BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Chủ đề 5 Qui định về quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý Lớp Pháp Luật Đại Cương[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN.
Chủ đề 5: Qui định về quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý,
vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
Trang 2Lớp Pháp Luật Đại Cương 216_1
Sinh viên thực hiện :
Phạm Thị Thanh Hà ( MSV 11161374)
Lê Thị Mai Anh ( MSV 11160175)
Nguyễn Đàm Thanh Hương ( MSV 11162220)
Nguyễn Thị Mai Linh ( MSV 11162977)
Lã Phạm Thảo Nguyên ( MSV 11163808)
Điều 8 Hiến pháp 2013 xác định:
“1 Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
2 Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”
Quy định trên đã xác định vai trò của pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của đời
sống xã hội Chính vì vậy, chúng em đã chọn chủ đề 5: Trình bày qui định về quan hệ
pháp luật, sự kiện pháp lý, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
Chủ đề thảo luận của chúng em gồm 5 phần
A Quan hệ pháp luật
B Sự kiện pháp lý
Trang 3C Vi phạm pháp luật
D Trách nhiệm pháp lý
E Bài tập
Bài viết này đã được hoàn thành với sự đóng góp nhiệt tình của năm thành viên trong nhóm
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
A QUAN HỆ PHÁP LUẬT
I KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
1 Định nghĩa quan hệ pháp luật:
Quan hệ pháp luật là quan hệ giữa người với người(quan hệ xã hội) do
một quy phạm pháp luật điều chỉnh Biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ
pháp lý cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước
2 Bản chất của quan hệ pháp luật:
Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở của quy phạm pháp luật.Quan
hệ pháp luật là kết quả của việc thực hiện pháp luật trong đời sống
=>Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất khách quan chính là thông qua việc tác động trực tiếp vào quan hệ ý chí, biến
ý chí đó thành quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí và được thể hiện:
Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó
Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được
quy phạm pháp luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của nhà nước
Quan hệ pháp luật là loại quan hệ tư tưởng của kiến trúc thượng
tầng, được xây dựng trên một cơ sở kinh tế nhất định, do cơ sở kinh
tế quyết định, tác động qua lại lẫn nhau
Phạm vi nghiên cứu: chủ thể, khách thể, nội dung quan hệ pháp
luật
II CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
*Khái niệm:
Trang 4Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân hay tổ chức dựa trên cơ
sở của các quy phạm pháp luật mà tham gia vào các quan hệ pháp luật, trở thành người mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể
a Chủ thể là cá nhân
Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài ,
người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự 2015
Chủ thể là cá nhân được chia ra
+ Chủ thể trực tiếp
+Chủ thể không trực tiếp
Chủ thể trực tiếp là chủ thể luôn luôn có đủ năng lực pháp luật
và năng lực hành vi
Năng lực pháp luật:
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
(Mục 1 Điều 16 Chương III, Bộ luật dân sự 2015 )
Năng lực hành vi:
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
(Điều 19, 22 Chương III, Bộ luật dân sự 2015)
Chủ thể không trực tiếp là người có năng lực pháp luật mà
không có năng lực hành vi phải tham gia thông qua hành vi của người khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật Người thay thế cho chủ thể là người đại diện, người giám hộ
(Người giám hộ được quy định rõ tại Mục 4, Bộ luật dân sự 2015)
b Chủ thể là tổ chức
Đây là một tập hợp người theo một cơ cấu tổ chức nhất định, nhẵm những mục tiêu kinh tế hay chính trị, xã hội cụ thể nhất định
Một tổ chức tham gia vào hệ pháp luật thỏa mã điều kiện pháp luật quy định sẽ được thừa nhận là một pháp nhân
Điều kiện để được công nhận là pháp nhân:
1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
Trang 5d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
(Điều 74 Chương IV, Bộ luật dân sự 2015)
Phân loại:
Pháp nhân thương mại
Pháp nhân phi thương mại
Điều 75 Pháp nhân thương mại
1 Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
2 Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác
3 Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp
và quy định khác của pháp luật có liên quan
Điều 76 Pháp nhân phi thương mại
1 Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên
2 Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị
vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác
3 Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan
(điều 75,76 Chương IV, Bộ luật dân sự 2015)
III NỘI DUNG CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
Bao gồm quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan
hệ pháp luật
1 Quyền chủ thể
Khái niệm: Quyền chủ thể là mức độ, phạm vi được phép xử sự của chủ thể được pháp luật cho phép trong quan hệ pháp luật
Đặc điểm quyền chủ thể:
Là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép
Khả năng của chủ thể yêu cầu các chủ thể có liên quan thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ hoặc yêu cầu họ chấm dứt những hành vi cản trở nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền chủ thể của mình
Trang 6 Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích của mình
2 Nghĩa vụ pháp lý:
Khái niệm: Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là cách xử sự mà Nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác
Đặc điểm nghĩa vụ pháp lý:
Chủ thể phải thực hiện cách xử sự nhất định do pháp luật quy định (trong đó bao gồm cả việc phải thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải kiềm chế không thực hiện một số hành vi nhất định theo quy định pháp luật) nhằm đáp ứng quyền của chủ thể kia
Chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện các
xử sự bắt buộc
IV KHÁCH THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
1 Khái niệm:
Khách thể quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các bên tham gia quan
hệ pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia quan hệ pháp luật
2 Đặc điểm
Phản ảnh lơi ích của chủ thể
Khách thể của quan hệ xã hội là hành vi xử sự của các chủ thể
Khách thể của quan hệ xã hội nêu nên vị trí, ý nghĩa của quan
hệ pháp luật được pháp luật bảo vệ
B SỰ KIỆN PHÁP LÝ
1 Định nghĩa sự kiện pháp lý.
Trang 7 Quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dưới tác động của ba điều kiện: quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý
Quy phạm pháp luật tác động tới các quan hệ xã hội nhất định và biến chúng thành quan hệ pháp luật
Như vậy, quy phạm pháp luật và năng lực chủ thể là hai điều kiện chung cho sự xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật
Tuy nhiên, sự tác động của quy phạm pháp luật đển làm nảy sinh quan hệ pháp luật là một cơ chế phức tạp, quy phạm pháp luật chỉ có thể làm nảy sinh quan hệ pháp luật giữa các chủ thể nếu có sự kiện pháp lý xuất hiện
Sự kiện pháp lý là những sự việc cụ thể xảy ra trong đời sống phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh đã được dự liệu trong một quy phạm pháp luật từ đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ pháp luật cụ thể
Sự kiện pháp lý là những sự kiện trong số các sự kiện xảy ra trong thực tế Song, không phải sự kiện thực tế nào cũng là sự kiện pháp
lý, sự kiện thực tế chỉ trở thành sự kiện pháp lý khi pháp luật xác định rõ điều đó
2 Đặc điểm của sự kiện pháp lý
Căn cứ vào tiêu chuẩn ý chí sự kiện pháp lý bao gồm sự biến và hành vi
Sự biến là những hiện tượng tự nhiên (không phụ thuộc vào ý chí của con người) mà trong những trường hợp nhất định, pháp luật gắn sự xuất hiện của chúng với sự hình thành ở các chủ thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý Như vậy những quan hệ pháp luật này được pháp luật quy định trong những quan hệ pháp luật cụ thể Ví dụ: Trong một vụ tai nạn những biến cố về thiên nhiên như bão lụt, thiên tai, hỏa hoạn… cũng làm phát sinh các quan hệ pháp luật về bảo hiểm
Hành vi pháp lý (bao gồm hành động hoặc không hành động)
là những sự kiện xảy ra theo ý chí của con người, là hình thức biểu thị ý chí của chủ thể pháp luật Ví dụ: hành vi ký kết hợp đồng, hành vi trộm cắp, sự bỏ mặc không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,
Hành vi pháp lý được chia thành hành vi hợp pháp, tức là làm hay không làm một việc phù hợp với yêu cầu của pháp luật, và hành vi không hợp pháp tức là làm hay không làm một việc không đúng với yêu cầu của pháp luật
Căn cứ vào số lượng những hoàn cảnh, điều kiện làm nảy sinh hậu quả pháp lý, có thể phân chia sự kiện pháp lý thành sự kiện pháp lý đơn giản và sự kiện pháp lý phức tạp
Trang 8 Sự kiện pháp lý đơn giản chỉ bao gồm một sự kiện thực tế mà pháp luật gắn sự xuất hiện với sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Ví dụ khi một người chết làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng
Sự kiện pháp lý phức tạp bao gồm một loạt các sự kiện mà chỉ với sự xuất hiện của chúng các quan hệ pháp luật mới phát sinh, thay đổi hay chấm dứt Ví dụ khi một người chết thì có thể phát sinh quan hệ thừa kế nếu người đó có tài sản (thừa kế phát sinh khi người có tài sản chết); khi cơn bão xảy trên biển
