm được chi phí theo quan điểm nhìn nhận bên ngoài trong khi đồng thời có sự đảm bảo rằng một bên là phù hợp với việc cấp chứng chỉ nếu được mong đợi

Mong đợi rằng điều này sẽ trở thành một khía cạnh quan trọng khi Việt Nam dần dần mở cửa tới các thị trường của mình và tìm kiếm không ngừng nhiều sự tiếp cận hơn đối với thị trường quốc tế Gần đây, Việt Nam đã bắt đầu các cuộc đàm phán các nước thành viên của

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) như là một bước đi đầu tiên để trở thành thành viên của WTO Trung Quốc đã trải qua những kinh nghiệm sau khi gia nhập WTO và thấy rằng tiếp cận với các thị trường quốc tế với giá cao không phải dễ dàng như người ta mong đợi Nhiều nước có những tiêu chuẩn sản xuất cho các sản phẩm nhưng không định rõ các tiêu chuẩn này là dành cho sản phẩm được sản xuất trong nước hay nhập khẩu Trung Quốc nhận thấy rằng các tiêu chuẩn sản xuất của họ trong nhiều trường hợp không đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế và do đó họ đang đối mặt với những khó khăn trong việc xuất khẩu Ngành sản xuất gỗ ở Việt Nam có thể thấy trước được những khó khăn vướng mắc này và cần đảm bảo bằng cách đưa quản lý rừng đi theo đúng những tiêu chuẩn đã được quốc tế chấp thuận

Trong phương diện này, công việc của tổ công tác Việt nam đối với việc cấp chứng chỉ rừng được cho là quan trọng Tổ công tác này đang xây dựng một tiêu chuẩn quốc gia dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận của FSC Tiêu chuẩn phác thảo mới nhất được đưa ra từ tháng Giêng năm 2001 và gần đây tổ công tác đã tiếp tục công việc sau khi nhận được tài trợ từ Quỹ Ford Với Việt Nam, việc đảm bảo rằng tiêu chuẩn này được hoàn thiện và được FSC chấp thuận càng sớm càng tốt là rất quan trọng để có thể trở thành một tài liệu hướng dẫn cho việc quản lý rừng tại Việt Nam

Trang 9

3 Phương pháp

Chuyên gia tư vấn đã tiến hành một cuộc rà soát xuyên suốt dự án bằng cách xem xét lại tài liệu, tiến hành các cuộc phỏng vấn và các chuyến thăm quan thực địa để có được cái nhìn cận cảnh trong tất cả các quy trình và hoạt động của dự án Các hoạt động quản lý được so sánh với các yêu cầu về tiêu chuẩn chung FSC của GFA và xác định mức độ đáp ứng của dự án với những yêu cầu này Kết quả thu được là danh sách liệt kê những điểm mạnh và điểm yếu cũng với những khuyến nghị có thể được tìm thấy trong phần 4.4

Để quyết định những cơ hội thị trường và giúp cho việc cơ cấu các tổ chức, chuyên gia tư vấn đã tiến hành một số phỏng vấn, và xem xét sản phẩm cũng như trữ lượng tiềm năng tại các vùng dự án

Lịch trình làm việc đi lại của chuyên gia tư vấn được đưa vào phần phụ lục 2

4 Kết quả đạt được

Kết quả đạt được dưới đây được sắp xếp theo như những nhiệm vụ được quy định cụ thể trong đề cương công việc chi tiết

4.1 Những lợi ích tiềm năng đối với các chủ quản lý rừng đơn lẻ

Để rà soát từ bên ngoài hay tính được chi phí cấp chứng chỉ có hiệu quả thương mại, người

ta chấp nhận rằng phạm vi cấp chứng chỉ tối thiểu là 10.000 ha Tất nhiên, điều này còn phụ thuộc vào giá trị của loại giống được sản xuất và năng suất của rừng, nhưng điều này cũng cho phép đưa ra một số vài phỏng đoán ban đầu về số lượng

Các xã điểm của SFDP bao gồm tổng diện tích đất khoảng 10.000 ha/ xã Tuy nhiên, rừng hiện còn và đất được phân loại là đất lâm nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thể (19% trong trường hợp xã Mường Pồn) Hiện tại, các cộng đồng trong vùng dự án cố gắng

có được diện tích rừng lên đến một vài trăm ha với một cộng đồng Phần lớn các rừng này

là rừng thứ cấp với mật độ thấp đến trung bình, với khối lượng có thể khai thác giới hạn và

là những cánh rừng đang được trông chờ trong tương lai gần Mối quan tâm của bà con thôn bản trong những khu vực rừng này là thu được những sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của họ như là củi đun, cột xây nhà, vv Lượng sản phẩm dư thừa cuối cùng sẽ được bán tại thị trường địa phương

Những tình huống này khiến cho việc cấp chứng chỉ thương mại hiện tại chưa được quan tâm đối với vùng dự án Tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại SFDP vẫn đang trong quá trình hoàn thiện quá trình quản lý rừng được thử nghiệm Trong một giai đoạn của quá trình này thì sẽ rất là giá trị khi SFDP nhận được những chỉ dẫn khía cạnh nào vẫn cần được đưa vào trong hệ thống quản lý trong quy trình Do đó, trong thời gian còn lại của chuyến tư vấn, chuyên gia tư vấn đã tập trung công việc của mình vào việc sử dụng chứng chỉ như một

Trang 10

một tỉnh tiên phong trong công tác giao nguồn tài nguyên thiên nhiên tới cấp địa phương

và tất cả mọi con mắt đều đang dồn về Sơn La Một mô hình hoạt động sẵn có cho việc quản lý rừng cộng đồng sẽ đưa ra một khuyến khích lớn cho việc giao thêm nhiều đất hơn tại tỉnh Sơn La, và cũng như tại các tỉnh khác của Việt Nam Điều này cho phép các chủ quản lý rừng đơn lẻ được tiếp cận và có được lợi ích từ các nguồn rừng sẵn có Đối với SFDP, thực tế để có thể nói rằng mô hình rừng cộng đồng của Dự án là có thể chứng nhận được và bởi vậy là bền vững Mong đợi sẽ có một tác động lớn vào việc mô phỏng và chấp thuận “mô hình quản lý rừng cấp xã” thậm chí ở cấp quốc gia Cuối cùng nhưng không có nghĩa là chấm dứt, việc này sẽ giúp cho bà con thôn bản được cấp chứng chỉ trong tương lai khi sẵn có những khối lượng lớn hơn nữa

4.2 Vai trò và trách nhiệm của các bên đươợliên quan trong quá trình cấp chứng

chỉ

Một trong những yêu cầu cơ bản được đặt ra trong tiêu chuẩn FSC là vai trò và trách nhiệm của những bên liên quan cần được xác định rõ ràng Đối với một số phần trong quá trình lập kế hoạch quản lý rừng của SFDP thì đây cũng là một trường hợp như là quá trình Quy hoạch sử dụng đất và giao đất rừng (LUPLA) Tuy nhiên, các phần khác vẫn chưa được phát triển và sự phân chia nhiệm vụ vẫn chưa đạt được sự thống nhất

Bởi vậy, chuyên gia tư vấn cùng với cán bộ dự án và các đối tác đã thảo luận về nhiệm vụ của các bên liên quan đươợ trong các bước khác nhau của quá trình lập kế hoạch quản lý rừng đã được đề xuất Những vấn đề cần được xem xét cơ bản trong các cuộc thảo luận là:

sự kế tiếp các hoạt động sau khi dự án không còn hoạt động nữa, các nguồn tài nguyên sẵn

có và khả năng chuyên môn của các bên cũng như trách nhiệm hiện tại của các bên đối tác Một vai trò quan trọng cũng được đưa ra cho các chủ rừng (người dân địa phương) ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình quản lý rừng Các chủ rừng không chỉ tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình quản lý, bao gồm điều tra lập địa và việc thực hiện,

mà còn có thể được xem như là những nhân vật chính do các bên đối tác hỗ trợ trong suốt các giai đoạn khác nhau của quá trình quản lý rừng

Các cuộc thảo luận đã giúp đưa ra một biểu đồ (xem biểu đồ 1) và biểu đồ này còn thay đổi tuỳ thuộc vào kết quả các cuộc thảo luận khác nữa và sự thông qua chính thức

Hỗ trợ về kỹ thuật cho người dân là mấu chốt trong quá trình này và cần được đảm bảo ngay cả khi dự án không còn hoạt động nữa Theo như lần thảo luận vào ngày 27 tháng 11 năm 2002 thì đây cũng chính là vai trò của Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ ủng hộ hoàn toàn Chi cục phát triển nông nghiệp Cũng sẽ là cần thiết khi có được trách nhiệm của các cơ quan ban ngành đã được nhất trí áà càng sớm càng tốt

SFDP sẽ đưa ra những đóng góp trong công tác hỗ trợ và ìđộhiểu biết chuyên môn kỹ thuật giúp cho hệ thống đã được xây dựng có thể thực hiện

Trang 11

Biểu đồ 1

Trang 12

4.3 Đánh giá các kế hoạch quản lý rừng hiện tại với khả năng phù hợp cho việc cấp giấy chứng nhận

Chuyên gia tư vấn xác ế định điều trước tiên phần nào trong quá trình lập kế hoạch quản lý rừng SFDP với những yêu cầu nào trong tiêu chuẩn FSC nên được áp dụng Biểu đồ 2 thể hiện yếu tố này (xem phụ lục trang bên) và điều này đã chứng tỏ rằng quá trình lập kế hoạch quản lý rừng SFDP đưa vào trong cấu trúc này tất cả các nguyên tắc liên quan của tiêu chuẩn FSC Hay nói một cách khác, quá trình lập kế hoạch quản lý rừng đã một cấu trúc đầy đủ cho một mô hình quản lý rừng bền vững Trong phần trình bầy là phần tổng quan những điểm mạnh chính và những điểm yếu trong quá trình lập kế hoạch quản lý rừng SFDP theo nguyên tắc cho phép cán bộ dự án làm việc theo mục tiêu có định hướng phù hợp với tất cả các yêu cầu cấp chứng chỉ

Trong hệ thống FSC, các yêu cầu của nguyên tắc 7 tập trung vào các kế hoạch quản lý Tuy nhiên, các dữ liệu đạt được thông qua các đánh giá nguồn tài nguyên và mẫu theo dõi hình thành cơ sở cho kế hoạch quản lý Những yêu cầu này được chỉ rõ trong nguyên tắc 8 trong hệ thống cấp chứng chỉ FSC Cho lý do này, việc đánh giá các kế hoạch quản lý bản chất vẫn được khớp nối với hệ thống theo dõi

Có bốn điểm chính được đưa ra từ những tổng quan này là:

Tổng số lượng được khai thác là dựa trên cơ sở những hướng dẫn chung từ Bộ quyết định hàng năm có thể khai thác bao nhiêu phần trăm trữ lượng đối với mỗi cấp mật độ Tuy nhiên, những hướng dẫn này không nêu lên những nguồn tài nguyên hiện trạng sẵn có, mục tiêu quản lý lâu dài cũng như những cân nhắc xem xét cuối cùng về sinh thái Mặc dù các chuyến thăm thực địa đã cho thấy những người dân thôn bản tuyệt đối đã đưa vào những cân nhắc này khi quyết định việc thu nhập hàng năm của họ (ví dụ: bản Thèn Luông

đã quyết định khai thác chỉ một phần nhỏ số lượng m3 được cho phép của mình cho năm nay, bởi vì họ cảm thấy rằng trái lại thì họ đã “đang khai thác quá mức”), hiện tại không hợp lý hoặc những hướng dẫn đã được soạn thảo đang tồn tại đi ngược với những quyết định dường như vậy

Trang 13

Biểu đồ 2

Trang 14

Vào tháng Giêng năm 2001, Tiến sỹ Bjorn Wode và Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Lung đã tiến hành đánh giá một số ô trình diễn và các hướng dẫn lâm sinh được trích dẫn đối với các kiểu quản lý khác nhau Những điều này sau đó Ông Bjorn chuyển thành những bảng biểu

sự kiện kỹ thuật Những bảng biểu sự kiện kỹ thuật này hình thành một cơ sở tốt cho hệ thống lập kế hoạch quản lý lâm sinh, bởi vì chúng miêu tả rất rõ ràng những hoạt động nào cần được yêu cầu trong mỗi giai đoạn phát triển của rừng đối với mục tiêu cuối cùng của

nó Nếu như kế hoạch quản lý sẽ đưa vào sự kết nối với các bảng biểu sự kiện kỹ thuật và miêu tả tình trạng hiện tại của rừng để có thể biết những hoạt động nào sẽ được tiến hành theo bảng sự kiện, sau đó yêu cầu này sẽ được hoàn thiện

H ệ t h ố n g t h e o d õ i

Hiện tại không có một hệ thống theo dõi nào tồn tại để quyết định tác động của các hoạt động về sự phát triển của các trạng thái Cũng vậy, không có một dữ liệu tăng trưởng cho các kiểu rừng khác nhau đang sẵn có ở Việt Nam, một trong những ưu tiên của SFDP trong năm 2003 là để đề xuất, thử nghiệm và thương thuyết về hệ thống theo dõi và việc đánh giá nguồn tài nguyên dựa trên cơ sở một vùng mà nơi đó tỉ lệ tăng trưởng, trữ lượng và ước tính năng suất đang được quyết định trong một khuôn mẫu khác biệt Trong trường hợp không có dữ liệu này, thì không thể quyết định tình hình hiện tại của rừng và sau đó là việc Khai thác có thể cho phép hàng năm (AAC) Khai thác có thể cho phép hàng năm (AAC)

là một trong những thước đo chính quyết định liệu hệ thống quản lý đảm bảo năng suất bền vững của rừng Việc theo dõi hơn nữa các giá trị sinh thái bao gồm cả việc đánh giá hệ động vật và hệ thực vật thu hút sự chú ý trong hệ thống sẽ được thiết lập

H ệ t h ố n g s ử a đ ổ i v i ệ c l ậ p k ế h o ạ c h q u ả n l ý

Cuối giai đoạn lập kế hoạch, cần thiết bổ sung vào các dữ liệu về tình hình rừng (đã thay đổi) do các hoạt động lâm nghiệp và sự tăng trưởng, và như là cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý mới Ngoài ra, sẽ là cần thiết để xem lại soạn thảo luật mới hoặc đã được thay đổi

và những hiểu biết kỹ thuật mới sẵn có và quyết định sự tác động đối với việc sửa đổi lại

kế hoạch quản lý

Nhiệm vụ chính của SFDP sẽ là quyết định là làm thế nào và ai sẽ thu thập, đánh giá và luôn cung cấp các thông tin này đối với những kết luận được đưa ra trong kế hoạch quản lý mới

S ự d u y t r ì v à k h ô i p h ụ c c á c g i á t r ị s i n h t h á i

Trong quá trình quản lý rừng bền vững, rừng được xem như là một hệ sinh thái mà ở đó cây rừng chiếm phần chính nhưng không chỉ là các cấu thành của hệ thống Các bộ phận cấu thành khác của hệ thực vật và hệ động vật cũng như các yếu tố vô sinh như đất cũng hình thành một bộ phận cấu thành của hệ thống rừng sinh thái Do đó, chủ rừng được yêu cầu trình bầy rõ những những bộ phận cấu thành khác này trong quá trình quản lý rừng của

họ Trong khía cạnh này, ngoài cây rừng ra thì các giá trị sinh thái khác cũng cần được lưu

ý tới ở đây bao gồm việc xác định rõ và việc bảo vệ các động vật quý hiếm, đang bị đe doạ tuyệt chủng cũng như việc bảo tồn hay khôi phục các loài đại diện của hệ thống sinh thái hiện tại trong trạng thái tự nhiên của chúng Trong rừng, các vùng được phân loại là rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng thì bất kỳ một sự can thiệp nào cũng được ngăn cấm theo luật pháp và những chủng loại bị đe doạ được bảo vệ tuyệt đối Tuy nhiên, không có một điều khoản cụ thể nào được ban hành để thúc đẩy việc bảo vệ các chủng loại đang bị đe doạ Kế hoạch quản lý nên bao gồm các quy định cho việc quản lý phù hợp toàn bộ giá trị sinh thái

Trang 15

những vùng này Bước đầu tiên sẽ là đưa vào việc đánh giá để quyết định giá trị sinh thái nào (đáng chú ý là các chủng loại quý hiếm và đang trong nguy cơ bị đe doạ) là thực tế trong suốt quá trình đánh giá nguồn tài nguyên ban đầu Các kết quả cùng với các hoạt động kế tiếp sau đó có thể được đưa vào hoặc trong kế hoạch quản lý hoặc trong quy ước bảo vệ rừng

N h ữ n g c â n n h ắ c x e m x é t c h u n g

Những điểm được đề cập ở trên đòi hỏi một thay đổi có tác động mạnh trong các lần thực thi hiện tại và đòi hỏi quan trọng nhất một thay đổi từ việc quản lý rừng từ bị động sang chủ động Không giống như trước kia, cơ sở cho việc quản lý rừng sẽ không phải là việc

sử dụng ngắn hạn các nguồn tài nguyên sẵn có mà là sự quản lý chủ động để thu gặt cũng như đảm bảo những sản phẩm mong đợi và các chức năng về mặt lậu dài Điều này không chỉ sẽ tận dụng tối đa việc sử dụng các nguồn tài nguyên mà còn đỏi hỏi một đầu vào ở phạm vi rộng hơn và trên tất cả sự quen thuộc dần ần với khái niệm này ở tất cả các cấp trong ngành lâm nghiệp

Nhiều tiến bộ đã được đưa ra trong phạm vi các vùng dự án cùng với những giới thiệu về các kế hoạch quản lý do người dân xây dựng và sử dụng Sau giai đoạn thử nghiệm, người

ta có thể cân nhắc khái niệm nào là sẵn sàng để áp dụng trên diện rộng, ngoài những thay đổi nhỏ không đáng kể Bây giờ, bước tiếp theo là giới thiệu những đánh giá các nguồn tài nguyên có sự tham gia của người dan Do đó, SFDP đã mời Ông Peter Branney, một chuyên gia trong lĩnh vực này rà soát những khả năng có thể đối với những đánh giá các nguồn tài nguyên có sự tham gia của người dân và xây dựng một hệ thống theo dõi cho rừng sản xuất

Cũng không dám mong đợi rằng các ô thử nghiệm và trình diễn sẽ cung cấp đầy đủ mọi thông tin để đưa ra những tính toán đáng tin cậy việc khai thác có thể cho phép hàng năm (AAC) Khởi đầu, sẽ là cần thiết đưa ra những ước tính rất sơ lược dựa trên cơ sở các dữ liệu về năng suất từ các vùng khác, trong và ngoài nước Việt Nam Việc thiết lập các ô thử nghiệm và trình diễn được dự kiến trong kế hoạch hoạt động hàng năm đối với năm 2003

sẽ là một bước đi kế tiếp để đạt được các dữ liệu lâu dài về sự tăng trưởng và tác động của

cơ chế quản lý rừng đã được áp dụng

Do đó, việc giới thiệu và khả năng thực hiện các điểm được đề cập trước đó: kế hoạch quản lý, những đánh giá các nguồn tài nguyên, và việc xác định tỷ lệ tăng trưởng quyết định việc Khai thác có thể cho phép hàng năm (AAC), thông qua mô hình quản lý rừng cấp

xã là rất cần thiết để đạt được những kinh nghiệm cùng với phương pháp mới này đối với việc quản lý rừng và chứng tỏ khả năng phát triển của nó Bởi như vậy, mô hình quản lý rừng cấp xã không chỉ có lợi cho các xã dự án, mà còn là một trợ giúp quan trọng để hỗ trợ cuộc thảo luận về lâm nghiệp dựa vào cộng đồng tại Việt Nam Việc thực thi và sự chấp nhận phương pháp trên diện rộng sẽ cần một quá trình dàn xếp quan trọng với các bên đương lợi Đây cũng đang được coi như là một thách thức chính của SFDP

Phần phụ lục 03 tóm tắt chi tiết các kết quả đánh giá

Trang 16

4.4 Những điểm mạnh và điểm yếu của mô hình quy hoạch quản lý rừng SFDP

theo nguyên tắc FSC

Nguyên tắc 1: Sự phù hợp với luật và các nguyên tắc FSC

Việc quản lý rừng sẽ tôn trọng tất cả các luật có thể áp dụng được của quốc gia có sự kiện đó, và các hiệp ước cũng như các thoả thuận quốc tế với quốc gia nào tham gia

ký kết, và tuân thủ theo tất cả các nguyên tắc và tiêu chí FSC

- Cán bộ đối tác cấp huyện không nhận thức đầy đủ tất cả các quy định liên quan đến trách nhiệm của họ

Nguyên tắc 2: Quyền sở hữu và sử dụng cũng như các trách nhiệm

Quyền sở hữu, sử dụng đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên dài hạn sẽ được xác định rõ ràng, đưa vào văn kiện và được thiết lập theo đúng pháp luật

Các điểm mạnh chính:

- Quyền sở hữu đất được đảm bảo thông qua các chứng nhận cấp sổ đỏ

- Đất được sở hữu bởi cộng đồng địa phương (Chú ý: đất có thể được giao cho các cộng đồng, nhóm hộ gia đình và các cá nhân)

- Quá trình quy hoạch sử dụng đất toàn diện và có sự tham gia của người dân tránh những xung đột về đất đai và đảm bảo rằng người dân thôn bản nhận thức được quyền lợi và trách nhiệm của họ

Các điểm yếu chính:

- Không có

Nguyên tắc 3: Quyền của người dân bản địa

Các quyền hợp pháp và theo phong tục của người dân bản địa trong việc sở hữu, sử dụng và quản lý đất đai, lãnh thổ, và các nguồn tài nguyên của họ sẽ được công nhận

và tôn trọng

Các điểm mạnh chính:

- Người dân địa phương và dân bản địa là những nhóm đối tượng mục tiêu của dự án và

là những người đưa ra quyết định chính là người sở hữu và người sử dụng đất rừng của mình

- Người dân thôn bản đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của quá trình quản lý

- Thông tin về chuyên môn đối với việc đưa ra quyết định độc lập và được thông báo sẽ được đưa xuống tận cấp cơ sở

Các điểm yếu chính:

- Không có

Trang 17

Nguyên tắc 4: Mối quan hệ cộng đồng và quyền của những người lao động

Các hoạt động quản lý rừng sẽ duy trì hay tăng cường tình hình xã hội và kinh tế dài hạn của những người công nhân và cộng đồng địa phương

- Giấy chứng nhận cấp sổ đỏ là các quyền của người sử dụng đất trong khoảng thời gian

50 năm Vẫn chưa rõ ràng liệu có hay không và theo những điều kiện nào chứng chỉ này có thể được rút lại, sẽ có hệ thống giải quyết tranh chấp để giải quyết những quyết định như vậy

Nguyên tắc 5: Các lợi ích từ rừng

Các hoạt động quản lý rừng sẽ khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các loại lâm sản

và các dịch vụ nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế và một phạm vi rộng các lợi ích môi trường và xã hội

- Không có những phương tiện chế biến địa phương nào, và còn nữa sự phụ thuộc vào những người trung gian đối với việc buôn bán các sản phẩm của thị trường địa phương

- Việc khai thác có thể được chấp thuận hàng năm (AAC) sẽ được tính toán dựa trên cơ

sở tỷ lệ tăng trưởng, việc dự trữ, và các dữ liệu về năng suất dự tính

Nguyên tắc 6: Tác động môi trường

Việc quản lý rừng sẽ bảo tồn sự đa dạng sinh học và các giá trị liên đới, các nguồn tài nguyên nước, đất, và các hệ thống sinh thái độc nhất, mỏng manh cũng như các danh lam thắng cảnh, và bởi việc làm như vậy, sẽ duy trì các chức năng sinh thái và tính nguyên trạng của rừng

Các điểm mạnh chính:

Trang 18

- Việc trồng rừng nhấn mạnh chủ yếu vào việc sử dụng các loại cây bản địa và trồng hỗn giao

Các điểm yếu chính:

- Một hệ thống đánh giá các tác động môi trường cần được xây dựng

- Những quan tâm nghiên cứu về môi trường liên quan đến việc thiết lập các khu bảo tồn, khôi phục các chức năng sinh thái, vv… trong phạm vi rừng sản xuất mới chỉ dành được sự quan tâm rất ít cho đến thời điểm hiện nay (không kể việc bảo vệ đầu nguồn)

- Một hệ thống tránh săn bắn, đặt bẫy không thích hợp cần được xây dựng Cho đến nay, điều này được đề cập đến trong các quy ước bảo vệ và phát triển rừng thôn bản như một số việc đã được làm, nhưng các hoạt động cụ thể để đưa các quy ước đi vào hiệu lực vẫn cần được quy định cụ thể hơn nữa

- Các tài liệu hướng dẫn để chống xói mòn, bảo vệ các nguồn tài nguyên nước và giảm thiểu những thiệt hại đến rừng trong suốt quá trình khai thác (ví dụ như việc đốn chặt

có chỉ đạo, vv….) cần được phát huy hơn nữa

Nguyên tắc 7: Kế hoạch sử dụng và quản lý đất

Kế hoạch quản lý – thích hợp với quy mô và cường độ các hoạt động – sẽ được viết

ra, thực hiện, giữ vững theo thời gian Các mục tiêu dài hạn về quản lý, và các biện pháp đạt được mục tiêu đề ra, sẽ được chỉ ra rõ ràng Kế hoạch quản lý rừng được lồng ghép vào việc quy hoạch sử dụng đất tổng thể và được căn cứ trên các điều tra lập địa theo định kỳ

- Sự mô tả hệ thống lâm sinh và các hoạt động liên đới nên được bao hàm cả trong kế hoạch quản lý

- Nhân tố căn bản cho việc khai thác hàng năm nên dựa trên cơ sở các dữ liệu từ việc đánh giá các nguồn tài nguyên

- Các tài liệu hướng dẫn đối với các kỹ thuật khai thác thích hợp (ví dụ như việc chặt đốn có chỉ đạo) cần được xây dựng

- Một hệ thống các sửa đổi thường lệ kế hoạch quản lý cần được xác định, bao gồm cả việc làm thế nào các dữ liệu theo dõi vẫn được xem xét trong khi sửa đổi các kế hoạch quản lý

Trang 19

Nguyên tắc 8: Theo dõi và đánh giá

Theo dõi sẽ được tiến hành – thích hợp với quy mô và cường độ của việc quản lý rừng để đánh giá điều kiện rừng, sản lượng lâm sản, chuỗi hoạt động chăm sóc, các hoạt động quản lý và tác động xã hội và môi trường

Những điểm mạnh chính:

- “Mô hình quản lý rừng cấp xã” dự kiến trước việc phát triển cơ sở dữ liệu đối với các

dữ liệu theo dõi Các đối tác sẽ hỗ trợ người dân thôn bản giải thích và cập nhật các dữ liệu theo dõi

Các điểm yếu chính:

- Các hệ thống theo dõi phù hợp và có thể đáp ứng được cần được xây dựng, bao gồm cả các dữ liệu về sản lượng lâm sản, những thay đổi trong hệ động vật và thực vật, tỷ lệ tăng trưởng và sự tái sinh rừng, các tác động vể môi trường và xã hội cũng như các chi phí và tính hiệu quả của việc quản lý rừng

- Một hệ thống kết hợp các kết quả theo dõi với việc sửa đổi kế hoạch quản lý cần được xác định

- Đối với việc dán nhãn các lâm sản được cấp chứng chỉ thì cần xây dựng một hệ thống cho phép lần theo nguồn gốc của sản phẩm rừng đã được cấp chứng chỉ (hiện tại không bắt buộc, nhưng thích hợp trong tương lai)

Nguyên tắc 9: Duy trì những khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF)

Các hoạt động quản lý rừng có giá trị bảo tồn cao sẽ duy trì hoặc tăng cường các thuộc tính trong việc xác định những khu vực rừng như vậy Các quyết định liên quan đến những khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao sẽ luôn được xem xét phù hợp với phương pháp phòng ngừa

Những điểm yếu chính:

- Nhóm làm việc quốc gia hay một nhóm làm việc khác hoàn toàn chưa xác định được

hệ thống sinh thái rừng Việt Nam nào được xem là khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao Khi việc này đã được xác định thì nên có một cuộc điều tra lập địa sinh thái trong vùng

dự án để quyết định liệu bất kỳ khu vực rừng nào cũng có một số thuộc tính của khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF)

Nguyên tắc 10: Việc trồng rừng

Việc trồng rừng sẽ được lập kế hoạch và quản phù hợp với các Nguyên tắc và Tiêu chí 1 – 9, và Nguyên tắc 10 và Tiêu chí của nó Trong khi việc trồng rừng có thể mang lại một loạt những lợi ích kinh tế và xã hội và có thể góp phần thoả mãn các nhu cầu thế giới về lâm sản thì công tác trồng rừng cũng nên có thêm sự quản lý, giảm áp lực,

và thúc đẩy sự phục hồi và bảo tồn các khu rừng tự nhiên

- Chưa thể áp dụng trong khi dự án hầu như nhằm mục tiêu vào việc quản lý các khu rừng tự nhiên

Chú ý: Kể từ năm 2002, việc trồng rừng cũng là một phần trong chiến lược của Dự án Phát triển lâm nghiệp (SFDP) Sông Đà nhưng điểm tập trung chính là về quản lý rừng tự nhiên

Trang 20

4.5 Các điều khoản hỗ trợ việc cấp chứng chỉ rừng trong tương lai

Đề cương công việc chi tiết được đòi hỏi để đánh giá các yêu cầu cho việc buôn bán thành công các sản phẩm đã được cấp chứng chỉ Trong các phần đã được đề cập trước đã giải thích rằng việc cấp chứng chỉ thương mại không làm quan tâm trong tình hình Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà vào thời điểm này Các chi phí khác chỉ được trả cho các lâm sản tại thị trường quốc tế, và các sản phẩm và khối lượng được sản xuất cũng chỉ cho một phần rất nhỏ và việc sử dụng tự cung cũng như thị trường địa phương mà thôi Việc buôn bán các sản phẩm được cấp chứng chỉ bởi vậy mà không thích hợp trong giai đoạn này Tuy nhiên, các điều khoản trong “mô hình quản lý rừng cấp xã” đối với việc cấp chứng chỉ rừng trong tương lai sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho việc cấp chứng chỉ hiện thời Những điều khoản này trước mắt được coi là hợp lệ với các khía cạnh tổ chức cho việc cấp chứng chỉ lâm nghiệp cộng đồng trong bối cảnh dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà

Trong phạm vi FSC, một hệ thống riêng biệt cho các chủ rừng cỡ nhỏ đã được xây dựng và được gọi là việc cấp chứng chỉ theo nhóm Việc này cho phép một số các chủ rừng hợp thành nhóm có một chứng chỉ đơn lẻ và dường như vậy việc cấp chứng chỉ đạt được chi phí có hiệu quả hơn nhiều Kiểu sở hữu đất là không quan trọng; tất cả các khu rừng nhỏ có thể được đưa vào thành một nhóm Trong lúc đó, việc cấp chứng chỉ theo nhóm đòi hỏi một đối tượng là người để liên lạc và “người quản lý’ của cả nhóm Yêu cầu này không đưa ra những hạn chế thực sự ngoài thực tế “người quản lý” nhóm phải là một pháp nhân hay một đối tượng hợp pháp

Chính nhóm quyết định mức độ hợp tác của họ Một vài nhóm bán gỗ của mình trên thị trường một cách tập trung hay có một kế hoạch quản lý chung, những nhóm khác chỉ thực hiện quy trình theo dõi nhằm đảm bảo rằng tất cả các thành viên tuân theo Các nguyên tắc

và Tiêu chí (P&C) Phần phụ lục 4 là miêu tả khái quát việc thực hiện chức năng của kế hoạch tổ chức việc cấp chứng chỉ theo nhóm, bao gồm cả việc đưa ra những ra yêu cầu việc cấp chứng chỉ theo nhóm

Việc cấp chứng chỉ theo nhóm sẽ rất phù hợp trong tình hình các vùng dự án Các nhóm có thể được hình thành ở cấp xã hay cấp huyện và tuỳ thuộc vào việc sắp xếp hành chính thuận lợi nhất Có đề xuất mạnh mẽ là Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn hay Hạt kiểm lâm nên đóng vai trò là một đối tượng nhóm, bởi vì họ đã thực sự tham gia và có lực lượng nhân sự trong các khu rừng thôn bản Mức độ hợp tác của của các thành phần tham gia cần được thảo luận cùng với chính những người dân thôn bản

Vào thời điểm này, chuyên gia tư vấn vẫn chưa thấy được những trở ngại trong cấu trúc hiện tại cho việc thành lập nhóm Bởi vì, việc cấp chứng chỉ theo nhóm chỉ là một hoạt động thích hợp về mặt trung hạn, và việc giúp cho mô hình lâm nghiệp cộng đồng có thể hoạt động là ưu tiên cao hơn cả cho dự án vào thời điểm này, chuyên gia tư vấn không đề xuất bất kỳ một hoạt động nào vào thời điểm này

Trang 21

4.6 Các hoạt động được đề xuất thêm đối với việc cấp chứng chỉ rừng

Chuyến tư vấn này với mục đích giúp SFDP có được cái nhìn khái quát chung các hoạt động được yêu cầu đảm bảo rằng khả năng có thể cấp chứng chỉ của “mô hình quản lý rừng cấp xã”

Như đã được nói rõ từ ban đầu, tình hình hiện tại chưa thuận lợi cho việc cân nhắc từ bên ngoài bởi vì các chi phí bỏ ra sẽ nhiều hơn lợi ích đạt được

Tuy nhiên, để đưa ra được sự đảm bảo đối với các nhà tài trợ, các nhà hoạch định chính sách , vv… rằng “mô hình quản lý rừng cấp xã” thực sự có thể được cấp chứng chỉ, chuyên gia tư vấn có gợi ý hình thức làm theo việc đánh giá chứng chỉ nên diễn ra cho đến hết giai đoạn hoạt động của dự án Nếu như việc này được tiến hành bởi một nhân viên đánh giá không liên quan đến các hoạt động thực thi của dự án thì một kết quả đánh giá tích cực sẽ mang đến những nhận định đáng tin cậy đối với “mô hình quản lý rừng cấp xã” và cho phép cán bộ dự án chứng minh được rằng các mục tiêu của dự án đã đang được thực hiện

đủ Một lợi ích khác đối với Việt Nam đó là dự án cùng thời điểm này trình diện được rõ việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững bởi các cộng đồng địa phương có thể thực thi được và kết quả này mở đường cho việc giao đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các cộng đồng địa phương tại Việt Nam Được cấp chứng chỉ sẽ đồng nghĩa với việc tăng cường cơ hội cho việc tái tạo “một mô hình quản lý rừng cấp xã” tại những khu vực khác ở Việt Nam

Những thông tin đầu vào sau đây là cần thiết cho hình thức làm theo như vậy:

Tư vấn cho các bên đương sự

Ngày làm việc

chuyên gia quốc tế

Ngày làm việc chuyên gia trong nước

Chú thích

Chi phí cho kiểm toán viên quốc tế 1

Cung cấp bảng câu hỏi vàhướng dẫn cho kiểm toán viên trong nước

Chi phí cho kiểm toán viên trong

Chi phí cho kiểm toán viên quốc tế 7

Chi phí cho kiểm toán viên trong

Trang 22

Chi phí cho kiểm toán viên quốc tế 2

Chi phí cho kiểm toán viên trong

4.7 Những cân nhắc, xem xét chung đối với Việt Nam

Việc cấp chứng chỉ là một công cụ cải tiến công tác quản lý, việc theo dõi cũng như kiểm soát bên trong Theo đó, công tác quản lý tốt hơn sẽ mang lại hiệu suất rừng bền vững và cao hơn

Việt Nam đang phải đương đầu với nhu cầu lâm sản ngày càng tăng trong khi cùng thời điểm này các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần dần suy giảm Thông qua mục tiêu 5 triệu ha rừng trồng và việc sắp đặt hạng ngạch đốn gỗ, Việt Nam đang phấn đấu đảo ngược khuynh hướng này

Việc chấp thuận hệ thống cấp chứng chỉ sẽ mang đến cho Việt Nam một công cụ thích hợp

để giữ vững cũng như cải tiến các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình Trong phạm vi

hệ thống cấp chứng chỉ FSC một điều cần được làm là tính toán Việc khai thác có thể cho phép hàng năm (AAC) dựa trên cơ sở các mục tiêu quản lý và dữ liệu cụ thể như là trữ lượng, tỷ lệ tăng trưởng, và ước tính sản lượng

Việc đốn gỗ được kiểm soát dựa trên cơ sở các yêu cầu trong tiêu chuẩn cấp chứng chỉ sẽ cho phép Việt Nam duy trì và cải tiến nển tảng nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi đánh giá một cách lạc quan hiệu suất của nguồn tài nguyên này

Việc chấp thuận một tiêu chuẩn tương ứng với hệ thống đã được quốc tế công nhận như FSC, sẽ hỗ trợ đồng thời việc tiếp cận với các thị trường trong tương lai Những người sử dụng hệ thống này sẽ biết họ đảm bảo được các yêu cầu quốc tế và sẽ có khả năng đạt được chứng chỉ một cách dễ dàng nếu được mong đợi Đã có thể nhận thấy sự quan tâm không ngừng của các nhà đầu tư nước ngoài và người mua gỗ Nhu cầu hiện tại đối với sản phẩm được cấp chứng chỉ cao hơn nhu cầu bán Một số người mua gỗ hiện tại không có triển vọng mua được những sản phẩm gỗ được cấp chứng chỉ và do đó mà dẫn đến công tác thực hiện việc cấp chứng chỉ lần đầu tiên này Tình hình chính trị ổn định trong nước và các chi phí sản xuất thấp khiến cho Việt Nam trở thành một nước đáng quan tâm cho việc sản xuất các lâm sản gỗ cho các thị trường xuất khẩu Khả năng sẵn có các vật tư được cấp chứng sẽ chỉ làm tăng thêm những quan tâm đó

Nhóm làm việc quốc gia về việc cấp chứng chỉ rừng đang xây dựng một tiêu chuẩn của Việt Nam theo sau các quy trình FSC Việc xây dựng tiêu chuẩn là một bước tiến bộ và mong đợi rằng trong tương lai sẽ có được thử nghiệm trên thực địa tiêu chuẩn đưa ra Cuối cùng nhưng không có nghĩa là kết thúc, một tiêu chuẩn cấp chứng chỉ được quốc gia công nhận sẽ vạch ra những yêu cầu trong nước cho các dự án lâm nghiệp tài trợ trong và ngoài nước Bởi lý do dường như vậy, tiêu chuẩn sẽ đưa ra hướng dẫn có giá trị cho bất kỳ

dự án lâm nghiệp nào được tiến hành trong nưóc Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) có thể cung cấp một nền tảng lý tưởng để quyết định một tiêu chuẩn và việc thực hịên một hệ thống như vậy

Trang 23

5 Kết luận

5.1 Nhìn chung

Việc cấp chứng chỉ rừng chứng tỏ là một công cụ hữu ích hướng dẫn các nhà quản lý rừng đạt được việc quản lý rừng bền vững Biết được các yêu cầu cần có của một tiêu chuẩn, nhà quản lý rừng có khả năng đánh giá việc quản lý của mình và đạt được những định hướng và hướng dẫn rõ ràng về các khía cạnh quản lý rừng cần có sự cải tiến Việc cấp chứng chỉ rừng cũng giúp cho các chính quyền một công cụ theo dõi có giá trị đảm bảo cơ

sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên được quản lý bền vững đồng thời đảm bảo được hiệu suất rừng cao hơn

5.2 Lợi ích của việc cấp chứng chỉ

Rà soát của dự án cho thấy hiện tại thì các lợi ích của việc đánh giá bên ngoài do các nhà cấp chứng chỉ được công nhận thực hiện không cao hơn các chi phí đối với các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ, bởi vì diện tích được quản lý quá nhỏ (<10.000 ha), và các sản phẩm cũng như khối lượng được sản xuất nhỏ và cho việc sử dụng tự cung hay chỉ đơn thuần cho các thị trường địa phương

Tuy nhiên, việc cấp chứng chỉ cung cấp một công cụ cho việc theo dõi và cải thiện việc quản lý rừng và điều này dường như là một hướng dẫn để đạt được việc quản lý rừng bền vững Ngoài ra còn có một điều chắc chắn cho tất cả các bên liên quan rằng việc họ hoàn thiện các yêu cầu cho tiêu chuẩn được xây dựng sẽ đảm bảo lợi ích bền vững và tối ưu

Một đánh giá bên ngoài trong việc xây dựng hình thức làm theo chững chỉ sẽ cho phép dự

án chứng minh được rằng mô hình quản lý rừng cấp xã đảm bảo việc quản lý rừng bền vững bởi các chủ quản lý rừng đơn lẻ Bằng chứng ở đây là người dân thôn bản có thể tiến hành việc quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên được giao cho họ và đây cũng là cơ sở cho việc giao thêm đất thêm rừng ở cấp thôn bản

5.3 Khả năng có thể cấp chứng chỉ cho việc thiết kế dự án lâm nghiệp cộng đồng

Cơ cấu thiết kế “mô hình quản lý rừng cấp xã” là đầy đủ và giúp cho việc hoàn thiện tất cả các yêu cấu cấp chứng chỉ theo hệ thống FSC Hiện giờ, cơ cấu đã được định rõ, vì vậy sẽ

là cần thiết chi tiết và thực hiện quy trình của các khía cạnh còn lại của quá trình lập kế hoạch quản lý rừng Những điều đáng chú ý ở đây là kế hoạch quản lý rừng (xem phụ lục 3 kết quả hoàn chỉnh rà soát việc lập kế hoạch), điều tra lập địa rừng hay đánh giá các nguồn tài nguyên (bao gồm việc đo đạc trữ lượng hiện trạng trên thực địa, định rõ ước tính hiệu suất, tỷ lệ tăng trưởng, và các yếu tố vô sinh quyết định hiện trạng tương lai), những hướng dẫn cho việc khai thác, và các hoạt động liên quan đến rừng khác (bao gồm các kỹ thuật khai thác, việc tỉa thưa, và sức khoẻ và an toàn), cũng như hệ thống theo dõi nhằm xác định

rõ các tác động của các hoạt động về hiện trạng rừng

Trang 24

người dân thôn bản ngay khi cả dự án không còn hoạt động nữa và cho phép các đối tác tự chuẩn bị tốt hơn nhiệm vụ của họ

Khuôn khổ thời gian sẵn có hiện tại đối với việc phát triển các hệ thống kỹ thuật cho việc thực thi các hoạt động này được xem là phù hợp Tuy nhiên, thao tác luận hiện tại sẽ phụ thuộc vào sự chấp thuận cũng như việc thể chế hoá các hệ thống được đề xuất bởi các bên đương sự Để đạt được điều này, SFDP chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ thông qua điều khoản chuyên môn, nâng cao đào tạo và phát huy nhận thức ở các cấp khác nhau (cấp địa phương, khu vực và quốc gia) Tốc độ những hệ thống được chấp thuận sẽ quyết định liệu

mô hình quản lý rừng cấp xã có thể hoạt động đầy đủ trước khi dự án kết thúc không Tư vấn cho rằng việc thể chế hoá ở cấp địa phương có khả thi trong phạm vi thời gian hoạt động của dự án và cũng được xem như là sự rộng mở và đóng góp của đối tác

5.4 Các kế hoạch quản lý

Việc rà soát hệ thống kế hoạch quảnlý được đề xuất cho thấy rằng hệ thống thích ứng cho việc sử dụng bởi các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ Chuyên gia tư vấn cho thấy rằng kế hoạch quản lý không thể được xem tách biệt với một hệ thống theo dõi đầy đủ mà các dữ liệu phản ánh trong việc xây dựng kế hoạch phát triển Bởi vậy, điều chủ yếu là một hệ thống theo dõi đầy đủ xác định rõ tác động của các hoạt động đang được thiết lập để theo dõi các hoạt động lâm nghiệp và việc đánh giá nguồn tài nguyên diễn ra trước khi xây dựng kế hoạch quản lý Hệ thống này theo dự đoán trước sẽ được phát triển hơn nữa trong phần công việc ngắn hạn của Ông Peter Branney vào tháng 04 năm 2003

Những điểm khác vẫn cần được cải thiện trong kế hoạch quản lý là: sự mô tả hệ thống lâm sinh cùng với những hướng dẫn dựa trên cơ sở những xem xét sinh thái, cũng như những xem xét làm thế nào để các giá trị sinh thái (sự đa dạng sinh học hệ thực vật và động vật) của rừng có thể được duy trì và cải thiện

Trang 25

6 Kiến nghị

Chuyên gia tư vấn kiến nghị dự án tiến hành hình thức làm theo chứng chỉ cho đến khi dự

án kết thúc, như là một cách chứng minh các mục tiêu của dự án đã được thực hiện và cũng như là một ví dụ về việc quản lý rừng cộng đồng có thể hoạt động như thế nào tại Việt Nam Sự chấp thuận và cũng bởi vậy sự tái tạo “mô hình quản lý rừng cấp xã” theo mong đợi sẽ được tăng cường mạnh nếu như dự án có thể chứng minh rằng “mô hình quản lý rừng cấp xã của mình” có thể đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống cấp chứng chỉ được quốc tế công nhận

Tính sẵn có của tiêu chuẩn đã được quốc gia chấp thuận là yếu tố quan trọng chủ chốt cho việc giới thiệu nhanh chóng việc cấp chứng chỉ như là một công cụ cho việc quản lý rừng bền vững ở Việt Nam Để hỗ trợ việc tiếp cận trong tương lai vào các thị trường quốc tế,

có kiến nghị rằng tiêu chuẩn Việt Nam được chấp thuận cần phù hợp với hệ thống đã được quốc tế công nhận, như là FSC Do đó, kiến nghị rất cao được đưa ra là tất cả các thành phần liên quan trong ngành lâm nghiệp Việt Nam nên đóng góp, hỗ trợ theo khả năng của mình (ví dụ: cung cấp đầu vào đối với các tiêu chuẩn dựa trên cơ sở các kinh nghiệm dự án SFDP) cho nhóm làm việc Việt Nam mà nhóm này đang xây dựng một tiêu chuẩn theo các yêu cầu FSC

Đối với việc thực thi hệ thống theo dõi khu vực/quốc gia đạt hiệu quả dựa trên cơ sở các yêu cầu về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ, việc thiết lập một cơ chế theo dõi nội bộ phù hợp hơn trong phạm vi các cơ chế hiện tại có đại diện ở các cấp địa phương là điều đáng được ao ước

Chuyên gia tư vấn suy nghĩ rằng việc cấp chứng chỉ theo nhóm là thích hợp nhất đối với đơn vị quản lý rừng đơn lẻ nếu như các khối lượng thương mại đã có thể có sẵn Việc cấp chứng chỉ hiện thời của đơn vị quản lý rừng đơn lẻ là một hoạt động vượt quá lịch hoạt động của dự án Và có gợi ý nên đưa vai trò chủ đạo cho nhóm làm việc Việt Nam trợ giúp việc thành lập một kế hoạch thực hiện việc cấp chứng chỉ theo nhóm phù hợp cho tỉnh nằm trong vùng dự án, cũng như các bên quan tâm khác ở Việt Nam

Trang 26

7 Một số tài liệu tham khảo

Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng của bản Thèn Luông, huyện Chiềng Đông

Wode, Bjorn và Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Lung (2001): Các ô thử nghiệm và trình diễn – Các kết quả và hướng dẫn lâm sinh, Báo cáo tư vấn số 25

Ibid, Các bảng biểu sự kiện kỹ thuật lâm sinh, phụ lục 3 – 6, Báo cáo tư vấn số 25

Miagostovich, Marco (2002): Phương pháp luận về quy ước bảo vệ và phát triển rừng - tài liệu thực địa đào tạo, bản tài liệu được sửa đổi lần 2

SFDP (Tháng 9 2001): Phương pháp luận lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, bản tài liệu được sửa đổi lần 3

Tỉnh Sơn La (Tháng 7 năm 2000): Phương pháp luận đối với quy ước phát triển và bảo vệ rừng – tài liệu hướng dẫn kỹ thuật

SFDP (Tháng 7 năm 2002): Phương pháp luận cho cán bộ khuyến lâm xã - tài liệu tham khảo bản phác thảo lần 1

Wode, Bjorn (2002): Khái niệm lập kế hoạch quản lý rừng, bản phác thảo lần 1 cho việc thảo luận

Wode, Bjorn (2002): Phương pháp luận điều tra lập địa rừng có sự tham gia của người dân – hướng dẫn cho giảng viên, bản phác thảo lần 1

Wode, Bjorn (Tháng 8 năm 2001): Xây dựng các giải pháp quản lý lâm sinh có sự tham gia của người dân đối với rừng tự nhiên hiện có, bản phác thảo đầu tiên

Trang 27

P H Ụ L Ụ C 1 : Đ Ề C Ư Ơ N G C Ô N G V I Ệ C

cho chuyên gia ngắn hạn quốc tế về đánh giá khả năng cấp chứng chỉ rừng cho

kế hoạch quản lý rừng cộng đồng

Mục tiêu Mục tiêu chính của chuyến tư vấn là để đánh giá sự phù hợp và để đề xuất thêm

những yêu cầu cần thiết trong chiến lược quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được

đề xuất của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà đối với việc cấp chứng chỉ rừng

Cơ sở nền tảng Tại Việt Nam, các Nguyên tắc và Tiêu chí để quản lý rừng bền vững gần đây đã

được Nhóm làm việc FSC Việt Nam soạn thảo dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý rừng (FSC) quốc tế Trong thời gian tới, tất cả các chủ rừng, cụ thể là Lâm trường, các cộng đồng địa phương, và các hộ gia đình cá thể đáp ứng được việc quản lý rừng theo các Nguyên tắc và Tiêu chí quốc gia có thể ứng dụng việc cấp chứng chỉ rừng

Tổ chức Chuyên gia tư vấn sẽ làm việc cho dự án trong 09 ngày vào tháng 11 năm 2002 Dự

án sẽ cung cấp những hỗ trự về kỹ thuật và hậu cần Chuyên gia sẽ phối hợp làm việc chặt chẽ với với các chuyên gia trong và ngoài nước của SFDP

Nhiệm vụ chi

tiết

Chuyên gia sẽ giúp dự án đánh giá các yêu cầu kỹ thuật, các chi phí, cũng như các lợi ích trong việc áp dụng việc cấp chứng chỉ rừng phù hợp với việc quản

lý rừng dựa vào cộng đồng như SFDP đề xuất

Chuyên gia tư vấn sẽ:

6 Tìm ra những lợi ích tiềm năng của việc cấp chứng chỉ của các đơn vị quản lý rừng

7 Giới thiệu và thảo luận các tiêu chí đối với việc cấp chứng chỉ rừng tới các cơ quan chức năng liên quan và các bên đương sự, cũng như xác định rõ vai trò và trách nhiệm của họ cần được hoàn thành trong toàn bộ quá trình này

8 Đánh giá các kế hoạch quản lý hiện tại cho sự phù hợp với việc cấp chứng chỉ

9 Đánh giá khuôn khổ chính sách hiện thời, các khía cạnh kỹ thuật và tổ chức để buôn bán thành công các sản phẩm được cấp chứng chỉ

10 Đánh giá các chi phí liên quan, nhu cầu đào tạo, và đầu vào về con người cho một số hoạt động bổ xung cần thiết cho việc cấp chứng chỉ

11 Viết báo cáo ngắn đề cập tất cả các vấn đề nêu trên và trình bày các kết quả sơ

bộ hiện tại tới cán bộ dự án và các đối tác

Kết quả ‰ Đánh giá và tài liệu hoá khả năng có thể áp dụng việc cấp chứng chỉ rừng phù hợp

với việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng trong khu vực dự án trong một báo cáo ngắn (tối đa 20 trang bao gồm cả phụ lục)

‰ Trình bày tham luận các kết quả và kiến nghị tương lai của chuyên gia tư vấn đối với việc quản lý dự án và một nhóm nhỏ các đối tác có liên quan cũng như với các đồng nghiệp

Ngày đăng: 10/04/2014, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w