có hai ngư dân đánh cá ở khu vực đó không thấy trở về sau một năm thì những người có liên quan có quyền yêu cầu tuyên
bố người đó đã chết
Căn cứ vào hậu quả của sự kiện pháp lý, ta có sự kiện pháp lý làm phát
sinh quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật và sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật
Nếu có một quy phạm pháp luật là điều kiện cần thì sự kiện pháp lý là điều kiện đủ
để áp dụng quy phạm pháp luật cho một mối quan hệ xã hội để có một mối quan hệ pháp luật cụ thể Dựa vào nội dung của sự kiện pháp lý người ta lựa chọn quy phạm pháp luật thích hợp để áp dụng, từ đó có một quan hệ pháp luật cụ thể với những chủ thể, khách thể và nội dung cụ thể của các chủ thể trong đó Sự kiện pháp lý là yếu tố khởi đầu của cơ chế thực hiện pháp luật Việc xác lập các quan hệ pháp luật thích ứng với các sự kiện đó là biểu hiện nội dung và kết quả của việc thực hiện pháp luật
C.VI PHẠM PHÁP LUẬT
1 Khái niệm
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái
pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
2 Những dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật
Nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật, làm rõ tính chất, các dấu hiệu
cơ bản của nó cũng như các nguyên nhân của các loại vi phạm pháp luật có
Trang 9ý nghĩa to lớn trong đấu tranh phòng ngừa vi phạm pháp luật trong quản lý
xã hội Vi phạm pháp luật là những sự kiện pháp lý và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý
Một hành vi được xác định là một vi phạm pháp luật khi có biểu hiện của những dấu hiệu nhất định
Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người, tức là
bằng hành vi thực tế của cá nhân hoặc tổ chức tham gia các quan hệ
xã hội Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi, cách xử sự của con người Vì vậy, không thể coi là vi phạm pháp luật đối với các suy nghĩ, các sở thích cá nhân, các đặc tính cá nhân khác của một người nếu nó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể của các cá
nhân hoặc thành hoạt động của một cơ quan, tổ chức Phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (cố ý gây thương tích) hoặc bằng không hành động (không cứu giúp người khác)
Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các quy định của pháp luật Tính trái pháp luật đó có thể được biểu hiện: Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện, sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép hoặc thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm.
Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý. Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả
năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về
hành vi của mình Trong pháp luật, sự độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý chỉ quy định với những người có khả năng tự lựa chọn được cách xử sự và có sự tự do ý chí, tức là người đó phải có khả năng
nhận thức và điều khiển được hành vi của mình Vì vậy, những hành
vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người không có năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi thực hiện thì vẫn không bị coi là
vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi của chủ thể hành vi Để xác định hành vi vi phạm pháp luật phải xem xét cả mặt chủ quan của hành vi, tức là xác định lỗi của họ là biểu hiện trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi đó Trạng thái tâm lý đó có thể là vô ý hay
cố ý Lỗi là yếu tố không thể thiếu được để xác định hành vi vi phạm pháp luật Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan mà chủ thể hành vi đó không thể
ý thức hoặc lường trước được thì họ không bị coi là có lỗi, và do đó không bị coi là vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
3 Các loại vi phạm pháp luật:
Trang 10Vi phạm pháp luật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau
Khoa học pháp lý Việt Nam chủ yếu phân loại vi phạm pháp luật căn
cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật được chia thành các loại như sau:
Vi phạm pháp luật hình sự (gọi là tội phạm)
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người,quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lí hình sự
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được
xử lí bằng biện pháp khác
(Điều 8, Chương III, Phần thứ nhất, Bộ luật hình sự 2015)
Vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị
xử lý hành chính
(Khoản 1, Điều 2, Phần thứ nhất, Luật xử lí vi phạm hành chính 2012)
Vi phạm dân sự:
Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản